Nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của một Đảng bộ địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sẽ góp phần làm sáng tỏ về công tác xây dựng độ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÝ THỊ THU
ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2016
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÝ THỊ THU
ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lý Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 7 1.2 Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án đã được giải quyết và những nội
CHƯƠNG 2 : CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
TUYÊN QUANG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 26 2.1 Những yếu tố tác động đến xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở
2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về xây dựng đội ngũ cán bộ
2.3 Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân
CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC
3.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong thời
3.2 Chủ trương đổi mới của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm 2010 76 3.3 Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo đổi mới công tác xây dựng đội ngũ cán
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATK : An toàn khu BCHTW : Ban Chấp hành Trung ương BTV : Ban Thường vụ
CNXH : Chủ nghĩa xã hội HĐND : Hội đồng nhân dân UBKT : Ủy ban kiểm tra UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách cán bộ dân tộc thiểu số là một nội dung trọng yếu trong chính sách dân tộc của Đảng, không chỉ có ý nghĩa trong việc đảm bảo quyền tham chính của đồng bào các dân tộc, mà còn tạo ra yếu tố nội lực thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc phát triển Nếu như cán bộ “là gốc của mọi công việc”, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cũng có thể hiểu rằng, cán bộ người dân tộc thiểu số và công tác cán bộ người dân tộc thiểu số
có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm thực hiện thành công đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Ngay từ khi ra đời và trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số Nhờ vậy, trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
đã có đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực, không chỉ tại địa bàn miền núi
mà cả ở các địa phương đồng bằng và cả cấp Trung ương Đây là một minh chứng sự đúng đắn, khoa học trong đường lối lãnh đạo của Đảng; minh chứng cho tinh thần “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ", như lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 1 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 18/12/1959)
Hiện nay, trước yêu cầu và nhiệm vụ mới, trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vẫn còn những hạn chế, bất cập: Số lượng cán bộ người dân tộc còn ít so với tỷ lệ dân số Trình độ của đội ngũ cán bộ người dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung, nhất là so với mặt bằng trình độ của
Trang 7đội ngũ cán bộ người Kinh Năng lực, trình độ còn hạn chế so với yêu cầu, nhiệm vụ Mặt khác, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số chưa cân đối cả về
cơ cấu giới tính, cơ cấu giữa các dân tộc và cơ cấu theo lĩnh vực công tác Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng ở tầm
vĩ mô và ở việc tổ chức thực hiện của các địa phương
Nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu
số của một Đảng bộ địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
sẽ góp phần làm sáng tỏ về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số của Đảng, sự thể hiện sinh động và cụ thể chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ trong điều kiện thực tế của địa phương Qua đó nhận diện những sáng tạo và những khó khăn, hạn chế của Đảng bộ địa phương trong thực hiện công tác quan trọng này
Tỉnh Tuyên Quang nằm trong chiến khu Việt Bắc, là cái nôi của cách mạng cả nước từ thời kỳ tiền khởi nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Bởi vậy, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang sớm hình thành, được tôi luyện qua nhiều thử thách, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc cũng như ở địa phương Tỉnh Tuyên Quang là nơi hội tụ của 22 dân tộc anh
em sinh sống đan xen, cùng tồn tại và phát triển Trong những năm tiến hành
sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi, trong đó có tỉnh Tuyên Quang Nhờ vậy, kinh tế - xã hội của tỉnh có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Tuyên Quang còn thấp, chưa tương xứng với mức
độ đầu tư và so với yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ và năng lực Việc sử dụng cán bộ cho từng vùng, từng lĩnh vực và theo từng dân tộc còn chưa hợp lý
Trang 8Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã có những chủ trương và thực hiện nhiều giải pháp để tăng cường xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số như: tăng cường công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; chú trọng tuyển chọn, sử dụng đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền của tỉnh, huyện, xã; tăng cường đầu tư kinh phí đào tạo - bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển cán bộ trong hệ thống chính trị; thực hiện chính sách cử tuyển cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và thu hút, “giữ chân” đội ngũ cán bộ tại địa phương … Tuy vậy, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vẫn đang tồn tại không ít mâu thuẫn, đó là: mâu thuẫn giữa tăng cường số lượng và đảm bảo chất lượng, giữa nhu cầu đòi hỏi cao và khả năng đầu tư
có giới hạn, giữa sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút cán bộ từ nơi khác đến, giữa đào tạo và sử dụng, giữa yêu cầu và khả năng luân chuyển đội ngũ cán bộ tại địa phương…
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề: "Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010" có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích, nhiệm vụ, nghiên cứu của luận án
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010
Làm rõ những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong 20 năm, từ năm 1991 đến năm 2010
Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, những kết quả đạt được; Đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số từ năm 1991 đến năm 2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1991, là năm tỉnh Tuyên Quang được tái
lập, đến năm 2010, là năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIV Đảng bộ Tỉnh, Đảng bộ bắt đầu tổ chức thực hiện đường lối Đại hội XI của Đảng
Về không gian: Nghiên cứu công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người
dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh, bao gồm 1 thị xã và 6 huyện
Luận án nghiên cứu toàn bộ đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cơ sở, trong đó chú trọng nghiên cứu đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấp là người dân tộc thiểu số
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ gồm nhiều nội dung Bám sát các khâu công việc của công tác cán bộ nói chung, luận án tập trung nghiên cứu công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng, chế độ, chính sách cán bộ
Trang 104 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố
4.2 Cơ sở thực tiễn
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang nói riêng, được phản ánh trong các văn kiện của Đảng bộ tỉnh, các báo cáo, số liệu thống kê của cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng có liên quan; kết quả điều tra, khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Bên cạnh đó, là các phương pháp:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích, được sử dụng để thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan, bao gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng
+ Phương pháp so sánh: So sánh một số kết quả đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang với các tỉnh miền núi phía Bắc
+ Phương pháp thống kê, được dùng trong xử lý các kết quả điều tra, khảo sát
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Cung cấp thêm nguồn tư liệu, nhất là tư liệu của địa phương về công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên Quang, về thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang;
Trang 11- Góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng;
- Góp phần tổng kết, đánh giá về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Đảng bộ Tuyên Quang, cung cấp thêm cơ sở thực tiễn giúp Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang hoàn thiện hơn nữa công tác lãnh đạo của mình trong công tác quan trọng này;
- Những kết quả nghiên cứu của luận án, nhất là những kinh nghiệm từ công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của Tuyên Quang,
có thể tham khảo vận dụng ở các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khác, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án dùng làm tài liệu tham khảo, giúp các cấp ủy Đảng các cấp ở tỉnh Tuyên Quang nghiên cứu, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ hoạt động nghiên cứu, học tập của bộ môn Lịch sử Đảng ở trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, Trường Đại học Tân Trào Tuyên Quang cũng như các cơ sở đào tạo khác
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học liên quan đến đề tài của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Nghiên cứu về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc nói chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố dưới góc độ của khoa học lịch sử, lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, chính trị học, dân tộc học, xã hội học Liên quan trực tiếp đến đề tài
có thể khái quát thành những nhóm cơ bản sau:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1 Nghiên cứu về chính sách dân tộc và công tác dân tộc trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước
Cuốn sách, Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở
miền núi [48] Tác giả đã đánh giá về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách
dân tộc ở nước ta Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn đề cấp bách ở vùng dân tộc và miền núi, tác giả đã đưa ra những nhận thức và quan điểm cơ bản về chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới
Cuốn sách, Quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở các tỉnh Tây Bắc
[105] đã đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Tây Bắc những năm đầu đổi mới
Cuốn sách: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và nhà
nước ta [54] đã đề cập đến những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc Các tác giả đã nêu những đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam và nội dung công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
Cuốn sách, Nghiên cứu vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính
sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [135] đã nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách dân tộc của Đảng và những định
Trang 13hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn và đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm sớm ổn định và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc
Bài viết, "Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 - 2006" [97],
trong cuốn sách 60 năm cơ quan công tác dân tộc, đã đánh giá về đội ngũ cán
bộ dân tộc trong những năm qua Bài viết khẳng định: Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng Nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn, học vấn, quản lý nhà nước ngày càng được chuẩn hóa, chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc ở tất cả các cấp được nâng lên Tác giả chỉ rõ "tỉ lệ đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số qua các khóa ngày một tăng từ 10,2% khóa I lên 17,2% khóa
XI Ủy viên Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 9% khóa X và hàng vạn cán bộ người dân tộc thiểu số được tham gia trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp" [97, tr.24] Bên cạnh những kết quả đạt được, bài viết còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác dân tộc là
"Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ dân tộc ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế về tri thức và trình độ kỹ năng làm việc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn rất nhiều đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương [97, tr.28] Từ phân tích trên, tác giả chỉ
ra một số bài học lớn về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2006) Trong đó, bài học đáng chú ý là "Kiện toàn và phát huy vai trò của hệ thống chính trị chăm lo công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong các vùng dân tộc thiểu số" [97, tr.30]
Cuốn sách, Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX
[12], là tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu khoa học đã tham gia
Trang 14thảo luận, trao đổi, làm rõ kết quả, hạn chế yếu kém, đề xuất các giải pháp góp phần đổi mới thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX về công tác dân tộc của Đảng
Cuốn sách, Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện
nay [104] đã nêu rõ những nội dung cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc
của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; phân tích những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân tộc và đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện chính sách dân tộc hiện nay
Cuốn sách, Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc
thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp [112] đã nghiên cứu, khảo sát nhằm mang
lại những thông tin khách quan, trung thực về tình trạng này Trên cơ sở đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, công trình nghiên cứu đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp cơ bản nhằm góp phần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, phát huy vai trò to lớn của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghiên cứu cho thấy, sự đồng tình của người dân với chính sách được triển khai ở địa phương về "ưu tiên đào tạo cán bộ địa phương là người dân tộc" là 72,2%, "ưu tiên đào tạo thầy giáo, cô giáo, cán bộ y tế là người dân tộc" là 70,2%" [112 tr.102]
Cuốn sách: Dân tộc thiểu số và vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí
Minh [69], đã đề cập đến vấn đề: Trong nghiên cứu lý luận cách mạng, vấn đề
dân tộc còn rất phong phú, còn phải bàn thêm Nói riêng từng nước thì vấn đề dân tộc nổi lên là vấn đề số phận của từng tộc người trong cộng đồng dân tộc, của mỗi quốc gia Tác giả khẳng định: Hồ Chí Minh thấy được phẩm chất, trình độ của các tộc người của đất nước ta, bởi Người thực sự gắn bó với bà
Trang 15con người dân tộc thiểu số Vì vậy, với Hồ Chí Minh, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng nhau, tất cả đều như anh chị em một nhà, không có sự phân biệt nòi giống, tiếng nói
Công trình: Báo cáo tổng hợp về nghiên cứu chính sách phát triển vùng
miền núi và dân tộc thiểu số [60] và Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
[25] đã đánh giá nguồn nhân lực không nghiên cứu riêng biệt, mà được đặt trong mối quan hệ tương hỗ với sự phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đặc biệt là những nghiên cứu về giáo dục y tế, xóa đói giảm nghèo, lao động việc làm thường được đặt trong các mối liên hệ trực tiếp với phát triển thể lực, trí lực của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số
Bài viết: "Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng sau 25 năm đổi mới" [52], đã khái quát toàn bộ chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc đã và đang được thực hiện trong 25 năm đổi mới được thể hiện trong những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bài viết tiếp tục khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta
Sự quan tâm về vấn đề dân tộc, về chính sách dân tộc không chỉ ở phần nhận thức, phần lý luận, mà nó phải được thể hiện bằng đường lối, bằng tổ chức Đúng như tinh thần Sắc lệnh số 58 ngày 3/5/1946 của Người" chịu trách nhiệm xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu
số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam"
Bài viết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt
Nam" [53] theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số là một
bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đoàn kết dân tộc đặng "đi từ thái bình để cùng hưởng chung" Hồ Chí Minh cũng
Trang 16cho rằng, đoàn kết dân tộc là một chính sách chứ không phải là một thủ đoạn chính trị, mị dân, do đó, phải thực lòng thực hành đoàn kết để đi từ mục tiêu chung là "hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh" Người coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một lực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam Với những nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, tác giả bài viết khẳng định: Trong tiến trình cách mạng nước ta, cần giải quyết đúng đắn và sáng tạo vấn đề dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là: Phải luôn coi đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, khai thông sức sáng tạo và tiềm năng của đồng bào các dân tộc Bằng các chủ trương chính sách phù hợp, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của cả nước
Luận án tiến sĩ: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện chính
sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc từ năm 1996 đến năm 2006 [63] đã trình
bày một cách có hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2006), từ đó thấy được
sự phát triển trong tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng; quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở một số tỉnh Tây Bắc; làm rõ thành tựu và hạn chế trong nhận thức cũng như trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, từ đó đúc rút ra một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc 1996 - 2006 ở Tây Bắc khi nghiên cứu về quan điểm và nội dung chính sách dân tộc của Đảng Tác giả khẳng định:
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương gắn đoàn kết dân tộc với việc hoạch định chính sách dân tộc, đảm bảo miền núi tiến kịp miền xuôi, làm cho đồng bào dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy
đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa Người chỉ ra rằng, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch dài hạn, phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội ở miền núi, đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ
Trang 17đồng bào miền ngược Đồng bào các dân tộc ít người cũng phải không ngừng vươn lên để xây dựng tổ chức chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc hạnh phúc, ấm no Những quan điểm trên đây của Người có giá trị và ý nghĩa như một tuyên ngôn chỉ đạo công tác dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc
ở Việt Nam hiện nay [63, tr.29]
1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung
Cuốn sách: Chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam
(từ thế kỷ XI - XIX) [130] cho thấy, từ xa xưa, nhà nước phong kiến Việt Nam
đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp tích cực đối với miền núi, với các dân tộc thiểu số Từ thời Lý (thế kỷ XI), chính sách "Nhu viễn" (mềm dẻo với phương xa) đã được thực hiện, sau này vẫn là quốc sách hàng đầu, phổ biến
và lâu dài của các triều đại phong kiến tiếp theo "Nhu viễn" xây dựng mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước Trung ương (phong kiến tập quyền) với cộng đồng các tù trưởng (người có uy tín, thế lực, đang điều hành, quản lý các tộc người bằng tự trị theo luật tục" thông qua việc ban phẩm tước cho tù trưởng; phân phong một số Hoàng Thân, quan lại lên tuần giữ vùng biên, đặc biệt là câu thức, lôi kéo quan hệ thân tộc (qua hôn nhân) giữa các tù trưởng với công chúa, cung phi của triều đình Song song với chính sách "Nhu viễn", các triều đại phong kiến còn kiên quyết dùng chính sách "cường bạo lực" lúc cần thiết
để trừng trị những kẻ gây mất đoàn kết các dân tộc, chống lại triều đình và cắt đất cho ngoại bang Chính sách "Nhu" "Cương" hợp lý có ý nghĩa tích cực trong củng cố quốc gia thống nhất, đẩy lùi các thế lực cát cứ, xâm lấn và giữ gìn an ninh biên giới Đó là kinh nghiệm lịch sử để trong quá trình xây dựng
hệ thống chính trị vùng biên, miền núi, dân tộc thiểu số chúng ta phải chú ý đến vai trò của công tác cán bộ đối với người dân tộc thiểu số Việc xây dựng
Trang 18đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải trên tinh thần (không kỳ thị dân tộc), phải tăng cường sức mạnh cho đội ngũ này bằng việc điều động, luân chuyển cán
bộ nơi khác về cơ sở; đồng thời cũng phải cương quyết sàng lọc nguồn trong quá trình xây dựng đội ngũ trên cơ sở tiêu chuẩn cán bộ, công chức do pháp luật quy định
Cuốn sách: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - luận cứ và giải pháp [111]
là tập hợp kết quả nghiên cứu của 34 nhà khoa học, tập trung vào những vấn đề: Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước ta, cùng một số các yếu tố tác động về tâm
lý, văn hóa tộc người liên quan đến vấn đề dân tộc, cán bộ dân tộc thiểu số, công tác cán bộ thiểu số; thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung trên một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể Nhiều giải pháp đổi mới, công tác cán bộ dân tộc thiểu số được đề xuất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng
Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt
Nam đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
[108] đã cung cấp luận cứ lý thuyết và thực tiễn cho nhận thức đầy đủ và toàn diện vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số không chỉ cần nhiều nguồn lực đầu tư, mà phải tiến hành theo một quy trình, phương pháp, cách thức khoa học Cuốn sách còn đề xuất hệ quan điểm, giải pháp toàn diện cho hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Tác giả khẳng định: Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu phát triển bền vững liên, xuyên thế hệ thành công hay không không thể thiếu
sự đóng góp to lớn của nguồn nhân lực thiểu số, vì phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cũng chính là phát triển nguồn nhân lực quốc gia - là lực lượng tiên phong và cũng là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững
Trang 19Cuốn sách: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền
núi phía Bắc nước ta hiện nay [117], đã chỉ ra rằng, nếu không xây dựng
được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương nhiệm vụ cách mạng thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta không thể đi vào cuộc sống, không thể phát huy được nội lực của đồng bào các dân tộc, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để có được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh, trước tiên "phải giải quyết tốt vấn đề phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, vì đây là khâu quan trọng nhất, đồng thời cũng là vấn đề khó khăn và yếu kém nhất trong công tác cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay" [117, tr.9] Chỉ trên cơ sở phát triển mạnh nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, chúng ta mới có được thế hệ cán bộ dự bị, kế cận đông đảo, đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực, để bổ sung vào các chức danh lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp và bổ sung cho đội ngũ cán
bộ công chức là người dân tộc thiểu số ở các địa phương Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng và hoàn thiện quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số các cấp, các ngành; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng liên tục thường xuyên, chủ động, có kế hoạch; kết hợp với cơ chế, chính sách sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ dân tộc mang tính đồng bộ, hệ thống từ trung ương đến cơ sở Tác giả khẳng định: "Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được căn bản các vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng đặt ra và phát triển vững chắc trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" [117, tr.10]
Cuốn sách: Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh
ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [98] đã phân tích
các đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
về thực trạng công tác, quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đặc biệt là nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch còn gặp nhiều khó khăn,
Trang 20nhất là cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ Tác giả còn đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc đến năm 2020:
Cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, phương châm, nguyên tắc của Đảng trong công tác quy hoạch cán
bộ, tập trung, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh, xác định rõ phương hướng, mục tiêu của công tác quy hoạch cán bộ và tổ chức thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp Xác định rõ nguồn, tạo nguồn cán bộ dồi dào, nhất là cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ đưa vào quy hoạch [98, tr.227]
Cuốn sách: Phát huy vai trò của đội ngũ tri thức các dân tộc thiểu số
nước ta trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay [20] và Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học [66] đã cho thấy vai trò của
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, thực trạng công tác cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bài viết: "Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới" [131]
trong cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX khẳng định: Sự quan
tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số Đánh giá thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở nước ta, tác giả khẳng định rằng "Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở nước
ta đã trưởng thành và không ngừng phát triển, đội ngũ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số đã có bước trưởng thành, khá rõ nét" [131, tr.115] Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một số những hạn chế bất cập của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Đó là trình độ chuyên môn của người dân tộc thiểu
Trang 21số còn thấp Tác giả nhấn mạnh "Tình trạng cán bộ là người dân tộc thiểu
số hiện nay vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về năng lực, đặc biệt là trình độ năng lực học vấn" [131, tr.118] Trên cơ sở đánh giá thành tựu và hạn chế của việc đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới, tác giả đã đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ
là người dân tộc thiểu số trong thời gian tới": "Có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc từ cơ sở cho đến trung ương, theo nhu cầu của từng loại cán bộ trong từng thời kỳ, bảo đảm mục tiêu chiến lược chung của cả nước" [131, tr.120] Bởi vì xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng chung của cả nước vì chiến lược con người
Bài viết: "Sự phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số" [51]
trong cuốn sách Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, đã khẳng định: Công
tác đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc đạt được nhiều thành tựu đáng kể Mười năm về trước, nhiều cán bộ thôn xã còn ở tình trạng mù chữ Cho đến nay, cán bộ thôn xã thấp nhất cũng có trình độ tiểu học và có người có trình độ trung học
Nhiều cán bộ, người dân tộc thiểu số đã có học vị cao Tác giả chỉ rõ
"ngành giáo dục và đào tạo đã góp phần đáng kể trong việc bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số ở các trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, các trường
bổ túc văn hóa tập trung ở các địa phương và Trung ương [51, tr.250] Vì vậy:
"Thành tựu nổi bật của giáo dục ở vùng dân tộc là xác lập được quy trình xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số" [51, tr.249] Bài viết còn đưa ra một số giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc trong thời gian tới, đáng chú ý là chế độ ưu tiên cộng điểm tuyển sinh và mở các lớp đào tạo riêng dành cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số nhất là ở vùng cao, tại các trường đại học, cao đẳng trong cả nước
Trang 22Bài viết: Một cách mới trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở ở Hà
Giang [34] Trên cơ sở phân tích kết quả đạt được trong công tác đào tạo bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh, tác giả đã đưa ra một số kinh nghiệm
"Phải xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ đảm bảo chất lượng, trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với bố trí, sử dụng sau đào tạo Coi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển địa phương" [34, tr.46]
Bài viết: Sóc Trăng quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc
thiểu số Khmer [119] Trên cơ sở đánh giá về công tác quy hoạch, đào tạo, sử
dụng cán bộ, người dân tộc thiểu số ở tỉnh; phân tích vai trò của đội ngũ cán
bộ người dân tộc Khmer trong việc triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác dân tộc, công tác tôn giáo, tác giả đề xuất một số giải pháp quan trọng "Quan tâm đến chính sách cử tuyển và quản lý chặt chẽ,
bố trí, sử dụng đúng địa chỉ được xét tuyển đối với học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường, có chính sách chọn cán bộ dự nguồn là người dân tộc Khmer để đào tạo, bồi dưỡng" [119, tr.24]
Luận án Tiến sĩ: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
của Đảng bộ Bộ đội biên phòng từ năm 1996 đến năm 2006 [118] đã làm
sáng tỏ sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số phải dựa trên nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị Phải xuất phát từ đường lối chính trị - quân sự của Đảng, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc và phải đảm bảo sự thống nhất giữa cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ; phải có những ưu điểm trong đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ, thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Tác giả còn
Trang 23khẳng định, để xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Bộ đội biên phòng cần phải "bám sát yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, xây dựng Bộ đội biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại" [118, tr.91] và "xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong Đảng bộ Bộ đội biên phòng phải đặt trong tổng thể chiến lược cán bộ của Đảng, nhà nước, quân đội, Bộ đội biên phòng, tạo được mỗi liên thông với việc xây dựng đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị, hòa nhập với xu thế phát triển của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [118, tr.91]
Luận án Tiến sĩ: Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc
thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay [138] tiếp tục hoàn thiện
khung lý luận về tạo nguồn cán bộ; khái quát những đặc điểm tình hình cán
bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; đề xuất phương hướng và những giải pháp có tính đặc thù, khả thi để thúc đẩy công tác tạo nguồn cán bộ xã người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay
Luận án Tiến sĩ: Đảng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng ngũ
công chức từ năm 2001 đến năm 2010 [65] đã nghiên cứu về quan điểm,
chủ trương của Đảng về đào tạo đội ngũ cán bộ công chức "Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhà nước phải thông qua hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân để lựa chọn, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ" [65, tr.83] Khi nghiên cứu về chủ trương xây dựng đội ngũ công chức Việt Nam từ 1986 đến nay, tác giả đã đưa ra một loạt các văn bản pháp lý hiện hành nhằm xây dựng đội ngũ cán
bộ công chức và qua quá trình hình thành và phát triển đội ngũ cán bộ công chức trước năm 2001, tác giả đã đưa ra những nội dung nhằm nâng cao trình độ đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị, xây
Trang 24dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa "Những đổi mới đó đã làm sáng rõ hơn mô hình hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ, khẳng định rõ bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phù hợp với nền kinh tế thị trường - định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế" [65, tr.71]
Đề tài khoa học cấp bộ: Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm xây
dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số tỉnh miền núi phía Bắc [122] đã phân
tích, làm rõ vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp huyện là người dân tộc thiểu số nói riêng đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc; đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu
số ở nước ta hiện nay Tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện là người dân tộc thiểu số trong thời
kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số
Đề tài khoa học cấp bộ: Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay [71]
đã trình bày hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc
có liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số ở nước
ta Nghiên cứu góp phần đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và việc thực hiện chính sách cán bộ dân tộc thiểu số ở vùng miền núi hiện nay Nghiên cứu đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp có tính khả thi về chính sách cán bộ dân tộc, góp phần xây dựng Luật Dân tộc
Đề tài khoa học cấp bộ: Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở
các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay [58] đã đưa ra các khái niệm và cách tiếp
cận vấn đề tạo nguồn chủ chốt, phân tích đánh giá thực trạng công tác tạo nguồn của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc
Trang 25nước ta những năm đổi mới Đề tài cũng tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn trong việc tạo nguồn cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc qua việc nghiên cứu hoạt động này ở một số trường chính trị trong khu vực, đề xuất những giải pháp đẩy mạnh công tác, tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới
Ngoài ra, còn có các công trình, Về công tác phát triển đảng viên tạo
nguồn cán bộ ở vùng dân tộc miền núi [72] và Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa [120]
Các công trình trên đây đã cung cấp luận cứ lý thuyết và thực tiễn cho tác giả nhận thức đầy đủ và toàn diện về vấn đề xây dựng đội ngũ cán
bộ dân tộc thiểu số Các công trình trên đã đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nói chung, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở các địa phương nói riêng Một trong những tiêu chí để xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được các tác giả đồng quan điểm trong các công trình, bài viết là cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh, có đủ năng lực phẩm chất đảm đương nhiệm vụ cách mạng thì mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mới đi vào cuộc sống; mới phát huy được nội lực của các dân tộc, đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc Các công trình nghiên cứu còn đưa ra những nội dung quan trọng Đó là, muốn xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đủ về số lượng, đạt chất lượng, cần phải chú ý đến các khâu trong công tác này như công tác tạo nguồn, phát triển nguồn, công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Các công trình cũng đưa ra những khó khăn, thuận lợi trong quá trình xây dựng và những phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
Trang 26Đây là những nội dung quý để tác giả tham khảo, tiếp thu và bổ sung kiến thức trong quá trình viết luận án
1.1.1.3 Các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và công tác cán bộ ở Tuyên Quang
Cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (giai đoạn 1976 - 2005)
[9] Với chặng đường 30 năm (1976 - 2005), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã trải qua thời kỳ tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang hợp nhất thành tỉnh và Hà Tuyên (1976 - 1991) và thời kỳ từ sau tỉnh Tuyên Quang được tái lập (tháng 10/1991) đến năm 2005 Mỗi thời kỳ đều có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thử thách riêng Phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, truyền thống cách mạng của quê hương Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang luôn tuyệt đối tin tưởng, trung thành với Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, trong các thời kỳ cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã chung sức, chung lòng tận dụng thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ
và an ninh quốc gia, xây dựng quê hương và tiếp tục giành được nhiều thành tựu quan trọng Thực tiễn 30 năm 1976 - 2005 cũng để lại những bài học kinh nghiệm để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Một trong những bài học đó là "không ngừng đổi mới tư duy, xây dựng phong cách lãnh đạo của cấp ủy Đảng, coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ từ tỉnh đến cơ sở
về phẩm chất chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị" [9, tr.402]
và kinh nghiệm rút ra trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh chặng đường
đã qua là "Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ đặc biệt quan tâm xây
Trang 27dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ tại chỗ, cán bộ dân tộc thiểu số có đủ phẩm chất và năng lực" [9, tr.424]
"Đảng bộ ngày càng nhận thức sâu sắc, giữ vững và thực hiện quan điểm thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng hơn việc phát huy vai trò của tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu các tổ chức; bước đầu tổ chức để nhân dân tham gia ý kiến đối với cán bộ, nhất là ở cơ sở Việc triển khai ngày càng đồng bộ các khâu công tác của cán bộ từ đánh giá đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ đã giúp Đảng bộ có một đội ngũ cán bộ ngày càng
có chất lượng hơn Trong quá trình đó, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ
sở nhất là cán bộ dân tộc thiểu số luôn được đặc biệt quan tâm thực hiện sáng tạo, hiệu quả, được trung ương đánh giá cao, góp thêm kinh nghiệm cho các địa phương khác" [9, tr.425]
Cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuyên Quang (1940 - 2008) [3]
đã tái hiện lại quá trình ra đời, lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương của Đảng bộ thị xã Tuyên Quang, phản ánh những sự kiện lịch sử, thành tích tiêu biểu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc thị xã trong các thời kỳ cách mạng (1940 - 2009) Kinh nghiệm về công tác lãnh đạo của Đảng bộ thị xã Tuyên Quang là "Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ người địa phương; tạo mọi điều kiện để nhân dân các dân tộc phát huy quyền làm chủ, cống hiến tài năng, trí tuệ cho cách mạng Đồng thời phải kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng cá nhân, cục bộ địa phương, biểu hiện mất đoàn kết; phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng dân cư trên địa bàn" [3, tr.406]
Cuốn sách: Lịch sử Đảng bộ huyện Chiêm Hóa (1940 - 2005) [2] ghi
lại quá trình ra đời, trưởng thành của Đảng bộ huyện và quá trình lãnh đạo
Trang 28nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện các nhiệm vụ cách mạng tại địa phương Đồng thời, trình bày những thành tựu bài học, kinh nghiệm quý báu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa trong hơn 60 năm qua Chiêm Hóa là một huyện của tỉnh Tuyên Quang có nhiều dân tộc cùng sinh sống "Đến năm 2005, dân số huyện Chiêm Hóa có 138.657 người gồm
22 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Dao, H'Mông, Nùng" [2, tr.14] Để đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội, "Đảng bộ huyện đã quan tâm và đẩy mạnh công tác bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ người dân tộc thiểu số Một trong những bài học trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân trong huyện thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ huyện là "Thực hiện tốt chính sách dân tộc, công tác vận động quần chúng của Đảng, thường xuyên củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, huy động được sức mạnh đoàn kết yêu nước của đồng bào các dân tộc vào sự nghiệp cách mạng" [2, tr.327]
Cuốn sách: Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang 50 năm xây dựng và
phát triển [115] đã trình bày quá trình xây dựng và phát triển từ Trường
Đảng tỉnh Tuyên Quang đến Trường Chính trị tỉnh hiện nay; làm rõ nhiệm
vụ chính trị, cơ cấu tổ chức bộ máy của trường qua các thời kỳ lịch sử
Ngoài ra, còn một số tác phẩm như: Văn hóa truyền thống các dân tộc
Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang [49], đã đề cập đến phong tục, tập quán tín
ngưỡng của các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang
1.1.2 Nghiên cứu của người nước ngoài
Nghiên cứu của người nước ngoài về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
đặc biệt ở miền núi phía Bắc có công trình Những xu hướng phát triển ở vùng
núi phía Bắc Việt Nam [31] và Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam [87] Các công trình này chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ nhân học, rồi
từ đó đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với việc phát triển con người ở vùng dân tộc thiểu số
Trang 29Gần đây, các tổ chức phi Chính phủ hợp tác với phía Việt Nam thực hiện các dự án về đói nghèo, môi trường - sinh thái, quan hệ tộc người, ở miền núi và đã có những nghiên cứu đáng quan tâm như công trình:
Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, the Case of Vietnam ("Nghĩ lại cách tiếp cận chương trình phát triển dân tộc thiểu số, trường hợp Việt Nam") [139], và Chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Phát triển châu Á [88], Chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Thế giới [89] Những nghiên cứu này khuyến nghị Chính phủ Việt Nam
cần lưu tâm đến việc chăm lo những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình chuyển đổi cơ chế, mà ở đó đồng bào dân tộc thiểu số cần có sự quan tâm đặc biệt Các nghiên cứu này đã chỉ ra các nhóm dân tộc thiểu số trình độ học vấn thấp, ít được hưởng lợi từ các chính sách ưu tiên của Nhà nước, cũng như ưu tiên dân tộc thường là sự áp đặt ý chí của Nhà nước đối với người dân, ít chú ý đến yêu cầu phát huy năng lực nội sinh của bản thân người dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo những ưu tiên đầu tư đó có hiệu quả lâu dài và bền vững
1.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận án đã được giải quyết
Những công trình nêu trên đã cung cấp những tài liệu quan trọng và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu của luận án Tuy vậy, do mục đích và phạm vi nghiên cứu đặt ra, 3 nhóm công trình đó đã nghiên cứu những nội dung sau:
Nghiên cứu hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về vấn
Trang 30Một số công trình đã nghiên cứu về một số khâu trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số như: tạo nguồn, phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang; tình hình kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị ở Tuyên Quang
Chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang
Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài này là cần thiết xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
- Khái quát đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số;
- Phân tích các yếu tố tự nhiên, xã hội và bối cảnh lịch sử tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số của tỉnh Tuyên Quang từ khi tái lập tỉnh từ năm 1991 đến năm 2010
- Trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (qua hai giai đoạn: 1991 - 2000 và 2001 - 2010)
- Đánh giá những kết quả đã đạt được, những khó khăn, tồn tại; bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh qua thực tiễn lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang
Trang 31CHƯƠNG 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TUYÊN QUANG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc tế
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, nằm giữa khu Việt Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, có ranh giới dài 151km; Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, có ranh giới dài 80km; Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn
và Thái Nguyên, có ranh giới dài 171km; Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, có ranh giới dài 80km
Tuyên Quang có nhiều rừng núi, chiếm khoảng 4/5 diện tích toàn tỉnh Càng về phía Bắc càng có nhiều ngọn núi cao trên 1.000m Phía Đông, nối với dãy Tam Đảo là núi Thanh Sơn, núi Lịch, núi Hồng Phía Nam là những dãy đồi xen kẽ núi đá có thành vách đứng bao quanh, tạo thành những thung lũng hiểm trở, nhiều hang động lớn
Rừng núi Tuyên Quang có tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú Trong lòng đất Tuyên Quang có nhiều khoáng sản quý hiếm như: than, kẽm, thiếc, diêm tiêu… phục vụ cho ngành kinh tế công, nông nghiệp
và quốc phòng
Tuyên Quang có mạng lưới giao thông thủy bộ tương đối thuận tiện Sông Lô bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Hà Giang về Tuyên Quang rồi hợp với sông Hồng chảy ra biển Đông Sông Gâm chảy qua Cao Bằng về huyện Na Hang, Chiêm Hóa, nối với sông Lô ở ngã ba Hòn Lau (Yên Sơn) Đây là hai con sông rộng và sâu, tàu, xuồng loại nhỏ có thể đi lại dễ dàng,
Trang 32thuận lợi cho việc cơ động lực lượng và vận chuyển hàng hóa Ngoài ra, Tuyên Quang còn có sông Chảy ở Yên Sơn, sông Năng ở Na Hang, sông Phó Đáy ở Sơn Dương và hàng trăm con ngòi, suối, vừa là nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất vừa là nguồn thủy năng tiềm tàng Về giao thông đường
bộ có quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Vĩnh Phúc, Phú thọ đến Tuyên Quang
và lên tỉnh Hà Giang, dài hơn 300km Đường số 13A xuất phát từ Bờ Đậu (Bắc Thái) qua Đèo Khế sang Sơn Dương đến thị xã Tuyên Quang, sang tỉnh Yên Bái Đường số 12 từ Sơn Dương đi Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc Đường số 11
từ Đoan Hùng qua huyện Yên Bình lên huyện Lục Yên (Yên Bái) Ngoài ra, Tuyên Quang có nhiều trục đường liên huyện chạy dọc theo các thung lũng, triền núi, nối liền các tỉnh bạn
Địa hình Tuyên Quang đa dạng và phức tạp Núi cao, vực sâu, rừng rậm nối tiếp nhau tạo thành những hành lang bao bọc lấy nội địa, tạo cho Tuyên Quang có địa thế hiểm yếu, một địa bàn quan trọng của đất nước
Do ảnh hưởng của địa hình, khí hậu và thời tiết ở Tuyên Quang khá phức tạp Nhiệt độ trung bình 160C Mùa đông, có nơi nhiệt độ xuống đến 1 hoặc 20C Lượng mưa phân bổ không đều Lũ lụt đi liền với gió bão, mưa đá, gây nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người
Tuyên Quang với điều kiện tự nhiên thiên nhiên ưu đãi, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, trước hết và quan trọng là đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số bản địa có trách nhiệm khai thác, phát huy Tuyên Quang giáp với các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ và Bắc Cạn cũng đều có nhiều dân tộc sinh sống Vì vậy, Đảng bộ Tuyên Quang có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, có thể học hỏi kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số các tỉnh bạn Tuy nhiên, với địa hình đa dạng và phức tạp, lũ lụt thường xuyên cùng với giao thông đi lại khó khăn, là một trở ngại trong quá trình phát triển kinh tế - xã
Trang 33hội, củng cố hệ thống chính trị nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của tỉnh nói riêng
Địa bàn chia cắt, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, vùng cao với đặc điểm của các dân tộc ít người, có môi trường sống quá gần gũi với thiên nhiên, định cư bên các triền đồi, núi, cách xa trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị các vùng trong địa bàn tỉnh cũng là một thách thức trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ thiểu số ở Tuyên Quang
2.1.1.2 Yếu tố về kinh tế
Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, đến nay Tuyên Quang vẫn là một tỉnh nghèo, còn nhiều khó khăn: Kinh tế phát triển chậm, trình độ sản xuất còn thấp kém, một số vùng vẫn mang nặng tính tự cung tự cấp Thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi chưa được khai thác tốt, đất trống, đồi trọc còn nhiều Công nghiệp chưa phát triển, chỉ chiếm 14% giá trị tổng sản phẩm xã hội Thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với mức bình quân
cả nước, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Nhiều bộ phận dân cư còn sống ở mức nghèo khổ, điển hình là các tộc người thiểu số sinh sống tại các địa bàn xa xôi, hẻo lánh Bản thân cuộc sống của dân tộc còn khó khăn và thiếu thốn sẽ hạn chế đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ngay chính trong tộc người đó
Tuyên Quang đã có những thành tựu nhất định trong xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, tỉ lệ hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn cao so với mặt bằng chung của tỉnh Bên cạnh đó, do những thành tựu xoá đói, giảm nghèo
đã đạt được còn thiếu tính bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao Trong khi hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số đều làm nghề nông Khi nói tới dân tộc thiểu số, chúng ta thường nghĩ ngay tới rừng núi, chăn nuôi, tới công việc đi rừng làm rẫy Điều đó đã in sâu vào trong suy nghĩ và tiềm thức của mỗi người, về công việc của đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 34Giúp bà con dân tộc thiểu số thoát nghèo, phát triển kinh tế là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước Nhưng nếu chỉ có chính sách hỗ trợ mà không có sự cố gắng của chính đối tượng được trợ giúp thì chính sách đó cũng không thể đạt được hiệu quả như mong muốn Nhiều năm qua, Đảng bộ các cấp của tỉnh Tuyên Quang cũng đã có những định hướng nghề, mở các lớp dạy nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số Nhưng một điều hết sức lưu ý là có rất nhiều hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số mong muốn cho con cái được làm cán bộ Điều này bị ảnh hưởng bởi suy nghĩ theo lối mòn của bà con dân tộc, cứ làm việc trong Nhà nước hay các tổ chức đều gọi là cán bộ mà không có sự phân biệt về ngành nghề hay công việc Mong muốn cuối cùng là "thoát nghèo", "thoát nông" Đồng bào dân tộc thiểu số rất hạn chế trong hiểu biết
về các công việc và ngành nghề Bên cạnh đó, đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số không có kiến thức phổ thông, thậm chí nhiều người còn chưa biết chữ; các trường nghề đa phần nằm xa làng bản, đi lại khó khăn cũng là những trở ngại không nhỏ trong công tác đào tạo nghề ở vùng dân tộc thiểu số dẫn đến người lao động muốn có công việc, để ổn định cuộc sống, trong khi tay nghề không có, là rất khó khăn
Tỉnh Tuyên Quang cũng đã có một số dự án các khu công nghiệp được
mở ra, khuyến khích sử dụng lao động tại chỗ, đặc biệt là ưu tiên con em đồng bào dân tộc thiểu số Nhưng bản thân họ không đáp ứng được những yêu cầu của công việc Nhiều công việc tuy đòi hỏi chuyên môn không cao, nhưng lại có những quy định và kỷ luật lao động công nghiệp, khiến lao động
là người dân tộc thiểu số không đáp ứng được
Việc di cư cũng là điều rất hạn chế với người dân tộc thiểu số Suy nghĩ bám đất bám quê ăn sâu vào tiềm thức của họ Nên dù có nghèo khổ họ cũng không muốn bỏ quê để tìm tới một cơ hội mới; việc kinh doanh buôn bán tại
Trang 35chỗ vô cùng nhỏ lẻ và kém phát triển Điều đó là nguyên nhân của những dự
án di dân tái định cư ở tỉnh Tuyên Quang không đạt được hiệu quả
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến sự phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số Sự phát triển này được dựa trên kinh tế của từng vùng miền khác nhau Các chương trình 135, 134 áp dụng cho các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn trên địa bàn cả nước cũng
đã đạt được một số thành tựu đáng kể về kinh tế cũng như xã hội Chương trình 135 cũng đã tạo ra bước chuyển quan trọng trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của người dân tộc thiểu số Đã có những kiến thức khoa học kỹ thuật được áp dụng trong các công đoạn sản xuất, đưa máy móc vào trong nông nghiệp, đưa các giống mới vào sản xuất Chính những công việc này
đã tác động mạnh mẽ đến xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ người dân tộc thiểu số phát triển để có thể thoát nghèo trên chính những tư liệu sẵn có của mình Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng đã dẫn tới những thay đổi về cơ cấu xã hội, phong cách, lối sống, phong tục tập quán cũng như dẫn tới sự "đô thị hoá", tạo ra các trung tâm dịch vụ cấp vùng, cấp địa phương, nhất là các dịch vụ xã hội liên quan trực tiếp đến sự phát triển nguồn cán bộ dân tộc như giáo dục - đào tạo, y tế - chăm sóc sức khoẻ, truyền thông, truyền hình tác động rất lớn đến việc hình thành một đội ngũ tri thức chuyên nghiệp sinh sống và hoạt động ở đô thị, vừa tạo nhu cầu cho các dân tộc thiểu số phấn đấu, tham gia vào hệ thống chính trị ở địa phương Xây dựng nông thôn mới thiếu quy hoạch cũng dễ tạo tình trạng phát triển bất cân xứng giữa các vùng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số
Đặc điểm này gây những khó khăn, trở ngại trong xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang nói riêng; đồng thời, đòi hỏi Đảng bộ phải luôn chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý
Trang 36của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế là người dân tộc thiểu số của tỉnh
2.1.1.3 Yếu tố về văn hóa
Bản sắc văn hóa là một vốn quý giá nhưng trước làn sóng đô thị hoá, trong điều kiện mở cửa và giao thương phát triển mạnh, một số bà con dân tộc thiểu số lại sinh sống gần các khu vực biên giới nên bản sắc văn hóa các dân tộc có nguy cơ bị mai một nhanh chóng Trong điều kiện hội nhập phát triển mạnh như hiện nay, một vấn đề đặt ra là phải bảo tồn di sản văn hóa nói chung và bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng Nhưng muốn bảo tồn được các di sản văn hóa đòi hỏi phải thay đổi về mặt nhận thức, có sự quan điểm chỉ đạo mang tính khoa học, đồng bộ của các cấp uỷ đảng và chính quyền Trong quá trình giao lưu, hội nhập với quốc
tế, chúng ta đứng trước những thách thức đặt ra và điều cần thiết là cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa người dân tộc thiểu số trong giao lưu
và hội nhập Trong quá trình tiếp biến văn hóa, có nhiều thay đổi như về tiếng nói, cách ăn mặc, lối sống, và văn hóa tộc người Riêng về tiếng nói và chữ viết, hiện đang phổ cập tiếng Việt cho hầu hết các dân tộc, đồng thời duy trì ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số Người dân
sẽ học chữ quốc ngữ song song cùng với chữ viết của dân tộc mình Đây
cũng là một biện pháp thiết thực nhằm bảo tồn nét văn hóa đặc sắc của dân tộc trước sự hội nhập quốc tế không ngừng gia tăng Không chỉ duy trì những nét văn hóa trong cộng đồng người dân mà ngay cả các cán bộ quản lý trong khu vực có người dân tộc thiểu số sinh sống bất kể là người dân tộc nào cũng sẽ phải học và làm quen với tiếng nói và chữ viết của dân tộc đó Đây là một điều rất cần thiết và thiết thực với công tác quản lý bởi có hiểu được người dân thì mới có thể đề ra các biện pháp và cách thức quản lý đúng đắn và phù hợp
Trang 37Vì vậy, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển cũng như phòng chống các biểu hiện tiêu cực trong tập tục của đồng bào các dân tộc thiểu số
2.1.1.4 Yếu tố về xã hội và dân cư
Tuyên Quang là địa bàn quần cư của nhiều dân tộc anh em sinh sống từ bao đời nay: Kinh, Tày, Nùng, H'Mông, Cao Lan, Sán Dìu, Cờ Lao, Pà Thẻn,
La Chí, Pu Péo, Lô Lô, Bố Y, Dao, Hoa, Giấy, Mường… Những dân tộc có dân số đông là Kinh, Tày sống tập trung ở thành phố Tuyên Quang và thị xã
và huyện Yên Sơn, Hàm Yên Các dân tộc thiểu số khác sống tập trung ở các huyện khác còn lại của tỉnh như Na Hang, Chiêm Hóa, Sơn Dương Các dân tộc sống xen kẽ với nhau rất đoàn kết và hòa thuận
Theo điều tra dân số năm 1991, Tuyên Quang có 596.679 người, mật
độ trung bình khoảng 100 người trên 1km2 Đến năm 2007, là 732.256 người Phần đông đồng bào sống tập trung ở vùng thấp, ven sông và các thị trấn, thị
xã Ở vùng cao, dân cư thưa thớt hơn
Với đặc điểm sống cách xa nhau về mặt địa lý, là những bất lợi cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống chính trị của tỉnh là một điều hết sức khó khăn Hơn nữa, do nền kinh tế chuyển đổi và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, có tính chất liên tục trong thời gian dài dẫn tới việc phân tầng xã hội ngày càng gia tăng Chính điều này đã tác động không nhỏ đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Đa số người dân tộc thiểu số là những người nghèo thuộc giai cấp nông dân Cơ hội để phát triển của họ là không nhiều Những điều kiện này đặt ra yêu cầu đối với các địa phương vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số là phải đào tạo nghề cho người lao động thiểu số thông qua các chương trình, dự án Chính vì thế,
Trang 38các tộc người thiểu số thường dễ bị tổn thương và hay phải đứng trước những rủi ro khi có những biến động về kinh tế, chính trị và xã hội, cơ hội
di động xã hội của họ không cao, do đó, nguy cơ tụt hậu hơn nữa là điều rất
có thể xảy ra
Các tộc người thiểu số thường sống quây quần thành các làng bản Tính cộng đồng trong dòng họ, thôn bản của đồng bào dân tộc thiểu số rất cao Họ nhất nhất nghe theo người đứng đầu dòng họ hay trưởng bản Điều này có lợi nhưng cũng là một điểm yếu để những "thế lực thù địch" lợi dụng chống lại đường lối của Đảng và Nhà nước Trưởng bản, trưởng tộc là những người có
uy tín được đồng bào cử ra điều khiển việc chung của một cộng đồng dân cư vùng dân tộc thiểu số Đây không chỉ là một yêu cầu của cuộc sống mà còn là phong tục tốt đẹp, là nét văn hóa riêng của các dân tộc thiểu số đã hình thành
và tồn tại từ rất lâu đời trong lịch sử Trong điều kiện hiện nay, họ đang thực
sự là nòng cốt, là cầu nối giữa dân với Đảng, với chính quyền, Mặt trận tổ quốc; họ có những đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền, vận động con cháu trong dòng tộc và các thành viên trong cộng đồng dân cư thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ yên gia đình, làng, bản của mình
Trong những năm gần đây, nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu
số về giáo dục và đào tạo cũng đã có những tiến bộ đáng kể Thể hiện ở việc
dự định của họ cho con em đi học ở các cấp học khác nhau Đây là nguồn
vô cùng quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Chính sách cử tuyển của Đảng và Nhà nước áp dụng cho vùng dân tộc thiểu số đã
mở ra hướng mới, nhằm mục đích nâng cao chất lượng nguồn cán bộ dân tộc thiểu số, để bổ sung vào đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số kế cận sau này Tuy nhiên, điều này cũng vấp phải một rào cản lớn, đó là sự ỷ lại của đồng bào dân tộc thiểu số Họ sống phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên với tâm lý
Trang 39dễ thì làm, khó thì bỏ và tâm lý này duy trì cả trong việc học tập Họ luôn bằng lòng với những gì sẵn có, thiếu ý thức phấn đấu cầu thị, chưa có ý thức học tập để tạo ra nền xã hội cho lập nghiệp, lập thân và rộng hơn là tìm cơ hội phát triển
Năng lực tham gia của các dân tộc thiểu số vào quá trình phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội và thể chế chính trị cũng góp phần vào sự phát triển của nguồn cán bộ dân tộc thiểu số tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ cách mạng
Các dân tộc thiểu số sống đan xen Vì thế đoàn kết dân tộc sẽ thúc đẩy
sự giao lưu học hỏi lẫn nhau, làm cho tri thức chung ngày càng mở rộng, và như thế quá trình xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số sẽ có những bước chuyển biến mới và có khả năng nâng cao tri thức một cách rõ ràng
2.1.1.5 Yếu tố quốc tế
Hiện nay Việt Nam đang có quan hệ với khoảng 650 tổ chức phi chính phủ nước ngoài, trong đó có trên 500 tổ chức hoạt động thường xuyên và cam kết dài hạn Nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ chủ yếu tập trung vào các ngành y tế, giáo dục; giải quyết các vấn đề xã hội cũng như phát triển kinh tế (nhất là du lịch) Đặc biệt các nguồn vốn này sẽ được ưu tiên nhiều hơn tới các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, môi trường xã hội còn nhiều hạn chế Những chương trình, dự án của các tổ chức quốc tế đem tới Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc xoá đói, giảm nghèo cũng như nâng cao đời sống và năng lực của người dân tại các vùng dự án
Khả năng giao lưu quốc tế được mở rộng cho phép các dân tộc có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhau Các phần tử xấu cũng lợi dụng chính sách
mở cửa của Việt Nam để thâm nhập, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện chủ nghĩa ly khai Tại một số nơi trong tỉnh, những phần
Trang 40tử này đã dựa vào miền núi, vùng sâu vùng xa, lợi dụng lòng tin, nhận thức còn bị hạn chế, đời sống vật chất khó khăn, thiếu thốn của đồng bào các dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Như sự kiện "Tổ chức tín ngưỡng Dương Văn Minh" những năm cuối thế kỷ XX ở Tuyên Quang đã lợi dụng nhận thức còn hạn chế của đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là người H'Mông Chúng đã kích động, lôi kéo họ tham gia theo "Tín ngưỡng Dương Văn Minh" mà thực chất đó là một tà đạo Kích động đồng bào H'Mông khiếu kiện với chính quyền đòi công nhận sự tồn tại của "Tín ngưỡng Dương Văn Minh", nhưng thực chất của mục đích là chống lại Đảng và Nhà nước Việt Nam Sau khi Dương Văn Minh bị bắt, chính quyền địa phương đã giác ngộ, phân tích cho đồng bào H'Mông trong tỉnh nhận thức được bản chất của tín ngưỡng này, giúp họ trở lại với cuộc sống hàng ngày, và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Như vậy, xét về yếu tố môi trường tự nhiên, đồng bào các dân tộc thiểu
số ở Tuyên Quang sống rải rác, xen kẽ nhau Về kinh tế - văn hóa, xã hội, văn hóa các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển không đều nhau Tuy cùng chia
sẻ một số giá trị văn hóa chung, nhưng mỗi dân tộc lại có những giá trị và sắc thái riêng Tất cả những yếu tố trên đã có những tác động và là một thách thức không nhỏ đối với Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở địa phương
2.1.2 Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số
ở Tuyên Quang trước năm 1991
Người Việt Nam luôn tự hào về nền văn hóa truyền thống của mình, bởi đó là một nền văn hóa phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc Sự phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc đó là do sự đóng góp của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Mỗi dân tộc tự xây