1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM

67 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 913,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu về vấn đề vi phạm bản quyền sách, chúng tôi xuất phát từ những mục đích sau: Có cái nhìn khái quát về nhu cầu sử dụng sách phục vụ công tác nghiên cứu và họ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Bạn có biết mỗi năm có bao nhiêu “phi vụ in ấn sách lậu” được “đưa ra ánh sáng”?

Bạn có biết mỗi năm có bao nhiêu vụ kiện liên quan đến bản quyền sách?

Bạn có biết tại hội thảo “Sách vi phạm bản quyền của các nhà xuất bản nước ngoài, thực ưạng và giải pháp phòng chống” do Fahasa tổ chức vào ngày 09-07-2008, ông Võ Đại Phúc (đại diện nhà xuất bản Oxford tại Việt Nam) buồn bã cho biết, mỗi khi nhắc đến Việt Nam, giới xuất bản thế giới đều e ngại?1

Hằng năm có hơn hàng ngàn vụ in ấn sách lậu tại Việt Nam, nhiều vụ kiện liên quan đến bản quyền sách giữa nhà các nhà xuất bản trong nước; giữa nhà xuất bản Việt Nam và nhà xuất bản nước ngoài Càng đáng lo ngại hơn khi các tiệm photo chép sách, sinh viên bất chấp luật bản quyền sử dụng sách photo tràn lan, dần dần biến một thực trạng đáng lên án thành một điều tự nhiên trong xã hội Đã

có nhiều cách giải quyết được đưa ra, nhiều hiệp định được ký kết nhưng thực trạng này vẫn kéo dài

và ngày một rơi vào bế tắc Phải chăng càn một biện pháp khác khả thi và khoa học hơn ?

Việt Nam khi gia nhập WTO ngoài những mặt trái xã hội như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, sự thiếu minh bạch và chặt chẽ trong hệ thống luật, quản lý thì thực trạng vi phạm bản quyền,

cụ thể hơn là bản quyền sách không sớm thì muộn cũng sẽ là một trở ngại, cản trở quá trình thương mại của quốc gia

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về vấn đề vi phạm bản quyền sách, chúng tôi xuất phát từ những mục đích sau:

Có cái nhìn khái quát về nhu cầu sử dụng sách phục vụ công tác nghiên cứu và học tập của sinh viên cũng như ý kiến, suy nghĩ của sinh viên các trường được khảo sát về vấn đề “Sử dụng sách photo và bản quyền”

Góp phàn giúp sinh viên có cái nhìn tổng quát về thực trạng vi phạm bản quyền sách hiện nay, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng sách gốc đối với bản thân sinh viên và lợi ích xã hội

Góp phần báo động những hậu quả từ việc sử dụng sách photo và vi phạm bản quyền sách Từ

đó giúp sinh viên có nhận thức đúng đắn hơn trong việc tự giác sử dụng sách gốc Song song đó chúng tôi đề xuất một số hướng giải quyết và mô hình sử dụng sách tiết kiệm và hiệu quả hơn trong cộng đồng sinh viên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu như trên, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ:

1

Theo www.vietnamnet.com

Trang 2

- Tìm hiểu thực trạng, phân tích việc sử dụng sách và các quy định sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, công ước Berne

Đe xuất giải pháp, mô hình sử dụng sách tiết kiệm và hợp pháp

Trang 3

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đe tài được thực hiện tại các trường đại học trong địa bàn thành phố: Đại học Ngoại Thương

cơ sở II, trường Đại học kinh tế, trường Đại học Quốc Te _ đại học quốc gia thành phố Hồ Chì Minh, trường Đại học Mở, trường Đại học Y_ Dược

Đối tượng nghiên cứu là sinh viên hệ đại học chính quy của các trường

Việc chọn mẫu khảo sát được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng: Bốc thăm ngẫu nhiên 5 trường đại học trong thành phố Hồ Chí Minh Mỗi trường chọn ngẫu nhiên 2 lớp học rồi phát phiếu điều tra với số lượng 50 phiéu/lớp Két quả khảo sát được thể hiện ở bảng sau:

Trường đại học Số phiếu phát ra Số phiếu họp lệ thu

Bảng 1: Số phiếu phát ra và thu về của các trường đại học

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, chúng tôi còn sử dụng thêm những phương pháp bổ trợ khác như:

Phương pháp phi thực nghiệm:

Quan sát: ưong quá trình học, chúng tôi được các giáo viên trường Đại học Ngoại Thương cơ

sở n đề cập nhiều đến vấn đề vi phạm bản quyền sách ưong việc học tập của sinh viên Chúng tôi cũng có cơ hội tiếp cận với sách báo, tài liệu về hiện trạng vi phạm bản quyền

- Điều tra bằng bảng hỏi: lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, đối tượng là sinh viên một số trường đại học trong TP Hồ Chí Minh

Phương pháp xử lý thông tin: thông tin định lượng thu được từ phiếu khảo sát được xử lý toán học, kết quả thu được là các bảng số liệu, biểu đồ

Thu thập, tổng hợp thông tin, số liệu từ báo chí, Internet

Trang 4

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Mặc dù đã có một số bài báo, ý kiến về vấn đề vi phạm bản quyền sách và việc sử dụng sách photo nhưng chưa thấy có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về thực trạng ưên Bên cạnh đó, một vài giải pháp được đưa ra nhưng không mang tính khả thi cao hoặc chỉ có thể áp dụng trong phạm vi nhỏ

Dưới đây là một phần nhỏ trong số những bài báo viết về vấn đề vi phạm bản quyền sách, việc

sử dụng sách photo, sách gốc ở thành phố Hồ Chí Minh và những giải pháp hạn ché việc vi phạm bản quyền ưích từ nguồn :

- Ông Trần Thức - giám đốc Trung tâm sách và tác quyền của Công ty văn hóa Phương Nam nói: “Từ khi gia nhập Công ước Berne, các tập đoàn xuất bản nước ngoài đã chú ý hơn đến thị trường

VN Trước nay đã có các tập đoàn như Cambrige, Oxford, Long Man muốn tìm kiếm nhà phân phối độc quyền các sách ngoại văn ở VN Tuy nhiên họ vẫn còn e ngại lắm ở khả năng bảo vệ tác quyền của mình” Ông còn cho biết: “Trong các cuộc thương thảo về tác quyền, chúng tôi nhận thấy phía đối tác thường chỉ muốn hợp tác xuất bản sách tại VN chứ còn bán tác quyền thì họ còn ngại lắm Hợp tác xuất bản thì hai bên cùng bỏ vốn, xuất bản sách, phát hành và chia lợi nhuận, tác quyền vẫn

là của họ”.2

- Bà Quách Thu Nguyệt - giám đốc NXB Trẻ cho biết trong một số thương vụ hợp đồng mua tác quyền, phía đối tác nước ngoài đồng ý cho phép các NXB VN được sử dụng những biện pháp ngăn chặn, đấu tranh chống vi phạm bản quyền, và trong trường hợp đó, phía giữ tác quyền của sách gốc

có thể sẽ “chia sẻ” 50% chi phí cho những hoạt động này.3

- Ông Vũ Đình Hòa - giám đốc nhà sách Văn Lang cho biết hiện nay những nhà sách nhỏ như ông rất khó tìm mua tác quyền sách Hiện nay, nhiều người trong giới làm sách tư nhân như ông Hòa xoay sang làm lại các sách đã có giấy phép từ trước Công ước Berne, hoặc làm những sách cổ điển đã hết hạn tác quyền.4

7 Thòi gian, kỉnh phí và phân công công việc cho thành viên nhóm:

STT Nội dung công việc Thòi gian Kỉnh phí (nghìn

đồng)

Ngưòi thực hiện

Trang 5

Thực trạng sử dụng sách trong giới sinh viên hiện nay và phân tích Các

quy định về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, thực trạng và phân tích Giải pháp và phân

tích Phần két luận

Phần phụ lục

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG sử DỤNG SẮCH TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY, THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM VÀ PHÂN TÍCH

1 TÌNH HÌNH Sử DỤNG SÁCH TRONG SINH VIÊN HIỆN NAY VÀ PHÂN TTCH

1.1 Tình hình sử dụng sách trong sinh viên hiện nay

1.1.1 Loại sách được sử dụng chủ yến

Phần trăm loại sách chủ yếu mua (%)

■ % sách gốc mới

■ % sách gốc cũ

% sách photo

Biểu đồ 1: Phần trăm loại sách chủ yếu sinh viền mua

Từ xưa đến nay, sách là người bạn thân luôn đồng hành cùng học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, tìm kiếm những chân trời kiến thức Thời đại mới mở ra nhu cầu học hỏi mới và sách chính là phương tiện giúp ta đến gần hơn với tri thức nhân loại Sinh viên tìm sách truyện đọc giải trí, học cách làm người, sách sống Hơn hết, sinh viên đọc sách phục vụ cho việc học trên trường đại học Nếu tính trung bình một học kỳ sinh viên phải học từ 5 đến 6 môn, một môn học phải mua giáo trình theo yêu cầu thì lượng sách lưu thông hiện nay là rất lớn Chúng tôi phân loại sách sinh viên sử dụng để học tập, nghiên cứu làm ba loại là sách gốc mới, sách gốc cũ và sách photo Biểu đồ ưên đây cho thấy loại sách được sinh viên mua chủ yếu (theo bảng khảo sát) Trong 410/414 bạn trả lòri câu hỏi khảo sát có 254 sinh viên dùng sách photo là chủ yếu, chiến gần 62% Hơn phân nửa sinh viên còn lại dùng sách gổc mới, chiếm 33% và 21 bạn còn lại dùng sách gốc cũ Ta thấy thực trạng phần lớn sinh viên sử dụng sách photo (mà theo quy định dùng sách photo tràn lan là vỉ phạm bản quyền tác giả) đang dần trở thành một điều tụ nhiên trong xã hội Ở những phần sau chúng tôi sẽ phân tích những lý do, nguyên nhân khiến sách photo lại được sinh viên ưa chuộng đến vậy Tuy nhiên nếu xem xét hai yếu tố còn lại ta sẽ đặt ra câu hỏi: “Tại sao sách gốc cũ vốn rẻ và tiết kiệm hơn lại được ít sinh viên mua?” và “Giữa sách gốc cũ và sách gốc mới, lý do gì khiến sinh viên chọn mua sách gốc cũ nhiều hơn?” Chúng tôi cũng sẽ lần lượt giải thích ở các phần sau

1.1.2 Chỉ phí mua sách của sinh viên

Chi phí mua sách của sinh viên xuất phát từ nhiều nguồn, có thể là từ gia đình chu cấp, đi làm thêm hay được tài trợ bằng học bổng Loại sách đề cập ở đây là các giáo trình bắt buộc cho mỗi môn học, không bao gồm các loại sách tham khảo Trong tổng số 414 phiếu khảo sát có 7 phiếu bỏ trống câu hỏi chi phí 20 sinh viên chi dưới 100 nghìn mua

Trang 7

sách học, chiếm 4.9% số phiếu trả lời 31 sinh viên chi hơn 500 nghìn mua sách, chiếm 7.6% nếp đó 92.4% sinh viên mua sách từ trên 300 đến dưới 500 nghìn Chiếm tỷ lệ lớn nhất là số sinh viên mua sách từ 100 nghìn đến dưới 300 nghìn (48.8%)

Trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ đề cập đến chỉ phí mua sách của sinh viên và các yếu tốc tác động đến nguồn chi phí này nhu nguồn kinh phí học tập, việc tham gia nhổm học tập, lượng sách tham khảo cần mua, số thành viên trong gia đình đang đi học, là sinh viên năm thứ mấy Theo đó ta

sẽ thấy được yếu tố nào tác động mạnh đến chỉ phí mua sách của sinh viên và lý do tại sao

Bảng 2: Nguồn hỗ trợ kinh phí học tập của sinh viên

Do một sinh viên cố nhiều lựa chọn về nguồn hỗ trợ kinh phí học tập nên chứng tôi thu thập được 540 lựa chọn Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy nguồn kỉnh phí học tập của sinh viên chủ yếu là từ phía gia đình, số dùng tiền làm thêm hay học bổng trang trải cho việc học là rất ít Chứng tôi tiếp tục thống kê thì thấy 293 sinh viên nhận kinh phí học tập chỉ từ gia đình, 50 sinh viên nhận từ gia đình và

đi làm thêm và 22 nhận từ gia đình và học bổng Ta thấy rằng gia đình chính là nguồn hỗ trợ rất lớn cho các bạn sinh viên Tiền đi lảm thêm hay học bổng không thể giúp sinh viên trang trải hết tiền học

và các chỉ phí khác

[Ú ÜIJ iliuta * Lim llỉaik 50

lu sạn 1I111J1 vá học hóiiB ■■ J J

lu LTI» ¡Imb, liiui Uitui vá Lou bcmạ H 17

dlỉtlt làẩil tlltak n 10 dli n.s L OÍ bóiiS I ì

■ sắ lirpng sinh vĩẽn

Biểu đồ 2: Nguồn hỗ trợ kinh phí học tập của sinh viên

Từ yếu tố gia đình chi phối nguồn kinh phí học tập, chúng tôi tiếp tục xem xét liệu chỉ phí mua sách cố liên quan đến số lượng thành viên đang đi học trong gia đình và loại sách chủ yếu mà sinh viên mua hay không

Trang 8

1.1.2.2 Chỉ phí mua sách và số lượng thành viên đang đi học trong gia đình:

Số thành viên đang đến trường học cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chi phí mua sách của sinh viên Chúng tôi cho rằng gia đình nếu càng có nhiều thành viên đang đi học thì chi phí mua sách cho mỗi cá nhân sẽ giảm xuống Hãy quan sát biểu đồ để xem giả định này đúng không Nhìn chung 76.58% phiếu trả lời trong gia đình có 1 đến 2 thành viên đang đi học

Xem xét những phiếu khảo sát có đông thành viên cùng đi học (từ 4 đến 7 thành viên), 100% sinh viên có 7 thành viên ưong gia đình đi học, 100% sinh viên có 3 thành viên đi học, 66.7% sinh viên có 4 thảnh viên đi học dùng 100 đến 300 nghìn mua sách Cá biệt có 62.5% sinh viên (gia đĩnh

có 5 thành viên cùng đi học) chi 300-400 nghìn mua sách Nhận định chung là số lượng thành viên trong gia đình đang đi học lớn thì số tiền mua sách không dao động lớn, cho thấy gia đình và sinh viên

dù phải gánh nhiều khoản phí khác cùng một lúc vẫn chu cấp tiền để con em mình có điều kiện đọc, mua sách tốt nhất Nếu gia đình có từ 1 đến 3 thành viên đang theo học thì số tiền mua sách phân bố rộng khắp, sinh viên có thể mua dưới 100 nghìn hay trên 500 nghìn tiền sách Đối với nhóm gia đình

ít thành viên đi học này, sinh viên bỏ dưới 100 nghìn mua sách ( với 1, 2, 3 thảnh viên đang đi học) lần lượt là 2.5%,5.2% và 5.9% Neu cộng gộp lại ta thấy sinh viên thuộc nhóm ít thành viên gia đình cùng đi học này có hơn 70% chi từ 100 đến 400 nghìn mua sách Từ đó thấy rằng yếu tố tiền mua sách

và số thành viên trong gia đình là 2 giá trị phụ thuộc nhau Thành viên gia đình đi học càng nhiều thì tiền sách phải được san sẻ, mặc dù mua sách đầy đủ quy định nhưng sinh viên nhóm đông thành viên

đi học khó mà chi được nhiều tiền hơn mua sách

1.1.2.3 Chỉ phí mua sách và loại sách chủ yếu mà sinh viên mua

Loại sách mua chủ yêu

sồ tiến mua sách Sách gổc cũ Sách gồc mới Sách photo Tông

Trang 9

403/414 sinh viên ưả lời câu hỏi loại sách chủ yếu được mua, hơn '/2 trong tố đó chọn mua sách photo là chủ yếu Neu mua sách photo, sinh viên sẽ chi từ 100 đến 300 nghìn đồng (154 lựa chọn) Sinh viên chi từ 300 đến 400 nghìn đồng mua sách photo khá ít (44 sinh viên) Ta thấy rằng mua sách photo chỉ cần một chi phí từ dưới 300 nghìn đồng Với số tiền mua sách lớn hơn 500 nghìn đồng, sinh viên chi nhiều nhất mua sách gốc mới (15 sinh viên) và nếu số tiền dùng mua sách dưới

100 thì sinh viên chọn mua sách photo nhiều nhất Như vậy nếu tiền mua sách nhiều sinh viên sẽ chi mua sách photo và sách gốc mới Neu không có nhiều tiền, < 100 nghìn sinh viên chọn hình thức tiết kiệm nhất là mua sách photo

1.1.2.4 Chi phí mua sách và việc tham gia nhóm học tập

Trong môi trường làm việc đầy cạnh tranh như hiện nay, việc bổ sung những kỹ năng mềm

là điều không thể thiếu Trong đó kỹ năng làm việc nhóm là điều vô cùng quan trọng và nó sẽ quyết định phần nào thành công của sinh viên trong quá trình làm việc tương lai Sớm ý thức được việc đó

số sinh viên tham gia các đội nhóm học tập cũng rất lớn 64.7% sinh viên tham gia học nhóm, gần gấp

2 số sinh viên không tham gia Nhóm học tập là một hình thức đội nhóm tốt, giúp sinh viên bổ ượ kiến thức lẫn nhau, tăng cường tình bạn Tiếp theo chúng ta xem xét liệu yếu tố học nhóm có ảnh hưởng đến số tiền sinh viên bỏ ra mua sách hay không

Trong 13 sinh viên năm 1 có 11 sinh viên không tham gia học nhóm (chiếm gần 85%) Có thể giải thích được điều này vì sinh viên năm 1 vừa nhập học, chưa quen biết nhiều bạn bè nên hình thành nhóm học tập là điều khó Tượng tự sinh viên năm 4 do bận rộn với những hoạt động thực tập, viết khóa luận nên gần 43% không tham gia nhóm học tập 62.5% sinh viên tham gia học nhóm chi 200-300 nghìn mua sách Như vậy dù tham gia hay không giam gia nhóm cũng không ảnh hưởng đến

số tiền sinh viên năm 4 bỏ ra mua sách Với đối tượng là sinh viên năm 2 và năm 3: 36/58 sinh viên năm 2 và 216/315 sinh viên năm 3 tham gia nhóm học tập

Sô tiên mua sách của sinh viên (nghìn đông) Sinh

viên năm

Học nhóm 0- 100 100- 200 200- 300

Bảng 4: sô tiên mua sách của sinh viên năm 2 và năm 3

Gần 62% sinh viên năm 2 tham gia nhóm học tập, trong đó số tiền chủ yếu bỏ ra mua sách dao động từ 100-400 nghìn Xét tiếp nhóm sinh viên năm 2 không tham gia học nhóm, hơn 50% sinh viên chi 200-300 nghìn mua sách học tập Ban đầu nhóm có giả thuyết rằng số tiền mua sách sẽ tỷ lệ nghịch với số sinh viên tham gia học nhóm Nếu học

Trang 10

nhốm chung, sinh viên có thể sử dụng, trao đổi sách và do vậy chi phí mua sách sẽ giảm xuống Nhưng sau khi thống kê, chứng tôi thấy rằng việc học nhốm và số tiền mua sách là hai biến độc lập Theo ý kiến của nhốm chứng tôi thì cố hai nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên Thứ nhất, cố lẽ các bạn chưa tận dụng lợi ích và cũng chưa phát huy hết vai ưò của nhốm học tập trong vấn đề chia sẽ chi phí mua sách Thứ hai, chính việc học nhóm làm phát sinh thêm nhu cầu mua các loại sách bổ sung, tham khảo giúp các bạn mở rộng đề tài bàn luận, kích thích trí tò mò, ham học hỏi của các bạn khiến túi tiền sinh viên lại vơi đi

1.1.2.5 Chi phỉ mua sách và sinh viên năm thứ mấy

0-100 lehi 100-200 20Ỡ-Ỉ00 300-400 400-500 >500

ph i rn ua ựch)

Biểu đồ 3: Chi phỉ mua sách và sinh viền năm 1,2,3,4

Trong 407 phiếu khảo sát trả lời, có 13 sinh viên năm 1, 58 sinh viên năm 2, 322 sinh viên năm 3 và 14 sinh viên năm 4

Cố 4 sinh viên năm 1 chỉ 100-200 nghìn đồng mua sách, gấp đôi số sinh viên chỉ các khoản tiền còn lại Sinh viên năm nhất là những sinh viên mới vào trường, học những môn đại cương nên tiền để mua sách (giáo trình bắt buộc và tham khảo) chua nhiều Quan sát các sinh viên năm 2 ta thấy

có sự thay đổi chi phí mua sách Nếu 13 sinh viên năm 2 chi 100-200 nghìn mua sách thì có 30 bạn chi 200-300 nghìn mua (tăng 130%) Lý do cho sự gia tăng này là sinh viên năm 2 đã hết bỡ ngỡ sau khi học xong năm đầu, ngoài tiếp tục học những môn đại cương, họ bắt đầu có nhu cầu tìm hiểu nhiều hơn những vấn đề và các môn học khác Tuy nhiên thì họ cũng không chỉ qưá nhiều tiền mua Phân tích số liệu ta thấy sinh viên dùng 300-400 nghìn mua sách chiếm 14% tổng số sinh viên năm 2 khảo sát Tuy nhiên vì tổng số sinh viên các năm được khảo sát chên nhau lớn, chúng ta sẽ tính phần trăm xem liệu sinh viên năm 1 hay năm 2, đối tượng nào bỏ 300- 400 nghìn mua sách nhiều hơn Ket quả 14% sinh viên năm 2 và 15% sinh viên năm 1 cho thấy nếu tính trên bình quân sinh viên từng năm thì lượng sinh viên chịu chi tiền

Trang 11

nhiều mua sách là ngang nhau Đối với sinh viên năm 3, ta thấy họ chi nhiều tiền mua sách nhất là từ khoảng 100-400 nghìn 93 sinh viên (28% tổng sinh viên năm 3) chi 100- 200 nghìn , 89 sinh viên (chiếm gàn 26%) chi 200-300 nghìn, và 64 sinh viên (chiếm gần 20%) chi 300-400 Bắt đầu vào học những môn chuyên ngành khiến tiền mua sách bỏ ra cũng tăng theo Đặc biệt sinh viên các khối ngành kinh tế mà chúng tôi khảo sát như trường đại học Ngoại Thương cơ sở II thành phố Hồ Chí Minh, trường đại học Kinh tế thì nhu cầu cập nhật thông tin mới là yếu tố khiến các bạn chi nhiều tiền mua sách Thống kê số liệu sinh viên năm 4 có 6 sinh viên chi 200-300 nghìn mua sách, chiếm gần 43% sinh viên năm 4 được khảo sát Lý giải cho việc tiền mua sách không tăng nhiều hơn năm 3 là do viên năm 4 thường chỉ ôn tập và củng cố lại các kiến thức đã học để chuẩn bị hoàn tất quá trình học đại học Giai đoạn này, sinh viên thường chú trọng đến kỹ năng thực hành, áp dụng kiến thức của những năm trước vào thực tế nhằm chuẩn bị cho quá trình đi làm trong tương lai gần số giáo trình được yêu cầu ít nên khoản tiền chi cho sách cũng giảm

Tóm lại, sinh viên năm 2, 3,4, số tiền được các bạn bỏ ra mua sách chủ yếu là

200-300 nghìn, sinh viên năm 1 chi khoảng 100-200 nghìn cho một học kỳ, và theo đánh giá thì không số này quả là không nhỏ

1.1.2.6 Chi phí mua sách và lượng sách tham khảo cần mua

Chi phí mua sách và tiền mua sách tham khảo

■0-100 (tiền mua sách tham khảo) ■ 100-200 200-300" 300-400 400-500 >500

0-100 (chi phí mua >100-200 >200-300 >300-400

sách)

Biểu đồ 4 : chi phí mua sách và tiền mua sách tham khảo của sinh viên

Đối với một số môn thì chỉ một quyển giáo ưình để học thôi là không đủ, đặc biệt là các mồn chuyên ngành đòi hỏi đào sâu nghiên cứu thì sách tham khảo đóng vai trò cần thiết Trong số 414 các bạn sinh viên được khảo sát thì có gần 60% các bạn luôn trích ra một phần ngân sách mua sách tham khảo Biểu đồ cho thấy lượng sinh viên chi ít tiền mua sách chính sẽ mua nhiều sách tham khảo hơn Sinh viên bỏ ra dưới 200 nghìn đồng mua sách học quy định chi nhiều nhất từ 100 đến 400 nghìn đồng tiền mua sách tham khảo Cụ thể, trong số những sinh viên dùng dưới 100 nghìn mua sách chính, có đến 28

Trang 12

sinh viên mua sách tham khảo từ 100-200 nghìn đồng, 31 sinh viên mua sách tham khảo từ 200-300 nghìn đồng, 20 sinh viên mua sách tham khảo từ 300- 400 nghìn đồng Thêm vào đó, trong số những sinh viên mua sách tham khảo từ 100-200 nghìn đồng mua sách chính, có 23 sinh viên mua sách tham khảo từ 100-200 nghìn đồng, 24 sinh viên mua sách tham khảo từ 200-300 nghìn đồng và 20 sinh viên mua sách tham khảo từ 300-400 nghìn đồng.Ket quả thống kê cho thấy, số lượng sách giáo trình tỷ lệ thuận với số lượng sách tham khảo mà sinh viên cần Lượng sách tham khảo tương tự như sách theo yêu cầu bắt buộc vẫn được sử dụng nhiều bởi các sinh viên năm 2 và năm 3 và ít hơn ở năm 1 và năm

4

Như đã nói ở trên, điều này phụ thuộc vào tính chất của mỗi năm học Chương trình học của các bạn sinh viên năm 2 và 3 thường nặng hơn và lượng kiến thức các bạn cần rất lớn Đe đáp ứng nhu cầu học tập, sinh viên phải tìm đọc rất nhiều sách và giáo ưình nên chi phí cho sách tham khao rất cao, đôi khi cao hơn cả sách giáo khoa bắt buộc Trái lại, sinh viên năm 1 và năm 4 có lượng sách theo yếu cầu cũng như tham khảo ít hơn Ket quả thống kê cho thấy, số lượng sách giáo trình tỷ lệ thuận với số lượng sách tham khảo mà sinh viên cần Lượng sách tham khảo tương tự như sách theo yêu cầu bắt buộc vẫn được sử dụng nhiều bởi các sinh viên năm 2 và năm 3 và ít hơn ở năm 1 và năm 4 Các bạn năm nhất chỉ được yêu cần lĩnh hội những kiến thức cơ bản, các môn học tương đối nhẹ nhàng, lượng giáo trình, đặc biệt là sách tham khảo không cần nhiều Trong khi đó, sinh viên năm 4 chỉ sử dụng một

số sách tham khảo phục vụ riêng cho chuyên ngành hoặc các môn thi tốt nghiệp, do đó, số tiền chi cho sách tham khảo của hai năm nay tương đối thấp hơn so với giai đoạn giữa.Nhìn chung, các bạn sinh viên rất quan tâm đến vấn đề học tập, và không ngần ngại chi ra một khoảng tiền lớn để ưang bị đầy

đủ một trong những công cụ học tập quan trọng nhất là sách

1.2.3 Đầu ra cho sách được sử dụng xong

Chúng tôi thông kê được 524 lựa chọn trong 402 sinh viên trả lời câu hỏi: “bạn sẽ làm gì với những cuốn sách đã sử dụng xong?” Trong đó nhiều nhất là cất giữ cẩn thận phòng khi trường hợp dùng đến (283 ý kiến chiếm 54%), tiếp đó có 193 ý kiến (chiếm 36.8%) cho người quen mượn Phần trăm còn lại chia đều cho “ bán rẻ cho tiệm sách cũ” (3.8%), “bán rẻ cho sinh viên mới” (3.6%), và

“bỏ đi” (1.7%) Như vậy ta thấy phần lớn sinh viên muốn giữ sách lại phòng khi dùng đến trong tương lai Một phần lớn khác cho người quen mượn, đây là một cách thức tốt vì vừa có thể giúp đỡ những sinh viên đang cần sách, vừa có thể thu hồi sách nếu có nhu cầu sử dụng lại Đặc biệt có 9 ý kiến bỏ

đi sách đã dùng sau khi thống kê chúng tôi thấy loại sách nhóm này mua chủ yếu là sách gốc cũ Lý

do bỏ đi có thể có nhiều, quá cũ, không còn có thể sử dụng nhưng phần trăm “chịu chơi” bỏ sách đã học đi chiếm rất ít

Phân tích sâu hơn nữa chúng tôi tiến hành đối chiếu cách thức sinh viên xử lý sách đã sử dụng xong sau một học kỳ với kinh phí mua sách của họ để đưa ra kết luận liệu lượng tiền có thể chi cho việc mua sách có thúc đẩy họ tái sử dụng sách không?

Trang 13

Số tiền sinh viên sử dụng mua sách

Sách sau khi sử

dụng xong sẽ

0-100 100-200 200-300 300-400 400-500 > 500

% lựa chọn ưên tổng số phiếu Cho người quen

Bảng 5 : Đầu ra cho sách sử dụng xong với sổ tiền dành để mua sách

Đa số các bạn biết tái sử dụng sách bằng cách cho người quen mượn có kinh phí học tập trung bình từ 100-400 nghìn đồng, chiếm 27,72% trên tổng số phiếu thu được Còn 2 cách còn lại của tái sử dụng sách là bán rẻ cho tiệm sách cũ và bán lại cho sinh viên mới cùng trường vẫn chưa được áp dụng rộng rãi Nguyên nhân có thể là do nhập nhằng trong việc xác định giá và chất lượng Hơn nữa việc bán lại cho sinh viên cần xem ra khó vì kênh thông tin cá nhân không rộng rãi Đối với những sinh viên dùng hơn 500 nghìn đồng mua sách, không có sinh viên nào bỏ sách đi hay bán rẻ cho sinh viên mới, điều này cho thấy nhóm sinh viên này chi một lượng tiền lớn mua sách gốc và cất giữ cẩn thận vừa phục vụ cho học tập, vừa vì những lý do khác (sưu tập chẳng hạn) Tóm lại, sinh viên có kinh phí học tập, dù nhiều hay ít, chỉ quan tâm nhiều đến việc thay thế sách gốc mới để giảm chi phí và vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc tái sử dụng sách để làm tăng thêm giá trị của sách (bán lại) cũng như giá trị sử dụng của sách (cho người quen mượn )

ra về tay không Thực trạng này cho thấy sách gốc mới còn một chặng đường dài phấn đấu để có thể phát huy

Trang 14

tốt hơn vai trò và tiếp cận hơn với người đọc đặc biệt là sinh viên -‘Tan hâm mộ” chính của mình

1.2.1.2 Các yếu tổ liên quan đến sử dụng sách gốc mói

Loại sách mua chủ yếu

“ăn no, mặc ấm” còn khi đã khá giả lên một chút thì lại bắt đầu mơ đến “ăn ngon, mặc đẹp” Số tiền

có thể chi cho sách thật sự có ảnh hưởng lớn đến lựa chọn mua sách gốc mới đắt tiền hay sách gốc cũ, sách photo rẻ tiền hơn

1.2.1.3 Ưu điểm và nhược điểm sử dụng sách gốc mối 1.2.1.3.1 Ưu điểm:

Yới nhiều ưu điểm, và tính hấp dẫn của mình, sách gốc mới thu hút 133 trong số 414 bạn (chiếm 32,1% tổn số bạn được khảo sát) tìm mua Bởi sách gốc mới có rất nhiều điểm vượt ưội so với sách gốc cũ và sách photo

Nội dung lựa chọn sồ lựa chọn Phấn trăm

Trang 15

- T - 9 - 7

Bảng 6: ưu đi êm của sách gỏc mới

Những cuốn sách gốc mới thu hút 52,2% các bạn sinh viên ngay từ đầu bởi vẻ ngoài mới mẻ, thiết kế bắt mắt, nhìn là muốn đọc Bên trong là những trang giấy mới trắng tinh với những dòng chữ

in đậm, rỗ nét chất lượng cao tạo cảm giác dễ chịu, thoải mái khi đọc

Không chỉ cố dáng vẻ bên ngoài mà chất lượng của những cuốn sách này còn nằm ở phần nội dung thường xuyên cập nhật đáp ứng được nhu cầu về kiến thức hiện đại cho sinh viên, đồng thời hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động nghiên cứu mang tính thực tiễn cao của các bạn, giúp sinh viên tiếp cận kịp thời với những thay đổi trong điều kiện mới trong nước và trên thế giới Có đến 45,6% các sinh viên coi trọng và tận dụng vai trò này của sách gốc mới

Một trong những nguyên nhân khiến 1,1 % các bạn tìm mua sách gốc là quy định của nhà trường Trong khỉ luật pháp nước ta đã đề cập đến vấn đề vi phạm bản quyền thì một số ít các trường

đã áp dụng quy định cấm đối vớỉ sách photo Tuy nhiên, con số này vẫn cồn rất nhỏ bởi lẽ những thói quen thì không thể thay đổi một sớm một chiều Bên cạnh các nguyên nhân khách quan trên, một nguyên nhân khiến sách gốc được ưa chuộng là do sở thích ham đọc sách và thích sưu tập sách mới Niềm dam mê đối với sách của 1,1% số sinh viên được kháo sát thể hiện hơn nữa giá trị tinh thần của những quyển sách này Một số bạn xem sách như những vật vô cùng quý giá, và luôn nâng niu, trân trọng sách Rõ ràng sách gốc có những giá ưị và ưu điểm nổi bật, chất lượng giấy và bìa tốt hơn, chứa đựng những thông tin phong phú, cập nhật và việc sử dụng sách gố còn tuân thủ theo pháp luật Sở hữu những quyển sách như vậy là mơ ước của những người đọc sách đặc biệt là sinh viên

Trang 16

Nhìn vào biểu đồ ta thấy gần phân nửa các bạn cho rằng bất lợi khi sử dụng sách gốc mới là quá tốn kém Trong khi trung bình một học kỳ phải học trên duới 10 môn, một môn có khi phải dùng

2 đến 3 quyền giáo trình thì chi phí mua sách gốc quả là một gánh nặng cho sinh viên 192 ý kiến cho rằng sẽ thật lãng phí sách khi chỉ dùng trong một thời gian ngắn Đặc biệt 20 sinh viên nhận định rằng mặc dù là sách gốc mới nhưng biên tập không cẩn thận, sai nhiều lỗi khiến cho nhiều bạn thấy bức xúc vì sao giá cả không đi kèm với chất lượng Ké đến, hiện nay các đầu sách hiếm thường tập trung

ở một vài nhà sách nhất định, ví dụ nếu muốn mua sách ngoại ngữ thì đến tiệm sách Pasteur quận 3, nhà sách đối diện trường Kinh tế ) khiến nhiều bạn tốn thời gian và chi phí đi lại (theo thống kê là

78 lựa chọn, chiếm 11.7%)

1.2.2 Sách gốc cũ:

1.2.2.1 Tinh hình sử dụng sách gốc cũ

Có 5% sinh viên sử dụng chủ yếu sách gốc cũ Sách cũ mặc dù rẻ nhưng không thu hút sinh

viên mua bằng sách gốc mới Sinh viên một là chọn mua sách mới giá đắt hơn, hai là mua sách photo giá rẻ mà còn mới hơn là chịu chi tiền mua sách gốc cũ rẻ nhưng chất lượng không bảo đảm Các tiệm sách cũ hay các điểm bán sách cũ dọc các con đường “sách” xung quanh các cụm trường học trong thành phố như Trần Huy Liệu (Q.Phú Nhuận), Nguyễn Thị Minh Khai (Q.3), Tràn Nhân Tông, Nguyễn Chí Thanh (Q.5), Điện Biên Phủ (Q.l), Nguyễn Thái Sơn (Q.GÒ vấp) là những điểm tụ tập của sinh viên sau các giờ học để tìm kiếm những cuốn sách tuy cũ nhưng giá trị

1.2.2.2 Các yếu tố liên quan đến sách gốc cũ:

1.2.2.2.1 Nguồn hẫ trợ kỉnh phí học tập và chỉ phí mua sách gốc cũ

Theo khảo sát sinh viên nhận nguồn hỗ ượ kinh phí học tập theo 3 nguồn: gia đình, đi làm thêm, học bổng, dưới đây chúng ta sẽ xem sinh viên sử dụng nguồn hỗ ượ kinh phí này để mua sách gốc như thế nào

1.2.2.2.1.1 Sinh viên cố nguồn hẫ trợ kỉnh phí học tập từ gia đình:

Trang 17

Bảng 7: số lượng sinh viên có nguồn trang trải học phí từ gia đình và phần trăm tiền chỉ

ra mua sách gốc

Trong số 394 sinh viên có nguồn kinh phí học tập chủ yếu từ gia đình có đến 168 bạn dùng không quá 30% số tiền gia đình cho mua sách gốc Quan sát biểu đồ ta thấy số sinh viên mua sách gốc tỷ lệ nghịch với số phần trăm tiền mua sách gốc Nói cách khác, ít sinh viên chịu bỏ nhiều tiền mua sách gốc 92 sinh viên (chiếm 42,6%) trích 30-50% tiền học để mua sách gốc 80 bạn chi ra 50-70% số tiền cho sách gốc, cho thấy lượng sinh viên mua giảm gần 11% khi tiền để mua sách gốc tăng lên khoảng 20% Ngoài ra, chỉ có 13,7% số sinh viên có đủ khả năng chi hơn 70% tiền gia đình chu cấp mua sách gốc Từ đó thấy được mặc dù được hỗ trợ từ gia đình, sinh viên vẫn dè dặt trong việc chi tiền cho sách gốc

1.2.2.2.1.2 Sinh viên có nguồn hẫ trợ kỉnh phí học tập từ làm thêm:

Biêu đô 6: Sô lượng sinh viên có nguôn trang trải học phí

từ đi làm thêm và phần trăm tiền chỉ ra mua sách gốc

Tương tự với biểu đồ phía ưên, biểu đồ này cũng cho thấy những điểm tương đồng giữa nguồn kinh phí chủ yếu từ việc làm thêm có ảnh hưởng đến chi phí mua sách gốc của sinh viên 47 sinh viên dùng 30% tiền kiếm được mua sách gốc Nhưng khi phải bỏ ra 30-50% số tiền mua sách thì số lượng sinh viên giảm đi hơn phân nửa (22 sinh viên) Dành 70% tiền kiếm được mua sách gốc chỉ có 9 bạn Qua đó ta thấy sinh viên còn dè dặt khi chi tiền mua sách gốc Yếu tố tác động đến vấn đề này có nhiều, có thể các bạn ngoài mua sách ra còn nhiều khoản chi quan trọng hơn, có thể việc dành quá nhiều tiền mua sách gốc là không cần thiết Phần sau chúng tôi sẽ phân tích rõ hơn những lý do khiến sinh viên còn ngại ngần chi tiền ra mua sách gốc

0-30%

■ 30-50%

■ 50-70%

■ >70%

Trang 18

1.2.2.2.1.3 Sinh viên cố nguồn hẫ trợ kinh phí học tập từ học bổng

Số lượng sinh viên có nguồn hỗ trợ kinh phí học tập từ học bổng

Biếu đồ 7: SỔ lượng sinh viên có nguồn trang trải học phí từ học bống và phần trăm tiền

chi ra mua sách gốc

Trước hết cần nhận thấy rằng số lượng sinh viên có thể dùng tiền học bổng ưang trải học phí

và các chi phí khác là rất ít Trong 414 phiếu khảo sát chỉ có 46 bạn nhận hỗ trợ học phí từ học bổng

So sánh biểu đồ này và hai biểu đồ trước ta thấy có một sự khác biệt là sinh viên nhận học bổng chi

nhiều tiền hơn mua sách gốc 21.7% sinh viên bỏ ra 70% tiền học bổng mua sách gốc, con số này là lớn so với 13.7% sinh viên nhận tiền từ gia đình và gần 9.5% nhận tiền từ làm thêm Như vậy học

bổng chính là nguồn tiền để các bạn sinh viên mạnh dạn đầu tư mua sách mới, nó giúp gánh chi phí mua sách và sinh viên có thể sử dụng các khoản tiền từ gia đình, làm thêm vào những hoạt động cần thiết hơn

1.2.2.3 Ưu và nhược của việc sử dụng sách gốc cũ 1.2.2.3.1 Ưu điểm

Nội dung lựa chọn Số lựa chọn Phần trăm lựa chọn

Thích sách gốc mới nhưng túi tiến có hạn 17 37.0%

Có thế học thêm từ những ghi chép trong sách

Bảng 8: Ưu điếm của sử dụng sách gốc cũ

Trang 19

Mặc dù sách gốc mới luôn hấp dẫn đối với sinh viên nhưng một số bạn vẫn tìm về với sách gốc cũ Thống kê cho thấy có 25 trong số 389 bạn sử dụng chủ yếu là sách gốc cũ do những nhược điểm của sách gốc mới 37% các bạn nhận xét sách giá của những cuốn sách mới còn khá cao, nên thay ví tốn tiền mua sách mới thì mua những quyển sách cũ xem ra tiết kiệm hơn Gần 20% bạn cho rằng sách gốc cũ đã được sử dụng qua, có những ghi chép quan trọng do đó sẽ phục vụ tốt hơn cho quá ưình học và tham khảo Hơn 15% lại có ý kiến rằng những loại sách mình cần hiện nay không còn in ấn nên phải mua sách gốc cũ Chiếm 13% lượng sinh viên mua sách gốc cũ là do sở thích sưu tập Quả thật sở hữu những quyển sách mới xuất bản, mới ra mắt là điều dễ dàng, nhưng có trong tay một quyển sách quý có từ lâu đời thì còn gì hơn Qua đó ta thấy được tinh thần đọc sách của các bạn thật đáng hoan nghênh vì ngoài những kiến thức mới cần phải cập nhật liên tục, các bạn còn muốn nắm bắt lịch sử qua những trang sách cũ Phần trăm còn lại nêu lý do mua sách cũ vì khi vào sách cũ tình cờ thấy những quyển sách hay nên mua (8.7%) và bản thân có nhu cầu tham khảo, sử dụng vài lần (6.5%) Những lý do kể trên có thể chưa bao quát hết những ý kiến của cá nhân sinh viên, nhưng phần nào qua đó chúng ta hiểu được rằng, mặc dù phần trăm lựa chọn mua sách gốc cũ là ít nhất trong

3 loại sách chúng tôi phân loại (sách gốc mới, gốc cũ, photo), số phần trăm ít ỏi này (5%) lại thấy được những mặt lợi rất đáng kể mà sách gốc cũ mang lại

■ khôngrõ nguồn gổc, khôngtrọn bộ

Biểu đồ 8: Nhược điểm của việc sử dụng sách gốc cũ

Điều nhận thấy rõ ràng nhất là sử dụng sách gốc cũ tuy rẻ nhưng cũng có những bất lợi nhất định Có 235 lựa chọn (chiếm 35.4%) đồng ý rằng sách gốc cũ bị sờn, đôi khi bị rách và chữ hoen ố Tiếp đến có 288 trường hợp nhận định sách cũ không cập nhật thông tin, điều này hiển nhiên đúng Đặc biệt đối với những khối ngành đòi hỏi cập nhật thông tin liên tục như ngành kinh tế, kỹ thuật thì dùng sách gốc cũ khiến khả năng tiếp thu kiến thức mới của sinh viên bị thu hẹp 10.7% và 10.5% còn lại cho rằng sách gốc cũ đễ lâu có mùi và sách không rõ nguồn gốc, không ưọn bộ Chúng tôi đã thu thập một số tài liệu nói về sách gốc cũ đang được sử dụng ưong hệ thống thư viện các trường đại học hiện nay và thấy rằng ý kiến của sinh viên và thực tế được phản ánh là đúng Tình hình học tập còn nhiều có khăn hiện nay khiến rất nhiều sinh viên phải sử dụng sách cũ Điển hình là sinh viên thuộc các khối ngành kinh tế đang chật vật với những quyển giáo trình đã có từ rất lâu đời trong khi yêu cầu của ngành là phải tiếp cận những tài liệu mới nhất, nắm bắt tốt những gì đang và sẽ xảy ra của nền kinh tế trong tương lai Sinh viên Phương Liên_ K41 trường Đại học Ngoại Thương cho biết hai môn học chuyên ngành cần sách

Trang 20

được cập nhật thông tin mới là “Đầu tư” và “Thư tín trong thương mại” lại có giáo trình quá cũ kỹ (xuất bản từ năm 1994) Tương tự, sinh viên khối ngành kỹ thuật và Y dược cũng rất khổ sở với giáo trình cũ Sách dùng cho việc học tập nghiên cứu là từ những năm 50, 80, giấy in đã xuống cấp, mực

in bị phai, sách được ghi chú chằng chịt nên rất khó đọc Sinh viên Nguyễn Mạnh Trí_ K46 trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nhận xét rằng, giáo trình rất cũ, còn bị chuột, gián gặm nhấm nên việc học vô cùng khó khăn Tuy nhiên để mượn được một quyển sách phải chen chân ở thư việc cả một buổi sáng Theo số liệu sinh viên khoa Điện_ Điện tử trường Đại học Bách Khoa Hà Nội một học kỳ

có 8 đến 9 môn thì hết 3 phần 4 phải sử dùng giáo ưình có từ thời trước giải phóng5

1.2.3 Sách photo

1.2.3.1 Tình hình sử dụng sách photo

Hình thức phổ biến được các bạn sinh viên ưa chuộng hiện nay là sách photo Có đến 254 bạn trong 414 (chiếm 62%) bạn sử dụng chủ yếu loại sách này Hầu như bất cứ sinh viên nào cũng sở hữu những quyển sách photo trong quá ưình học của mình, một số bạn còn nói đùa với nhau: “không xài sách photo thì không phải là sinh viên" Do nhu cầu của sinh viên về giáo trình và sách rất cao nên hiện nay xung quanh hầu hét các trường đại học đều có tiệm sách photo với các loại sách cả chuyên ngành lẫn tham khảo Thực tế cho thấy việc sử dụng sách photo được xem như là điều hiển nhiên trong sinh viên hiện nay Đâu đâu ta cũng thấy những cuốn sách photo xuất hiện như một phần không thể thiếu trong quá trình học tập của các bạn

1.2.3.2Phân tích các yếu tố liên quan đến sách photo 1.2.3.2.1 Sử dụng sách photo là vi phạm bản quyền, sinh viên cố biết?

% sinh viên biết sử dung sách photo là vi

phạm bản quyền

■ có

■ khôn

g

Biếu đồ 9: % sinh viên biết sử dụng sách photo là vỉ phạm bản quyển

Theo thống kê của chúng tôi, trong số 400 phiếu trả lời câu hỏi này, 320 phiếu (tức 80%) sinh viên trả lời biết sử dụng sách photo là vi phạm bản quyền Như vậy trung bình cứ 4 sinh viên có 1 sinh viên không biết sử dụng sách photo là vi phạm bản quyền Con số không biết này thưc sự không phải là nhỏ và nó cho thấy rằng, vấn đề bản quyền dù

5

Theo www.vietnamnet.com

Trang 21

được đề cập từ rất lâu và rất nhiều trên các phương tiện truyền thông thì đối với một số sinh viên điều này còn mới mẻ

Chứng tôi tiếp tục lọc ra 80 phiếu trả lời không để tìm hiểu xem tại sao sinh viên nghĩ sử dụng sách photo là không vi phạm bản quyền

Sử dụng sách photo là không ví phạm bản quyền vì

4%

■ chỉ photo 1 bản hay 1 phần nhỏ của sách

■ vì mục đích học tập, không phải kỉnh doanh

tiệm photo sách chứ không phải người mua sách vi phạm bản quyền

■ Việt Nam còn nhieukhó khăn, sử dụng sách là đỉềuhỉển nhiên

ỷ kiến khác

Biêu đô 10: % sinh viên nêu ỉý do sử dụng sách là không vi phạm bản quyên

Chứng tôi thu thập được 131 lựa chọn cho câu hỏi này (một sinh viên cố thể cố nhiều lựa chọn) Trong đó 62 sinh viên cho rằng không vi phạm vì sử dụng sách photo cho mục đích học tập, không phải kinh doanh Tiếp theo có 27 sinh viên cho rằng do Việt Nam còn nhiều khó khăn nên việc dùng sách photo là điều tự nhiên, không hề vỉ phạm Xét về tình thì 2 ý kiến này dường như có thể chấp nhận được Nhung nếu xem xét trên phương diện pháp luật thì hoàn toàn sai Ngoài ra còn một

ý kiến gây bất ngờ khác là 14% sinh viên “đổ lỗi” cho các tiệm photo, cho rằng sử dụng sách photo là không sai, chỉ có những tiệm photo mới vi phạm Trong 4% có ý kiến riêng, chúng tôi thống kê được

8 ý kiến sinh viên nêu lên: “ Vì tôi không biết sách đó bắt buộc phải có bản quyền”; “ Sinh viên cồn nghèo, tiền đâu mà mua sách gốc” hay “ Chi phí mua sách gốc rất đắt, nhiều gia đình hay học sinh không đáp ứng được”; “ Photo sách cũng giống như việc trích dẫn mộ tài liệu có ghi nguồn gốc” (chứng tôi không rõ lắm ý sinh viên này là gì); “Vì có nhiều sách gốc mởỉ không cồn in, muốn học phải đi photo nên không vi phạm bản quyền”; “ Thật ra biết là vi phạm bản quyền nhưng sinh viên sử dụng sách photo để đỡ chi phí, nhanh gọn”; “ vấn đề bản quyền ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa được phổ biến rộng rãi”; “ Vì người viết ra cuốn sách đó muốn truyền bá nguồn kiến thức cho nhân loại, chúng ta sử dụng sách gốc hay sách photo đều là niềm vui cho người viết sách”

1.2.3.2.2 Lý do mua sách photo và tiền mua sách bắt buộc

Khi kế hợp được số liệu phân tích những thuận lợi khi sử dụng sách photo và kinh phí mua sách của sinh viên, chúng tôi thu được bảng sổ liệu sau

Trang 22

Biểu đồ 11: Lý do sử dụng sách photo và kỉnh phí mua sách của sinh viên

Từ đó chúng tôi lập ra một bảng chi tiết hơn -bảng thống kê tỷ lệ phần trăm sinh viên nghĩ rằng sử dụng sách photo là ít tốn kém tương ứng với tổng số tiền mua sách mỗi sinh viên có thể chi trả:

Số tién dùng đé mua sách Lựa chọn mua sách

Trang 23

sách bắt buộc cần mua không hề ảnh hưởng đến việc sinh viên chọn mua sách photo vì giá rẻ Nói cách khác, sinh viên mua sách photo chủ yếu là do thói quen và do tâm lý ngại tốn kém chứ không hẳn là vì điều kiện kinh tể gia đình có hạn Như chúng tôi đã phân tích ở trên, nguồn cung cấp tiền chủ yếu cho một sinh viên mua sách là từ gia đình ( chiếm đến 73,7% trong nguồn kinh phí học tập của 500 sinh viên được khảo sát) cho nên tâm lý lúc nào cũng muốn tiết kiệm chi phí cho gia đình dễ dàng được thông cảm và chấp nhận Còn về thói quen mua sách của sinh viên, chúng tôi thu được số liệu như sau:

Số tiền dùng để mua sách Lựa chọn sách photo vì dễ tìm

từ 300-400 nghìn đồng, từ 400-500 nghìn đồng, trên 500 nghìn đồng đều ở mức 20-30% lựa chọn mua sách photo Điều này nói lên một thực trạng đáng buồn rằng, mặc dù số lượng các nhà sách rải rác trên địa bàn thành phố là không nhỏ và chất lượng của chúng thì không có gì phải nghi ngờ nhưng vẫn không sao bì được số lượng tiệm sách photo chỉ phân bố theo cụm điểm quanh các trường đại học.Số lượng sách cần cho mỗi học kỳ không phải là ít và với phương tiện đi lại thiếu thốn thì tiện ích của những tiệm photo sách gần trường được xem như một giải pháp cực kỳ hữu hiệu

1.2.3.2.3 Nhận thức được mua sách photo là vỉ phạm bản quyền cố ảnh

hưởng đến tâm lý thích sử dụng sách photo không?

Như vậy, thói quen và tâm lý ngại tốn kém là 2 yếu tố chính tác động đến việc mua sách photo của sinh viên Câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu mức độ nhận thức mua sách photo là vi phạm bản quyền có ảnh hưởng gì đến sự lựa chọn này không, chúng tôi tiếp tục phân tích số liệu :

Trang 24

% tỷ lệ chọn mua sách khỉ nhận thức sử dụng sách photo

là vi phạm bản quyền

■ sách gốc cũ

■ sá ch gốc mới sách photo

Biểu đồ 13: Phần trăm chọn mua sách gốc cũ, sách gốc mới và sách photo khi nhận thức

việc sử dụng sách photo là vi phạm bản quyền

Nhận thức được sử dụng sách photo là vi phạm bản quyền nhưng 61% sinh viên lại chọn mua sách photo, tuy nhiên đáng mừng là cố 33% sinh viên sử dụng sách gốc mới

% tỷ lệ chọn mua sách khi nghĩ sử dụng sách photo

là không vỉ phạm bản quyền 1%

■ sách gốc cũ

■ sách gốc mới

sách photo

Biểu đồ 14: Phần trăm chọn mua sách gốc cữ, sách gốc mới vồ sách photo khi cho rằng

việc sử dụng sách photo ỉà không vỉ phạm bản quyền

Trong số sinh viên nghĩ sử dụng sách photo là không vi phạm bản quyền, 66% sử dụng sách

photo, tăng 5% so với khi nhận thức dùng sách photo là vi phạm Nhìn vào hai biểu đồ, ta thấy phần

trăm sinh viên sử dụng sách gốc là không đổi (33%), 5% sinh viên sủ dụng sách gốc cũ đã chuyển sang sủ dụng sách photo khi nghĩ dùng sách photo không vi phạm 2 biểu đồ trên càng khẳng định thêm việc sinh viên có nhận thức được mua sách photo là vỉ phạm bản quyền hay không không hề ảnh hướng đến lựa chọn mua sách photo là chính của họ Nguyên nhân là do đâu ? Có phải vì yếu tố ‘ít tốn kém” và “dễ tìm mua” của sách photo cố ảnh hưởng áp đảo hay chính bản thân sinh viên chưa nhận thức đúng mức tầm quan trọng của việc tuân thủ luật bản quyền về sách? Chúng tôi đã tiến hành phân tích thêm số liệu sinh viên nhận biết tác hại của việc sử dụng sách không đúng bản quyền

Trang 25

1.2.3.2.4 “Lý do sử dụng sách photo là không vi phạm bản quyền” cố ảnh

hưởng gì đến việc chọn mua các loại sách không?

Lý do cho rằng sử dung sách photo là không vi

Tiệm photo sách chứ không phải người mua

Việt Nam còn nghèo nên sử dụng sách photo để

Bảng 11 : Lý do sử dụng các loại sách và nhận định sử dụng sách photo là không vi phạm

bản quyền

Theo bảng số liệu trên, lý do mua sách photo “vĩ mục đích học tập, không kinh doanh”, chiếm đến 44,19% số sinh viên cho rằng sử dụng sách photo là không vi phạm bản quyền, là động lực mạnh nhất khiến cho sinh viên sử dụng sách photo một cách tràn lan như hiện nay Ke đến là 20,93% sinh viên cho rằng không vi phạm bản quyền khi mua sách photo trong bối cảnh đất nước còn nghèo, cần tiết kiệm chi phí tối đa Đây là một lối suy nghĩ hết sức sai lầm, vì đã là luật thì không có trường hợp ngoại lệ và càng đáng lo ngại hơn khi đất nước đã gia nhập WTO, một sân chơi của thế giới,phải tuân thủ hoàn toàn các luật lệ đã cam kết thi hành huống chi Việt Nam ta đã ký kết công ước Berne về sở hữu trí tuệ từ năm 2004, việc thi hành nó lại càng phải gắt gao hơn

1.2.3.2.5 Sử dụng sách photo, không đúng bản quyền có tác hại gì?

Thực tế thì chúng ta xem nhẹ vấn đề sử dụng sách photo vì không nhìn ra những tác hại lâu dài của thực trạng này Đầu tiên phải kể đến dùng sách photo chính là vi phạm bản quyền sách, do đó

vi phạm vấn đề bản quyền mà Việt Nam đã ký trong công ước Beurne Mặc dù việc ưuy cứu lỗi tại

ai (do người sử dụng hay tiệm photo) là việc khó thực hiện nhưng nếu tình trạng này tiếp tục xảy ra, các nhà xuất bản lớn trên thế giới sẽ e ngại giới thiệu, buôn bán sách tại thị trường Việt Nam Tương

tự trong nước, cứ mỗi đầu sách tác giả in ra lại được sao chép và bán với giá rẻ hơn khiến người viết không muốn đầu tư chất xám nghiên cứu, viết sách Hai yếu tố ngoại và nội này sẽ dần dần làm cho thị trường sách Việt Nam nghèo hơn, chỉ toàn là sách cũ đã có từ lâu và không mang tính cập nhật cao Hơn nữa nhà xuất bản trong nước ngại in sách mới vì sợ thua lỗ và sợ bị kiện từ các nhà xuất bản nước ngoài, làm cho thu nhập tác giả và lẫn nhà xuất bản sụt giảm, ảnh hưởng đến nền kinh tế Cuối cùng với lượng sách mới in ra đắt hơn (với hi vọng bù lỗ vì sách bị photo) và số lượng ít hơn, người đọc có ít lựa chọn hơn và việc cung cấp thông tin bị hạn chế thấy rõ Như vậy, bản thân người

sử dụng sách photo chính

Trang 26

là gây hại cho bản thân trong tương lai Từ những luận điểm trên, chúng tôi khảo sát sinh viên về tác hại của việc dùng sách photo là gì

Tác hại của việc dùng sách photo

Biểu đồ 15: phẩn trăm tác hại của việc dùng sách photo

Biểu đồ cho thấy 195 sinh viên cho rằng tác hại của dùng sách photo là vi phạm công ước về bản quyền sách 155 sinh viên đồng ý rằng việc tiếp tục sử dụng sách photo không khuyến khích quá trình sách tác của tác giả và 144 sinh viên cho rằng thu nhập của tác giả sẽ bị ảnh hưởng Như vậy phần lớn sinh viên chỉ nhận ra tác hại gần do dùng sách photo mang lại Họ chưa nghĩ sâu xa hơn tác hại sau này mà bản thân và thị trường sách phải gánh nhu sách gốc mới ít và đắt hơn, nguồn cung cấp thông tin sẽ ngày bị hạn chế

1.2.3.3 Ưu và nhược điểm của việc sử dụng sách photo 1.2.3.3.1 Ưu điểm:

Sách photo là loại sách quen thuộc đối vởi sinh viên thòi nay Loại sách này được sử dụng rộng rãi nhất trong cộng đồng sinh viên ( 69,3% các bạn sinh viên sử dụng chủ yếu loại sách này trong quá trình học) Ta đễ dàng bắt gặp những cuốn sách này ở các tiệm photo dọc đường đi, những tiệm sách trong trường đạỉ học, trên bàn học sinh viên Không phải tụ nhiên mà photocopy được xem là một cách kinh doanh “hot” hiện nay vì số tiền đầu tư trang thiết bị ít mà nguồn cầu sách photo thì luôn dồi dào Đối với sinh viên thì sách photo gần như giải quyết được những đòi hỏi và khắc phục phần lớn nhược điểm của sách gốc

Nội dung lựa chọn Sô lựa chọn Phần trăm lựa chọn

Trang 27

Tổng 496 100.0%

Bảng 12: Ưu điềm của việc sử dụng sách photo

Đầu tiên phải nói là 238 bạn trong tổng số 496 lựa chọn (chiếm gần phân nửa lý

do) cho rằng sử dụng sách photo là tiết kiệm Chiếm gần l Á lựa chọn là ý kiến sách pohto

cố thể dễ tìm tại các quầy photo Xung quanh và cả trong các trường đại học hiện nay các

tiệm photo mọc lên với số lượng rất lớn Hầu nhu bất kỳ trường tại học nào gần đố cũng

có những tiệm photo kinh doanh sách photo, in ấn tài liệu phục vụ cho sinh viên 80 lựa

chọn nối rằng vì trường không cấm sử dụng sách photo nên sách photo “bỗng nhiên”

mang tất cả những ưu điểm của sách gốc mới, lại thêm chỉ phí rẻ 8.5% cổ nhu cầu mua

sách ngoại văn nhưng không thể mua được ở thi trường Việt Nam (do nguồn cung sách

ngoại văn còn hạn chế, giá cả lại ngoài tầm với sinh vỉên) Nhóm này vì lý do “bất khả

kháng” trên phải sử dụng sách photo 4.6% còn lại cho rằng sách photo nhiều kích cỡ,

tiện lợi, cổ thể ghi chép thoải mái, không cần thiết phải bảo quản kỹ như sách gốc

1.2.3.3.2 Nhược điểm của việc sử dụng sách photo

bất lợi sử dụng sách photo

■ chất lượng giấy kém

■ mực ỉn không nõ ràng

■ thiếu sốt không cập nhật

Biểu đồ 15: Nhược điểm của việc sử dụng sách photo

Biểu đồ cho thấy 329 ý kiến cho rằng mực in không rõ ràng là bất lợi lớn nhất của sử dụng sách photo, chiếm hơn phân nửa lựa chọn 182 phiếu khảo sắt cho rằng chất lượng giấy kém và 110 cho rằng thiếu cập nhật 55 phiếu trong tổng số 403 sinh viên chọn cả 3 lựa chọn Đe đạt doanh thu cao, nhiều cơ sở photo cố gắng chọn loại giấy rẻ tiền nhất, mực in chất lượng thấp nhất để phot sách cho sinh viên Hơn nữa vì photo sách với số lượng rất lớn, nhiều đơn đặt hàng nên các tiệm này sao chép không cẩn thận Cố nhiều sách sau khi đống xong thiếu mất khúc đầu, khúc cuối, in thiếu trạng

là điều bình thường

Trang 28

CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, CÔNG ƯỚC BERNE Ở VIỆT NAM VÀ PHÂN TÍCH

2.1 THựC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM VÀ PHÂN TÍCH

2.1.1 Luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

2.1.1.1 Quyền sở hữu trí tuệ về các ấn bản khoa học :

2.1.1.1.1 Khái niệm

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

2.1.1.1.2 Đốỉ tượng

Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá

2.1.1.1.3 Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công

bố hay chưa công bố, đã đãng ký hay chưa đãng ký

2.1.1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển kinh tế

Trang 29

Thứ hai, Sở hữu trí tuệ là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng nhu nền kinh

tế quốc gia trong hội nhập Hiện nay, với mỗi quốc gia, doanh nghiệp, năng lực Sở hữu trí tuệ là một trong những năng lục nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững Quốc gia, doanh nghiệp nào có đuợc càng nhiều quyền Sở hữu trí tuệ thì năng lục cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao Nuớc ta năng lực cạnh tranh thuờng thấp, khả năng tiếp cận thị truờng hạn chế, cho nên để

có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của Sở hữu trí tuệ Cách tốt nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về Sở hữu trí tuệ nhằm xây dựng hệ thống Sở hữu trí tuệ có hiệu quả Điều đó làm cho hoạt động Sở hữu trí tuệ xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh huớng tiến gần hơn tới chuẩn mực chung của thế giới

Thứ ba, Sở hữu trí tuệ là phuơng tiện đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng nhu từng doanh nghiệp Sở hữu các tài sản hữu hình là sở hữu cái có giới hạn, còn sở hữu tri thức, trí tuệ của nhân loại là sở hữu cái vô hạn, vĩ vậy sẽ là vô cùng bền vững nếu chúng ta biết khai thác và

sử dụng một cách hiệu quả - có thể nói Sở hữu trí tuệ là sở hữu một thứ tài sản đặc biệt, khi sử dụng không những không mất đi mà còn có khả năng kiến tạo những sản phẩm trí tuệ cao hơn, là những tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững đối với những chủ thể sở hữu và xã hội Việt Nam đã

ký kết nhiều điều uớc quốc tế (song phuơng và đa phuơng) về bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ Hiện nay, chúng ta đã là thành viên của các Điều uớc quan trọng nhu Công uớc Paris, Tho ả uớc Madrid, Nghị định thu Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng ho á, Hiệp uớc hợp tác Patent, Công uớc Benre

về bản quyền và đặc biệt là Hiệp định TRIPS Ngoài ra, các Điều uớc quốc tế đa phuơng và song phuơng liên quan đến việc khiếu nại, xét xử, trọng tài, thi hành bản án, quyết định, tuơng trợ tu pháp giữa Việt Nam và các nuớc là những cơ sở quan trọng trong công tác thực thi quyền Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Thứ tu, tuân thủ hệ thống quản lý Sở hữu trí tuệ là cách thức để nuớc ta tiếp cận bền vũng hơn với các hoạt động đầu tu, chuyển giao công nghệ và hội nhập hiệu quả Việc tạo dựng và củng cố giá trị của mọi đối tuợng Sở hữu trí tuệ là một quá trình đầu tu tốn kém về vật chất và trí tuệ Do vậy, việc sao chép, mô phỏng, thậm chí đánh cắp nguyên vẹn các thành quả sáng tạo kỹ thuật - kinh doanh của đối thủ cạnh tranh là biện pháp hấp dẫn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận và chiến thắng Nguy cơ chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ là nguy cơ thuờng xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh té công nghiệp ho á Bởi vậy, việc ngăn chặn nguy cơ này là vấn đề ám ảnh đối với các nhà đầu

tu nuớc ngoài, họ sẽ chỉ chấp nhận chuyển giao công nghệ và thực hiện các biện pháp đầu tu, nếu họ nhận thấy đủ cơ hội khai thác an toàn, hiệu quả công nghệ đó ở quốc gia dụ định đầu tu Cho nên, sẽ

là thiển cận, nếu cho rằng vì lạc hậu về kỹ thuật và công nghệ mà không cần phải có một sự bảo hộ công nghệ nào ở các nuớc đang phát triển, cần thấy rằng, các nhà đầu tu nuớc ngoài có xu huớng lo

sợ rằng bảo hộ Sở hữu trí tuệ lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc thiếu kiểm soát đối với công nghệ đuợc chuyển giao và nhu vậy công nghệ chuyển giao này sẽ dễ trở thành mục tiêu bị vi phạm bản quyền Vì lẽ đó, xác lập đuợc một hệ thống bảo hộ Sở hữu trí tuệ hiệu quả và việc tuân thủ hệ thống quản lý bảo hộ

Sở hữu trí tuệ một cách nghiêm túc sẽ là một điều kiện tiên quyết tác động đến quyết định đầu tu và chuyển giao của các công ty nuớc ngoài

Thứ năm, một hệ thống bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ hiệu quả là một yếu tố để chống lại nguy

cơ tụt hậu và phát triển đất nuớc Kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản cho thấy, một quốc gia hoàn toàn có thể phát triển mạnh mẽ mà không nhất thiết phải có

Trang 30

nguồn lực vật chất dồi dào, mà vấn đề là nhận thức được giá trị thực sự của tài sản trí tuệ và việc bảo

hộ các tài sản trí tuệ đó Cựu Thủ tướng Nhật Bản Tanzan Ishibashi đã từng nói: “ Tôi tin chắc rằng, đây là bí quyết phát triển công nghiệp của chứng tôi từ thời Meiji Chỉ trong một nước đã nhận ra giá trị thực sự của hệ thống bảo hộ sáng chế và quyết tâm dùng mọi sức lực của nó để xây dựng hệ thống

đó, người ta mới có thể hy vọng công nghiệp phát triển” Một khi cơ sở hạ tầng và khả năng kỹ thuật cho việc cải tiến công nghệ đã được thiết lập ở một nước, nhất là ở các nước đang phát triển, hệ thống bảo hộ sáng chế sẽ thành một yếu tố thúc đẩy sự nghiệp cải tiến kỹ thuật Bởi vậy, câu hỏi đặt ra cho nước ta không phải là có thiết lập hệ thống bảo hộ Sở hữu trí tuệ hay không, mà phải là thiết lập như thế nào và vào lúc nào trong quá trình phát triển kinh tế, kỹ thuật của đất nước sẽ là phù hợp cho việc

áp dụng một hệ thống bảo hộ toàn diện và hiệu quả

2.1.1.1.5 Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ

Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh

Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Hỗ ượ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài ượ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu ưítuệ

Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật

về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2.1.1.2 Quyền sở hữu trí tuệ - Quyền tác giả ( theo Bộ luật Sở hữu trí tuệ Việt

Nam)

Phần sau đây chúng tôi để cấp đến một trong những quyền sở hữu trí tuệ là quyền tác giả vì bài nghiên cứu chúng tôi tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực này

2.1.1.2.1 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu ưítuệ

Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp Bộ Văn hoá - Thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan Bộ Nông nghiệp và Phát ưiển nông thôn ưong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng

Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hoá -

Trang 31

Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền

Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, ưách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của

Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát ưiển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các cấp

2.1.1.2.2 Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

- Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được

thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

- Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;

Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh Tác phẩm được bảo hộ quy định phải do tác giả trực tiếp sang tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định

2.1.1.2.3 Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả

Tin tức thời sự thuần túy đưa tin

- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của vãn bản đó

Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu

Trang 32

Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc, tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

Làm tác phẩm phái sinh;

- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

Sao chép tác phẩm;

- Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

2.1.1.2.5 Hành vi xâm phạm quyền tác giả

- Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học

Mạo danh tác giả

- Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả

- Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả

Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả với mục đích kinh doanh

Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, ưừ các trường hợp không vì mục đích kinh doanh

Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp đặc biệt được quy định bên dưới

- Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả

Trang 33

- Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

Cố y huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện

để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

Cố y xo á, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình

- Làm và bán tác phẩm mà chữ ky của tác giả bị giả mạo

Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả

2.1.1.3 Các trường hợp đặc biệt về sở hữu trí tuệ về ấn phẩm văn học (theo điều 32, điều 33 Bộ luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam)

2.1.1.3.1 Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xỉn phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao

Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

- Trích dẫn hợp ly tác phẩm mà không làm sai y tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

- Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai y tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

- Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai y tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

- Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng

Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định không được làm ảnh hưởng

đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ

sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm

- Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính

Ngày đăng: 04/03/2017, 17:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số phiếu phát ra và thu về của các trường đại học - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 1 Số phiếu phát ra và thu về của các trường đại học (Trang 3)
Bảng 2: Nguồn hỗ trợ kinh phí học tập của sinh viên - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 2 Nguồn hỗ trợ kinh phí học tập của sinh viên (Trang 7)
Bảng 3: Chi phí mua sách và loại sách chủ yêu sinh viên mua - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 3 Chi phí mua sách và loại sách chủ yêu sinh viên mua (Trang 8)
Bảng 4: sô tiên mua sách của sinh viên năm 2 và năm 3 - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 4 sô tiên mua sách của sinh viên năm 2 và năm 3 (Trang 9)
Bảng 5 : Đầu ra cho sách sử dụng xong với sổ tiền dành để mua sách - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 5 Đầu ra cho sách sử dụng xong với sổ tiền dành để mua sách (Trang 13)
Bảng 8: Ưu điếm của sử dụng sách gốc cũ - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 8 Ưu điếm của sử dụng sách gốc cũ (Trang 18)
Bảng 9: Sô tiên sử dụng đê mua sách và sô sinh viên lựa chọn mua - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 9 Sô tiên sử dụng đê mua sách và sô sinh viên lựa chọn mua (Trang 22)
Bảng 10: Sô tiên sử dụng đê mua sách và sô sinh viên lựa chọn mua sách photo vì - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 10 Sô tiên sử dụng đê mua sách và sô sinh viên lựa chọn mua sách photo vì (Trang 23)
Bảng 11 : Lý do sử dụng các loại sách và nhận định sử dụng sách photo là không vi phạm - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 11 Lý do sử dụng các loại sách và nhận định sử dụng sách photo là không vi phạm (Trang 25)
Bảng 12: Ưu điềm của việc sử dụng sách photo - Thực trạng sử dụng sách photo – vấn đề bản quyền và xây dựng mô hình sử dụng sách gốc trong các trường đại học TP HCM
Bảng 12 Ưu điềm của việc sử dụng sách photo (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w