Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu đời sống xã hội với tính cách là một chỉnh thể, vạch ra những quy luật, những động lực chung nhất của sự vận động, phát triển xã hội. Hệ thống quy luật xã hội tồn tại ở các cấp độ khác nhau và các quy luật chi phối toàn bộ đời sống xã hội trong đó quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong hai quy luật cơ bản của CNDVBC về xã hội, đây là quy luật cơ bản tác động ở mọi HTKT- XH trong lịch sử nó chỉ ra sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người. Các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng do nhận thức chưa đầy đủ và vận dung máy móc nên giai đoạn đầu đã mắc phải một số sai lâm khuyết điểm. Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam( 1986), Đảng ta đã nhận thức lại mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT và vận dụng vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong đó Đảng ta xác định đổi mới kinh tế là trung tâm, đổi mới chính trị từng bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức, bước đi thích hợp. Đảng ta đã nhận thức lại đầy đủ hơn, đúng đắn hơn cơ sở kinh tế khách quan của thời kỳ quá độ, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đồng thời với đổi mới kinh tế là đổi mới chính trị đó là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của nhà nước, phân định rõ chức năng giữa Đảng và nhà nước. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia ...với sự nhận thức đúng đắn và vận dụng đúng quy luật CSHT và KTTT vào đổi mới kinh tế và chính trị nên sau 30 năm đổi mới đất nước ta đã thu được những kết quả to lơn mang tính lịch sử, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, chính trị ổn định, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao...
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu đời sống xã hội với tính cách là mộtchỉnh thể, vạch ra những quy luật, những động lực chung nhất của sự vận động,phát triển xã hội Hệ thống quy luật xã hội tồn tại ở các cấp độ khác nhau và cácquy luật chi phối toàn bộ đời sống xã hội trong đó quy luật về mối quan hệ biệnchứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong hai quy luật cơ bảncủa CNDVBC về xã hội, đây là quy luật cơ bản tác động ở mọi HTKT- XH tronglịch sử nó chỉ ra sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người Các nước xãhội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong xây dựng chủnghĩa xã hội nhưng do nhận thức chưa đầy đủ và vận dung máy móc nên giai đoạnđầu đã mắc phải một số sai lâm khuyết điểm Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam( 1986), Đảng ta đã nhậnthức lại mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT và vận dụng vào công cuộcđổi mới toàn diện đất nước trong đó Đảng ta xác định đổi mới kinh tế là trung tâm,đổi mới chính trị từng bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức, bước đithích hợp Đảng ta đã nhận thức lại đầy đủ hơn, đúng đắn hơn cơ sở kinh tế kháchquan của thời kỳ quá độ, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, giữ vai trò chủđạo của kinh tế nhà nước đồng thời với đổi mới kinh tế là đổi mới chính trị đó làtăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của nhà nước, phân định rõ chứcnăng giữa Đảng và nhà nước Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;tiến hành cải cách nền hành chính quốc gia với sự nhận thức đúng đắn và vậndụng đúng quy luật CSHT và KTTT vào đổi mới kinh tế và chính trị nên sau 30năm đổi mới đất nước ta đã thu được những kết quả to lơn mang tính lịch sử, kinh
tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, chính trị ổn định, hiệu quả quản lýnhà nước được nâng cao
Trang 2NỘI DUNG
I MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG CỦA XÃ HỘI
1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng.
1.1 Khái niệm cơ sơ hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tếcủa một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Hiểu khái niệm CSHT trên những nội
cơ bản sau:
CSHT là tổng hợp các QHSX hợp thành một cơ cấu kinh tế của một
XH nhất định nghĩa là nó là quan hệ hữu cơ của tất cả các QHSX của một
HTKT-XH nhất định, chứ không phải sự cộng lại giản đơn của các QHSX trong mộtHTKT- XH đó Trong sự vận động, tác động lẫn nhau hợp thành một cơ cấu kinh tếcủa một xã hội hiện thực, đồng thời tồn tại trong một giai đoạn lịch sử xã hội nhấtđịnh Cơ sở hạ tầng phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sởkinh tế của các quan hệ xã hội khác tức là trên cơ sở của CSHT này nó hình thành
nên các quan hệ tinh thần tương ứng Mác chỉ rõ : " Toàn bộ những QHSX ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một KTTT pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thức đó"1 Kết cấu của CSHT của một xã hội nhất định thường bao
gồm: Quan hệ đặc trưng thống trị; quan hệ sản xuất tàn dư; quan hệ sản xuất mầmmống ba quan hệ sản xuất này có mối quan hệ biện chứng với nhau hình thành nên
cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể ở mỗi gian đoạn phát triển nhất định của lịchsử.Trong đó QHSX thống trị giữ vai trò quyết định, chi phối đến các QHSX khác.Đồng thời, quy định đến bản chất, đặc trưng của CSHT và tác động đến xu hướngchung của toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Cơ sở hạ tầng được hình thành một cáchkhách quan nghĩa là CSHT không tự nhiên mà có, nó được hình thành một cách C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1995, tr.15
Trang 3khách quan từ sự hình thành khách quan của QHSX vì con người và xã hội loàingười muốn tồn tại và phát triển thì phải sản xuất vật chất trong quá trình sản xuấtvật chất con người không chỉ quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên mà phảiquan hệ với nhau mới đáp ứng được điều kiện và nhu cầu của nền sản xuất vật chấtcủa xã hội Các xã hội dựa trên cơ sở chiếm hữu tự nhiên về TLSX, CSHT mangtính chất đối kháng vì CSHT trực tiếp chứa đựng lợi ích của các giai cấp đối khángcủa CSHT được bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa đượctrong CSHT đó và do bản chất của QHSX thống trị quy định Biểu hiện tập trungcủa tính đối kháng trong CSHT là sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoànngười trong xã hội Các quan hệ sản xuất tàn dư và mầm móng có vị trí không đáng
kể trong xã hội có nền kinh tế đã trưởng thành vì nó chiếm tỷ trọng rất nhỏ trongnền sản xuất vật chất nhưng lại có vị trí rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần của xã hội đang ở giai đoạn mang tính chất quá độ vì nó kích thích vàphát triển LLSX
1.2 Khái niệm kiến trúc thượng tầng xã hội.
KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôngiáo, nghệ thuật và những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáohội vv được hình thành trên một CSHT nhất định Chúng ta cần hiểu khái niệmKTTT trên một số nội dung: Là toàn bộ các quan điểm, tư tưởng và các tổ chứcthiết chế tương ứng, mỗi kiểu KTTT gồm hai bộ phận: quan điểm tư tưởng nhưchính trị, pháp quyền; tôn giáo ; triết học, đạo đức, nghệ thuật ; các tổ chức, thiếtchế xã hội tương ứng như Đảng chính trị, nhà nước, giáo hội, các tổ chức xã hội.KTTT là sự phản ánh CSHT được hình thành trên một CSHT nhất định nghĩa là tất
cả các bộ phận khác nhau của KTTT đều ra đời và phát triển trên một CSHT nhấtđịnh, là phản ánh CSHT vì CSHT là những quan hệ vật chất, KTTT là những quan
hệ tinh thần, phản ánh CSHT nhất định, không có KTTT chung cho mọi CSHT
Lênin viết " KTTT gồm những quan hệ xã hội về tư tưởng ở trên những quan hệ vật
Trang 4chất" 2 KTTT là quan hệ giữa người với người về mặt tinh thần, tư tưởng, biểu hiệnnhững hiện tượng xã hội, biểu hiện tập trung đời sống tinh thần xã hội, là bộ mặttinh thần, tư tưởng của HTKT- XH Nó cùng với các bộ phận khác trong xã hội hợpthành cơ cấu hoàn chỉnh của HTKT- XH đó Trong xã hội có đối kháng giai cấp,KTTT mang tính giai cấp sâu sắc thể hiện ở sự đối địch về quan điểm, tư tưởng vàcuộc đấu tranh về mặt chính trị, tư tưởng giữa các giai cấp đối kháng Mâu thuẫnđối kháng trong KTTT bắt nguồn từ mâu thuẫn đối kháng trong CSHT KTTT củabất kỳ một HTKT-XH nào cũng không phải ra đời một lần là xong mà là quá trìnhxây dựng lâu dài trong suốt quá trình HTKT- XH ấy.
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
* Quan điểm trước Mác.
Trước Mác các nhà triết học đã giải thích một cách duy tâm quá trình vậnđộng, phát triển của lịch sử xã hội Họ đi từ tư tưởng để giải thích sự vận động,phát triển của lịch sử xã hội; hoặc cho nhà nước và pháp quyền là lực lượng quyếtđịnh đến đời sống xã hội như chủ nghĩa duy tâm thì cho rằng Nhà nước, pháp luậtquyết định quan hệ kinh tế ; ý thức, tư tưởng quyết định tiến trình phát triển của xãhội ; Hêghen : Nhờ có nhà nước mà gia đình và xã hội, công dân được bảo tồn, đờisống xã hội cũng như các mâu thuẫn xã hội được điều hòa; Phoiơbắc ( Duy tâm về
xã hội ): Đạo đức là yếu tố quyết định sự vận động phát triển của xã hội - Sự vậnđộng và phát triển của xã hội là sự thay thế các hình thức tôn giáo Chủ nghĩa duyvật kinh tế (Duy vật tầm thường) cho rằng kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định,còn ý thức, tư tưởng, chính trị không có vai trò gì đối với tiến bộ xã hội, tuyệt đốihóa vai trò của kinh tế, xem kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định sự vận động pháttriển của xã hội
*Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứngtrong một HTKT-XH nhất định Trong đó, cơ sở hạ tầng quyết định KTTT, KTTT
Lê nin Toàn tập, tập 1, Nxb TB, M.1974, tr 219
Trang 5có vai trò tác động to lớn, mạnh mẽ trở lại CSHT đã sinh ra nó; chính sự tác độngbiện chứng giữa hai yếu tố tạo thành quy luật được Mác phản ánh trong quy luật vềmối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT Đây là một trong hai quy luật cơbản quyết định sự vận động, phát triển của xã hội từ thấp đến cao, từ xã hội nàysang xã hội khác.
2.1 Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Trong mối quan hệ với KTTT thì CSHT bao giờ cũng giữ vai trò quyết định,khẳng định điều này xuất phát từ nguyên lý vật chất quyết định ý thức.Trong đờisống xã hội CSHT phản ánh những quan hệ vật chất, KTTT phản ánh những quan
hệ vật chất, KTTT Phản ánh quan hệ tinh thần, tư tưởng Vì vậy, trong mối quan hệgiữa CSHT và KTTT, CSHT luôn giữ vai trò quyết định; Bản chất của KTTT làphản ánh CSHT và nảy sinh trên CSHT, nên bao giờ cũng do CSHT quyết định
* Biểu hiện : Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng cả nguồn gốc,nội dung, tính chất và sự vận động biến đổi Về nguồn gốc Sự ra đời của KTTT( toàn bộ các quan điểm, tư tưởng thể chế xã hội không tự nhiên mà có, nó đượchình thành trên một CSHT nhất định CSHT với tính cách là cơ cấu kinh tế hiệnthực của xã hội sẽ quyết định kiểu KTTT của xã hội ấy CSHT nào thì cũng sinh raKTTT ấy Về nội dung, tính chất: CSHT quyết định KTTT về sự nghèo nàn hay đadạng, phong phú; hình thức tổ chức của KTTT đơn giản, gọn nhẹ hay cồng kềnh,phức tạp CSHT quyết định tính chất xã hội, nội dung giai cấp của KTTT là có đốikháng hay không đối kháng Nếu CSHT đơn giản một loại QHSX ví dụ : như thời ởthời kỳ cộng sản nguyên thủy, đồng thời quan hệ sản xuất đó dựa trên chế độ cônghữu về tư liệu sản xuất thì KTTT này gon nhẹ và thuần nhất một loại tư tưởng, đó
là cố kết chặt chẽ lại với nhau, không có ai tách rời khỏi cộng đồng Ăngghen viết :
" Với tất cả tính gây thơ giản dị của nó, chế độ thị tộc quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế
Trang 6mà mọi việc đều trôi chảy" 3 Nếu như CSHT gồm nhiều loại quan hệ sản xuất vàquan hệ sản xuất tư hữu thì KTTT cũng phức tạp về mặt quan điểm, tư tưởng đồngthời thể hiện sự đối kháng nhau.CSHT quyết định tính đối kháng hay không đốikháng của KTTT vì CSHT trực tiếp chứa đựng lợi ích của các giai cấp nếu CSHT
có đối kháng lợi ích thì KTTT của nó cũng có tính chất đối kháng về ý thức, tưtưởng ngược lại CSHT không có tính đối kháng thì KTTT cũng không có tínhchất đối kháng Trong xã hội có đối kháng giai cấp, giai cấp nào chiếm địa vị thốngtrị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị trong đời sống chính trị tinh thần của xã hội,mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng xãhội
Trong xã hội khi CSHT có mâu thuẫn đối kháng, tính đối kháng đó đượcphản ánh thông qua cuộc đấu tranh giai cấp trên KTTT là một tất yếu khách quan.Bởi vậy, CSHT như thế nào thì cơ cấu, tính chất của KTTT là như thế ấy Thực tiễnlịch sử chứng minh: CSHT cộng sản nguyên thủy không có tính chất đối kháng, vìQHSX thống trị dựu trên chế độ công hữu nguyên thủy về TLSX nên quan hệ vềmặt tư tưởng bình đẳng không có mâu thuẫn đối kháng
Xã hội chiếm hữu nô lệ : CSHT có tính đối kháng giai cấp vì QHSX thống trịdựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX nên biểu hiện lên KTTT cũng có mẫuthuẫn giai cấp.Về sự vận động, biến đổi chúng ta biết rằng khi CSHT thảy đổi thisơm hay muộn KTTT cũng phait yhay đổi theo bởi vì những mẫu thuẫn trong lĩnhvực kinh tế sẽ đẻ ra và quy định những mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tinh thần.Còn khi một một CSHT cũ bị xóa bỏ , CSHT mới ra đời thay thế cho nó sớm haymuộn KTTT cũ cũng sẽ bị xóa bỏ và một KTTT mới sẽ ra đời thay thế Tuy nhiên
sự xóa bỏ một KTTT củ chỉ với tính cách là chỉnh thể còn nhiều yếu tố của nó tiếptục duy trì tồn tại lâu dài phải dần dần khắc phục xóa bỏ Sự biến đổi diễn ra hếtsức phong phú, biểu hiện rõ nét nhất khi có sự biến đổi từ CSHT này sang CSHTkhác Đây là bước chuyển hóa về chất, sự biến đổi còn diễn ra trong phạm vi một C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb CTQG, H.1995, tr.147
Trang 7HTKT- XH, đây là sự chuyển hóa giai đoạn VD: Chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn
tự do cạnh tranh, tính chất dân chủ còn được thể hiện Khi chuyển sang giai đoạnCNTB độc quyền nhà nước: Quyền tự do dân chủ của nhân dân giành được trongcách mạng tư sản dần bị bóp nghẹt; hoạt động của các tổ chức tiến bộ bị cấm đoán;
văn hóa đạo đức trở nên suy đồi Mác viết :" Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả các KTTT đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng"4.Nguyên nhân xét đến cùng của
sự biến đổi KTTT là sự biến đổi của LLSX, tuy nhiên LLSX không trực tiếp gây ra
sự biến đổi của KTTT mà thông qua sự biến đổi của CSHT mới làm biến đổi cănbản KTTT Thực tiến lịch sử đã chứng minh trong xã hội cộng sản nguyên thủy doCSHT không có đối kháng về lợi ích kinh tế nên KTTT của xã hội đó chưa có nhànước, pháp luật; trong các chế độ xã hội mà CSHT có đối kháng về lợi ích kinh tếcủa các giai cấp, tất yếu KTTT phải có nhà nước, pháp luật bảo vệ lợi ích kinh tế,chính trị của giai cấp giữ địa vị thống trị trong xã hội
2.2 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng.
Kiến trúc thượng tầng do CSHT quyết định nhưng KTTT không hoàn toànthụ động, nó có vai trò tác động to lớn trở lại đối với CSHT sinh ra nó vì: Từ vai tròtác động trở lại của ý thức đối với vật chất Trong lĩnh vực xã hội thì quan hệ tinhthần cũng tác động trở lại quan hệ vật chất; trong xã hội KTTT là sự phản ánh củaCSHT, có nguồn gốc từ CSHT trong quan hệ biện chứng với CSHT, KTTT có tínhđộc lập tương đối; Từ vai trò của đời sống tinh thần đối với đời sống vật chất( từvai trò của quan điểm, tư tưởng và bộ máy tổ chức, thể chế do vậy KTTT luôn tácđộng một cách mạnh mẽ trở lại CSHT đã sinh ra nó) KTTT là cái phản ánh, là cáiđối lập với CSHT trong tính chỉnh thể cho nên nó tác động đến mặt đối lập Biểuhiện cụ thể đó là: KTTT luôn bảo vệ, củng cố, duy trì và định hướng phát triểnCSHT đã sinh ra nó( kể cả khi KTTT đã trở nên lỗi thời lạc hậu ) là một bộ phậncấu thành HTKT-XH, được sinh ra và phát triển một CSHT nhất định, cho nênnhiệm vụ hàng đầu của mọi KTTT là luôn luôn bảo vệ, duy trì, củng cố và hoàn C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1995, tr.15
Trang 8thiện CSHT đã sinh ra nó kể cả CSHT ấy đã trở nên lỗi thời lạc hậu; hướng dẫncuộc đấu tranh xóa bỏ CSHT của xã hội cũ và ngăn chặn sự nảy sinh của CSHTmới ngĩa là nó dùng sức mạnh bạo lực và hệ thống chuyên chính thông qua chínhsách và pháp luật để xóa bỏ QHSX tàn dư, ngăn chặn QHSX mầm mống và tạomôi trường xã hội, môi trường pháp luật thuận lợi cho QHSX thống trị tồn tại vàphát triển; khuynh hướng, chiều hướng tác động của KTTT đối với CSHT diễn ratheo hai chiều hướng: Nếu KTTT phản ánh đúng( cùng chiều) CSHT sẽ góp phầnbảo vệ, củng cố, thúc đẩy CSHT phát triển Nếu phản ánh sai lệnh CSHT sẽ kìmhãm sự phát triển của CSHT Đặc điểm của sựu tác động, các bộ phận của KTTTluôn tác động lẫn nhau và đều tác động đến CSHT đã sinh ra nó, nhưng vị trí, vaitrò ngang bằng nhau; trong xã hội có giai cấp quan điểm chính trị, pháp luật cùngnhà nước, đảng cầm quyền vai trò to lớn nhất, bởi vì đó là những quan điểm tưtưởng và tổ chức phản ánh trực tiếp CSHT Trong đó nhà nước là tổi chức đặc biệtcủa quyền lực chính trị, nhà nước không chỉ dựa trên hệ tư tưởng, mà còn dựa trênnhững hình thức nhất định của sự kiểm soát xã hội thông qua sử dụng bạo lực như:quân đội, cảnh sát, nhà tù để tăng cường sức mạnh kinh tế cảu giai cấp thông trị,củng cố vững chắc địa vị của QHSX thống trị, duy trì lợi ích và địa thống trị về
kinh tế, chính trị của giai cấp thống trị Ăngghen viết "Bạo lực ( tức là quyền lực nhà nước )- cũng là một sức mạnh kinh tế " 5 Các bộ phận khác của KTTT như triết
học, đạo đức nghệ thuật, tôn giáo cũng đều tác động đến CSHT bằng những hìnhthức khác nhau, song thường những sự tác động đó phải thông qua nhà nước, phápluật và các thể chế tương ứng thì mới phát huy được hiệu lực đối với CSHT cũngnhư đối với toàn xã hội Sự tác động của KTTT đến CSHT dù to lớn đến đâu cònphụ thuộc vào vai trò năng động chủ quan của con người trong nhận thức và vậndụng quy luật, dù KTTT có tác động to lớn đến đâu cũng không bao giờ vượt quađược vai trò quyết định của CSHT
2.3 Quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 37, Nxb CTQG, H.1997, tr.683
Trang 9*Chính trị : Là sự phản ánh tập trung của kinh tế, là quan hệ lẫn nhau giữa
các giai cấp, các tập đoàn người, các tập tầng lớp xã hội trong việc giành, giữ và sửdụng chính quyền nhà nước; chính trị còn là biểu hiện quan hệ giữa các quốc gia,dân tộc về mặt nhà nước Cơ cấu chính trị bao gồm: ý thức chính trị, tổ chức chínhtrị và hoạt động chính trị; vấn đề cơ bản, chủ yếu nhất của chính trị là quyền lựcnhà nước vì lợi ích căn bản của các giai cấp được thể hiện tập trung nhất là vấn đềquyền lực nhà nước Nhà nước là công cụ phương tiện mạnh mẽ để các giai cấpgiành và bảo vệ lợi ích căn bản của mình.Thực tế các giai cấp thường không dừnglại ở quan hệ kinh tế mà vấn đề sống còn là vấn đề quyền lực, thực thi quyền lực.Theo Lênin, cái căn bản nhất của chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước "
Chính trị là sự tham gia vào công việc của nhà nước, định hướng nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước " 6 ,; bất kỳ hoạt động
xã hội nào cũng có tính chất chính trị, nếu như việc giải quyết nó trực tiếp hay giántiếp gắn với vai trò chính quyền
* Kinh tế: Là các phương diện cơ bản của dời sống kinh tế - xã hộ, đó là cơ
sở kinh tế, quy luật kinh tế, lợi ích kinh tế vv Trong các yếu tố trên lợi ích kinh tếđược xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của mọi hoạt động cải biến xã hội
* Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị : Kinh tế và chính trị có quan hệ biện
chứng thống nhất với nhau Trong đó, kinh tế giữ vai trò quyết định đối với chính
trị, chính trị có tác động mạnh mẽ trở lại kinh tế; kinh tế quyết định chính trị : Vì
kinh tế là nội dung vật chất của chính trị, chính trị là sự biểu hiện tập trung củakinh tế; chính trị của một giai cấp do địa vị của giai cấp đó quyết định và giai cấpnào thống trị về kinh tế thì cũng quyết định về chính trị; lợi ích kinh tế là nguyênnhân xét đến cùng của những hành động chính trị trong đời sống hiện thực; biểuhiện: Các quan điểm, tư tưởng chính trị và các tổ chức thích ứng với nó là do tínhtất yếu kinh tế quyết định, các hình thức nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hộithay đổi ít nhiều, nhanh chóng tùy theo sự vận động, biến đổi của cơ sở kinh tế
Lê nin Toàn tập, tập 33, Nxb TB, M.1976, tr 104
Trang 10Chính trị tác động mạnh mẽ trở lại kinh tế : Chính trị không hoàn toàn bị động mà
tác động trở lại kinh tế; bởi vì trong quan hệ với kinh tế, chính trị có tính độc lậptương đối, hơn nữa chính trị còn liên quan trực tiếp đến lợi ích sống còn của các
giai cấp Khẳng định vai trò to lớn của chính trị Lênin viết : " Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế" 7 " Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất" 8 Sự tác động trở lại của chính trị đến kinh tế theo hai chiều hướng:
Nếu chính trị phản ánh sát đúng những những yêu cầu chín muồi của sự phát triểnkinh tế sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế; ngược lại sự tác động của chính trị sẽ trởnên tiêu cực nếu phản ánh không đúng và hoạt động trái với tính tất yếu của sự pháttriển kinh tế Từ việc nghin cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị rút ra: Khinhận thức, vận dụng quan hệ biện chứng này trong đời sống thực tiễn phải xuấtphát từ kinh tế, đồng thời luôn coi trong yếu tố chính trị, tránh tuyệt đối hóa mặtkinh tế sẽ dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa duy vật kinh tế tầm thường; tuyệt đối hóamặt chính trị sẽ dẫn đến sai lầm, chủ quan, duy ý chí dẫn đến thất bại trong hoạtđộng thực tiễn
II Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay.
1 Tính tất yếu phải đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được 30 năm Những thành tựu tolớn của đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với hôm nay, mà cả với ngàymai Đời sống xã hội đang thay đổi khá nhanh chóng trên trên tất cả các phươngdiện và các lĩnh vực khác nhau Nhưng, nhìn chung, công cuộc đổi mới đang nhưmột công trường xây dựng chưa hoàn thành, còn ngổn ngang công việc Có nhữngviệc đã làm xong, nhiều việc đang làm dở, nhiều việc khác cần phải làm nhưng lại
7 Lê nin Toàn tập, tập 42, Nxb TB, M.1974, tr 439
Lê nin Toàn tập, tập 42, Nxb TB, M.1976, tr 350
Trang 11chưa làm được Nếu đặt đổi mới trong tổng thể quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước thì những việc đã, đang và sẽ phải làm, có thể được đánh giá ở tầmchiến lược một cách đầy đủ, toàn diện hơn Tính bề bộn, dang dở, trình tự các việcphải làm và tầm cỡ của mỗi việc cần phải được nhìn nhận lại một cách đầy đủ,khách quan, khoa học hơn Từ đó, mới có thể rút ra được những bài học kinhnghiệm thực sự bổ ích và thiết thực hơn, giúp cho sự phát triển bền vững nhanhhơn, mạnh hơn trong thời gian tới.
Hiện nay, công cuộc đổi mới quan điểm chính trị về kinh tế và đổi mới kinh tếnói chung đang thực sự bước vào một giai đoạn mới Những yêu cầu về đổi mớiquan điểm phát triển kinh tế và đổi mới kinh tế đang đòi hỏi phải có những đột phámới Mặc dầu những tư tưởng, quan điểm được Đại hội VI và các Đại hội tiếp theocủa Đảng nêu ra có tính chất bước ngoặt, phá vỡ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, xóa
bỏ bao cấp, bước đầu chấp nhận kinh tế thị trường và sở hữu cá thể, nhưng tínhchất đồng bộ, toàn diện và triệt để của những quan điểm mới vẫn còn bị hạn chế.Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị hiện nay sẽ không còn đầy đủ và triệt để, sẽkhông đồng bộ và toàn diện, nếu chỉ dừng lại ở việc đa dạng hoá các hình thức sởhữu, các khu vực kinh tế, xoá bỏ bao cấp và thay thế cơ chế kế hoạch hoá tập trung,mệnh lệnh, bao cấp bằng cơ chế kinh tế thị trường chưa phát triển đầy đủ và đồng
bộ Thực tiễn đời sống xã hội đang đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trongcác lĩnh vực, như phân phối, quản lý và điều hành nền sản xuất xã hội Đòi hỏi nàyđược thể hiện bằng hàng loạt những vấn đề đang được đặt ra một cách cấp thiếttrên bình diện xã hội: cải cách chế độ tiền lương, thực hiện công bằng xã hội, đổimới phương thức quản lý đời sống kinh tế, xã hội (quản lý hộ khẩu, thuế thu nhập
cá nhân, bất động sản, lao động,v.v.)
Mặt khác, sự phát triển kinh tế trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua cũng đòihỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trên lĩnh vực chính trị, trong đó có cả nhữnglĩnh vực, những vấn đề mà, từ trước đến nay, hầu như chưa động chạm đến nhiều
Trang 12Thực tiễn đời sống xã hội đang bức xúc về những vấn đề, như cải cách hành chính,dân chủ hoá, tổ chức lại bộ máy chính phủ và hệ thống chính quyền các cấp, đổimới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quan hệ Đảng –Nhà nước – các đoàn thể chính trị, xã hội, v.v Tính bức xúc đòi hỏi phải đổi mới
hệ thống chính trị xuất phát trước hết từ nhu cầu phát triển và đổi mới kinh tế đãdiễn ra trong 30 năm qua tích tụ lại Sự bất cập, thiếu đồng bộ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị đã gây ảnh hưởng kìm hãm sự phát triển và đổi mới tiếp tụctiến xa hơn nữa
Trên một góc độ khác, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị,như đã nói, lại có quan hệ gắn bó với nhu cầu nội tại của sự phát triển tiếp theo củađất nước Thực tiễn đổi mới kinh tế đang đòi hỏi đổi mới chính trị phải nới lỏnghơn nữa, phải tháo gỡ những trói buộc của các quan điểm chính trị, các chính sách,thiết chế, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy… Nhu cầu đổi mới hệ thống chính trị,các tư tưởng, quan điểm, tâm lý chính trị, những thiết chế và cơ chế hoạt động củacác tổ chức chính trị, đặc biệt là của bộ máy nhà nước, để mở đường cho kinh tế và
xã hội phát triển bền vững luôn là một nhu cầu khách quan xuất phát từ sự pháttriển xã hội
Đòi hỏi đổi mới chính trị hiện nay được tích tụ nhiều năm trong quá trình đổimới được thể hiện ở nhiều vấn đề, trong nhiều lĩnh vực và với các mức độ, quy môkhác nhau Nhưng, tựu trung lại, dưới dạng tổng quát, cô đọng và tập trung nhất làđổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và những đặc điểm của thời đại ngày nay.Mọi sự ràng buộc, lệ thuộc, thậm chí có thể nói, tình trạng nô lệ cho những quanđiểm và thể chế cũ đang là xiềng xích trói buộc đổi mới chính trị và kìm hãm đổimới kinh tế ở Việt Nam Hàng loạt vấn đề khác được thảo luận sôi nổi thời gianqua, như quản lý hộ khẩu, các thủ tục hải quan, thuế thu nhập cá nhân, quản lý bấtđộng sản, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức lại bộ máy hành pháp các cấp, cơchế và quan hệ Đảng - Nhà nước - các đoàn thể chính trị - xã hội,… đang là những
Trang 13vấn đề bức xúc của đời sống chính trị - xã hội Đó là những bức xúc thể hiện nhucầu nội tại của sự phát triển kinh tế – xã hội trong nhiều năm qua.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay,không chỉ đổi mới kinh tế, mà cả đổi mới chính trị ngày càng trở thành nhu cầu bứcxúc hơn Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu đổi mới nộitại, đồng thời tạo cơ hội cho đổi mới kinh tế và chính trị rộng lớn hơn, đồng bộ và
toàn diện hơn, sâu sắc và triệt để hơn Sự tác động ấy, một mặt, trực tiếp buộc
chúng ta phải thay đổi một số thể chế, luật pháp, quy trình thực hiện, quan điểm và
phương pháp đánh giá các vấn đề kinh tế, xã hội, v.v Mặt khác, nó thúc đẩy nhu
cầu nội tại, bên trong của Việt Nam về đổi mới một cách mạnh mẽ hơn Đổi mới ởgiai đoạn hiện nay và sắp tới gắn bó chặt chẽ và chịu tác động của toàn cầu hoá vàhội nhập quốc tế lớn hơn nhiều so với khi chúng ta bắt đầu đổi mới năm 1986 Nhucầu đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đòi hỏi phải có những đột phá căn bản Nếu như
ở giai đoạn trước đây, đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị đã động chạm đến phầnngoài thì sắp tới, đổi mới buộc phải động chạm đến phần nhân lõi: hệ thống chínhtrị, phương thức phân phối, công bằng xã hội, dân chủ và văn minh,…, bởi nó trựctiếp động đến nền tảng chính trị và kinh tế của toàn xã hội và của các bộ phận dân
cư nhạy cảm nhất
Điều đó khiến cho công cuộc đổi mới ở giai đoạn sắp tới phức tạp hơn, khókhăn hơn Trước đây, khi bắt đầu đổi mới, xã hội trong trạng thái khủng hoảng, cáctầng lớp dân cư đều có nhu cầu bức thiết về đổi mới với mức độ tương đồng, do đó
dễ dàng thống nhất mục tiêu, biện pháp Việc khởi xướng đổi mới tư duy, trước hết
là đổi mới tư duy kinh tế, dễ dàng nhận được sự đồng thuận xã hội rộng rãi và sâusắc Tình hình hiện nay không hoàn toàn giống như hơn 30 năm trước đây Phântầng xã hội trong hơn 30 năm qua tạo nên những lợi ích và nhu cầu khác nhau đốivới giai đoạn tiếp theo của đổi mới Giai đoạn tiếp theo cũng không thể chỉ xácđịnh trọng tâm duy nhất của đổi mới chỉ là đổi mới kinh tế Bối cảnh quốc tế cũng
Trang 14như những đòi hỏi nội tại của xã hội đang yêu cầu đổi mới trong giai đoạn tiếp theophải xem đổi mới chính trị như một trong những trọng tâm quan trọng để thúc đẩyđổi mới kinh tế Hơn nữa, đó phải là những đổi mới quan điểm một cách căn bản,đột phá để tạo nên bước phát triển nhảy vọt nhưng vững chắc Đổi mới kinh tế vẫnphải đồng hành với đổi mới chính trị, nhưng đổi mới chính trị trong giai đoạn tớiphải được chú trọng và nhấn mạnh hơn để tạo ra những bước đột phá mới, căn bản.Nếu không có những bước đột phá căn bản trong đổi mới, Việt Nam vẫn có thểphát triển đều và ổn định, nhưng sẽ không rút ngắn được khoảng cách tụt hậu sovới các nước phát triển cao Điều này đã được các nhà lãnh đạo và các học giả,quần chúng nhân dân nhận thức rõ Đây sẽ là lực lượng và động lực quan trọng chogiai đoạn đổi mới tiếp theo.
Như vậy, trong giai đoạn tiếp theo vẫn phải là đổi mới trước hết các quanđiểm, quan niệm về con đường, phương thức phát triển nhưng không còn thuần túy
là phương thức phát triển kinh tế Đổi mới sẽ phải là đổi mới đồng bộ hơn, cả kinh
tế lẫn chính trị, trong đó đổi mới chính trị phải được chú trọng nhiều hơn, đụngchạm trực tiếp nhiều hơn đến những vấn đề của hệ thống chính trị, như tổ chức bộmáy nhà nước các cấp, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị, các quan điểm và
cơ chế thực hiện công bằng, dân chủ,… Đó là một đòi hỏi khách quan của xu thếphát triển chung của đất nước trong bối cảnh mới nói chung và của đổi mới tronggiai đoạn hiện nay nói riêng Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải suy ngẫm, tìm tòi đểphát hiện ra mắt xích then chốt cần đổi mới hiện nay là gì Đó là những nhận địnhchung, tổng quát, bao trùm về những nét chung và chính yếu nhất, là bức tranhchung về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay Tuynhiên, trên thực tế, chúng ta thấy tương quan giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chínhtrị trong những nét chi tiết đang diễn biến rất đa dạng và đa chiều cả trong nhậnthức lẫn trong hiện thực
2 Quan điểm, nhận thức về đổi mới kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay.
Trang 15Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một nộidung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng ta từkhi đổi mới đến nay Sự nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề này của Đảngcũng là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới củaĐảng Thời kỳ trước đổi mới, về nhận thức, chúng ta đã nhấn mạnh qúa mức vai tròkiến trúc thượng tầng, coi chính trị là thống soái, quyết định kinh tế và tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội; chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế trong quan hệvới chính trị Về cơ chế, chúng ta cũng nhận thức một cách đơn giản về tác độngcủa kiến trúc thượng tầng chính trị đối với cơ sở kinh tế Chính trị can thiệp quá sâuvào các quá trình kinh tế - xã hội bằng hệ thống mệnh lệnh chủ quan của các cơquan quản lý các cấp và thiết chế, bộ máy hành chính còn quan liêu, cửa quyền,cồng kềnh, kiếm hiệu quả.
Từ khi đổi mới đến nay, về quan điểm Đảng ta chủ trương Kết hợp ngay từđầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng
thời từng bước đổi mới chính trị Đây là nhận thức đúng cả về mặt lý luận cả về
mặt thực tiễn Khái niệm “đổi mới kinh tế” qua các văn kiện của Đảng được hiểu làqúa trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp chủ yếu dựa trên chế
độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam theo định hướng XHCN Đó là bước chuyển từ nền kinh tế cơbản là “khép kín” sang nền kinh tế “mở” đối với khu vực và thế giới, kết hợp tăngtrưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môitrường sinh thái và từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khái niệm “đổi mới chính trị” qua các văn kiện của Đảng được hiểu là đổi mới
tư duy chính trị về CNXH; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thốngchính trị, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới, nâng caohiệu quả quản lý của Nhà nước XHCN nhằm giữ vững ổn đinh chính trị để xây
Trang 16dựng chế độ XHCNngày càng vững mạnh; thực hiện tốt nền dân chủ XHCN nhằmphát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong qúa trình xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN và phát triển kinh tế-xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam.
Trong qúa trình đổi mới, Đảng ta cho rằng ổn định chínhh trị không có nghĩa
là bảo thủ, trì trệ, ngược lại nó có vai trò quan trọng đảm bảo điều kiện cho các lĩnhvực khác phát triển, làm cho quá trình đổi mới trở nên toàn diện hơn Ổn địnhchính trị cũng đồng thời góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lựcquản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình đổimới đất nước
Để giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân, Hộinghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (3-1989) quyết định các nguyêntắc cơ bản để chỉ đạo toàn bộ qúa trình đổi mới theo định định hướng XHCN: “Đổimới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phúnhững quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo vào pháttriển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin”
Về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Hội nghị lần 6 Ban
Chấp hành Trung ương khóa VI đã chỉ ra: “Chúng ta tập trung sức làm tốt đổi mới
kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của của tổ chức chính trị Không thể tiến hành cải cách hệ thống chính trị một cách vội vã khi chưa đủ căn cứ, mở rộng dân chủ không có giới hạn, không có mục tiêu cụ thể và không đi đôi với tập trung dẫn đến sự mất ổn định về chính trị, gây thiệt hại cho sự
của Đảng ta biểu hiện bằng nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trungương khóa VI (8-l989) về công tác tư tưởng trong bối cảnh quốc tế vụ cùng phức
9
Trang 17tạp khi đó: "Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động, không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực
Chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trịđược tiếp tục nhấn mạnh Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng nhữngđòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xxa hội khác,xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quantrọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị Đồng thời với đổi mớikinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thốngchính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dântrên các lĩnh vức chính trị, kinh tế, văn hội, xã hội Kinh nghiệm thành công của sựkết hợp đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đươc Đảng ta khẳng định: Kết hợp chặtchẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọngtâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.Đó là những quan điểm đúng đắn củaĐảng ta phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân lao động, những quan
điểm này tiếp tục được khẳng định trong Đại hội X với mục tiêu: “đổi mới toàn
diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp" Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống
mới chính trị: “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trìnhthích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đổi
10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương, khóa VI, tr.17.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, tr.70.
Trang 18mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷcương ”Như vậy, về đổi mới kinh tế, Đại hội XI của Đảng tập trung vào đổi mới
để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN Để hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường XHCN, đến đại hội XII của Đảng ta có quan điểm
Thứ nhất, Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý phát triển
kinh tế- xã hội Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, có nhiềuhình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ, hiệu quảtheo quy luật kinh tế thị trường, cạnh tranh bình đẳng, minh bạch Đồng thời, nhànước sử dụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, chính sách phân phối vàphân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội,bỏa đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đờisống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo
Thứ hai Bảo đảm phát triển nhanh bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô
và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Pháttriển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh.Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội bảo vệ môitrường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo đảm quốc phòng, an ninh vàgiữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước
Về đổi mới chính trị, Đại hội XII của Đảng đã tập trung 3 yếu tố cơ bản,
trọng yếu là Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; phát huy dân chủ
xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Đại hội XII chủ trương:
"Nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt đối với nhà nước Đảng
Trang 19lãnh đạo nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm đường lối, những chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo
tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã xác định trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở tất cả các cấp bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ thống tổ chức của Đảng; đổi mới phướng pháp, phong cách lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể dân chủ, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn nói đi đôi với làm Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước Nghị quyết phải thiết thực, ngắn ngọn, khả thi; phải tính đến cân đối các nguồn lực và điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả; phân công rõ trách nhiệm tổ chức cá nhân, thời hạn hoàn thành các nhiệm vụ giải pháp được nghi trong nghị quyết Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, dứt điểm việc cụ thể hóa, thể chế hóa, tổ chức thực hiện nghị quyết; thường xuyên kiểm tra đôn đốc; đổi mới cách thức quán triệt, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, bảo đảm tính hiệu quả Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, khắc phục những thủ tục rườm rà, bất hợp lý, giảm bớt giấy tờ, giảm mạnh hồi họp.Tiếp tục tổng kết thực tiễn , nghin cứu lý luận về Đảng cầm quyền, xác định rõ mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền" 12
12 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb văn phòng trung ương Đảng;
H.2016, tr.214-215-216.
Trang 20Điều quan trọng là Đại hội XII của Đảng khẳng định quyết tâm của toànĐảng, toàn dân và toàn quân ta tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức,nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiểu quả quản lýnhà nước, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnhtoàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh và bền vững,thực hiện mục tiêu cao cả xây dựng nước Việt Nam XHCN dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh “ vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội làm tiêu chuẩncao nhất để đánh giá hiệu quả của qúa trình đổi mới và phát triển” nói chung, đổimới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta nói riêng Tiêu chí này chỉ ra mục đíchcủa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị của Đảng ta.
2 Thực trạng của đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta
Trong những năm đổi mới, sự kết hợp hài hòa giữa đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị đã đem lại bước chuyền biến tích cực đối với đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội của đất nước, với những thành tựu nổi bật là:
Thứ nhất, thành công lớn nhất và quan trọng nhất có ý nghĩa sống còn đối với
dân tộc Việt Nam là chúng ta tiến hành qúa trình đổi mới không phải bắt đầu từ
việc “đổi mới” trong lĩnh vực chính trị như ở Liên Xô và các nước XHCN khác ở Đông Âu, cũng không đồng thời “đổi mới” ngay lập tức cả hai lĩnh vực chính trị
lẫn kinh tế Chúng ta rất tỉnh táo và đủ bản lĩnh giữ vững ổn định chính trị, giữvững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để làm trục đỡ chính trị cho việc điều chỉnh
và đổi mới kinh tế
Thứ hai, nhờ có định hướng chính trị rõ ràng, bằng các chính sách chuyển đổi
cơ chế và cơ cấu phù hợp với yêu cầu khách quan của thực tiễn, kinh tế của nước tatăng trưởng vượt bậc, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Người dân tintưởng vào đường lối đổi mới khi nhận thấy lợi ích của mình được đảm bảo Nhờ có
tư duy mới và dựa vào lợi ích của nhân dân nên đường lối đổi mới đó gắn chặt với
thực tiễn đất nước, mang “hơi thở” cuộc sống Bằng các chủ trương, chính sách
Trang 21vừa có tính định hướng, vừa cụ thể thiết thực, đường lối đổi mới của Đảng đã đivào cuộc sống, tạo tiền đề để giải phóng sức sản xuất xã hội, phát huy tinh thầnsáng tạo, tính tích cực chính trị của nhân dân Nhân dân chủ động tham gia vào đờisống kinh tế, đời sống chính trị để xây dựng, phát triển kinh tế, bảo vệ chế độ đó,
đang đảm bảo lợi ích cho họ Nhờ vậy, “Sau hơn 20 năm thực hiện Cương lĩnh,
chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết
Bên cạnh những thành công vừa nêu trên, việc vận dụng và xử lý mối quan
hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị của chúng ta cũng có nhiềuđiểm cần phải cố gắng hoàn thiện hơn nữa Đổi mới là cả một quá trình lâu dài vàphức tạp do thực tiễn luôn vận động và thay đổi Đường lối đổi mới và định hướngđổi mới kinh tế với đổi mới chính trị của Đảng cần phải khẳng định là đúng đắn,tuy nhiên vấn đề lại là hiệu quả của việc thực thi đường lối đó trong từng giai đoạn
cụ thể, trong từng cách làm cụ thể, của từng mối quan hệ cụ thể Đại hội XI củaĐảng thắng thắn nhìn nhận về hạn chế trong đổi mới chính trị so với đổi mới kinhtế: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa đượcphát huy đầy đủ Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoànthể nhân dân chuyển biến chậm; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩachưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; công tác xây dựngĐảng còn nhiều hạn chế, yếu kém, chậm được khắc phục Những hạn chế của đổimới chính trị trong mối quan hệ với đổi mới kinh tế này đã cản trở qúa trình đổimới kinh tế, thậm chí kìm hãm kinh tế phát triển Vấn đề đổi mới chính trị chưathực sự có hiệu quả một phần do chúng ta chưa làm rõ và phân định dứt khoát chức
13 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, tr.20.
Trang 22năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước Mặt khác, trong đổimới chính trị chúng ta mới chỉ tập trung nhấn mạnh ý nghĩa của đổi mới tư duy vềchính trị chứ chưa thực sự tiến hành đổi mới ở con người chính trị-chủ thể hoạtđộng chính trị và cơ chế hoạt động có hiệu quả của hệ thống chính trị.
Do vậy, để đất nước phát triển hơn nữa cần tiếp tục nhận thức và giải quyếttốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Đây cũng là thực chất,yêu cầu, nội dung của một trong tám mối quan hệ lớn trong thời kỳ qúa độ lênCNXH nước ta mà Đảng ta đẫ đề ra cần giải quyết đúng đắn
3 Nhiệm vụ và giải pháp trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3.1 Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại( xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theohướng hiện đại chú trọng những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinhtế; những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội và những tiêu chí phảnánh trình độ phát triển về môi trường; phát triển công nghiệp, phát triển nôngnghiệp và kinh tế nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển khu vựcdịch vụ, phát triển kinh tế biển; phát triển kinh tế vùng, liên vùng; phát triển đô thị;xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội)
3.2 Hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Phương hướng, mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa; tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế,