Thực tế nhìn nhận cho thấy ngày nay khi bước chân vào giảng đường, chúng ta thường nhìn thấy những hình ảnh không tốt về sinh viên như: trong lớp học sau giờ tan tồn tại rất nhiều rác do
Trang 1Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hội nhập thành công vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới Quá trình hội nhập giao lưu với bên ngoài làm phong phú,
đa dạng nền văn hoá nước ta nhưng mặt khác tạo nên sự phức tạp, đa dạng trong lối sống của người dân Việt Nam nói chung và cư dân ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Ngày 26 tháng 1 năm 2008, TP.HCM đã tổ chức ra quân đồng loạt thực hiện nếp sống văn minh đô thị Vì trong bối cảnh kinh tế- văn hoá - xã hội như thế thì chủ đề văn minh luôn
là vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm Rất nhiều phương tiện truyền thông đại chúng đã tìm hiểu và nghiên cứu về việc thực hiện nếp sống văn minh trong người dân Nhưng tất cả các cuộc nghiên cứu đó chỉ tập trung vào sự nhìn nhận tổng quan, vẫn chưa có ai đi sâu vào việc tìm hiểu từng đối tượng cụ thể như: công chức, người lao động phổ thông, công nhân có thái
độ như thế nào Trong đó có sinh viên- đại diện cho tầng lớp tri thức đóng góp cho sự phát triển của đất nước, qua quá trình tiếp nhận những tiến bộ xã hội về lối sống, văn hoá, văn minh hiện đại thì sinh viên đã có những ứng xử hành vi ra sao?
Thực tế cho thấy khi bước chân vào giảng đường đại học, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh chưa “đẹp” về sinh viên như: Rác thải còn nhiều trong phòng học, sinh viên đi học không đứng giờ, ăn mặc tuỳ tiện, mất trật tự, làm việc riêng trong giờ học, ý thức tự giác chưa cao
Đó không phải là hình ảnh tổng thể của sinh viên mà chỉ là một bộ phận nhỏ trong tổng thể nhưng đã làm ảnh hưởng đến môi trường vốn mang tính nhân văn cao
Cùng thời gian này, Ban giám hiệu trường Đại học Tôn Đức Thắng đã ra quyết định thực
hiện tốt nội quy giảng đường phòng học thông qua nội dung thực hiện “ 4 nhiệm vụ và 8 không
” đối với giảng viên và sinh viên trong trường, quy định này chính thức thực hiện vào ngày 01 tháng 12 năm 2008
Từ những lý do trên, nhóm tác giả đã nghiên cứu đề tài: “ Thái độ của sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng với việc thực hiện nếp sống văn minh giảng đường hiện nay”, thông qua nghiên cứu việc thực hiện nội quy giảng đường, phòng học của sinh viên đang theo học tại trường Đại học Tôn Đức Thắng
Với phương pháp điều tra xã hội học nhóm tác giả tiến hành tìm hiểu thái độ thực hiện nếp sống văn minh giảng đường của sinh viên thông qua nội quy về giảng đường phòng học tại trường Đại học Tôn Đức Thắng Từ đó tìm ra những yếu tố tác động đến việc thực hiện trên với
hy vọng sẽ mang lại những kết quả khả quan nhằm hạn chế tiêu cực và phát huy những mặt tích cực góp phần vào việc định hướng phát triển lối sống lành mạnh vừa mang tính chất văn minh, vừa giữ được giá trị truyền thống trong giới trẻ nói chung và giới sinh viên tại TP.HCM nói riêng
Trang 2tập từng bước thực hiện tốt các quy định vì thành phố văn minh
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
5 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 2
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN cứu CHƯƠNG I Cơ SỞ LÝ LUẬN 5
1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 5
2 Một số khái niệm liên quan đén đề tài 8
3 Cơ sở lý thuyết của đề tài 10
3.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 10
3.2 Lý thuyết tương tác xã hội 10
3.3 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý 11
4 Câu hỏi nghiên cứu và mô hình phân tích 11
5 Giả thuyết nghiên cứu của đề tài 12
CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 13
2 Thái độ của sinh viên đối với việc thực hiện nếp sống văn minhgiảng đường 15
2.1 Thái độ của sinh viên đối với việc thực hiệnnội quy giảng đường 15
2.2 Thái độ của sinh viên với việc tham gia các chương trình thực hiện nép sống văn minh của trường 30
2.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên 35
2.3.1 Gia đình 35
2.3.2 Nhà trường 38
2.3.3 Bạn bè 40
2.3.4 Thông tin đại chúng 41
2.4 Ý kiến của bản thân về vấn đề thực hiện nép sống văn minh 43
3 Ý kiến đóng góp 45
KÉT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 47
1 Két luận 47
2 Khuyển nghị 48
Trang 4Ngày 26 tháng 1 năm 2008, TP.HCM đã tổ chức ra quân đồng loạt thực hiện nếp sống vãn minh đô thị Vĩ chính trong bối cảnh kinh tế- văn hoá - xã hội như thế thì vấn đề văn minh luôn là vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm Rất nhiều phương tiện truyền thông đại chúng
đã tìm hiểu và nghiên cứu về việc thực hiện nếp sống văn minh trong người dân Nhưng tất cả các cuộc nghiên cứu đó chỉ tập trung vào sự nhìn nhận tổng quan, vẫn chưa có ai đi sâu vào việc tìm hiểu từng đối tượng cụ thể như: công chức, người lao động phổ thông, công nhân có thái độ như thế nào Trong đó có sinh viên- đại diện cho tầng lớp tri thức đóng góp cho sự phát triển của đất nước, qua quá trình tiếp nhận những tiến bộ xã hội về lối sống, vãn hoá, văn minh hiện đại thì sinh viên đã có những ứng xử hành vi ra sao?
Thực tế nhìn nhận cho thấy ngày nay khi bước chân vào giảng đường, chúng ta thường nhìn thấy những hình ảnh không tốt về sinh viên như: trong lớp học sau giờ tan tồn tại rất nhiều rác do các bạn không ý thức bỏ rác đúng nơi quy định, lớp học thì ồn ào, đi học không tuân thủ nội quy của trường dẫn đến hiện tượng phải có đội sao đỏ đứng ở mỗi lối đi của cầu thang vào những giờ lên lớp của các bạn nhất là gần đây tại trường Tôn Đức Thắng đã có quy định là sinh viên khi đến trường phải mang giầy có quai hậu, thế nhưng vẫn còn rất nhiều sinh viên không tuân thủ quy định đó tất nhiên đó cũng chỉ là một bộ phận trong tổng thể nhưng cũng làm ảnh hưởng đến môi trường vốn mang tính nhân văn cao
Chính vì những lý do nêu trên, nhóm chứng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu với hy vọng sẽ mang lại những kết quả khả quan nhằm hạn chế tiêu cực và phát huy những mặt tích cực góp phần vào việc định hướng phát triển lối sống lành mạnh vừa mang tính chất văn minh, vừa giữ được giá trị truyền thống trong giới trẻ nói chung và giới sinh viên tại TP.HCM nói riêng Thế nhưng vĩ một số lý do khách quan chúng tôi không có điều kiện nghiên cứu rộng ở tất cả các trường Đại học, Cao đẳng tại TP.HCM nên chứng tôi đã chọn nghiên cứu tại trường Đại học Tôn Đức Thắng - nơi mà nhóm chứng tôi đang học tập
Trang 52 Đối tương, khách thể và phạm vỉ nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của sinh viên Tôn Đức Thắng đối với vấn đề thực hiện nếp sống văn minh giảng đường hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
• Tìm hiểu các yếu tố tác động đến thái độ thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên
• Đưa ra được những Khuyến nghị cũng như những giải pháp cụ thể
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
5 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong đề tài là áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng
để nghiên cứu các tư liệu, tài liệu sẵn có Bên cạnh đó đề tài còn sử
Trang 6dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, mô tả, giải thích phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính cùng với một số phương pháp liên ngành khác Ngoài ra đề tài còn sử dụng các lý thuyết của xã hội như: lý thuyết cấu trúc- chức năng, lý thuyết tương tác xã hội, lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý
5.2 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có: Thông qua phương pháp này, tác giả
xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu để rút ra các thông tin cần thiết, nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của đề tài Thông qua các kênh thu thập tài liệu khác nhau để
có nguồn tư liệu cần thiết làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến việc thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính: Là phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Đối tượng phỏng vấn là sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng cụ thể như sau: phỏng vấn 6 cuộc, trong đó sinh viên năm nhất là 3 cuộc, sinh viên năm ba là 3 cuộc chia đều cho 3 khoa: khoa khoa học xã hội và nhân vãn, khoa kỹ thuật công trình, khoa quản trị kinh doanh
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng hỏi: Lựa chọn và điều tra
180 bảng hỏi đối với sinh viên của 2 khối ngành học :
- Ngành tự nhiên- kỹ thuật công trình: 60 bảng hỏi
- Ngành kinh tế - xã hội và nhân văn: 120 bảng hỏi
5.2.4 Phương pháp quan sát: Quan sát với tư cách là một trong những phương pháp
cụ thể cho việc thu thập các thông tin cá biệt được hiểu là một phương pháp bộ phận thu thập thông tin về đối tượng trong nghiên cứu xã hội học Quan sát là quá trình tri giác và việc ghi chép mọi yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu Ở đây quan sát tham dự tại các lớp trực thuộc Đại học Tôn Đức Thắng để xem xét việc thực hiện nếp sống văn minh giảng đường trong sinh viên
5.3 Phương pháp chọn mẫu: Mầu là một phần của tổng thể được lựa chọn ra theo
những cách thức nhất định với một dung lượng hợp lý
5.3.1 Mẩu cho thông tin định lượng: Trường Đại học Tôn Đức Thắng có 10 khoa
1 Khoa Công Nghệ Thông Tin Và Toán ứng Dụng
2 Khoa Điện- Điện Tử
3 Khoa Mỹ Thuật Công Nghiệp
4 Khoa Môi Trường Và Bảo Hộ Lao Động
5 Khoa Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
6 Khoa Quản Trị Và Kinh Doanh
7 Khoa Ke Toán- Tầi Chính
8 Khoa khoa học ứng dụng
Trang 79 Khoa kỹ thuật công trình
- Dung lượng mẫu mong muốn: 180
Phân theo 2 tầng: • Khối ngành học
60
Khối ngành kinh tế- khoa học
xã hội và nhân văn( Trong đó
2 khoa đại diện là: Quản trị kinh doanh và khoa khoa học
xã hội và nhân văn)
Khoa quản trị kinh doanh: 60 Khoa khoa học xã hội và nhân văn: 60
Trang 8PHÀN NỘI DUNG NGHIÊN cứu CHƯƠNG
1 Cơ SỞ LÝ LUẬN
1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Nhìn chung trong các tài liệu mà nhóm đi tìm hiểu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng để nghiên cứu Trong đó, một số bài báo chỉ sử dụng phương pháp thống kê, quan sát để đưa ra các kết quả cũng như nhìn nhận khách quan Trong các công trình nghiên cứu đó, đáng chú ý nhất là các công trình sau:
Đe tài “ Những biện pháp chủ yếu phát triển tỉnh tích cực của Thanh Niên- Học
Theo tác giả Thanh Niên-Học Sinh-Sinh Viên lúc bấy giờ có hai xu hướng: một là một số
xa rời lý tưởng và niềm tin cách mạng, có tư tưởng chạy theo lối sống thực dụng hưởng thụ
cá nhân, hai là đa số quan tâm hơn đến các vấn đề quốc gia, dân tộc truyền thống,cội nguồn với nhiều hành động tự giác bổ ích Tác giả còn nhận định rằng thực trạng, tư tưởng và ý thức trách nhiệm của Thanh Niên- Học Sinh-Sinh Viên đang có sự chuyển đổi, vận động
và phát triển theo hướng tích cực Sự chuyển đổi này gắn liền từng bước với quá trình đổi mới, xây dựng đất nước trong mọi lĩnh vực Đồng thời tác giả còn cho rằng: Thanh Niên-Học Sinh-Sinh Viên lúc bấy giờ có những đặc điểm mới về xu hướng như thích sống tự lập
và có những nhu cầu, nguyện vọng đa dạng hơn, vai trò của nhóm bạn có xu hướng phát triển hơn so với trước đây
Đồ tài “'Ảnh hưởng của môi trường đô thị đến nhận thức, lối sổng của Sinh Viên tại
TP.HCM hiện nay” của một nhóm Sinh Viên lớp 05XH1N Bài viết đã nêu lên có một bộ
phận sinh viên có nhận thức đúng đắn vị trí xã hội của mình nên họ có cố gắng, tự giác chủ động trong học tập và rèn luyện nên họ tham gia các hoạt động xã hội tích cực hơn Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận sinh viên có biểu hiện chưa đúng đắn do bị tác động bởi những điều kiện khách quan và cũng như các yểu tố chủ quan Tác giả cho rằng môi trường gia đỉnh cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức lối sống của sinh viên Như vậy, theo tác giả có rất nhiều nhân tố khác nhau đã tác động đến nhận thức và lối sống của Sinh Viên, trong đó cơ chế mở cửa gắn liền với sự phát triển của cơ chế kinh tế thị trường
là có tầm ảnh hưởng bao quát nhất Cuối cùng bài viết đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy tính tích cực và hạn ché những tiêu cực trong nhận thức, lối sống của sinh viên lúc đó
Trong luận văn cử nhân và khoa học với đề tài “Một số yếu tổ tác động đến nhận thức
như môi trường gia đình, nhà trường, các đoàn thể địa phương, các chính sách của Đảng và nhà nước cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng đã tác động đến nhận thức và thái độ tích cực hay tiêu cực của sinh viên Và đưa ra một số khuyến nghị như: tích cực khai thác các giá trị, các yếu tố truyền thống trong hoàn cảnh mới phù hợp với những yêu cầu mới của thời đại Bên canh đó, gia đình, nhà trường và đoàn thể địa phương cần phải
Trang 9phối hợp nhiều hơn nữa trong việc quan tâm đến mọi mặt trong đời sống của sinh viên để huơng Thanh Niên-Học Sinh-Sinh Viên đến nhận thức tốt hơn trong giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc
Đe tài: " Ỷ thức chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên ở thành phố Hồ Chí
kết hợp với phỏng vấn sâu, tác giả đã đưa ra được nguyên nhân vì sao mà sinh viên tại thành phố lại có ý thức chấp hành luật giao thông yếu Theo tác giả đó là do:
Các bậc phụ huynh không có thời gian chăm sóc, giáo dục con cái, nuông chiều cho con đi xe trong khi chưa tới tuổi cấp giấy phép lái xe
Việc giáo dục ý thức công dân và giáo dục đạo đức trong nhà trường cũng không được quan tâm, cùng với sự thay đổi của đời sống kinh tế và hệ giá trị người thầy cũng không còn cái uy đối với học sinh
Ở phạm vi toàn xã hội việc người lớn không chấp hành trở thành tấm gương xấu, kích động cổ vũ cho hành vi sai trái của lớp trẻ
- Lực lượng cảnh sát giao thông thiếu hụt so với lượng phương tiện và số người tham gia lưu thông trên đường Bên cạnh đó cách làm việc của cảnh sát giao thông còn nhiều bất cập dẫn đến hành vi lệch chuẩn
- Ngoài ra còn có một số yếu tố như: cơ sở hạ tầng, hoạt động tuyên truyền còn thấp kém chưa đạt hiệu quả
- Cuối cùng tác giả đưa ra một số khuyến nghị cho những vấn đề trên: giảm thiểu những mặt tiêu cực và phát huy những mặt tích cực
Trong luận văn cử nhân xã hội học của tác giả Đặng Thị Kim Ánh năm 2007 về: “ Hành
mới so với những đề tài khác là đi nghiên cứu sinh viên hai khối ngành: Xã hội học và khoa học
tự nhiên của 2 trường đại học Tôn Đức Thắng và Giao Thông Vận Tải Đồ tài nêu lên được tình hình vi phạm luật giao thông đường bộ của sinh viên hiện nay vẫn còn phổ biến Chỉ ra được 1
số nguyên nhân như: cơ sở hạ tầng yếu kém, kết quả làm việc của cảnh sát giao thông không được phát huy, quá trình xã hội hoá cá nhân có ảnh hưởng đặc biệt tới hành vi của sinh viên Và theo tác giả trong tất cả những hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ của sinh viên thì ý thức của sinh viên là yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng nhiều nhất
Từ những nhận xét đó tác giả đưa ra được một số giải pháp: cần nâng cao ý thức của sinh viên trong việc chấp hành luật giao thông, khắc phục, sửa chữa hệ thống giao thông đường
bộ, tăng cường hệ thống điều hành giao thông
Trong công trình dự thi giải thưởng “Khoa học sinh viên- Eureka” lần 9 năm 2007 của
nhóm tác giả Nguyễn Hữu Bắc với đề tài “ loi sắng tích cực trong sinh viên thành phổ Hồ Chí
trạng và những nguyên nhân của lối sống tiêu cực trong sinh viên TP.HCM
Trang 10Tác giả đã nêu lên được một số nguyên nhân sau:
• Do nhận thức của sinh viên còn hạn chế và sai lệch trong các lĩnh vực: học tập và nghề nghiệp, lệch lạc trong đời sống vãn hoá và giải trí, lệch lạc trong tình yêu, hôn nhân và gia đình
• Do ảnh hưởng tiêu cực từ gia đình và phương pháp giáo dục của gia đình không phù hợp Theo tác giả những gia đình bố mẹ hay nói tục, chửi thề, thường xuyên cãi vã, gây sự với hàng xóm làm ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm lý của con cái Phần khác do cha mẹ chỉ lao vào kiếm tiền mà không quan tâm đến suy nghĩ của con cái, cho con đầy đủ vật chất rồi để con muốn làm gì thì làm cũng là nguyên nhân gây nên lối sống tiêu cực
• Do ảnh hưởng tiêu cực từ nhà trường, và bên canh đó là do nội dung, phương pháp giảng dạy của nhà trường còn nhiều hạn chế và lạc hậu Ngoài ra theo tác giả phần lớn sinh viên tại Tp.Hcm đến từ các tỉnh lẻ, khi lên thành phố sống xa gia đình dễ tiếp xúc với nhiều cám dỗ, khiến họ lao vào ăn chơi, hút chích, bỏ bê việc học và thậm chí là phạm tội
• Do ảnh hưởng tiêu cực từ xã hội và những tác động của nền kinh tế thị trường, sự phát triển ồ ạt của những hình thức giải trí, văn hoá nghệ thuật mang tính thị trường rẻ tiền đã đầu đọc giới trẻ
Cuối cùng tác giả đưa ra một số dự báo và Khuyến nghị trước vấn đề lối sống của sinh viên
Theo tác giả để hạn ché tiêu cực trong hành động của sinh viên cần thực hiện một số biện pháp sau:
• Cần tăng cường giáo dục về chính trị, tư tưởng cho sinh viên
• Cần có sự quản lý chặt chẽ và chỉ báo kịp thời, nâng cao hiệu quả quản lý bằng pháp luật
• Toàn xã hội cần phải quan tâm đến sinh viên và vấn đề lối sống của sinh
Trang 11nhếch nhác, vẫn còn hiện tượng vô tư đi vệ sinh ở các vỉa hè, trong khi đó nhà vệ sinh chỉ cách
đó không xa và còn nhiều những vấn đề khác làm ảnh hưởng đến hình ảnh xã hội Nhưng chủ yếu của những bài báo dạng này là đưa ra hiện trạng, ít có bài đưa ra được giải pháp cụ thể Nhìn chung, trong những năm qua, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về đối tượng là sinh viên, nhưng chủ yếu tập trung vào những vấn đề như: Tình yêu, học tập, thái độ đối với giá trị truyền thống, thái độ chấp hành luật giao thông ít có đề tài nghiên cứu về việc thực hiện nếp sống vãn minh trong sinh viên Còn những nghiên cứu khác thì chỉ nhìn nhận thái độ thực hiện văn
minh nói chung, không đi vào một đối tượng cụ thể Vĩ vậy, với đề tài “Thái độ thực hiện nếp
sổng văn minh giảng đường của sinh viên đại học tôn đức thắng”, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên
cứu để tìm hiểu hiện trạng việc thực hiện nếp sống văn minh trong sinh viên tại trường Đại học Tôn Đức Thắng như thế nào Đâu là những yếu tố tác động đến việc thực hiện ấy, để có thể có cái nhìn tổng quan cũng như đưa ra được các giải pháp cụ thể
2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
2.1 Văn minh
Được hiểu là trình độ phát triển văn hoá, văn minh là cái ra đời sau văn hoá Vãn minh phản ánh trình độ chinh phục thiên nhiên của con người, nó chứa đựng những yếu tố của
sự phát triển khoa học- kỹ thuật Khi các nền văn hoá tiếp xúc với nhau thì nền vãn hoá nào
có trình độ văn minh cao hơn sẽ lấn át nền vãn hoá có trình độ văn minh thấp hơn Trong quan hệ của các cá nhân, các cộng đồng xã hội, những hành động được thực hiện theo văn minh thường kèm theo nó là định chế Vậy, vãn minh là sự phát triển của trình độ vãn hoá gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật.{ Theo từ điển xã hội học/nxb Thế Giới}
Đối với đề tài Thải độ của sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng đối với việc thực hiện nếp
góc độ là : Thực hiện tốt nội quy trường lớp, cụ thể ở đây là thực hiện tốt “4 nhiệm vụ, 8 không”, tham gia đầy đủ các phong trào đoàn hội, có cách ứng xử lịch sự với mọi người Xem mức độ thực hiện của các bạn diễn ra như thế nào ? và theo nhóm nghiên cứu, thực hiện tốt những điều trên là nép sống văn minh trên giảng đường
2.2 Sinh viên
Thuật ngữ sinh viên bắt nguồn từ tiếng La Tinh với ý nghĩa để chỉ những người học tập, tìm kiếm, khai thác tri thức Như vậy, có thể hiểu Sinh Viên là những người đang học tập, nghiên cứu tại các trường Đại học và Cao đẳng gắn với những vị trí và vai trò xã hội nhất định
Giới Sinh Viên là tầng lớp Sinh Viên, bao gồm những Sinh Viên đang học trong các trường Đại học, Cao đẳng Đây là nhóm dân số có vị trí xã hội, vai trò xã hội cụ thể, nhóm này
có giai đoạn trong quá trình xã hội hoá đặc thù.{ Theo tù điển tiếng việtVnxb từ điển Bách Khoa}
2.3 Thái độ
Theo cuốn đại từ điển Tiếng việt thì "Thái độ"là hai mặt biểu hiện bề ngoài
Trang 12của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì, thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động {Trl241,}
Theo từ điển xã hội học thì thái độ của một cá nhân đối với một đối tượng là một trong những nhân tố chính gắn với cá nhân và quyết định ứng xử của cá nhân đối với đối tượng Và cũng theo từ điển xã hội học thì khái niệm thái độ không được định nghĩa thống nhất trong các ngành khoa học xã hội Ví dụ theo Allport nhấn mạnh phương diện điều khiển ứng xử tiếp theo khi ông định nghĩa thái độ là “Trạng thái suy nghĩ hay thần kinh của sự sẵn sàng phản ứng có ảnh hưởng điều khiển hoặc tạo động cơ thúc đẩy ứng xử và được cấu trúc qua kinh nghiệm” Hoặc theo Thurstone đưa vào thành phần đánh giá khi ông nói rằng thái độ “Là cách đánh giá tích cực hay tiêu cực một đối tượng của thái độ”
Những nghiên cứu về thái độ xã hội, tức là thái độ đối với đối tượng xã hội trước hết nghiên cứu các điều kiện thay đổi thái độ và mối liên quan giữa một mặt là thái độ và mặt kia
là ứng xử bị nó ảnh hưởng Khi đó các nhà nghiên cứu dùng các phương pháp khác nhau của phép đo thái độ, chẳng hạn như các thang đo thái độ khác nhau
2.4 Nội quy giảng đường, phòng học :
Là một trong những nội quy của nhà trường chính thức được ban hành vào ngày 01 tháng 12 năm 2008, gồm những nội dung sau :
• Thực hiện “4 nhiệm vụ” của nhà trường đối với giảng viên và học sinh,
sinh viên:
• Quản lý, sử dụng đúng mục đích, quy định đối với các trang thiết bị trong giảng đường, phòng học
• Giữ gìn vệ sinh học đường, rác thải bỏ vào thùng rác đúng nơi quy định
• Cư xử với tất cả mọi người văn minh, lịch sự, phù hợp với môi trường giáo dục
• Ra khỏi giảng đường, phòng học tự giác tắt đèn, quạt, các trang thiết bị có sử dụng nguồn điện: đóng tất cả cửa giảng đường, phòng học
* Thực hiện “ 8 không”:
• Không tự ý dịch chuyển các trang thiết bị, tài sản trong giảng đường, phòng học sang
vị trí khác không có sự cho phép của phòng Quản trị Thiết bị,
• Không mang vào giảng đường, phòng học hàng hoá quốc cấm, chất gây nghiện, chất
nổ, chất dễ cháy
• Không hút thuốc lá trong toàn bộ khuôn viên trường
• Không ăn uống trong phòng học
• Không viết, vẽ, khắc chữ lên tường, cửa, bàn ghế, bảng trong giảng đường, phòng học và toàn thể khuôn viên trường
• Không sử dụng điện thoại trong phòng học
• Không la to, la lớn trong khuôn viên trường
• Không tụ tập trước giảng đường, phòng học đang có người học
2.5 Giảng đường :
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam : là phòng học lớn làm nơi giảng bài ở trường đại học, có cấu trúc sàn dốc thoả mãn yêu cầu nghe và nhìn
Trang 13Xây dựng nếp sống văn hoá phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, vào truyền thống, bào sự phổ biến, vào giáo dục vãn hoá, đặc biệt phụ thuộc vào định hướng lý tưởng của mỗi nền văn hoá và mức sống thực tế của người dân
3 Cơ sở lý thuyết của đề tài
3.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết này có nguồn gốc trong tư tưởng của H.Spencer-nhà xã hội học người Anh cuối thế kỷ XIX Tuy nhiên, người ảnh hưởng lớn nhất đối với sự ra đời của lý thuyết này là E.Durkheim- người đã thực hiện phân tích lại những đề xuất của H.Spencer Trong thế kỷ XX,
lý thuyết này được phát triển bởi T.Pakson và trở nên phổ biến trong việc sử dụng làm cơ sở nghiên cứu xã hội học Ngoài ra, lý thuyết này còn được sự đóng góp của M.Nowski, K.David
Theo lý thuyết này thì: “Xã hội được coi là một hệ thong bao gồm nhiều bộ phận khác
nhau mà mỗi bộ phận giữ một vai trò nào đỏ và thoả mãn một nhu cầu nào đó của xã hội Neu một bộ phận nào đó vì lỷ do gì mà tan ra thì sẽ ảnh hưởng đến cả hệ thong’’
Do đó khi nghiên cứu nhận thức, lối sống của sinh viên trong giai đoạn hiện nay, chúng
ta cần nhìn vấn đề dưới lăng kính cấu trúc- chức năng, qua đó chúng ta nhận thức rõ vai trò, những chuẩn mực giá trị văn hoá có chức năng như thế nào trong việc tạo nên thay đổi trong hành vi của sinh viên, cũng như các giá trị chuẩn mực khác có chức năng gì để giúp họ hình thành lối sống phù hợp và trở thành một bộ phận đích thực của xã hội văn minh như hiện nay
3.2 Lý thuyết tương tác xã hội
Lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học: Simmel, K.mark Các nhà
lý thuyết này cho rằng xã hội được coi như là những tương tác đang móc nối với nhau dựa trên những nhận thức của chủ thể và những mong đợi lẫn nhau Xã hội luôn tồn tại những mối quan
hệ nào đó nên xã hội là két quả của tác động qua lại của các cá thể, các nhóm và các thành phần
xã hội khác
Cũng theo lý thuyết này thì mỗi hành động có mục đích của con người chỉ trở thành hành động xã hội khi nó nằm trong mối quan hệ xã hội giữa các chủ thể hành động và thông qua mối quan hệ giữa các chủ thể hành động Vĩ thế, mối quan hệ xã hội gắn với các hoạt động nhất định
Do đó, muốn giải thích các mối quan hệ xã hội, các hoạt động xã hội, các quá trình xã hội thì phải đặt chúng trong mối tương tác với nhau
Vì thể muốn tìm hiểu ý thức của sinh viên trong việc thực hiện văn minh giảng đường thì phải đặt họ trong sự tương tác giữa các yếu tố trong quá trình xã hội hoá cá nhân, sự thích nghi với môi trường sinh hoạt hàng ngày
Trang 143.3 Lý thuyết lựa chọn hành vi họp lý
Lý thuyết này phát sinh từ kinh tế học cổ điển Nó được phát triển lên thành lý thuyết
xã hội học nhờ công lao của Jane S.Coleman
Theo Coleman các chủ thể hành động khi hành động đều hướng tới một mục tiêu được định hình bởi các giá trị, hoặc các sở thích Chủ thể hành động sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của mình, theo mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng
và cách thức sử dụng tiềm năng khác nhau Điều đó ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được mục đích, hoạt động của họ Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất cả những nhân tố đó đều quy định hành vi của các cá nhân, quy định sự lựa chọn hành
vi của họ
Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, mặc dù lý thuyết này cũng có nhiều hạn chế như: gặp khó khăn khi giải quyết vấn đề, ví dụ như sự giảm sút những mong đợi của cá nhân liên quan đến hành vi của các chủ thể khác Hay lý thuyết lựa chọn hợp lý có sự liên hệ với nhận thức luận của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa thực dụng, nhưng lý thuyết này vẫn được các nhà nghiên cứu sử dụng khá nhiều Nó được phát triển manh khi các lý thuyết vĩ mô có những quan điểm không thống nhất được với nhau khi lý giải các vấn đề thuộc tầm vĩ mô của xã hội
Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu nhận thức, thái độ của sinh viên với việc thực hiện văn minh giảng đường, nhận thấy sinh viên có thể được coi là chủ thể hành động Trong quá trình sinh hoạt của mình họ luôn hành động hướng đến sự thoả mãn những nhu cầu của bản thân trong quá trình tổ chức hoạt động sống của mình, họ luôn hành động dựa trên hoặc hướng tới những giá trị nhất định, đó có thể là giá trị phù hợp hoặc không phù hợp với sự phát triển chung Trong điều kiện rất nhiều giá trị cùng tồn tại trong xã hội, sinh viên phải đứng trước sự lựa chọn những giá trị mà họ thấy phù hợp để định hướng hành vi của bản thân mình Chính vì vậy với lý thuyết này sẽ phân tích được những giá trị nào sẽ là giá trị mà sinh viên đã lựa chọn cho hành động của mình
4 Câu hỏi nghiên cứu và mô hình phân tích
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
• Việc thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng diễn ra như thế nào?
• Các yếu tố nào tác động đến việc thực hiện nếp sống vãn minh giảng đường của sinh viên?
• Quan điểm của sinh viên như thế nào trước vấn đề thực hiện nếp sống vãn minh giảng đường?
Trang 154.2 Mô hình phân tích
5 Giả thuyết nghiên cứu của đề tài
• Thái độ của sinh viên đại học Tôn Đức Thắng trong việc thực hiện nếp sống văn minh giảng đường chưa cao, mức độ tham gia thực hiện còn nhiều hạn chế
• Môi trường xã hội hoá và các yếu tố cá nhân ( giới tính, ngành học, nơi cư trú, hoàn cảnh gia đình ) đã tác động đến nhận thức, đánh giá và hành vi của Sinh Viên trong việc thực hiện nếp sống văn minh giảng đường
• Những sinh viên hoạt động trong công tác đoàn hội thường có ý thức thực hiện cao hơn
CHƯƠNG H: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu
Trang 161 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy, độ tuổi của sinh viên trong mẫu nghiên cứu từ 19 đến 25 tuổi Trong
đó nhóm tuổi từ 19 đến 21 chiếm tỷ lệ cao nhất với 76,6%, thấp nhất là nhóm tuổi từ 23 đén 25 tuổi chiếm 8,8%, độ tuổi 22 là 26 sinh viên chiếm 14,4% Như vậy, nhìn chung độ tuổi trong mẫu nghiên cứu của đề tài tương đối trẻ
1.3 Năm học
Năm học được chia đều cho 2 năm với tỷ lệ: 50% sinh viên năm nhất và 50% sinh viên năm ba
Bảng 3: Năm học cửa sinh viên
Trang 17của nền văn minh cao hơn những sinh viên ở vùng nông thôn, thế nhưng điều nhóm nghiên cứu muốn tìm hiểu ở đây là việc tiếp thu nền văn minh đó và việc thực hiện có tương đồng với nhau hay không? Giữa sinh viên xuất thân từ nông thôn và sinh viên xuất thân từ đô thị ai có ý thức thực hiện nếp sống vãn minh cao hơn
1.5 Nghề nghiệp của cha
Bảng 5: Nghề nghiệp của cha
Ngành nghề Của Cha Tần số Phần trăm có giá trị
Trang 18Dựa vào kết quả nghiên cứu nhìn chung ngành nghề của cha, mẹ không tập trung trong những ngành nhất định Đối với cha, ngành nghề tập trung cao nhất là lao động giản đorn 25,9%, thấp nhất là nghề chuyên môn 0,6% Đối với mẹ, ngành nghề chiếm tỷ lệ cao nhất là buôn bán nhỏ 33,3%, thấp nhất là nhân viên vãn phòng và nhân viên kinh doanh 1,8%
2 Thái độ của sinh viên đối vói việc thực hiện nếp sống văn minh giảng đường
2.1 Thái độ của sinh viên đối vói việc thực hiện nội quy giảng đường
2.1.1 Chuyên cần
2.1.1.1 Đi học muộn
Bảng 8: Mức độ đi hị ÌC muộn của sinh viên
Đi học muộn Tần số Phần trăm Phần trăm có giá trị
về nguyên nhân đi học muộn, nghiên cứu cho thấy có đến 54,3% sinh viên cho rằng là do giảng
viên dạy không cuốn hút nên không muốn đến lớp đúng giờ (Bảng 9 - Phụ lục 4) Trong khi
đó chỉ có 16,2% sinh viên trả lời rằng do thói quen, 14,3% đi làm thêm, do môn học không thiết thực là 9,5% Như vậy, yếu tố tác động cao nhất đến việc đi học muộn là do sự lôi cuốn của môn học, cũng như sự giảng dạy của giảng viên khiến cho sinh viên cảm thấy nhàm chán
Trang 19Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy, việc đến lớp của sinh viên chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó phương pháp giảng dạy của giảng viên có một vai trò đặc biệt quan trọng Thông thường nếu như đó không phải là một môn học chuyên ngành, hoặc là một môn khó hiểu nếu không đi học sẽ không làm bài được, thì nếu có phương pháp giảng dạy cuốn hút giảng viên sẽ lôi cuốn được tỷ lệ sinh viên đi học cao hơn
Ket quả quan sát cũng cho thấy: Đối với những lớp mà giảng viên giảng dạy sinh động, tạo không khí thi đua trong sinh viên lớp đó học rất hào hứng, sinh viên ít làm việc riêng hơn Ngoài lý do có tính chất khách quan như thế, thì việc chuyên cần cũng chịu tác động bởi các yếu tố chủ quan như bận việc làm thêm, nhà xa, ngủ dậy trễ
Theo ý kiến của bạn N.V.A khoa kỹ thuật công trình, sinh viên năm 3:
“Mình cũng hay đi học muộn trong những giờ của ca 1, vì nhà xa, mình lại không có xe máy, phải đi bằng xe buýt mà giờ học lại quá sớm, nên mình thường đi học muộn cũng không cổ gì
là lạ cả, có nhiều khi mình không kịp ăn sáng phải nhịn đói chờ cho hết ca, nên cảm thấy cũng
áp lực lam"
[Nam Sinh viên năm 4 Phụ lục 5]
Có thể nói, việc đi học muộn của sinh viên là do cả yếu tố khách quan và chủ quan Xét
về giới, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ giữa việc đi học muộn với giới tính Tỷ lệ
thường xuyên đi học muộn thì nữ chiếm nhiều hơn nam (nữ: 12,5%; nam: 3,4%).(Bảng 10- phụ lục 4) Ket quả nghiên cứu trên cho thấy trái với cách suy nghĩ từ xưa đến nay của mọi người
thường thì nữ giới với đức tính chuyên cần nên sẽ đi học đứng giờ hơn
Xét theo ngành học: Qua khảo sát nhận thấy, sinh viên khoa quản trị kinh doanh có tỷ lệ thường xuyên đi học muộn nhiều nhất 7,42%; khoa kỹ thuật công trình là khoa có tỷ lệ sinh viên thường xuyên đi học muộn ít nhất 1,71%
(Bảng 11 - phụ lục 4)
Neu xét mối liên quan từ giới tính nhận thấy lý do ở đây là vĩ khoa kỹ thuật công trình có
tỷ lệ nữ ít hơn hai khoa còn lại, nên tỷ lệ sinh viên đi học muộn cũng ít hơn
Xét theo chức vụ trong lớp: Kết quả nghiên cứu cho thấy những sinh viên có chức vụ trong lớp ít đi học muộn hơn so với những sinh viên khác
(Bảng 12 - Phụ lục 4)
Lý giải cho điều đó, rì đối với những bạn có chức vụ thì thông thường trách nhiệm của các bạn cao hơn, luôn phải là tấm gương cho các thành viên khác trong lớp, cho nên việc rì phạm của các bạn rất hạn chế Một lý do khác đối với những ban chấp hành lớp- đoàn - hội thì thường nhiệt huyết trong mỗi bạn đều cao, chính rì vậy nên nhận thức của các bạn đó về nếp sống văn minh có phần khá hơn những sinh viên khác
Xét theo nơi xuất thân, tỷ lệ thường xuyên đi học muộn rơi vào những sinh viên xuất thân
từ thành phố, thị xã/thị trấn, những sinh viên xuất thân từ nông thôn ít đi học muộn hơn ( Bảng
13 - Phụ lạc 4)
Chúng tôi không tìm thấy mối liên hệ giữa năm học, nghề nghiệp của cha mẹ đến việc đi học muộn của sinh viên Như vậy việc đi học muộn của sinh viên chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong quá trình quan sát nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy rằng tỷ lệ sinh viên đi học ca một thường đi học muộn nhiều hơn, có lẽ do
Trang 20thời gian quá sớm, các bạn ngủ dậy trễ, hoặc cũng có thể là do kẹt xe vì đó cũng là giờ cao điểm của giao thông nhưng tổng kết những điều đó thì vấn đề ý thức vẫn là quan trọng, vì nếu có ý thức học tập tốt các bạn vẫn có thể vượt qua được những trở ngại của ngoại cảnh Chính vì vậy mới có vấn đề sinh viên nông thôn thì ít vi phạm hơn, hoặc cán bộ lớp- đoàn có ý thức thực hiện cao hơn
2.I.I.2 Nghỉ học không phép hoặc quá phép Bảng 14: Mức độ nghỉ học không phép hoặc quá phép của sinh viên
là do môn học nhàm chán hoặc giảng viên giảng dạy không cuốn hút Trả lời cho câu hỏi vì sao nghỉ học một bạn sinh viên khoa kỹ thuật công trình đã nói như sau:
“Những lần nghỉ học là do thầy cô, một phần giọng nói gây cho sinh viên có cảm giác buồn ngủ, không tạo hứng thủ cho sinh viên học, cho nên sinh viên không muốn đến lớp'''’
[NamSinh viên năm 4_ Phụ lục 5]
Bên cạnh đó bạn còn cho rằng:
cho chuyên ngành, cho nên không chú trọng lam, vì thế nên mình cũng làm biếng đến lớp ’’
[Nam_Sỉnh viên năm 4_ Phụ lục 5]
Hay:
nghe giảng, và những kiểu thuyết trình thì người nói cứ nổi, ở dưới không chịu lẳng nghe mà làm việc riêng ”
[Nam_Sỉnh viên năm 4_ Phụ lục 5]
Xét về giới kết quả nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ giữa giới tính đến vấn đề nghỉ học của sinh viên Tỷ lệ nữ thường xuyên nghỉ học nhiều hơn nam( nữ: 8%, nam: 2,3% trong tổng
số 174 mẫu đại diện), trả lời rằng không bao giờ nghỉ học ở nữ chỉ có 5,7%, trong khi đó nam
là 12,ỉ%.(Bãng 15 -phụ lục 4) Cũng giống như vấn đề đi học muộn, kết quả nghiên cứu trái
ngược với dự đoán ban đầu của nhóm
Trang 21đặt ra Trong quá trình nghiên cứu định tính, khi đuợc hỏi nguyên nhân vĩ sao nữ lại ít chuyên cần hơn nam trong vấn đề đi học, thì kết quả nhận được là:
dậy sớm chịu không nổi, nang một chút cũng than, ngồi lâu cũng không chịu, tóm lại con gái thành phổ khác với con gái nông thôn nhiều lam ”
[NamSinh viên năm 1 Phụ lục 5] Như
vậy, nguyên nhân ở đây thiên về ý thức của bản thân hơn là sự tác động từ các yếu tố khác Xét về nơi xuất thân kết quả cho thấy mức độ nghỉ học thường xuyên của sinh viên ở thành phố chiếm nhiều hơn sinh viên ở nông thôn( Thành phố: 9,19%, Nông thôn: 0,57% trong tổng số 174 mẫu đại diện) Ở mức đo không bao giờ nghỉ học sinh viên ở nông thôn chiếm tỷ
lệ 4%, sinh viên ở thành phố là 10,9%, trong khi đó sinh viên ở thị xã thị trấn là 2,8%.(Bảng 16 -phụ lục 14) Xét theo kết quả nghiên cứu nhận thấy rằng, mối liên hệ giữa việc nghỉ học và nơi
xuất thân là khá cao, những sinh viên xuất thân từ thành phố ý mức độ chuyên cần trong học tập của các bạn thấp hơn những sinh viên xuất thân từ nông thôn Tìm hiểu nguyên nhân về vấn
đề này, nghiên cứu định tính cho biết, những sinh viên ở nông thôn khi các bạn đến thành phố vẫn còn xa lạ mọi thứ, ít có những mối quan hệ bạn bè nên vấn đề nghỉ học để đi chơi của các bạn ít hơn Bên cạnh đó, các bạn ở nông thôn phần lớn gia đình khó khăn, chỉ đủ tiền trang trải sinh hoạt hàng ngày, không có điều kiện đi chơi Vì hoàn cảnh khó khăn nên các bạn thấy thương cha mẹ, lo lắng cho kết quả học tập nên sự cố gắng của các bạn cao hơn Bạn sinh viên N.V.A, sinh viên ngành xây dựng cầu đường trả lời câu hỏi này, đã nói như sau:
tâm lam đến việc học, chỉ cốt yếu là đi học cho ba mẹ vui lòngịhi, ở lớp mình cỏ vài đứa nói như vậy đó), khác với mẩy bạn ở tỉnh đi học để kiếm công việc trong tương lai, với lại mấy bạn
ở tỉnh mới lên dây mọi thứ còn lạ lẫm nên các bạn không biết làm gì nên siêng đi học lam ”
[NamSinh viên năm 4 Phụ lục 5]
Đối với ngành học thì kết quả nghiên cứu như sau: Khoa quản trị kinh doanh có Tần số sinh viên trả lời rằng không bao giờ nghỉ học là 4% trong tổng số 174 mẫu đại diện, khoa kỹ thuật công trình là 10,9%, khoa xã hội và nhân văn là 2,8%, trong đó tỷ lệ sinh viên thường xuyên nghỉ học của khoa quản trị kinh doanh là 4%, khoa kỹ thuật công trình 1,72%, xã hội và nhân văn chiếm tỷ lệ 4,59% Nhìn vào kết quả nghiên cứu nhận thấy, khoa xã hội và nhân văn
có tỷ lệ sinh viên nghỉ học nhiều nhất trong ba khoa ( Bảng 17 -phụ lục 4) Kết quả phù hợp
với nghiên cứu bên trên, do tỷ lệ nữ khoa xã hội và nhân văn chiếm nhiều hơn hai khoa còn lại Chức vụ trong lớp cũng có sự liên hệ, cũng giống như ở đi học trễ, những sinh viên có
chức vụ trong lớp ít nghỉ học hơn so với những sinh viên là thành viên bình thường khác (Bảng
45 - Phụ lục 4)
Nhóm nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa kinh tế gia đình, nghề nghiệp của cha,
mẹ, năm học với mức độ nghỉ học của sinh viên Như vậy đối với vấn đề nghỉ học của sinh viên, chỉ có các yếu tố giới, ngành học, năm học, nơi xuất thân là có sự ảnh hưởng
Trang 222.1.2 Hút thuốc lá trong trường và say xỉn khi đến lóp
Bảng 19: Tỷ lệ hút thuốc lá trong trường
mọi người làm nên làm theo ( Bảng 21 - Phụ lục 4) Như vậy yếu tố những người bên cạnh(
người thân, bạn bè ) cũng tác động rất nhiều đến hành vi của sinh viên
Xét theo giới tính trong tổng số sinh viên vi phạm hai nội quy trên thì tỷ lệ 100% là nam
giới ( Bảng 22,23 — Phụ lục 4) Nguyên nhân ở đây vì theo truyền thống của người á đông, phụ
nữ không được hút thuốc, uống rượu Neu như người nào vi phạm thì sẽ bị cộng đồng đánh giá
là phẩm hạnh kém, mặc dù ngày nay giá trị đó không còn khắt khe như xưa nữa, nhưng vẫn có sức ảnh hưởng rất cao Chính vì vậy nên tỷ lệ nữ vi phạm hai nội quy trên là không có
Xét theo khoa: kết quả nghiên cứu cho thấy 100% sinh viên vi phạm hai nội quy trên thuộc
khoa kỹ thuật công trình.( Bảng 24, 25 - Phụ lục 4 ) Điều đó phù hợp với thực tế vỉ khoa kỹ thuật
công trình đa số là nam Hai khoa còn lại, nhất là khoa xã hội và nhân văn thì nữ chiếm đa số
về kinh tế gia đình thì qua khảo sát tỷ lệ sinh viên có nền kinh tế gia đình ở mức giàu và
khá giả vi phạm hai nội quy trên chiếm nhiều hơn sinh viên thuộc nền
Trang 23kinh tế trung bình/ Bảng 26, 27 - Phụ lục 4) Lý giải cho điều đó kết quả nghiên cứu định tính
cho thấy rằng: Vì sinh viên có nền kinh tế không khá giả thì không có điều kiện tiếp xúc với những vấn đề trên, kinh phí để chi trả cho cuộc sống hàng ngày và cho học tập đã tốn kém rất nhiều cho gia đình, cho nên các bạn rất biết cách kiềm chế những cuộc ăn chơi tốn kém, cũng như tiêu tiền vào những thứ không có lợi Nói đến vấn đề này một bạn sinh viên khoa xã hội và nhân văn cho biết như sau:
“Mình nghĩ là thành phố, vì con trai ở nông thôn thì làm gì cổ tiền mà đi ăn nhậu, các bạn ở tỉnh lên thông thường rất chịu khỏ, với lại dù là nam hay nữ đổi với những sinh viên tinh
lẻ như tụi mình thì cần kiệm lẳm(cười), cot yếu của tụi mình là làm sao học cho thật giỏi, để không phụ lòng của cha mẹ mà thôi”
ỊNữ Sinh viên năm 3 Phụ lục 5] Qua
kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa việc hút thuốc lá, say xỉn khi đến lớp với năm học, nơi cư trú, cũng như là nghề nghiệp của cha mẹ
2.1.3 Ăn uống trong lớp học
Bảng 28: Mức độ ăn uổng trong lớp học của sinh viên
Mức độ ăn uống trong lớp học Tần số Phần trăm Phần trăm có giá trị
(Bảng 29 - phụ lục 4)
Vì thời gian đi học của trường đối với ca 1 là tương đối sớm, những sinh viên nhà ở gần trường thì có nhiều thời gian để ăn sáng, những sinh viên ở xa thì do thời gian đi lại của các bạn chiếm khá nhiều, nên đa phần các bạn phải ăn sáng ở trong lớp
Điều này thông qua quan sát nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy tỷ lệ sinh viên học ca
một ăn uống trong lớp học cao hơn so với những sinh viên học ở ca khác ị Phụ lục 6), đối với
vấn đề này yếu tố do thói quen chỉ chiếm 0,8%
Khi hỏi về vấn đề này một sinh viên cho biết:
“Mình không bao giờ ăn uống trong lớp vì nhà mình ở gần trường nên cổ thời gian ăn sáng ở nhà trước khi đi học, nhưng các bạn ở lớp mình thì có vì phải đi học sớm nên các bạn không có thời gian ăn ở nhà ”
[Nam_Sỉnh viên năm 3_Phụ lục 5]
Trang 24Hoặc:
“Do học buổi chiều và cơ sở ở đây rất nóng nên các bạn thường mua nước vào uổng trong lớp, mình thay việc này là bình thường nó không ảnh hưởng gì đến lớp học cả ”
[Nữ sinh viên năm l_Phụ lục 5]
Như vậy qua nghiên cứu có thể nhận thấy việc ăn uống trong lớp của sinh viên bị tác động bởi nhiều nguyên nhân Dựa vào công cụ kiểm định chi-square kết quả nhóm chúng tôi nhận được như sau:
Có sự liên hệ giữa việc ăn uống trong lớp học với các yếu tố sau:
Giới Tính: có 16,7% nam trong tổng số 179 mẫu nghiên cứu trả lời rằng không bao giờ ăn uống
trong lớp học, tỷ lệ đó đối với nữ là ì ,6%.(Bảng 30 - phụ lục 4) Như vậy nữ có tỷ lệ vi phạm
nội quy này nhiều hơn nam Khi được hỏi về vấn đề này một bạn sinh viên nam cho biết:
“Con trai mà bạn, chưa bao giờ và thậm chỉ là không bao giờ ”
/Nam Sinh viên năm 4_Phụ lục 5]
Hoặc như ý kiến của một bạn nữ sinh viên ngành quản lý đô thị:
ah!Là con gái mà”
[Nữ Sinh viên năm 3_Phụ lục 5]
Như vậy, quan niệm về giới thì nữ thường ăn quà vặt nhiều hơn nam, đó cũng là lý giải cho nguyên nhân vỉ sau nữ vi phạm nội quy này nhiều hơn nam
về ngành học thì khoa quản trị kinh doanh và khoa xã hội nhân văn có tỷ lệ vi phạm
nhiều hơn khoa kỹ thuật công trình Khoa quản trị kinh doanh: 30,2% sinh viên trả lời là có vi phạm nội quy trên, nhưng mức độ thường xuyên chiếm rất ít chỉ có 8,6%, tỷ lệ vi phạm nhiều nhất chỉ ở mức độ thỉnh thoảng 14,8% Tương tự như khoa quản trị, khoa xã hội và nhân văn
có tỷ lệ sinh viên thường xuyên vi phạm là 6,7% trong tổng số 31,4% sinh viên vi phạm (Bảng 31- phụ lục 4) Lý giải cho sự khác biệt đó vỉ tỷ lệ nữ ở hai khoa quản trị và xã hội nhiều hơn
khoa kỹ thuật công trình, mà theo phân tích ở giới tính thỉ tỷ lệ nữ vi phạm nhiều hơn nam Chức vụ trong lớp cũng có mối liên hệ khá cao, đối với những sinh viên có chức vụ trong lớp thường ít vi phạm hơn so với những sinh viên khác
2.1.4 Vứt rác không đúng noi quy định của sinh viên Rác chính là một vấn
đề nổi trội trong xã hội ngày nay, vấn nạn ô nhiễm môi trường từ sự thiếu ý thức của người dân trong việc xã rác đã gây tác hại rất lớn, không chỉ là sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến văn minh trong đô thị Chính vỉ vậy, một trong những nội quy của trường Đại học Tôn Đức Thắng được đặt lên hàng đầu là không xã rác bừa bãi, vậy việc thực hiện đó diễn ra như thể nào sẽ được biết thông qua kết quả nghiên cứu sau:
Trang 25Bảng 33: Mức Độ Xã Rác Không Đúng Nơi Quy Định
Mức Độ Xã Rác Không Đúng Nơi
Quy Định Tần sổ Phần trăm Phần trâm có giá trị
sơ ỷ thì để quên trong học bàn, nhưng ít khi thôi”
[Nữ_Sinh viên năm 3_Phụ lục 5]
Nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến ngược lại:
“ở Việt Nam mình có nghịch lý ở chỗ nơi nào cấm thì nơi đỏ đỗ rác rất nhiều, còn sinh viên thì không kém phần yếu ỷ thức, bạn biết đó phòng học và ngăn bàn là nơi để học tập, để cặp sách hoặc một sổ đồ dùng cá nhân, nhưng chức năng đó nay đã bị hoãn đổi, nay nó đã trở thành nơi chứa rác cho các bạn sinh viên sau mỏi ca học, mặc dù ở mỗi phòng học nhà trường
[Nam Sinh viên năm 3_Phụ lục 5]
Trong quá trình quan sát của nhóm nghiên cứu nhận thấy điều bạn sinh viên đó cho ý kiến là hoàn toàn chính xác, cứ sau mỗi ca học thì trong học bàn lại xuất hiện rác đủ loại: Giấy, ly uống nước, chai nhựa, bao ni lon có thể đó là do sơ ý, nhưng cũng có thể nhận thấy ý thức của một số bạn vẫn chưa cao
Qua kết quả khảo sát từ 178 sinh viên cho thấy không có mối liên hệ giữa việc vứt rác không đúng nơi quy định với giới tính, kinh tế gia đình, nơi ở, nghề nghiệp của cha mẹ, năm học, ngành học Mà chỉ có mối liên hệ với chức vụ trong lớp: Đối với việc vứt rác không đúng
nơi quy định thì sinh viên có chức vụ ít vi phạm nội quy hơn (Bảng 34- phụ lục 4) Như vậy có
thể nhận thấy, đối với vấn đề trên thì việc vi phạm không bị các yếu tố bên ngoài tác động mà chủ yếu là do nhận thức của bản thân mỗi sinh viên
2.1.5 Làm việc riêng, mất trật tự trong lóp học Vấn đề làm việc riêng,
gây mất trật tự trong lớp học có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập cũng như sự đo lường thái độ thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên, qua khảo sát nghiên cứu kết quả nhóm chúng tôi nhận được như sau:
Trang 26Bảng 35: Mức độ làm việc riêng trong giờ học của sình viên
Mức Độ Làm Việc Riêng Trong Giờ
Học Tần số Phần trăm Phần trăm có giá trị
Có đến 53,4% sinh viên làm việc riêng trong lớp ở mức độ thỉnh thoảng, cũng ở mức
độ đó đối với việc gây mất trật tự trong lớp là 31,9%( trong tổng số 178 mẫu đại diện) Đối với hai vấn đề trên thì tỷ lệ sinh viên vi phạm ở mức độ rất thường xuyên và thường xuyên chiếm rất ít Như vậy nếu xét về mặt bằng chung là số sinh viên không bao giờ vi phạm hai nội quy trên ít hơn so với số sinh viên đã từng vi phạm, thế nhưng mức độ vi phạm thì không cao, chỉ chủ yếu là ở mức độ thỉnh thoảng Qua quá trình quan sát nhóm nghiên cứu nhận thấy ý thức giữ trật tự nơi công cộng của các bạn chưa cao, trong biên bản quan sát hành lang nhận thấy sinh viên khá ồn ào, mặc dù là có lớp đang học, hoặc như trong thư viện, nơi cần sự yên tĩnh cho mọi người học tập, nhưng trên thực tế thì khá ồn Các bạn học nhóm, thảo luận làm ảnh hưởng đến những sinh viên khác
Đe trả lời cho câu hỏi vì sao vi phạm thì nhóm nghiên cứu nhận được kết quả như sau:
Có đến 59,2 % cho rằng do phương pháp giảng dạy gây nhàm chán, khó hiểu, và chỉ
có 10,6% sinh viên trả lời rằng do thói quen( trong tổng số 98 đơn vị mẫu).( Bảng 37 - phụ lục 4) Như vậy có thể nhận thấy đa phần sinh viên đều cho rằng yếu tố giảng dạy của giảng viên,
cũng như ý nghĩa thiết thực của môn học là khá quan trọng
quá nên mình hay lôi sách ra đọc, bạn cứ tưởng tượng giọng thầy rề rề nghe chán lam, mình không nói là kiến thức thầy không giỏi, nhưng nếu giảng viên biết cách truyền đạt thì sẽ hay hơn Mình thấy có nhiều nơi giảng viên có cách dạy mới rất thú vị ”
[Nữ Sinh viên năm 3_Phụ lục 5]
Ngoài ra còn có ý kiến khác cho rằng:
đó là do ỷ thức của các bạn không cao, đã là sinh viên rồi mình nghĩ nên có ỷ thức một chút, đừng vì bản thân mình mà làm ảnh hưởng đến người khác nói rằng về phía giảng viên hả thì mình cho rằng cũng có nhưng chỉ một phần thôi ”
[Nam_Sinh viên năm l_Phụ lục 5]
Mặc dù yếu tố giảng dạy của giảng viên không phải là yếu tố quyết định duy nhất, nhưng nó cũng có ảnh hưởng khá cao, qua quan sát ngày 24-04 tại cơ sở chính, phòng 501 nhóm nghiên cứu nhận thấy lớp học rất hào hứng, hầu như các
Trang 27bạn đều tập trung vĩ cách truyền đạt của người thầy khá cuốn hút, luôn đưa ra những ví dụ cụ thể, sinh động và thực tế
Xét về giới tính: Qua kết quả nghiên cứu cho thấy nam chiếm tỷ lệ cao hơn so với nữ Đối với việc gây mất trật tự trong lớp tỷ lệ thường xuyên vi phạm ở nam là 6,8%, trong khi đó ở
nữ là 5,6%, đối với làm việc riêng trong giờ học ở mức độ thường xuyên ở nam là 5,5%, tỷ lệ của
nữ là 4,9% ( Bảng 38 - phụ lục 4)
Đối với ngành học sinh viên khoa quản trị kinh doanh chiếm tỷ lệ vi phạm nội quy gây mất trật tự trong lớp cao nhất Tỷ lệ sinh viên trả lời thường xuyên gây mất trật tự trong lớp của khoa quản trị là 5%, khoa xã hội và kỹ thuật có số lượng bằng nhau 3,75% Đối với mức độ làm việc riêng trong lớp khoa quản trị kinh doanh cũng là khoa chiếm tỷ lệ cao nhất trong ba khoa khảo sát, có 6,7% trong tổng số trả lời ở mức độ thường xuyên, trong khi đó khoa kỹ thuật công
trình là 3%, khoa xã hội và nhân văn chiếm 0,6% (Bảng 39 - phụ lục 4)
về yếu tố kinh tế gia đỉnh kết quả nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ giữa nền kinh tế với
việc vi phạm hai nội quy trên của sinh viên, nhưng mức độ ảnh hưởng không cao Nguyên nhân
do mẫu nghiên cứu không đồng nhất giữa các nền kinh tế
Xét về chức vụ: Giống như những yếu tố trên có mối liên hệ giữa việc gây mất trật tự
và làm việc riêng trong lớp với chức vụ, những sinh viên không có chức vụ trong lớp thường vi
phạm nội quy cao hơn (Bảng 40- phụ lục 4)
Ket quả nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ giữa việc vi phạm hai nội quy trên với nghề nghiệp của cha, mẹ
2.1.6 Mức độ vỉ phạm những nội quy khác
Bảng 41: Mức độ làm hư hỏng tài sản của nhà trường
Mức Độ Làm Hư Hỏng Tài Sản Của Nhà
Trường Tần số Phầnưăm có giá trị
Bảng 42: Mức độ vô lễ với giảng viên - Cán bộ công chứ
Mức độ vô lê với giảng viên -Cán Bộ
Công Chức cửa ưường
Tần số Phần ưăm Phân ưăm có
Trang 28Dựa vào bảng kết quả nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ sinh viên vi phạm ba nội quy này ít hơn hẳn, 78,1% trong tổng số 178 sinh viên trả lời rằng không bao giờ làm hư hỏng tài sản của nhà trường, đối với việc vô lễ với giảng viên- cán bộ công chức của trường thì tần số sinh viên không bao giờ vi phạm là 86,5% trong tổng 178 mẫu đại diện, mức độ vi phạm về đồng phục thì
có 70,2% sinh viên không bao giờ vi phạm Nhưng với con số đó vẫn chưa thể gọi là tuyệt đối, vẫn còn rất nhiều sinh viên vi phạm, dù không ở mức độ thường xuyên, nhưng cũng làm ảnh hưởng đến bộ mặt văn minh của sinh viên trường
Khi được hỏi nguyên nhân vi phạm những nội quy trên kết quả nghiên cứu như sau: Đối với lý do vô lễ với giảng viên, cán bộ công chức của trường có 68,8% trong tổng
số sinh viên trả lời cho rằng vì bất bình cách cư xử không tế nhị, 18,8% sinh viên cho rằng là vì nóng tính, không kiềm chế được cảm xúc, không cảm thấy việc đó là quan trọng chiếm 12,5%
(Bảng 44 - phụ lục 4) Đối với vấn đề trên, việc vi phạm không nằm ở một phía, một phần là do
cách cư xử không tế nhị đối với sinh viên của các cán bộ viên chức nhà trường, mỗi khi lên liên
hệ một vấn đề gì đó thì sinh viên luôn gặp phải những cái nhìn khó chịu, những lời nói gắt gỏng
Đó là ý kiến của một bạn sinh viên năm nhất khoa xã hội và nhân văn:
“Theo mình thì một phần là do loi của mấy thầy đó, bạn là sinh viên, chắc bạn cũng đã từng liên hệ đủng không? và chắc là bạn cũng biết đến sự khó chịu của mấy thầy, nói chung là cách hành xử quan liêu của những người làm hành chỉnh đó mà
[Nam Sinh viên năm l_Phụ lục 5]
Chính vì nguyên nhân đó, có những bạn thì không phản ứng lại, nhưng đối với những sinh viên cá tính mạnh thì các bạn không thể kiềm chế được Nói như vậy không có nghĩa là tất
cả đều do cán bộ nhà trường, mà một phần cũng vì suy nghĩ của sinh viên
Đối với lý do làm hư hỏng tài sản của nhà trường có 73,3% trả lời rằng là do vô tình,
20% cho rằng thấy mọi người làm nên làm theo( Bảng 45 - phụ lục 4) Như vậy yếu tố tác động
của những người xung quanh cũng có ý nghĩa lớn đối với thái độ thực hiện của một cá nhân
về lý do không mặc đồng phục theo quy định khi đến trường có 72,5% trả lời rằng do
cảm thấy gò bó, ép buộc, 15% trả lời rằng là do sở thích, do thói quen chiếm 7,5%.( Bảng 46- phụ lục 4) về nội quy này đối với trường Đại học Tôn Đức Thắng việc vi phạm của sinh viên
chủ yếu là vấn đề đeo bảng tên, bỏ áo vào quần đối với nam và mang dép lê đến lớp Trong quá trình quan sát nhóm nghiên cứu
Trang 29cũng nhận thấy rằng tỷ lệ này ở mỗi lớp đều có nhưng không cao, và nơi học cũng có ảnh hưởng đến nội quy này So với cơ sở chính thì những cơ sở khác thực hiện ít nghiêm túc hơn
" Tụi mình học chủ yếu ở Trường Sơn nên mình thấy đa phần các bạn ở đây thực hiện không tot lam, nhất là việc đeo bảng tên nên bị các bạn trong đội cờ đỏ nhắc thì các bạn mới đeo ”
ỊNữSinh viên năm l_Phụ lục 5]
Lý do ở đây là do tại cơ sở chính mức độ kiểm tra gắt gao hơn các cơ sở
khác
Xét về giới tính thì kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ tìm được mối liên hệ giữa giới tính đối với việc mặc đồng phục khi đến lớp của sinh viên, và đối với vấn đề này thì nam vi phạm nhiều hơn nữ Vi phạm ở mức độ thỉnh thoảng của Nam là 8,9%, trong khi đó tỷ lệ ở Nữ là 3,9%
2.1.7 Mức Độ Thực Hiện Chung Của Lóp
Cũng các nội quy trên nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu ở mức độ tổng thể để nhìn nhận xem việc thực hiện đó ở một lớp diễn ra như thế nào Ket quả nghiên cứu nhận được như sau:
2.1.7.1 Đi học muộn
Bảng 48: Mức Độ Đi Học Muộn Cửa Lớp
Mức Độ Đi Học Muộn Của Tần số Phần trăm Phần trăm
Trang 302.1.7.2 Nghỉ học không phép hoặc quá phép
Bảng 49: Mức độ nghỉ học không phép hoặc quá phép
Đối với việc vi phạm nội quy nghỉ học không phép hoặc quá phép thường xuyên diễn
ra là 34,1% sinh viên trong tổng số 164 mẫu đại diện, không bao giờ là 10,4% Như vậy xét tương quan thì tỷ lệ sinh viên nghỉ học cao hơn rất nhiều so với sinh viên không bao giờ vi phạm nội quy này
Có đến 94,4% sinh viên trong tổng số 164 mẫu đại diện trả lời rằng lớp của mình không bao giờ vi phạm nội quy là hút thuốc lá trong lớp, cũng số mẫu đó có 82,9% sinh viên cho rằng
lớp mình không bao giờ vi phạm nội quy say xỉn khi đến lớp (Bảng 50, 51- Phụ lục 4) Như
vậy tương ứng với mức đo từng cá nhân, việc vi phạm hai nội quy này ở trường đại học tôn đức thắng diễn ra ít hơn, nhưng tỷ lệ vẫn chưa là tuyệt đối
Trong tổng số 162 mẫu nghiên cứu đại diện thì có 129 mẫu cho rằng lớp của mình có
vi phạm nội quy ăn uống trong lớp học với các mức độ diễn ra khác nhau: Rất thường xuyên là
1,2%; thường xuyên là 16,7%, thỉnh thoảng 39,5%, hiếm khi chiếm 22,2%.( Bảng 52 - Phụ lục 4)
Tỷ lệ sinh viên cho rằng việc vi phạm nội quy mất trật tự và làm việc riêng trong lớp của lớp mình cũng khá cao: Mức độ không bao giờ gây mất trật tự trong lớp chiếm 18,8% trong tổng số 160 mẫu nghiên cứu.Với mức độ vi phạm làm việc riêng trong giờ học có 6,8% sinh
viên cho rằng lớp của mình không bao giờ vi phạm trong tổng số 162 mẫu nghiên cứu,( Bảng
53, 54 - Phụ lục 4) như vậy việc vi phạm hai nội quy trên diễn ra ở các lớp cũng khá cao, điều
này hoàn toàn tương ứng trong quá trình nghiên cứu trường hợp
Đối với những nội quy khác việc vi phạm ở các lớp diễn ra ở mức tương đối, tuy rằng không cao nhưng cũng gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh thực hiện nếp sống văn minh trong sinh viên
Để trả lời cho câu hỏi nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm những nội quy trên, có 39,1% sinh viên trong tổng số 161 mẫu đại diện cho rằng là do thói quen, hoàn cảnh bắt buộc là 23,6%,
do ý thức của sinh viên còn kém là 23%, tính chất bắt chước, thấy mọi người làm nên làm theo
là 8,1%
Trang 31Bảng 55: Nguyên nhân mức độ vi phạm nội quy của lớp
Nguyên nhân vi phạm nội quy nhà
trường
Tần sổ Phần trăm Phân trăm
có giá trị
ý thức của các bạn vê việc đó còn kém 94 58.4 23.0
_ IẾSS _ 180
Ket quả nghiên cứu chỉ ra rằng: về cơ bản sự đánh giá của sinh viên khi giải thích cho
những việc vi phạm của mình thì đều nghiêng về ý thức của cá nhân, mà theo Coleman cho rằng các chủ thể hành động khi hành động đều hướng đến một mục tiêu được định hình bởi các giá trị, hoặc các sở thích( lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý), khi một sinh viên lựa chọn hoặc đi học sớm hoặc đi học trễ đều dựa vào lợi ích mà họ có được sau việc lựa chọn đó là gì, ngoài ra Coleman còn cho rằng: Ngoài tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất cả các nhân tố đó đều quy định hành vi của các cá nhân, quy định sự lựa chọn của họ Như vậy nhìn từ góc độ đó, có thể thấy rằng trước những hành vi si lệch của sinh viên trong việc thực hiện nội quy có một phần là do các yếu tố ngoại cảnh tác động: Ngành học, bạn bè, công việc như để lý giải cho điều đó một bạn sinh viên khoa xã hội và nhân văn đã nói như sau:
“Khi bạn thay cái gì đó cứ lặp đi lặp lại trước mắt thành một thói quen thì nó sẽ khiến bạn có thể thay đổi theo Neu nhiều người cùng thực hiện nếp sống đó thì người khác nhìn vào
sẽ thấy lạc lõng và cũng dần thay đổi Khi dân trí được nâng cao thì ỷ thức con người cũng được cao lên, sẽ học theo những người thành công trước đó, bị ảnh hưởng theo tỉnh cách của họ”
Ị N ữ S i n h viên năm 3_Phụ lục 5]
Neu nhìn từ lý thuyết cấu trúc- chức năng: Xã hội được coi là một hệ thong gồm nhiều
bộ phận khác nhau nếu một bộ phận nào đó vì lý do gì mà tan rã thì sẽ ảnh hưởng đến cả hệ
tất cả, nhưng cũng làm ảnh hưởng đến hình ảnh chung của trường, việc thực hiện nếp sống vãn minh không phải là của một người mà là của tất cả mọi người Một bạn sinh viên đã nói như sau:
viên thể hiện, chứ không đánh giá qua nội quy của trường, sinh viên là bộ mặt của nhà trường,
vì vậy mình nghĩ mọi người nên biết cách kiềm chế để không ảnh hưởng đến người khác, như người ta vẫn thường nói là một con sâu làm rầu nồi canh vậy đó, ai cũng có ỷ thức sống văn minh thì cuộc sống cộng đồng mới văn minh được”
Ị N ữ S i n h viên năm 3_Phụ lục 5]
Trang 322.1.8 Đánh giá về việc thực hiện nếp sống văn minh trong sinh viên
2.1.8.1 Mức độ ảnh hưởng đến ngưòi xung quanh
Khi được hỏi nhận định như thế nào về việc thực hiện nếp sống vãn minh trên giảng đường của cá nhân đối với những người xung quanh, kết quả nghiên cứu như sau:
Bảng 56: Mức độ ảnh hưởng đến người xung quanh
cá nhân Nói đến việc đó một bạn sinh viên khoa quản trị kinh doanh đã nói như sau
“Neu như trong một lớp không ai vi phạm các nội quy và chăm chỉ học tập thì mình tin rằng không có một cá nhân nào dám “ làm khác người” đâu Và bộ phận giám thị cũng ảnh hưởng tới việc thực hiện đổ, vì giảm thị mà làm nghiêm, kiểm soát tốt thì có lẽ không bạn sinh
[Nữ_Sỉnh viên năm l_Phụ lục 5] Và
để hiểu rõ hơn ảnh hưởng như thế nào, nhóm nghiên cứu đã đi tìm hiểu và nhận được kết quả như sau:
2.I.8.2 Các yếu tố chịu ảnh hưởng
Bảng 57: Ảnh hưởng từ việc thực hiện nếp sống văn minh đến mọi người
Anh hưởng từ việc thực hiện nêp sông văn
minh đến mọi người
Tần số Phầnưăm Phân ưăm
có giá ưị
Kêt quả học tập của các bạn trong lớp 68 14,5 14.5
Anh hưởng đên nhìn nhận của người ngoài về
Có 36,4% sinh viên cho rằng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giảng viên, chiếm tỷ
lệ cao nhất Đứng thứ hai là ảnh hưởng đến kết quả thi đua chung của lớp- khoa chiếm 21,8%; 19,4% sinh viên cho rằng có ảnh hưởng đến ý thức của những người xung quanh, 14,5% cho rằng ảnh hưởng đến kết quả học tập của các bạn trong lớp; thấp nhất là ý kiến cho rằng ảnh hưởng đến nhìn nhận của người ngoài về trường Như vậy nhìn nhận một cách tổng quan thì đa phần sinh viên đều
Trang 33nhận thấy tác động của hành vi, thái độ bản thân Thế nhưng tỷ lệ vi phạm nội quy vẫn diễn ra mặc dù là không cao nhưng cũng gây ảnh hưởng đến bộ mặt chung của trường Đại học Tôn Đức Thắng nói riêng và sinh viên của cả thành phố nói chung
Trên đây là vấn đề thực hiện nội quy của sinh viên, để đo mức độ thực hiện nếp sống văn minh trong sinh viên, nhóm nghiên cứu còn tìm hiểu ở thái độ của các bạn trong việc tham gia vào những chương trình thực hiện nếp sống văn minh của trường Ket quả nghiên cứu như sau
2.2 Thái độ của sinh viên đối vói việc tham gia các chương trình thực hiện nếp sống văn minh của trường
2.2.1 Tỷ lệ sinh viên biết đến chương trình thực hiện nếp sống văn minh hiện nay tại Tp.Hồ Chí Minh
Bảng 58: Biết chương trình thực hiện nếp sổng văn minh hiên nay
Biết Đen Chương Trình Văn Minh Tần số Phần ưăm
đó khi hỏi về các chương trình thực hiện tại trường thì kết quả nhận được như sau: 51,8% sinh viên biết chương trình sinh viên- học sinh thực hiện tốt nội quy giảng đường, phòng học, 20,8% sinh viên biết đến chương trình sinh viên- học sinh Đại học Tôn Đức Thắng sống đẹp, đối với công trình thanh niên tỷ lệ sinh viên biết đến là 20,2%, tỷ lệ sinh viên biết đến chương trình tuổi trẻ Đại học Tôn Đức Thắng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là 7,1%
Bảng 59: Sinh viên biết đến các chương trình thực hiện nếp sống văn
mình trường Tôn Đức Thẳng Các chương trình thực hiện nêp sông văn
minh trường Tôn Đức Thắng
Tần số Phân trăm có
giá trị
SV-HS thực hiện tôt nội quy giảng đường,
Tuôi ưẻ Đạihọc Tôn Đức Thăng học tập và làm
Trang 34nhóm đã đi sâu vào nghiên cứu việc thực hiện của các bạn đối với những chương trình đó diễn
ra như thế nào
2.2.2 Mức độ tham gia Bảng 60: Mức độ tham gia vào các chưomg trình thực hiện nếp sống văn minh
của sinh viên
Mức độ tham gia vào các chương trình Tần số Phần ưăm Phân ưãm
Số sinh viên trả lời là có tham gia vào các chương trình của trường đưa ra khá cao so với
số sinh viên không tham gia, cụ thể như sau: 66,5% sinh viên trả lời là có, 33,5% sinh viên trả lời là không tham gia Như vậy kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sinh viên của trường tham gia vào các chương trình văn minh là khá cao, để tìm hiểu yếu tố nào giúp cho các bạn tham gia thì kết quả nghiên cứu như sau:
“Nội dung và cách thực hiện của chương trình đỏ phải thiết thực hơn và mang nhiều ỷ nghĩa vì cộng đồng hơn thì mới thu hút được nhiều bạn tham gia Vỉ dụ như đi mùa hè xanh chẳng hạn tại sao lại thu hút được các bạn sinh viên tham gia nhất là sinh viên năm 1 và năm
2 như tụi mình Và một điều nữa là đa phần các chương trình mang tính chất bắt buộc nhiều hơn, nếu không đi thì hù doạ là hạ hạnh kiểm này nọ, khiến cho sinh viên cảm thay bất mãn, nên nhiệt huyết cũng có nhiều phần hạn chế."
[Nữ_Sinh viên năm l_Phụ lục 5]
Trang 35Bảng 62: Mối liên hệ giữa lỷ do tham gia với giới tỉnh
Lý do tham gia
Giới tính
Tân sô Phân trăm Tân sô Phân trăm
Vì thấy nhiều ý nghỉà thiết thực 27 56.3 23 36.5
Xét về giới tính kết quả nghiên cứu nhận thấy, Tần số cảm thấy ý nghĩa thiết thực khi tham gia vào các chương trình ở nam cao hơn nữ (nam: 56,3%, nữ: 36,5%), trong khi đó tỷ lệ
nữ trả lời rằng vì bắt buộc chiếm 61,9%, đối với nam cho rằng bị bắt buộc chỉ có 35,4% Như
vậy, có sự khác biệt giữa nhận thức của nam và nữ Kết quả nghiên cứu trên cho thấy nam tích cực hơn nữ trong các hoạt động đoàn hội Thế nhưng khi khảo sát Tần số tham gia nhiều nhất trong các chương trình thì nữ lại chiếm tỷ lệ cao hơn nam( nữ: 38%, nam: 28,4%) Đối với vấn đề trên, thực tế vì nữ dễ bị thuyết phục hơn nam, dù có thích hay không các bạn vẫn tham gia Ngược lại, đối với nam nếu các bạn không thích thì sẽ không tham gia
Xét theo năm học thì kết quả nghiên cứu nhận thấy sinh viên năm ba có tỷ lệ tham gia nhiều hơn nữ, năm 3: 36,3%, năm nhất: 31,8%
Bảng 63 : Mối liên hệ giữa lý do tham gia với năm học của sinh vi
Lý do tham gùi
Sinh viên năm
Tân sô Phân trăm Tân sô Phân trăm
Vì thấy nhiều ý nghĩa thiết thực 27 51.9 23 39.0
Thế nhưng, trong tỷ lệ tham gia đó thì sinh viên năm nhất cho rằng tham gia vì cảm thấy có ý nghĩa thiết thực nhiều hơn năm ba: (năm nhất: 51,9%, năm ba: 39%), trong số sinh
viên năm ba tham gia đa phần đều cho là vì bắt buộc( 55,9%) Như vậy, nhận thấy tỷ lệ tham
gia nhiều hay ít vẫn không nói nên được nhiệt huyết của các bạn, trong ý thức của các bạn tham gia chủ yếu là để không trừ điểm hanh kiểm giống như bạn sinh viên đã cho ý kiến ở trên
Đối với nơi sinh sống của gia đình thì tỷ lệ sinh viên ở thành phố, thị xã/thị trấn có mức độ tham gia vào các chương trình nhiều hơn sinh viên ở nông thôn, thế nhưng, cũng giống như hai yếu tố trên trong tổng số sinh viên nông thôn trả lời rằng có tham gia, thì có đến 80% cho rằng tham gia là vỉ nhận thấy có nhiều ý nghĩa thiết thực Trong khi đó có đến 54,5% sinh viên ở thành phố trả lời rằng vỉ bị bắt buộc trong tổng số sinh viên có tham gia
Trang 36Bảng 64 : Mối quan hệ giữa lỷ do tham gia với nơi sinh sổng của gia đình
Lý do tham gm
Nơi sinh sông cửa gia đình Thành phố Thị xã/thị ưấn Nông thôn Tần số Phần ưăm Tần số Phần trăm Tần số trăm Phần
Vì thấy có nhiều ý
Xét về mặt bằng chung thì tỷ lệ sinh viên trả lời rằng cảm thấy thích nên mới
tham gia chiếm tỷ lệ ít hơn so với hai nguyên nhân còn lại Như vậy thông qua kết
quả đó nhận thấy rằng: Việc lợi ích của chương trình đóng vai trò rất lớn đến thái độ
tham gia của sinh viên
Xét theo ngành học kết quả nghiên cứu cho thấy khoa xã hội và nhân văn là khoa có sinh viên tham gia vào các chương trình nhiều nhất, chiếm 28,4% trong tổng số 176 mẫu đại diện, kế tiếp là khoa quản trị kinh doanh với tỷ lệ là 24,4%, thấp nhất là khoa kỹ thuật công trình
chỉ có 13,6% sinh viên trả lời là có tham gia các chương trình của trường đưa ra (Bảng 65 - Phụ lục 4)
Đối với kinh tế gia đình: qua nghiên cứu nhận thấy không có mối liên hệ
giữa việc tham gia các chương trình với nền kinh tế Như vậy việc tham gia các chương trình trong sinh viên không liên quan đến hoàn cảnh giàu hay nghèo, mà chủ yếu là do sự lựa chọn của bản thân
2.2.4 Lý do không tham gia
Bảng 66: Lý do không tham gia các chương trình thực hiện nếp sống văn minh
Lý do không tham gia Tần số Phân trăm có
giá trị
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 61,5% sinh viên trả lời rằng không tham gia
vì cảm thấy không thích, 34,6% cho rằng mất nhiều thời gian, không có lợi ích, đối
với yếu tố thấy ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập chỉ chiếm 3,8% Như vậy nhìn
nhận từ lý thuyết sự lựa chọn hành vi hợp lý theo Coleman các chủ thể hành động
khi hành động đều hướng tới một mục tiêu được định hình bởi các giá trị, hoặc các
sở thích Chủ thể hành động sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu,
mong muốn của mình, theo mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng và cách thức
sử dụng tiềm năng khác nhau Điều đó ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được mục
đích, hoạt động của họ Phân tích trong trường hợp này nhận thấy rằng khi sinh viên
lựa chọn tham gia hay không tham gia đều dựa vào lợi ích, hoặc nhu cầu của các
bạn, đối với cùng một vấn đề có bạn cho rằng đó là ý nghĩa thiết thực, bạn khác lại
nghĩ rằng là mất nhiều thời gian, không có lợi và xu hướng của các bạn là thực hiện
theo cảm nhận của bản thân Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những yếu tố khác tác
Trang 37động đến hành vi của các bạn, để tìm hiểu chúng tôi đã đi nghiên cứu, kết quả nhận đuợc nhu sau:
Xét về giới tính: từ nghiên cứu bên trên về tỷ lệ tham gia thì suy ra đuợc tỷ lệ không
tham gia của nữ ít hơn nam Tỷ lệ nam không tham gia: 20,4%, nữ: 13% ( Bảng 67- Phụ lục 4) Trong đó có 69,7% sinh viên nam cho rằng không tham gia vì cảm thấy không thích, với ý
kiến trên đối với nữ là 47,4%; với lý do mất nhiều thời gian, không có lợi thì có 54,5% nam cho rằng như thế, đối với nữ là 52,6% Với lý do thấy ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập chỉ có 21,2% nam đồng ý với ý kiến đó, nữ không có bạn nào cho rằng mình không tham gia vỉ lý do
đó
Bảng 69: Mối quan hệ giữa lý do không tham gia với giới tính
Lý do không tham gia
có 20% sinh viên năm nhất cho rằng đồng ý với lý do đó Đối với sinh viên năm ba thì 63,6% cho rằng không thích nên không tham gia, 45,5% trả lời rằng vì cảm thấy mất nhiều thời gian,
không có lợi.( Bảng 70 - Phụ lục 4)Như vậy yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập khi tham
gia vào các chương trình vãn minh của trường không phải là yếu tố tác động cao đến sự lựa chọn không tham gia của các bạn sinh viên, mà chủ yếu là tự nhận thức của mỗi bạn mà có sự lựa chọn thích hợp cho bản thân
Xét về nơi sinh sống của gia đình như nghiên cứu ở trên thì tỷ lệ sinh viên ở nông thôn
có tỷ lệ không tham gia vào các chương trình của trường đưa ra nhiều hơn sinh viên ở thành phố và thị xã/thị trấn Trong đó khi được hỏi lý do không tham gia có 68% sinh viên ở thành phố cho rằng vì không thích, tỷ lệ đó ở thị xã/thị trấn là 56,3%, nông thôn 54,5%; với lý do mất nhiều thời gian, không có lợi ích có 48% sinh viên thành phố cho rằng đó là lý do khiến mình không tham gia, cao nhất là sinh viên ở thị xã/thị trấn 68,8%, sinh viên xuất thân từ nông thôn
là 45,5% Với lý do thấy ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập, rất ít sinh viên cho rằng đó chính
là lý do làm cho mình không tham gia các chương trình thực hiện nếp sống vãn minh ị Bảng 71- Phụ lục 4)
Như vậy, thông qua kết quả nghiên cứu trên nhận thấy tỷ lệ sinh viên tham gia vào các chương trình do trường đưa ra là khá cao, tuy nhiên trong tỷ lệ tham gia đa phần sinh viên cho rằng vì bị bắt buộc chứ không phải là do tự nguyện hoặc cảm thấy ý nghĩa từ những chương trình đó, vì vậy thông qua cuộc nghiên cứu này có thể tìm được lý do làm cho sinh viên ít hứng thú để từ đó có thể tìm được giải pháp thích hợp Đối với lý do không tham gia thì vấn đề ảnh hưởng đến kết quả học tập
Trang 38từ những chương trình do nhà trường đưa ra không chiếm tỷ lệ cao, như vậy đồng nghĩa với điều đó nhận thấy ý thức của mỗi sinh viên có ý nghĩa khá quan trọng bên canh các yếu tố khách quan khác đến việc thực hiện nếp sống vãn minh
Và để đo được nhận thức của các bạn về việc thực hiện các chương trình do trường đưa
ra có ảnh hưởng đến thái độ thực hiện nếp sống văn minh hay không, nhóm nghiên cứu đã đi tìm hiểu và nhận được kết quả như sau:
2.2.5 Ý kiến về sự tác động của các chương trình đến thái độ thực hiện của sinh viền
Bảng 72: Tác động từ những chương trình đến việc thực hiện nếp sống văn minh
Tác động từ những chương ừình đên việc
thực hiện nêp sông văn minh Tần số Phần ưăm Phần ưăm có giá ưị
2.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện nếp sống văn minh của sinh
viên
2.3.1 Gia đình 2.3.1.1 Người ảnh hưởng đến việc thực hiện nếp sống văn minh hiện nay
Bảng 73: Người có ảnh hưởng đến việc thực hiện nếp sống văn minh hiện nay
Người có ảnh hưởng đên việc thực hiện nếp
sống văn minh hiện nay Tần số Phần ưăm
và bạn bè là yếu tố tác động thứ ba 3,1% Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy quá trình
xã hội hoá cá nhân trong gia đình cũng rất quan trọng Thế nhưng hiện nay vì nền kinh tế thị trường, cha mẹ lo làm giàu nên quên mất vai trò của mình trong việc giáo dục đạo đức cho con cái, đẩy hết trách nhiệm đó lên vai của nhà trường, dẫn đến thực trạng là con em của những gia đình khá giả
Trang 39thường hay có lối sống lệch lạc, rất nhiều bài báo phản ảnh về vấn đề trên, đó là những con cái nhà đại gia có lối sống buông thả, gây ra nhiều hệ quả cho xã hội Đối với yếu tố nhà trường, việc giáo dục đạo đức dường như chỉ nằm ở mức là một môn học cho có, giáo viên dạy đạo đức không được xem trọng hơn những giáo viên ở những môn khác, chính vì vậy kết quả là giới trẻ
dễ có những hành vi lệch lạc khi có những yếu tố khách quan khác tác động như: bạn bè, thông tin đại chúng
Ket quả nghiên cứu định tính cho thấy, vai trò của gia đình cũng có giá trị rất cao trong việc thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên Nói về điều đó một sinh viên đã cho ý kiến như sau:
“Mình sinh ra trong gia đình làm nông vì vậy ngay từ nhỏ mình phải sổng tự lập tự ỉo cho việc học hành, sinh hoạt đoàn đội Nhưng để có được ngày hôm nay và việc mình thực hiện tốt các nhiệm vụ trên là nhờ ba mẹ, ba mẹ tuy vất vả nhưng vẫn quan tâm và nhắc nhở mình
[Nam_Sỉnh viên năm 3_Phụ lục 5]
Hoặc:
“Theo mình bạn bè không ảnh hưởng nhiều tới việc thực hiện nếp sống vãn minh của sinh viên, gia đình có ảnh hưởng nhiều hơn Bởi khi bạn đi học xa mỗi quan hệ bạn bè rất rộng
vì vậy nên mức độ thân thiết sẽ không nhiều ”
[Nam_Sinh viên năm 3_Phụ lạc 5]
Từ những kết quả trên cho thấy để cho ý thức thực hiện nếp sống văn minh của sinh viên cao
hơn thì vai trò giáo dục của gia đình cũng cần phải được nâng cao
2.3.I.2 Người trong gia đình thường xuyên tác động đến việc thực hiện nếp sống văn minh
Bảng 74: Người trong gia đình thường xuyên có tác động đến việc thực hiện nếp
sống văn minh
Người trong gia đình thường xuyên có tác động đên
việc thực hiện nếp sống văn minh Tần số Phần ưăm có giá trị
là chỉ có cha mẹ và con cái, cho nên việc giáo dục con cái đè nặng lên vai của cha mẹ Điều đó trong xã hội ngày nay cũng là một khó khăn, vì yếu tố kinh tế thị trường khiến cho con người
ít có thời gian giành cho gia đình hơn
Trang 40Chính vì ít có thời gian giành cho gia đình nên cha mẹ không thể nào quan tâm hết tất
cả các vấn đề của con cái, để biết rằng cha mẹ thường hay quan tâm đến việc gì nhóm nghiên cứu đã đi tìm hiểu và kết quả nhận được như sau:
2.3.1.3 Vấn đề cha mẹ thường hay quan tâm
Bảng 75: vẩn đề cha mẹ thường quan tâm
Khi được hỏi cha mẹ thường hay quan tâm đến những vấn đề nào của bản thân, thì có 77,7% sinh viên trả lời rằng đó là kết quả học tập, vấn đề quan tâm thứ hai của cha mẹ giành cho con cái chính là việc làm trong tương lai: chiếm 84%; vấn đề thứ ba cha mẹ thường hay quan tâm là sức khoẻ: chiếm 82,3%; việc giáo dục đạo đức lối sống thì có 68% sinh viên cho rằng cha mẹ mìn hay quan tâm đến, như vậy có phải chăng hiện nay phụ huynh thường chỉ quan tâm đến việc làm sao cho con mình có địa vị, có học vấn cao mà không quan tâm đến giá trị đạo đức? Thực tế cho thấy mối lo lắng lớn nhất của các bậc cha mẹ ngày nay thường là vấn đề học tập, chính vì đó mới có hiện tượng chạy trường cho con vào mỗi đầu năm học, hoặc chỉ mới lớp một mà đã nhồi nhét con em mình lịch học dày đặc Và liệu việc quan tâm của cha mẹ đó có ảnh hưởng gì đến thái độ thực hiện nếp sống trong sinh viên không? Để trả lời câu hỏi đó nhóm chúng tôi đã cho chạy tương quan về mối liên hệ giữa việc thực hiện nếp sống văn minh trong sinh viên ở một vài khía canh với vấn đề cha mẹ thường quan tâm Két quả nghiên cứu như sau:
2.3.I.4 Mối liên hệ giữa mức độ đi học muộn và vấn đề mà cha mẹ thường hay quan tâm
Bảng 76: Moi liên hệ giữa vẩn để cha mẹ thường quan tâm với mức độ đi học
muộn cửa sinh viên
Việc làm trong tương lai của bạn
Sức khoẻ
Giáo dục lối sống, đạo đức