Nhà trường là nơi tạo nguồn nhân lực cho đất nước, nhiệm vụ của nhà trường là phải làm thế nào để tìm ra được những biện pháp quản lý hoạt động trong đó có quản lý hoạt động giáo dục đạo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THU HẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THU HẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phó Đức Hòa
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 3Tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, quý Thầy, Cô phòng sau đại học, khoa Quản lý giáo dục và quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục của trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phó Đức Hòa - người Thầy đáng kính đã bỏ nhiều công sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng Giáo dục & Đào tạo Quận Hai Bà Trưng, các đồng chí trong Ban Giám hiệu, các đồng chí giáo viên, Bí thư Đoàn TNCS HCM, Tổng phụ trách Đội, giáo viên giảng dạy các trường tiểu học Quận Hai Bà Trưng đã giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn luận văn không sao tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, tác giả mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, quý Thầy Cô và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội,tháng 06 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hảo
Trang 4Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hảo
Trang 5Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
TDTT Thể dục thể thao
THPT Trung học phổ thông
Trang 6Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Ý nghĩa của đề tài 6
9 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Giáo dục đạo đức 14
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức 19
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 20
1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học 21
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 21
1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học 22
1.3.3 Nội dung của hoạt động giáo dục đạo đức 23
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học 25
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 25
1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học 28
Trang 7các trường tiểu học 30
1.5.1 Đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh tiểu học 30
1.5.2 Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, phong tục tập quán của địa phương 31
1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức 32
1.5.4 Công tác phối hợp giữa các lực lượng tham gia giáo dục trong và ngoài nhà trường 35
1.5.5 Trình độ, năng lực quản lý của cán bộ quản lý và Hiệu trưởng các trường tiểu học 37
Kết luận chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục thành phố Hà Nội 39
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế văn hóa xã hội của thành phố Hà Nội 39
2.1.2 Khái quát tình hình GD&ĐT của thành phố Hà Nội 39
2.1.3 Quá trình phát triển của ngành GD&ĐT thành phố Hà Nội 40
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội 41
2.2.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh 41
2.2.2 Nội dung, biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh 44
2.2.3 Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh 49
2.2.4 Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh các trường tiểu học
trên địa bàn thành phố 53
2.2.5 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức cho học sinh 55
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học
thành phố Hà Nội 57
2.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức 57
2.3.2 Việc triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức 58
2.3.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 61
2.3.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức 65
Trang 8tiểu học thành phố Hà Nội 67
2.4.1 Ưu điểm 67
2.4.2 Hạn chế 68
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 69
Kết luận chương 2 71
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ HÀ NỘI 73
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng yêu cầu theo chủ trương, chính sách, mục tiêu
của Đảng và Nhà nước 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và kế thừa 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 74
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường
tiểu học thành phố Hà Nội 75
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về giáo dục đạo đức cho học sinh 75
3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hoá công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh 80
3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực trong nhà trường 82
3.2.4 Biện pháp 4: Quản lý đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh 87
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cộng đồng,
địa phương cho học sinh 90
3.2.6 Biện pháp 6: Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm
tạo môi trường thuận lợi giáo dục đạo đức cho học sinh 92
3.2.7 Biện pháp 7: Nâng cao năng lực quản lý giáo dục đạo đức cho cán bộ quản lý
các trường tiểu học 97
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
Trang 93.4.1 Mục đích khảo nghiệm 103
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 103
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 104
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 104
Kết luận chương 3 108
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 115
PHỤ LỤC
Trang 10Bảng 2.1 Vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức 42
Bảng 2.2 Đánh giá các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học
trên địa bàn thành phố 44
Bảng 2.3 Đánh giá của học sinh về mức độ thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức
ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội 46
Bảng 2.4 Đánh giá của giáo viên về hiệu quả thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức
học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố 47
Bảng 2.5: Nhận xét của giáo viên về triển khai các hình thức giáo dục đạo đức của các trường tiểu học trên địa bàn thành phố 49
Bảng 2.6: Thái độ của học sinh đối với các hình thức giáo dục đạo đức ngoài giờ lên lớp 51
Bảng 2.7 Kết quả đánh giá học sinh cuối năm từ năm học 2013 đến 2015 53
Bảng 2.8.a Kết quả đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ học tập theo chuẩn kiến thức
kỹ năng từ năm học 2013 đến 2015 54
Bảng 2.8.b Kết quả đánh giá mức độ hình thành và phát triển năng lực năm học 2013
đến 2015 54
Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức cho học sinh 55
Bảng 2.10 Đánh giá hiệu quả thực hiện việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
cho học sinh của các trường tiểu học thành phố Hà Nội 57
Bảng 2.11 Đánh giá mức độ triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh của các trường tiểu học thành phố Hà Nội 59
Bảng 2.12: Thực trạng việc triển khai hoạt động giáo dục đạo đức của Tổ chuyên môn, Tổng phụ trách Đội, giáo viên chủ nhiệm các nhà trường tiểu học thành phố Hà Nội 60
Bảng 2.13: Thực trạng công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức 61
Bảng 2.14: Thực trạng triển khai các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
của các hiệu trưởng trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội 64
Bảng 2.15 Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra 66
công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 66
Trang 11việc giáo dục đạo đức cho học sinh 70
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 7 biện pháp đề xuất 104
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 7 biện pháp đề xuất 106
Bảng 3.3 Xét thứ bậc mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi 107
của các biện pháp 107
Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý 13
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biện pháp 102
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 105
Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 106
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con người Việt Nam thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị độc lập dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân tộc, có ý thức cộng đồng
và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với Chủ nghĩa xã hội
và tư tưởng Hồ Chí Minh
Từ xa xưa, cha ông ta vẫn luôn đề cao vấn đề đạo đức của con người
“Tiên học lễ, hậu học văn” Tiếp bước các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến thế hệ trẻ, Bác nói “Có đức mà có không có tài thì làm
gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng” Bác cũng dạy “ công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, dạy cũng như học phải biết cả đức lẫn tài”
Giáo dục đạo đức là trách nhiệm của toàn xã hội mà nhà trường giữ vai trò quan trọng Nhà trường là nơi tạo nguồn nhân lực cho đất nước, nhiệm vụ của nhà trường là phải làm thế nào để tìm ra được những biện pháp quản lý hoạt động trong đó có quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm góp phần tạo ra lớp người phát huy trí tuệ và đạo đức có năng lực để xây dựng và làm chủ xã hội mới
Trang 13Học sinh tiểu học ở trường tiểu học là lớp thiếu niên đang trong giai đoạn hình thành nhân cách, bộc lộ về tính cách, các em có xu hướng thích tìm hiểu xung quanh, thích tham gia các hoạt động tập thể Trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, mặt trái của nền kinh tế thị trường với những tác động tiêu cực của nó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tầng lớp thiếu niên Nhà trường nơi bồi dưỡng đạo đức, lý tưởng nhân cách, hoài bão ước mơ, trí tuệ của học sinh nhưng cũng không tránh khỏi sự xâm nhập tấn công của các tệ nạn
xã hội và các hiện tượng tiêu cực, nhất là hiện nay việc sử dụng facbook tràn lan, các em dễ bị lôi cuốn vào các hoạt động có hại và nguy hiểm cho bản thân và xã hội Hơn bao giờ hết chúng ta những người làm công tác giáo dục đều nhận thức rằng: Nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Những người làm công tác quản lý nói chung và chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường nói riêng phải nhận thức rõ trách nhiệm tạo nên những tác động giúp học sinh hình thành nhân cách để tạo ra lớp người mới là chủ đất nước
1.2 Hà Nội là thủ đô là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của cả nước, bên cạnh những mặt tích cực về một nền kinh tế năng động, môi trường văn hóa văn minh, xã hội phát triển tạo thuận lợi cho việc học tập sinh hoạt của học sinh, thì những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, những ảnh hưởng của phim ảnh bạo lực, của tệ nạn xã hội, mạng xã hội ít nhiều đang tấn công vào gia đình và trường học của các học sinh Nó làm cho một số học sinh chưa nhận thức được đúng hướng đi của mình, dễ làm lệch lạc nhân cách của các em Là một quận nội thành của Hà Nội, nơi tập trung nhiều đầu mối kinh tế, văn hóa, giao thông của Thủ đô, quận Hai Bà Trưng cũng chịu nhiều ảnh hưởng của sự sa sút về đạo đức của giới trẻ Trách nhiệm đầy lùi sự suy thoái về đạo đức đó đầu tiên phải thuộc về những người làm công tác giáo dục Muốn làm được điều đó đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục phải đánh
Trang 14giá đúng thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, tìm ra biện pháp tháo gỡ, khắc phục để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại môi trường mình quản lý
Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh; Tuy nhiên việc nghiên cứu cụ thể về thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và cho học sinh tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố
Hà Nội nói riêng đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào cụ thể
1.3 Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội"
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội hiện nay đã có đổi mới và thu lại một số kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Trang 15phù hợp với thực trạng hiện nay của địa bàn quận sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường tiểu học
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học tại quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội của Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Khối các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
6.3 Giới hạn khách thể khảo sát
Trong đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội
Trong điều tra thu thập số liệu, tác giả tập trung vào những kết quả giáo dục đạo đức của 03 trường tiểu học trong các năm học 2013 – 2014 đến 2015-2016:
- Trường tiểu học Lương Yên – quận Hai Bà Trưng;
- Trường tiểu học Lê Ngọc Hân – quận Hai Bà Trưng;
- Trường tiểu học Tô Hoàng – quận Hai Bà Trưng;
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục tiểu học nói riêng trong giai đoạn hiện nay; các công trình khoa học về giáo dục, giáo dục đạo đức cho học sinh, các công trình khoa học về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường
học, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh; phương pháp phân tích, tổng
hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa được sử dụng với mục đích xác
định cơ sở lý luận về hoạt động quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cơ sở thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát là một phương pháp rất hiệu quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của phòng Giáo dục & Đào tạo, Ban Giám hiệu, Tổng phụ trách Đội, một số giáo viên và đại diện CMHS các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng – thành phố Hà Nội, để từ đó có những điều chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của Lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT quận, Hiệu trưởng các trường tiểu học quận Hai
Bà Trưng – thành phố Hà Nội
7.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực tiễn; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng đạo đức và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu
Trang 17trưởng các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội; đồng thời xem xét mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tác giả sẽ đề xuất trong luận văn
7.3 Phương pháp thống kê toán học trong quản lý giáo dục
Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin học; các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến chuyên gia trong luận văn
8 Ý nghĩa của đề tài
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn còn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh các trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng - thành phố Hà Nội
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đạo đức là một hiện tượng xã hội – một hình thái ý thức đặc biệt, giáo dục đạo đức cho các thế hệ con người luôn là mối quan tâm của cả xã hội và đặc biệt các nhà giáo dục, từ xã hội cổ đại tới xã hội hiện đại ngày nay
Ở phương Đông thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức
và giáo dục đạo đức cho con người Tư tưởng về đạo đức, giáo dục đạo đức của ông thể hiện rõ trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” Ông xây dựng học thuyết “Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”.[2].[3]
Ở phương Tây thời cổ đại, nhà triết gia Hy Lạp Socrates (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học
Aritstốt (384-322 TCN) là một nhà triết học, bác học Hy Lạp cổ đại cũng khẳng định rằng, phải giáo dục con người ta về đạo đức, phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục thể thao để phát triển thể lực Ông xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội Ông cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất,
Trang 19phát triển những quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức
Trong xã hội cận đại, J.A Comenxki (1592-1670) nhà sư phạm lỗi lạc, nhà giáo dục nổi tiếng phương Tây thế kỷ XVII cho rằng con người là một tác phẩm hoàn thiện nhất, đẹp đẽ nhất của thiên nhiên – là tiểu vũ trụ và phải giáo dục con người để tạo ra nhân đạo, chế tạo ra hạnh phúc, chế tạo ra con người chân chính Những quy tắc trong ứng xử, trong sinh hoạt đối với mọi người, trong cách nói năng và im lặng chính là những giá trị đạo đức mà ông muốn mọi người đều phải đạt được
Ông đã có nhiều đóng góp cho công tác giáo dục đạo đức qua tác phẩm: “Khoa sư phạm vĩ đại” Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này Ông nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ sự tôn trọng trẻ em Những trẻ em ý thức kém về học tập và hạnh kiểm giống như những trái chín muộn Chính vì vậy, nhà giáo phải có thái độ trân trọng, kiên nhẫn thì mới có thể xoá bỏ những thói xấu ở học sinh và khơi dậy tiềm năng của các em.[23]
Theo quan niệm của học thuyết Mác - Lênin: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội,
nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, chúng ta cũng biết rằng đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người, nó là một hình thái ý thức xã hội Nó được phát triển song hành cùng với xã hội đồng thời nó giúp xã hội loài người tiến
Trang 20cao hơn Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ nhiều góc độ khác nhau
Tác giả Hà Thế Ngữ [34] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh;
Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [20] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đã dành một chương cho vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu giáo dục đạo đức trong các công trình nghiên cứu của mình;
Cố tác giả Hà Nhật Thăng [40] đã đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của giáo dục đạo đức, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH, các giải pháp nâng cao
hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay
Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống
và đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên Đặc biệt những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh niên đã có những bài viết đáng quan tâm
Một số tác giả khác đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và các thành quả nghiên cứu được thể hiện tại các sách, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ và
Trang 21luận văn thạc sĩ Cụ thể:
Tác giả Huỳnh Khái Vinh đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn
đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội và một số nước; thực trạng phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước
Về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông đã có một số tác giả đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông như Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang, Trần Đình Chiến, Nguyễn Tấn Giao,… đã khẳng định vai trò của GVCN trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh (HS) và đưa ra các định hướng cho GVCN trong việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông
Nghiên cứu về giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên đã được các tác giả Mạc Văn Trang, Phạm Đình Đức,… đề cập đến Một số tác giả như Cao Đình Trúc, Võ Tuấn Hiệp, Nguyễn Thanh Hòa,… đã nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng; trong đó đã xuất một số nguyên tắc và giải pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật quân đội như: nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên (GV) về tổ chức giáo dục đạo đức; xác định rõ hơn mô hình tổ chức, chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức; tổ chức tốt việc kết hợp dạy học các môn trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp; thực hiện nghiêm minh điều lệnh quân đội, nội quy, chế độ sinh hoạt trong học tập; tổ chức tốt các đợt thi đua, kịp thời tuyên dương những tập thể và sinh viên tốt; phối hợp chặt chẽ giữa
Trang 22nhà trường và gia đình, xây dựng môi trường văn hóa đạo đức lành mạnh; nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của GVCN; xây dựng phong trào tự học tự tu dưỡng trong học sinh sinh viên
Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của nước nhà, do nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố con người cho nên đã có nhiều nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông thể hiện tại những luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở các trường , trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Nhưng
đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại quận Hai Bà Trưng còn rất ít Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học vẫn còn bỏ ngỏ
Vì vậy nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường tiểu học; Tìm hiểu thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng từ đó tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng là rất cần thiết
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái
“ổn định” Quá trình “lý” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào thế “phát triển”
Trang 23Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”.[ 33]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [ 30]
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định: “tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều nó cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9]
Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức Quan niệm hiện đại về quản lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy
Trang 24động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm:“Quản lý là một quá
trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể và các đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”
Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý
Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho
Trang 25bị xem là vô đạo đức
Đạo đức phản ánh những giá trị, những quan hệ tốt đẹp giữa người
và người; mặt khác đạo đức còn phản ánh ý thức và
người với nhau, đạo đức xuất hiện từ khi có loài người và nó không bao giờ biến mất, nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Vì vậy, con người càng vươn tới và sáng tạo ra những giá trị
đạo đức mới
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất
Trang 26phong phú và sâu sắc
Theo giáo trình “ Đạo đức học ” (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội - Năm 2000) “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội ” [18 tr 8]
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là một mặt của đời sống XH con người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ XH, thực hiện chức năng XH, quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống XH
Theo quan điểm học thuyết Mác – Lê Nin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”
Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng
và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật đời sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn
Trang 27Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học XH) thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [42.tr 211]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội.” [12.tr 51]
Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên ta có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:
Một là góc độ xã hội: ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản
ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự mhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình
Hai là góc độ cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của
con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng
xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
ĐĐ biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội Khái niệm ĐĐ ngày càng được hoàn thiện đầy đủ hơn Các giá trị ĐĐ trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợp sâu sắc truyền thống ĐĐ tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục
và tự giáo dục của con người hiện nay
Trang 28ĐĐ có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi Trong
đó, điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Chức năng nhận thức: Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ
cho chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ xã hội đã nhận thức mà tạo thành ĐĐ cá nhân Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá trị
ĐĐ xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ
Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo dục giúp
con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thống định hướng giá trị và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức hành vi ĐĐ Hiệu quả giáo dục ĐĐ phụ thuộc vào điều kiện KT- XH, cách thức tổ chức, giáo dục mức
độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi ĐĐ làm cho
cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu Trước hết là bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐ xã hội Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị ĐĐ Đây là chức năng xã hội cơ bản, hết sức quan trọng của ĐĐ: “Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)” [18 tr 41]
Về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận
và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên,
Trang 29không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Như vậy, từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [30]
1.2.2.2 Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích,
có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học
sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội” [26]
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [22]
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm
và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi
Trang 30trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một vị trí đặc biệt quan trọng
Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu nhân cách con người mới được hình thành và phát triển
Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức
Hoạt động giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Nhờ
đó, con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức
xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế, công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành phát triển nhân các phù hợp với từng giai đoạn phát triển “Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là lập được những thói quen hành vi đạo đức”
Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích,
có kế hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục
Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị Từ đó là cơ sở hình thành thế giới quan Mác- Lênin và định
Trang 31hướng chính trị theo quan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức
Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật giúp cho người học nắm được chuẩn mực của pháp luật, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Luật pháp bản thân nó cũng đã bao hàm những yếu tố đạo đức Thực hiện pháp luật một cách tự giác góp phần vào cuộc sống bình yên của xã hội chính là thể hiện những phẩm chất đạo đức chân chính
Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống
vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong
đó mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là hình thành được những thói quen hành vi đạo đức
Như vậy giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn bộ hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành và phát triển nhân cách giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn đề trong chiến lược giáo dục và đào tạo vì sự phát triển con người và phát triển xã hội
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Từ khái niệm quản lý và khái niệm giáo dục đạo đức đã nêu trên đây, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất
Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động
có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các quá trình giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế
Trang 32hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó để những yêu cầu, mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức theo các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra với thế
hệ trẻ phù hợp với lứa tuổi học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân trở thành hiện thực
Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục
1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Mục tiêu của giáo dục đạo đức là chuyển hoá những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
- Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức
- Về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các quy phạm đạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh
vì độc lập tự do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc với hiện thực xung quanh Để các em có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội và có thái độ đúng đắn về hành
vi đạo đức của bản thân
- Về hành vi: Có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức Có quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực
Trang 331.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 35, năm 1992) nêu rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện”[37]; điều này cũng thấy vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức trong giáo dục
Giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình sư phạm,
nó đóng vai trò chủ chốt trong hoạt động giáo dục của các trường tiểu học, nó bao gồm các nhiệm vụ sau đây:
Phát triển các nhu cầu đạo đức cá nhân: Giáo dục đạo đức là quá
trình biến các hệ thống chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi của bên ngoài
xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong cá nhân, thành niềm tin, thói quen của người được giáo dục Từ đó họ luôn nảy nở những tình cảm hướng tới cái chân, thiện, mỹ, họ luôn rèn luyện, phấn đấu để đạt được những phẩm chất mong muốn
Hình thành và phát triển ý thức đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức
giáo dục đạo đức luôn cung cấp những tri thức về phẩm chất đạo đức, về các chuẩn mực đạo đức, từ đó giúp cho người được giáo dục hình thành và phát triển ý thức đạo đức Đồng thời khơi dậy ở họ những rung động, xúc cảm với hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội
Rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử đạo đức Trong quá
trình giáo dục đạo đức sẽ tổ chức cho người học lặp đi, lặp lại, những hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt và trong cuộc sống Từ đó giúp họ rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen đạo đức và cách ứng xử Qua việc rèn luyện thường xuyên đó giúp được giáo dục có thói quen đạo đức bền vững
Trang 34Mặt khác quá trình giáo dục đạo đức là một quá trình tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại và quá trình sáng tạo những tri thức mới Các tri thức đó luôn mang tính đặc thù dân tộc và thời đại Chính vì vậy mà giáo dục đạo đức còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phát triển các giá trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và thời đại
1.3.3 Nội dung của hoạt động giáo dục đạo đức
1.3.3.1 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua các môn học
Nội dung giáo dục đạo đức thông qua môn đạo đức, nếp sống thanh lịch văn minh và được tích hợp từ các môn học trong chương trình học của học sinh đảm bảo các nội dung:
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với xã hội như: Giáo dục lòng yêu hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ
Tổ quốc; Giáo dục niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc; Giáo dục lòng tôn trọng, giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống và tinh thần quốc tế vô sản; Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc
- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa
và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng
- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh: Giáo dục các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn
Trang 35tuổi; Biết kính trọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với thầy cô giáo; Đối với em nhỏ phảicó sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và
có cùng mục đích lý tưởng chung Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và
ý chí tập thể
- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm; bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…
- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,…
1.3.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên và các hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá
về các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần chống các tệ nạn xã hội, các chủ đề uống nước nhớ nguồn, tìm hiểu truyền thống dân tộc
Giáo dục đạo đức thông qua các giờ lao động công ích và vệ sinh trường lớp, vệ sinh các công trình công cộng Thông qua con đường này, giáo dục cho học sinh có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với các thành quả lao động của cá nhân, của cộng đồng và xã hội
Qua lao động, các em sẽ thu được những kinh nghiệm, đoàn kết giúp
đỡ lẫn nhau Thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể Đặc biệt lao động gắn liền với học tập là một trong những nguyên lý giáo dục của chúng
ta hiện nay
Trang 361.3.3.3 Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện mình
Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên trong Đó chính là giáo dục và tự giáo dục Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết định đến việc rèn luyện đạo đức
1.3.3.4 Giáo dục đạo đức thông qua sự gương mẫu của người thầy
Lứa tuổi này, các em đã biết nhìn nhận, đánh giá người thầy với thái độ
“Trọng thầy vì đạo đức của thầy Phục thầy vì kiến thức của thầy Quý mến
thầy vì lòng độ lượng của thầy” Các em hiểu được mặt yếu, mặt mạnh của giáo viên, biết nhận xét đánh giá từng thầy cô và có xu hướng cảm phục những giáo viên giỏi, có phẩm chất cao quý, luôn tự hào về các giáo viên đó Các em sẵn sàng làm theo sự hướng dẫn của họ và họ - những người thầy giáo cao quý đó thực sự là tấm gương cho học sinh học tập và làm theo
Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Nhân cách của người thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường tiểu học
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Nội dung quản lý giáo dục đạo đức được xây dựng trên 4 chức năng của Quản lý nói chung là: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài
Trang 37trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức Như vậy khi lập kế hoạch người quản lý cần phải chú ý:
- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu giáo dục đạo đức với mục tiêu giáo dục Cần phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp
- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả giáo dục cao
- Thành lập được ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Căn cứ vào những chú ý vừa nêu trên người lãnh đạo cần phải xây dựng được kế hoạch quản lý trong quá trình giáo dục đạo đức nó bao gồm các loại kế hoạch sau:
- Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm
- Kế hoạch hoạt động theo chương trình
- Kế hoạch hoạt động theo các mặt hoạt động xã hội Nói tóm lại, các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát tính cụ thể và tính khả thi
1.4.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong kế hoạch, đó là lúc cần phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy, các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân
sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
Trang 381.4.1.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có, thực hiện việc hướng dẫn công việc, theo dõi, giám sát, động viên và uốn nắn kịp thời các hoạt động của từng cá nhân và mỗi bộ phận thực hiện kế hoạch giáo dục đạo
đức đã có Cụ thể, cần chỉ đạo:
Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các môn học trong nhà trường giúp cho học sinh hiểu biết về các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nắm được các mức hành vi trong ứng xử, trong các quan hệ, từ đó có hành động đúng
Hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
đó là các hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động xã hội - chính trị, hoạt động thể dục thể thao nhằm giáo dục cho học sinh những tri thức khoa học thực tế, những chuẩn mực đạo đức, kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
1.4.1.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức đề cập đến phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù hợp, nhất quán với những kế hoạch, mục tiêu giáo dục đạo đức đã xây dựng Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm giúp ta thấy được những gì còn tồn tại, những cái mới trong cái quen thuộc, những vấn đề mà thực tế đặt ra cần được giải quyết Việc kiểm tra giúp người quản lý nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót; khen thưởng và kỷ luật một cách khách quan; thu thập những thông tin để điều chỉnh những tác động quản lý, kiểm nghiệm các quyết định Để kiểm tra đánh giá một cách khách quan, chính xác cần phải có chuẩn Vì vậy cần coi trọng việc xây dựng các chuẩn để kiểm tra đánh giá Từ
đó xây dựng các công cụ đánh giá phù hợp, các thủ tục quy trình đánh giá hợp
lý hiệu quả
Trang 391.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và
có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng có được của hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệ thống khác …) để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Chỉ thông qua và bằng phương pháp quản lý mà các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ, quản lý mới đi vào cuộc sống, biến thành thực tiễn phong phú, sinh động, phục vụ lợi ích con người Người ta thường sử dụng một số phương pháp quản lý dưới đây:
1.4.2.1 Phương pháp tổ chức hành chính
Là phương pháp tác động trực tiếp của hệ quản lý (chủ thể quản lý) đến
hệ bị quản lý (đối tượng quản lý) bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý
Phương pháp tổ chức hành chính thường thể hiện qua các nghị quyết của hội đồng hội đồng giáo dục, hội đồng sư phạm… Các Nghị quyết, quy định mang tính chất bắt buộc yêu cầu các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học: cán bộ quản lý phòng GD&ĐG, Đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, nhà trường, gia đình, CBGV và HS phải thực hiện
Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý,
nó được xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỷ luật trong ngành giáo dục, nhà trường, buộc các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức và học sinh phải làm tốt nhiệm vụ của mình
1.4.2.2 Các phương pháp tâm lý - xã hội
Là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý, nhằm biến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của người bị quản lý Phương pháp này thể hiện tính nhân văn trong hoạt động quản lý Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ
Trang 40Các phương pháp tâm lý - xã hội bao gồm các phương pháp: Giáo dục, Thuyết phục, Động viên, Tạo dư luận xã hội, Giao công việc yêu cầu cao …
Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý của người lãnh đạo Ưu điểm của phương pháp này là phát huy quyền làm chủ tập thể và mọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức, nói chung là phát huy được nội lực của cá nhân và tập thể Vận dụng thành công phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động giáo dục đạo đức cho HS Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào nghệ thuật của người quản lý
1.4.2.3 Các phương pháp kinh tế
Là sự tác động một cách gián tiếp của người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Thực chất của phương pháp kinh
tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của các lực lượng thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học với những kích thích
có tính đòn bẩy Kích thích việc hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích kinh tế có
ý nghĩa to lớn đối với tính tích cực của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Tạo động cơ mạnh cho hoạt động, mang lại lợi ích thiết thực và phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác độc lập của mỗi tập thể, cá nhân trong công việc Bản thân việc kích thích vật chất cũng đã chứa đựng sự cổ vũ
về tinh thần Đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động, phẩm chất, năng lực của mỗi người Bằng nguồn kinh phí của nhà trường xây dựng
cơ chế thưởng phạt trong quản lý nói chung và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nói riêng, khen thưởng xứng đáng cho những tập thể, cán bộ giáo viên có thành tích trong hoạt động giáo dục đạo đức cho HS, đồng thời khiển trách phê bình, cắt thi đua đối với tập thể, những cán bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong giáo dục đạo đức học sinh (nhất là GVCN)