1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam có đặc thù là một nƣớc nông nghiệp với 69,9% dân số sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn (LĐNT) chiếm 69,3% toàn lực lƣợng lao động (LLLĐ). Mặc dù LĐNT chiếm ƣu thế vƣợt trội về số lƣợng trong cơ cấu lao động (LĐ) cả nƣớc, nhƣng chất lƣợng lại rất thấp; tính đến năm 2014, LĐNT từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo chỉ chiếm 11,2% và LĐNT trong độ tuổi LĐ qua đào tạo chỉ chiếm 12% (Tổng cục Thống Kê, 2016). Nhìn một cách tổng thể, Nguyễn Tiến Dũng và cs. (2014) cho rằng: “Chất lƣợng nguồn nhân lực ở nông thôn thấp hơn nhiều so với chất lƣợng chung của cả nƣớc và thấp hơn nhiều so với nhân lực nông thôn của các nƣớc trong khu vực” Trong khi đó, với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng mạnh mẽ tạo ra sức cạnh tranh trên thị trƣờng lao động (TTLĐ); việc xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực chất lƣợng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu LĐ nông nghiệp, nông thôn; đặc biệt là tình trạng “Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình” (Kenichi Ohno và Lê Hà Thanh, 2015) mà một trong những nguyên nhân chính của hiện tƣợng này là do chất lƣợng nguồn nhân lực thấp dẫn đến năng suất LĐ không cao… những hiện tƣợng trên đã đặt ra vấn đề là cần phải nhanh chóng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, trong đó cần tập trung vào việc ĐTN cho LĐNT theo định hƣớng lựa chọn nghề đào tạo phù hợp và nâng cao chất lƣợng đào tạo. Tuy nhiên, sau một thời gian chú trọng đầu tƣ các nguồn lực để thúc đẩy phát triển hoạt động ĐTN cho LĐNT trên diện rộng với nhiều chủ trƣơng, chính sách khác nhau; đặc biệt là việc xây dựng và triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (Thủ tƣớng Chính phủ, 2009b) thì số lƣợng LĐNT qua đào tạo đã tăng, nhƣng chất lƣợng đào tạo nghề (CLĐTN) cho LĐNT còn rất nhiều bất cập, hạn chế. Theo Nguyễn Văn Đại (2012), “CLĐTN tuy có đƣợc nâng lên nhƣng so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn còn thấp”; “ngƣời LĐ phải mất nhiều thời gian mới tiếp cận đƣợc yêu cầu của cơ sở sử dụng LĐ”; ngoài ra, CLĐTN cho LĐNT cũng chƣa đồng đều trên phạm vi cả nƣớc (Bộ LĐ-TB&XH, 2016). Nhƣ vậy, vấn đề bất cập, hạn chế trong ĐTN cho LĐNT tại Việt Nam hiện nay chính là đào tạo chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của TTLĐ; do đó, LĐNT sau khi đƣợc ĐTN vẫn gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập và tự tạo việc làm. Nam Định là một tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực Nam đồng bằng Sông Hồng có dân số là 1,846 triệu ngƣời, trong đó có 81,8% dân số sống ở khu vực nông thôn; LĐNT chiếm 82,83% tổng LLLĐ của tỉnh; lực lƣợng LĐNT đang làm việc trong các ngành kinh tế qua đào tạo khu vực nông thôn chỉ chiếm 11,05% (Cục Thống kê tỉnh Nam Định, 2015). Tỷ lệ LĐNT qua đào tạo thấp đã phần nào ảnh hƣởng tới việc đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã đề ra. Do đó, ĐTN cho LĐNT là một lựa chọn vừa sức nhằm nâng cao tỷ lệ LĐNT qua đào tạo bởi yêu cầu đầu vào cho quá trình đào tạo không quá cao; bên cạnh đó, việc Chính phủ ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 đã tiếp sức cho hoạt động ĐTN cho LĐNT phát triển mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm triển khai hoạt động ĐTN cho LĐNT tại Nam Định cho thấy các chính sách ƣu đãi đã khuyến khích LĐNT tích cực đăng ký học nghề, số lƣợng LĐNT qua ĐTN đã tăng đáng kể giúp nâng cao tỷ lệ LĐNT qua đào tạo; nhƣng CLĐTN ở một số nghề chƣa đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trƣờng (UBND tỉnh Nam Định, 2013), phần lớn LĐNT qua ĐTN vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm do chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu từ phía ngƣời sử dụng LĐ; mức thu nhập của những ngƣời có việc làm còn thấp; khả năng tự tạo việc làm của LĐNT sau ĐTN cũng rất hạn chế, đã có nhiều LĐNT sau khi tốt nghiệp tự tổ chức sản xuất nhƣng không mang lại hiệu quả, thậm chí là thất bại.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI HỒNG ĐĂNG
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Trang 2
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn 24 2.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn 31
Trang 32.2.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở
3.4.1 Nhóm chỉ tiêu về thị trường lao động và nhu cầu đào tạo nghề cho lao
3.4.2 Nhóm chỉ tiêu về tình hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh
3.4.3 Nhóm chỉ tiêu về đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
Trang 4PHẦN 4 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
4.1.1 Nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với thị trường lao động
Trang 54.5.2 Các nhân tố bên trong 108
PHẦN 5 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
5.1.1 Quan điểm trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động
5.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
5.2.1 Giải pháp đối với công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
(Association of Southeast Asian Nations)
(International Organization for Standardization)
LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội
(Rapid Rural Appraisal)
(Trans-Pacific Trategic Economic Partnership Agreement)
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học theo quan điểm
4.5 Nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn phục vụ thị trường lao
4.7 Nhu cầu đào tạo nghề của lao động nông thôn tỉnh Nam Định tại thị
Trang 84.11 Giá trị đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở dạy nghề phục
4.12 Nguồn tài chính đầu tư vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh
4.13 Kết quả hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn trong 5 năm (2010 - 2014) 87
4.16 Số lượng lao động nông thôn thuộc nhóm đối tượng 1 đã qua đào tạo
4.17 Số lao động nông thôn có việc làm sau đào tạo nghề trong 5 năm (2010 - 2014) 90
4.19 Đánh giá của giáo viên về tỷ lệ người học đạt được các mức độ kiến thức,
4.21 Đánh giá của người lao động về chất lượng đào tạo nhóm các nghề nông nghiệp 101
Trang 94.29 Đánh giá của giáo viên và người lao động về ảnh hưởng của chương trình
4.32 Đánh giá của giáo viên và người lao động về ảnh hưởng của dịch vụ
Trang 10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.8 Đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn các nghề
4.10 Đánh giá của lao động nông thôn đang học nghề về ảnh hưởng của tổ
4.11 Đánh giá của lao động nông thôn đang học nghề về ảnh hưởng của tổ
4.12 Đánh giá của lao động nông thôn đang học nghề về ảnh hưởng của tổ
4.14 Đánh giá của lao động nông thôn đang học nghề về ảnh hưởng của
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 13DANH MỤC CÁC HỘP
4.1 Ý kiến của cán bộ quản lý đào tạo tại cơ sở dạy nghề về sự thay đổi trong
4.2 Ý kiến của cán bộ quản lý tại cơ sở dạy nghề về vấn đề giáo viên dạy
4.5 Ý kiến của đại diện cơ sở dạy nghề ngoài công lập về mức hỗ trợ kinh
Trang 14TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Tên tác giả: Bùi Hồng Đăng
Tên Luận án: Nghiên cứu nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
tỉnh Nam Định
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp: Phương pháp tiếp cận (tiếp cận theo phía cung dịch vụ đào tạo và phía cầu dịch vụ đào tạo, tiếp cận theo quá trình, tiếp cận theo nhóm nghề); Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra; Phương pháp khảo sát nhanh có sự tham gia (PRA) và phương pháp thảo luận nhóm; Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các đối tượng để thu thập thông tin, số liệu sơ cấp; Phương pháp phân tích (Phương pháp phân tổ thống kê, thống kê mô tả, thống kê so sánh và phương pháp cho điểm)
Kết quả chính và kết luận
- Luận án đã góp phần hệ thống hoá, làm rõ và phát triển những vấn đề lý luận về nâng cao CLĐTN cho LĐNT; luận án cũng đã khái quát những kinh nghiệm nâng cao CLĐTN cho LĐNT ở một số nước và một số địa phương trong nước
- Luận án xác định được các cách tiếp cận phù hợp trong nghiên cứu; lựa chọn
sử dụng các phương pháp đánh giá đa chiều về CLĐTN cho LĐNT, trong đó có đại diện phía cung dịch vụ đào tạo (gồm: cán bộ quản lý đào tạo tại, giáo viên) và phía cầu dịch vụ đào tạo (gồm: LĐNT đang học nghề, LĐNT đã học nghề đang đi làm, người sử dụng LĐ và cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT)
- Luận án đã mô tả được nhu cầu ĐTN, phân tích được thực trạng nâng cao ĐTN cho LĐNT và những kết quả đạt được từ hoạt động ĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định thời gian
Trang 15qua; đánh giá một cách có hệ thống về CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định theo 2 nhóm nghề (nông nghiệp và phi nông nghiệp)
- Luận án đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định; trên cơ sở đó, xác định được 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng (gồm: cơ chế tổ chức quản lý đào tạo; nhân lực; chương trình, giáo trình và tài liệu học tập; cơ sở vật chất, trang thiết bị; dịch vụ người học; nguồn tài chính và quản lý tài chính) Đã xác định được 20 chỉ tiêu cụ thể đang tồn tại những bất cập cần có biện pháp khắc phục để nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định trong thời gian tới
- Luận án đã đưa ra một số quan điểm, chỉ ra định hướng, xác định rõ mục tiêu trong việc nâng cao CLĐNT cho LĐNT tỉnh Nam Định thời gian tới
- Luận án đề ra được 3 nhóm giải pháp với 17 giải pháp cụ thể, 37 biện pháp trực tiếp giải quyết vấn đề tồn tại hoặc làm tốt hơn, hiệu quả hơn các nội dung, công việc đã thực hiện thời gian qua nhằm giúp nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định từ nay đến năm 2020 Ngoài ra, luận án cũng đã đề xuất một số kiến nghị với Chính phủ và cơ quan quản lý trung ương về ĐTN để khi áp dụng các giải pháp vào thực tế mang lại hiệu quả cao nhất
- Luận án là nguồn cung cấp thông tin khoa học về giải pháp nâng cao CLĐTN cho LĐNT; là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về nội dung nâng cao CLĐTN cho LĐNT tại các địa phương khác và là cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý nhà nước
về ĐTN cho LĐNT đề ra các chính sách nhằm giúp cho quá trình triển khai hoạt động này mang lại hiệu quả hơn trong thời gian tới tại Nam Định nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
Trang 16THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Bui Hong Dang
Thesis title: A study on improving the quality of vocational training for rural labors in
Nam Dinh province
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Methods of the study
The following methods are employed in this dissertation: Approach method (training supplier based approach and training demand based approach, procedure based approach, occupation group based approach); Sampling; Participatory rapid assessment (PRA) and group discussion; Interview to collect information and primary data; Analysis method (disaggregated statistics, descriptive statistics, comparative statistics and scoring method)
Main findings and conclusions
- The dissertation systemizes, clarifies and develops the theoretical foundation for the improvement of vocational training for rural labors; the dissertation also presents an overview of the experience of improving the vocational training quality for rural labors
in some countries and some local areas
- The dissertation defines suitable approaches; applies multi-direction methods to evaluate the quality of vocational training for rural labors, with the presence of training suppliers (including: managing staff, teachers) and training demanding side (including: rural labors who are being trained, employed rural labors, labor users and governmental body managing vocational training for rural labors)
- The disseration describes the demand for vocational training; analyzes the status
of improving the quality of vocational training for rural labors and the outcomes of
Trang 17vocational training activities for rural labors in Nam Dinh province during the previous time; systematically assesses the vocational training quality for rural labors in Nam Dinh province of 2 occupational groups (agriculture and nonagriculture)
- The dissertation analyzes factors affecting the quality of vocational training for rural labors in Nam Dinh province There are six groups of factors (including: the training management and organization mechanism; human resources; curriculum, textbooks and study materials; facilities and equipment; services; finance resources and financial management) The dissertation defines 20 specific criteria with limitations which need overcoming to improve the quality of vocational training for rural labors in Nam Dinh province in the near future
- The thesis presents some viewpoints, proposes the orientation and clearly defines the objectives of the improvement of the vocational training quality for rural labors in Nam Dinh in the near future
- The thesis proposses 3 groups of solutions with 17 specific solutions and 37 direct measures to solve the problems or implement the tasks better and more effectively to improve the vocational training quality for rural labors in Nam Dinh province until 2020 In addition, the dissertation offers some recommendations to the related authorities when applying the solutions in reality in order to achieve the maximum effectiveness
- The thesis is a scientific information resource for solutions to improve the quality of vocational training for rural labors; is a foundation for the next research on improving the quality of vocational training for rural labors in other regions and is a scientific foundation for the government to establish policies to implement the vocational training for rural labors more effectively in Nam Dinh province and in Vietnam
Trang 18PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam có đặc thù là một nước nông nghiệp với 69,9% dân số sống ở khu vực nông thôn, lao động nông thôn (LĐNT) chiếm 69,3% toàn lực lượng lao động (LLLĐ) Mặc dù LĐNT chiếm ưu thế vượt trội về số lượng trong cơ cấu lao động (LĐ) cả nước, nhưng chất lượng lại rất thấp; tính đến năm 2014, LĐNT từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo chỉ chiếm 11,2% và LĐNT trong độ tuổi LĐ qua đào tạo chỉ chiếm 12% (Tổng cục Thống Kê, 2016) Nhìn một cách tổng thể, Nguyễn Tiến Dũng và cs (2014) cho rằng: “Chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn thấp hơn nhiều so với chất lượng chung của cả nước và thấp hơn nhiều so với nhân lực nông thôn của các nước trong khu vực”
Trong khi đó, với xu thế mở cửa hội nhập ngày càng mạnh mẽ tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường lao động (TTLĐ); việc xác định mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu LĐ nông nghiệp, nông thôn; đặc biệt là tình trạng “Việt Nam đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình” (Kenichi Ohno và Lê Hà Thanh, 2015) mà một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là do chất lượng nguồn nhân lực thấp dẫn đến năng suất LĐ không cao… những hiện tượng trên đã đặt ra vấn đề là cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó cần tập trung vào việc ĐTN cho LĐNT theo định hướng lựa chọn nghề đào tạo phù hợp và nâng cao chất lượng đào tạo
Tuy nhiên, sau một thời gian chú trọng đầu tư các nguồn lực để thúc đẩy phát triển hoạt động ĐTN cho LĐNT trên diện rộng với nhiều chủ trương, chính sách khác nhau; đặc biệt là việc xây dựng và triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (Thủ tướng Chính phủ, 2009b) thì số lượng LĐNT qua đào tạo đã tăng, nhưng chất lượng đào tạo nghề (CLĐTN) cho LĐNT còn rất nhiều bất cập, hạn chế Theo Nguyễn Văn Đại (2012), “CLĐTN tuy có được nâng lên nhưng so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn còn thấp”; “người LĐ phải mất nhiều thời gian mới tiếp cận được yêu cầu của cơ sở sử dụng LĐ”; ngoài ra, CLĐTN cho LĐNT cũng chưa đồng đều trên phạm vi cả nước (Bộ LĐ-TB&XH, 2016) Như vậy, vấn đề
Trang 19bất cập, hạn chế trong ĐTN cho LĐNT tại Việt Nam hiện nay chính là đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của TTLĐ; do đó, LĐNT sau khi được ĐTN vẫn gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập và tự tạo việc làm
Nam Định là một tỉnh nông nghiệp thuộc khu vực Nam đồng bằng Sông Hồng có dân số là 1,846 triệu người, trong đó có 81,8% dân số sống ở khu vực nông thôn; LĐNT chiếm 82,83% tổng LLLĐ của tỉnh; lực lượng LĐNT đang làm việc trong các ngành kinh tế qua đào tạo khu vực nông thôn chỉ chiếm
11,05% (Cục Thống kê tỉnh Nam Định, 2015) Tỷ lệ LĐNT qua đào tạo thấp đã
phần nào ảnh hưởng tới việc đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã đề ra Do đó, ĐTN cho LĐNT là một lựa chọn vừa sức nhằm nâng cao tỷ
lệ LĐNT qua đào tạo bởi yêu cầu đầu vào cho quá trình đào tạo không quá cao; bên cạnh đó, việc Chính phủ ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 đã tiếp sức cho hoạt động ĐTN cho LĐNT phát triển mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, sau hơn 5 năm triển khai hoạt động ĐTN cho LĐNT tại Nam Định cho thấy các chính sách ưu đãi đã khuyến khích LĐNT tích cực đăng ký học nghề, số lượng LĐNT qua ĐTN đã tăng đáng kể giúp nâng cao tỷ lệ LĐNT qua đào tạo; nhưng CLĐTN ở một số nghề chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường (UBND tỉnh Nam Định, 2013), phần lớn LĐNT qua ĐTN vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm do chưa đáp ứng được yêu cầu từ phía người sử dụng LĐ; mức thu nhập của những người có việc làm còn thấp; khả năng tự tạo việc làm của LĐNT sau ĐTN cũng rất hạn chế, đã có nhiều LĐNT sau khi tốt nghiệp tự tổ chức sản xuất nhưng không mang lại hiệu quả, thậm chí
là thất bại
Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan được công bố; cụ thể như: i) Mạc Văn Tiến (2010) với công trình nghiên cứu “Phát triển dạy nghề hiện đại hội nhập với khu vực và thế giới”, nghiên cứu đã khẳng định được tầm quan trọng của hoạt động ĐTN trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh
tế quốc tế; đồng thời cũng đã đề ra được định hướng phát triển hoạt động ĐTN tại Việt Nam với mục tiêu mở rộng quy mô gắn với yêu cầu về đảm bảo chất lượng đào tạo ii) Đặng Kim Sơn (2008) với công trình nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp”, nghiên cứu khẳng định để mở rộng ĐTN cho LĐNT một cách có chất lượng cần cải tiến hệ thống
cơ sở dạy nghề (CSDN) của Nhà nước đáp ứng đúng nhu cầu thị trường; xây dựng hệ thống CSDN tại địa phương gắn với nhu cầu sử dụng LĐ; xã hội hoá
Trang 20hoạt động ĐTN cho LĐNT; chuẩn hoá giáo trình, tài liệu phù hợp với đối tượng học nghề và tăng cường các dịch vụ hỗ trợ giới thiệu việc làm cho LĐNT qua đào tạo iii) Nguyễn Văn Đại (2012) với công trình nghiên cứu “ĐTN cho LĐNT vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ CNH, HĐH”, nghiên cứu đã đề ra được 8 nhóm giải pháp hướng tới nâng cao CLĐNT cho LĐNT theo hướng đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, gồm: nâng cao nhận thức các bên liên quan đến hoạt động ĐTN cho LĐNT; hoàn thành quy hoạch, kế hoạch ĐTN cho LĐNT; phát triển mạng lưới ĐTN và đa dạng hoá hoạt động đào tạo; đầu tư phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên; đổi mới và phát triển chương trình đào tạo; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo; đổi mới và hoàn thiện chính sách đầu tư, huy động nguồn vốn cho dạy nghề; kết hợp giữa đào tạo với người sử dụng LĐNT qua ĐTN iv) Võ Xuân Tiến (2014) có công trình nghiên cứu “Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động tại Đà Nẵng”, trong công trình nghiên cứu này khẳng định ĐTN phải gắn với nhu cầu thực tế tại địa phương; tác giả cũng đề
ra được 3 nhóm giải pháp, gồm: đẩy mạnh việc ĐTN đặc biệt là đối với các ngành dịch vụ; xem xét lại vấn đề quy mô và chất lượng đào tạo đại học để từ có xác định vị trí của ĐTN một cách hợp lý hơn; coi trọng công tác đào tạo lại và đào tạo nâng cao v) Vũ Thị Phương Oanh (2008) với nghiên cứu “Nâng cao CLĐTN bằng biện pháp tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp”; trong nghiên cứu này, tác giả đã đề ra được 2 nhóm giải pháp: nhóm giải pháp cho cấp cơ sở (trường, doanh nghiệp và người học nghề) và nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách, khuyến khích quan hệ; nhìn chung, hướng tiếp cận trong giải quyết vấn đề của tác giả khá phù hợp khi gắn kết giữa các CSDN với doanh nghiệp (DN) tạo thành chuỗi cung ứng giữa đào tạo và sử dụng; tác giả cũng đã cụ thể hoá nhóm giải pháp cho cấp cơ sở thông qua 4 vấn
đề gồm: liên kết xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình, đổi mới; liên kết nhằm tăng cường nguồn nhân lực - tài lực - vật lực trong ĐTN; liên kết tổ chức quá trình đào tạo; liên kết về thông tin - dịch vụ; bản chất của sự liên kết này là tác động đến các nhân tố ảnh hưởng đến CLĐTN có sự phối hợp giữa nhà trường
và DN, hay còn gọi là các nhân tố bên trong, các nhân tố tác động trực tiếp đến CLĐTN; nhóm nhân tố còn lại chính là các nhân tố môi trường, nhân tố bên ngoài có tác động gián tiếp đến CLĐTN vi) Nguyễn Tiến Dũng và cs (2014) với nghiên cứu “Mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn”; trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã xây dựng ra nhiều mô hình đào tạo khác nhau, tổ chức đào
Trang 21tạo thí điểm tại một số địa phương với một số nghề cụ thể để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong ĐTN theo mô hình thí điểm; đặc biệt, trong nghiên cứu này đã
tổ chức thí điểm ĐTN “Đúc, dát đồng” tại thị trấn Ngô Đồng, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định với “Mô hình đào tạo lao động nông thôn để xây dựng làng nghề mới” và rút ra 5 bài học kinh nghiệm để nhân rộng ĐTN “Đúc, dát đồng” theo
vi rộng hơn với nhiều nghề khác và với nhiều địa phương khác trong tỉnh sẽ gặp không ít khó khăn, khó mang lại hiệu quả cao bởi có sự khác biệt giữa các lĩnh vực và các nghề đào tạo
Chính vì vậy, việc có một công trình nghiên cứu sâu và có phạm vi nghiên cứu phù hợp hơn về nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định là hết sức cần thiết; công trình phải đảm bảo đánh giá chính xác thực trạng về CLĐTN cho LĐNT của tỉnh, xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến CLĐNT cho LĐNT
và đề được ra các giải pháp hiệu quả giúp nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định thời gian tới
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích và đánh giá thực trạng nâng cao CLĐNT cho LĐNT tỉnh Nam Định thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao CLĐNT cho LĐNT tỉnh Nam Định trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá, làm sáng tỏ và phát triển cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao CLĐNT cho LĐNT
Trang 22- Đánh giá thực trạng nâng cao CLĐTN cho LĐNT, CLĐNT cho LĐNT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLĐNT cho LĐNT tỉnh Nam Định
- Đề xuất các giải pháp nâng cao CLĐNT cho LĐNT tỉnh Nam Định trong thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài này sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau đây:
- Tình hình nâng cao CLĐTN cho LĐNT và chất lượng ĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định đang như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định?
- Làm thế nào để nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định trong thời gian tới?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiễn về CLĐTN cho LĐNT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLĐTN cho LĐNT
- Đối tượng khảo sát của đề tài là các tác nhân liên quan đến CLĐTN cho LĐNT như: các cơ quan quản lý Nhà nước về ĐTN cho LĐNT, các CSDN, LĐNT đã và đang học nghề, các đơn vị và các DN sử dụng LĐNT; quá trình ĐTN cho LĐNT và sử dụng LĐNT qua ĐTN
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nam
Định Địa bàn khảo sát là các đơn vị hành chính mang tính đại diện cho các tiểu vùng và lĩnh vực kinh tế của tỉnh Nam Định gồm 3 huyện và thành phố Nam Định i) Huyện Nghĩa Hưng (vùng đồng bằng ven biển); ii) Huyện Mỹ Lộc (vùng đồng bằng thấp trũng, ven đô); iii) Huyện Ý Yên (vùng đồng bằng thấp trũng, phát triển làng nghề); iv) Thành phố Nam Định (vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ)
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn
2010-2014, các số liệu khảo sát tập trung trong năm 2014 và bổ sung cập nhật vào đầu năm 2015; các giải pháp được đề xuất cho đến năm 2020
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về
nâng cao CLĐTN cho LĐNT, thực trạng CLĐTN cho LĐNT, các nhân tố ảnh
Trang 23hưởng đến CLĐTN cho LĐNT và các giải pháp nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định Những nội dung trên được giới hạn trong hoạt động ĐTN ngắn hạn cho LĐNT, gồm: SCN (dạy nghề từ 3 đến dưới 12 tháng) và DNTX (dạy nghề dưới 3 tháng); các nghề đào tạo tiến hành khảo sát đảm bảo tính đại diện, trong đó
có 3 nghề thuộc nhóm nghề nông nghiệp (gồm các nghề: trồng nấm; chăn nuôi lợn nái, lợn thịt; trồng cây lương thực, thực phẩm) và 3 nghề thuộc nhóm nghề phi nông nghiệp (gồm các nghề: may công nghiệp; hàn; kỹ thuật điêu khắc gỗ)
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Về mặt lý luận: Luận án đã góp phần hệ thống hoá, làm rõ và phát triển những
vấn đề lý luận nâng cao CLĐTN cho LĐNT; đặc biệt là việc định hình ra được khái niệm về CLĐTN cho LĐNT và nội dung nâng cao CLĐTN cho LĐNT Đồng thời, luận án cũng đã khái quát được những kinh nghiệm nâng cao CLĐTN cho LĐNT ở trong và ngoài nước, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT tại tỉnh Nam Định
Về mặt thực tiễn: Luận án đã hệ thống được nhu cầu ĐTN cho LĐNT tỉnh
Nam Định; phân tích, đánh giá được thực trạng công tác nâng cao CLĐTN cho LĐNT và những kết quả đạt được từ hoạt động ĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định thời gian qua Luận án đã tiến hành đánh giá một cách có hệ thống về CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định theo 2 nhóm nghề (nông nghiệp và phi nông nghiệp); phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng đến CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định Trên cơ sở
đó, luận án cũng đã đưa ra một số quan điểm, chỉ ra định hướng, xác định rõ mục tiêu và đề ra các giải pháp nâng cao CLĐTN cho LĐNT tỉnh Nam Định trong thời gian tới
Trang 24PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Chất lượng
Chất lượng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận của từng chủ thể Có thể nói chất lượng là một phạm trù tổng hợp về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa xã hội, tâm lý, thói quen và sự khen, chê
Xét một các tổng thể, chất lượng được hiểu là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng, chỉ rõ nó là cái gì, phản ánh tính ổn định tương đối của sự vật - hiện tượng để phân biệt nó với sự vật - hiện tượng khác Chất lượng được coi là thuộc tính khách quan của sự vật và hiện tượng Chất lượng của sự vật, hiện tượng luôn được biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính vốn có của nó Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật - hiện tượng lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách rời khỏi sự vật (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Tử điển bách khoa Việt Nam, 1995) Ngoài ra, cũng có nhiều cách nhìn khác nhau về phạm trù chất lượng Theo Nguyễn Văn Nghiến (2001): “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những yêu cầu nêu ra hoặc tiềm ẩn”; Phó Đức Trù và Phạm Hồng (2002) cho rằng: “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có”
Nhìn từ quan niệm của nhà sản xuất, Nguyễn Đình Phan (2002) cho rằng:
“Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được xác định trước” Nhìn từ phía người tiêu dùng, theo Quách Thu Nguyệt (2003): “Chất lượng là những gì mà khách hàng muốn sao thì nó là như vậy”
Trong khi đó, Nguyễn Văn Hùng (2009) lại cho rằng: “Dưới góc độ quản
lý thì chất lượng được hiểu như là sự thực hiện mục tiêu và làm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể và đối tượng Trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, chất lượng của sản phẩm được đặc trưng bởi các nhân tố về nguyên vật liệu chế tạo, quy
Trang 25trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính sử dụng kể cả về mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”
Tóm lại, có thể hiểu một cách tổng quát: Chất lượng là cái làm nên phẩm
chất giá trị của một vật, sự vật, hiện tượng Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan
2.1.1.2 Đào tạo nghề
Đào tạo nghề là thuật ngữ mô tả một hoạt động giáo dục - đào tạo đặc thù gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau không thể tách dời nhau gồm: Dạy nghề và học nghề Trong nhiều trường hợp dạy nghề và ĐTN được đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn bản (Nguyễn Văn Đại, 2012)
Để có cách hiểu đầy đủ về ĐTN, chúng ta phân tích nội hàm của những thuật ngữ trong cụm từ này:
Theo Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004) quan niệm Nghề: “Là một tập hợp LĐ do sự phân công LĐ xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội”
Trong khi đó, thuật ngữ “Nghề” được xem xét như là một hoạt động, một dạng LĐ đặc thù của con người Nguyễn Văn Đại (2010) đã tổng hợp quan điểm của các nhà Khoa học Nga khi mô tả khái niệm nghề là một loại hoạt động LĐ đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn; ở Pháp lại cho rằng nghề là một loại LĐ có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người
để từ đó tìm được phương tiện sống (dẫn theo Nguyễn Văn Đại, 2012)
Tại Việt Nam, hoạt động ĐTN được thể chế hoá bằng luật, theo Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2006), “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề
để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2006)
Trang 26Từ những góc nhìn khác nhau, có thể hiểu: Đào tạo nghề là một quá trình
giáo dục-đào tạo diễn ra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc khóa học, tại đây người dạy truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giúp cho người học định hướng được thái độ, nhân cách theo hướng chuẩn mực; quá trình này diễn ra liên tục,
có sự biến đổi để phù hợp với đối tượng học tập và môi trường Song song với những hoạt động của người dạy, người học cùng tham gia vào quá trình học tập bằng cách đọc, nghe, quan sát, thực hành, thực tập để tích luỹ kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ nghề nghiệp tương xứng yêu cầu của vị trí công việc thuộc lĩnh vực, ngành nghề được đào tạo đang tồn tại trong xã hội ĐTN đề cao việc trang bị kỹ năng nghề nghiệp hơn là việc trang bị kiến thức hàn lâm
2.1.1.3 Chất lượng đào tạo nghề
Phát biểu khái niệm về chất lượng đào tạo, theo Trần Khánh Đức (2002) cho rằng: “Chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là con người LĐ có thể hiểu là kết quả “đầu ra” của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức LĐ hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo”
Đề cập cụ thể về khái niệm CLĐTN, Vũ Thị Phương Oanh (2008) cho rằng:
“Chất lượng ĐTN là kết quả tác động tích cực của tất cả các nhân tố cấu thành hệ thống ĐTN và quá trình đào tạo vận hành trong môi trường nhất định”
Theo Lettmayr and Nehls (2011), CLĐTN có thể được xem xét trên 2 phương diện, chất lượng kỹ thuật và chất lượng tương đối Chất lượng kỹ thuật được thể hiện qua các tiêu chuẩn, quy chế, quy tắc đã đặt ra Chất lượng tương đối đề cao việc thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của khách hàng
Hiện nay, hoạt động đào tạo nói chung và ĐTN nói riêng được coi là một hoạt động dịch vụ đặc biệt, tồn tại đồng thời 2 phía: cung dịch vụ và cầu dịch vụ
Do đó, cần phải xem xét vấn đề CLĐTN cả từ 2 phía, cung và cầu; đồng thời đặt mối quan hệ cung cầu này trong nền kinh tế thị trường
Theo cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Chất lượng ĐTN là mức độ hài lòng của
các bên tham gia vào hoạt động ĐTN về sản phẩm dịch vụ đào tạo được tạo ra; sự hài lòng này càng lớn, càng đồng thời giữa các bên càng lớn thì CLĐTN càng cao
và ngược lại Trong đó, các bên tham gia vào hoạt động ĐTN gồm: phía cung dịch
vụ là các CSDN, đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo, giáo viên và phía cầu dịch vụ là người học nghề, người sử dụng LĐ và các cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN Sản
Trang 27phẩm dịch vụ xét về phương diện kỹ thuật trong ĐTN là mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và xét về phương diện hiệu quả là cơ hội việc làm, mức thu nhập, khả năng thích ứng với công việc, sự thăng tiến trong nghề nghiệp, khả năng hành nghề độc lập của người học nghề sau khi tốt nghiệp
Trong phần lớn các đối tượng cụ thể thuộc phía cung và phía cầu đều chủ yếu quan tâm tới sản phẩm xét về phương diện kỹ thuật; người học nghề thuộc phía cầu dịch vụ chủ yếu quan tâm đến sản phẩm dịch vụ theo phương diện hiệu quả Riêng đối với cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN thì tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra đối với hoạt động ĐTN trong từng giai đoạn, có thể ưu tiên quan tâm đến sản phẩm dịch vụ theo phương diện hiệu quả hoặc đồng thời cả 2 phương diện
2.1.1.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Theo Hồ Đình Bảo và cs (2016): “Nông dân có xu hướng giảm tương đối
so với thu nhập của những người LĐ trong khu vực khác tương ứng với xu hướng khoảng cách năng suất giữa các khu vực tăng dần” Một trong những giải pháp khắc phục hiện tượng trên chính là trang bị cho LĐNT kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của TTLĐ để giúp LĐNT tiếp cận được với công việc mới có thu nhập cao hơn hoặc nâng cao hiệu quả SXKD trong lĩnh vực sản xuất truyền thống họ đã, đang và tiếp tục tham gia
Từ góc độ quản lý nhà nước, ĐTN cho LĐNT được coi là một biện pháp để đạt được những mục tiêu cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội; Thủ tướng Chính phủ (2009b) đưa ra quan điểm: “ĐTN cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”
Theo Nguyễn Văn Đại (2012): “ĐTN cho LĐNT là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người LĐNT có một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội nông thôn”
Mặc dù khái niệm trên đã nêu rất rõ về cách thức vận hành và sản phẩm tạo
ra từ hoạt động ĐTN cho LĐNT xét về phương diện kỹ thuật Tuy nhiên, chưa đề cập đến sản phẩm xét về phương diện hiệu quả của hoạt động ĐTN cho LĐNT
Do đó, khái niệm ĐTN cho LĐNT phải được hiểu như sau: là hoạt động
dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho
Trang 28LĐNT để người học nghề sau khi tốt nghiệp có thể hành nghề (tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm) nhằm giúp cho LĐNT cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống phù hợp với sự phát triển của xã hội
2.1.1.5 Chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nếu như sự khác biệt giữa khái niệm ĐTN và ĐTN cho LĐNT là sự cụ thể hóa đối tượng đào tạo; thì sự khác biệt giữa CLĐTN và CLĐTN cho LĐNT là sự
cụ thể hóa các yêu cầu Hiện chưa có một khái niệm “ghép” về CLĐTN cho LĐNT Tuy nhiên, từ những phân tích trên có thể hiểu: CLĐTN cho LĐNT chính
là sự phù hợp giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra mà các bên liên quan đến hoạt động ĐTN cho LĐNT hướng tới trong điều kiện nền kinh tế thị trường Các bên liên quan trong hoạt động đến hoạt động ĐTN cho LĐNT gồm: cán bộ quản
lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT, cán bộ quản lý đào tạo tại các CSDN tham gia hoạt động ĐTN cho LĐNT, đội ngũ giáo viên dạy nghề, LĐNT học nghề và người sử dụng LĐNT qua đã qua ĐTN
Việc có đạt được mục tiêu hay không thể hiện khả năng tập hợp kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp của người LĐNT sau quá trình học nghề Quá trình ĐTN cho LĐNT có chất lượng sẽ bảo đảm cho những LĐNT tích lũy và hình thành nên phẩm chất và năng lực mới để hoàn thành công việc hiện tại một cách tốt hơn hoặc thích ứng và làm được những công việc mới có hiệu quả
Do đó, CLĐTN cho LĐNT là sự tổng hòa những phẩm chất, năng lực được
tạo ra trong quá trình ĐTN và được thể hiện thông qua mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp mà LĐNT có được sau quá trình học nghề, nhằm giúp cho LĐNT qua ĐTN được TTLĐ thừa nhận, chấp nhận và phù hợp với các chuẩn mực mà Nhà nước, xã hội quy định
2.1.1.6 Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Có chung quan điểm với nhiều nhà nghiên cứu khi đề cập đến vấn đề nâng cao CLĐTN, Vũ Thị Phương Oanh (2008) cho rằng khi có các nhân tố đầu vào chất lượng, như: giáo viên giỏi, cán bộ quản lý giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi … thì CLĐTN được nâng cao Theo Khổng Hữu Lực và Phạm Vũ Quốc Bình (2016), nâng cao CLĐTN được giải quyết theo hướng đảm bảo chất lượng (ĐBCL), bởi: “ĐBCL là cơ sở cho hoạt động cải thiện chất lượng GD-ĐT, nhằm đánh giá và phục vụ cho mục đích nâng cao chất lượng”
Trang 29Tại Việt Nam, việc nâng cao CLĐTN được thực hiện thông qua hình thức kiểm định chất lượng CSDN (một công cụ theo hướng ĐBCL) Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng CSDN đang áp dụng đã xây dựng 9 bộ tiêu chí đánh giá các CSDN (gồm: mục tiêu và nhiệm vụ; công tác tổ chức và quản lý; hoạt động dạy và học tốt; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; chương trình, giáo trình; thư viện; CSVC, thiết bị, đồ dùng dạy học; quản lý tài chính; các dịch vụ cho người học nghề); tuỳ mức độ đạt chuẩn so với tiêu chí kiểm định, CSDN sẽ được đánh giá chưa đạt hoặc đạt chất lượng và đạt chất lượng ở cấp độ nào; có 3 cấp độ đạt chất lượng theo thứ tự từ thấp đến cao, đạt được cấp độ càng cao thì càng đảm bảo hoạt động ĐTN của CSDN đó cho chất lượng tốt hơn (Bộ LĐ-TB&XH, 2008a; 2008b; 2010a)
Thực chất, nâng cao CLĐTN cho LĐNT là quá trình tác động làm tăng kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp của người được ĐTN nhằm đáp ứng tốt nhất đòi hỏi, yêu cầu của người sử dụng LĐ trong từng thời kỳ nhất định; từ đó giúp cho người học nghề sau khi tốt nghiệp tăng cơ hội tìm kiếm được việc làm, có khả năng thích ứng tốt hơn với công việc, giúp LĐNT cải thiện được thu nhập hoặc thậm chí là có thu nhập cao, LĐNT học nghề có thể đạt được sự thăng tiến trong công việc với nghề đã học và nếu không muốn đi “làm thuê” thì LĐNT hoàn toàn có thể tự tổ chức SXKD thành công
Để nâng cao CLĐTN cho LĐNT, có thể thực hiện những tác động ở phạm
vi vĩ mô và phạm vi vi mô Cụ thể như sau:
- Tác động ở phạm vi vĩ mô:
Tác động ở phạm vi vĩ mô được hiểu là việc thực hiện những thay đổi, điều chỉnh theo chiều hướng tích cực đối với môi trường của hoạt động ĐTN cho LĐNT Mức độ ảnh hưởng của các tác động ở phạm vi vĩ mô không chỉ riêng đối với hoạt động ĐTN tại một CSDN hoặc một địa phương cụ thể mà có thể ảnh hưởng đến phạm vi toàn bộ hệ thống các CSDN của cả quốc gia Hạn chế của những tác động ở phạm vi vĩ mô thường chậm so với nhu cầu thay đổi và nhiều khi không có nhiều ảnh hưởng đối với một đối tượng cụ thể do mục tiêu đề ra tác động là giải quyết các vấn đề chung của cả hệ thống trong việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT Tác động ở phạm vi vĩ mô nhằm nâng cao CLĐTN cho LĐNT thường được thực hiện thông qua những điều chỉnh trong Luật Dạy nghề; những chủ trương, chính sách, chương trình, dự án mới về ĐTN cho LĐNT áp dụng trên
Trang 30phạm vi cả nước; các chính sách phát triển kinh tế - xã hội; các chủ trương, chính sách tác động đến vấn đề LĐ, việc làm, thu nhập
- Tác động ở phạm vi vi mô:
Tác động ở phạm vi vi mô được hiểu là việc thực hiện những thay đổi, điều chỉnh theo chiều hướng tích cực đối với hoạt động ĐTN cho LĐNT bên trong mỗi CSDN hoặc tại một địa phương cụ thể Khi gắn với một “địa chỉ” cụ thể, các tác động sẽ sát với đòi hỏi thực tế hơn và hiệu quả tác động cũng nhanh hơn do phạm vi điều chỉnh hẹp hơn Để nâng cao CLĐTN cho LĐNT, các tác động ở phạm vi vi mô sẽ tập trung vào phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến CLĐTN cho LĐNT và có những điều chỉnh phù hợp Như điều chỉnh về cơ chế tổ chức quản lý của CSDN; chương trình đào tạo; đội ngũ giáo viên; CSVC, trang thiết bị phục vụ đào tạo; công tác tổ chức đào tạo…
Như vậy, để nâng cao CLĐTN cho LĐNT có thể tác động ở phạm vi vĩ mô hay phạm vi vi mô hoặc đồng thời Tuy nhiên, khi giới hạn việc nghiên cứu nâng cao CLĐTN cho LĐNT tại một địa phương cụ thể cần đặc biệt quan tâm đến những tác động ở phạm vi vi mô; bởi ngoài hiệu quả tức thời hơn, hướng giải quyết gần sát với nhu cầu thay đổi hơn còn có một ý nghĩa khác là tính chủ động trong việc thay đổi, điều chỉnh cao hơn
* Nguyên tắc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Khi coi hoạt động ĐTN cho LĐNT là hoạt động dịch vụ, sẽ tồn tại 2 phía: cung dịch vụ và cầu dịch vụ Được coi là các bên liên quan đối với hoạt động dịch vụ đào tạo này, cả phía cung dịch vụ và phía cầu dịch vụ đều có mục tiêu hướng tới Do đó, việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT cũng sẽ phụ thuộc vào kết quả nâng cao để đạt được mục tiêu từ phía cung hay phía cầu Để thống nhất chung cùng một cách tiếp cận về việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT, quá trình nâng cao CLĐNT cho LĐNT cần phải tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định Nguyên tắc này phải đảm bảo tính khả thi và mang lại hiệu quả thiết thực trong quá trình thực hiện, trong đó các CSDN đóng vai trò là chủ thể của quá trình triển khai hoạt động nâng cao Trên cơ sở cách thức vận hành của nhiều mô hình quản
lý chất lượng hiện đại (Phó Đức Trù và Phạm Hồng, 2002), nguyên tắc trong việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT được thể hiện thông qua một số nội dung sau:
Thứ nhất: Phải xác định CLĐTN cho LĐNT là hoạt động định hướng sự
phát triển kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu của người học, các tổ chức sử dụng LĐ và các bên liên quan
Trang 31Thứ hai: CLĐTN cho LĐNT không có điểm bắt đầu và không có điểm kết
thúc Nghĩa là sự nỗ lực của các bên liên quan tới hoạt động ĐTN cho LĐNT để đạt được một mức chất lượng nhất định sẽ không đạt được mức độ chất lượng đó trong tương lai nếu không còn sự nỗ lực như trước
Thứ ba: Nâng cao CLĐTN cho LĐNT là nhiệm vụ của tất cả các bên liên
quan; nó đòi hỏi sự nỗ lực của cả phía cung và phía cầu Trong đó, các CSDN phải chủ động trong hoạt động nâng cao CLĐTN và phải coi việc nâng cao CLĐTN cho LĐN là nhiệm vụ của mọi thành viên trong đơn vị
Thứ tư: Nâng cao CLĐTN cho LĐNT được thể hiện thông qua một hệ
thống quản lý công khai và minh bạch Nghĩa là quá trình tổ chức hoạt động nâng cao CLĐTN cho LĐNT cần phải xây dựng được một chương trình thực hiện hoàn chỉnh, phải làm cho các thành viên hiểu được quá trình triển khai và kết quả của quá trình thực hiện
Thứ năm: Kết quả của chương trình nâng cao CLĐTN cho LĐNT phải
được đo lường và đánh giá qua từng thời kỳ Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, bởi kết quả của việc đo lường, đánh giá sẽ phải ánh hiệu quả của mỗi chương trình nâng cao CLĐTN cho LĐNT đã được thiết lập và đưa vào triển khai thực hiện
Thứ sáu: Cải tiến liên tục là nền tảng của chương trình nâng cao CLĐTN
cho LĐNT Trong điều kiện môi trường thay đổi không ngừng, việc không ngừng cải biến cả mục tiêu, nội dung và cách thức thực hiện sẽ giúp cho hoạt động nâng cao CLĐTN cho LĐNT mang lại hiệu quả cao hơn
* Quản lý chất lượng trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Theo Vũ Quốc Bình (2003) cho rằng: “Quản lý chất lượng là tổng thể các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của một tổ chức hay một doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất về chất lượng với chi phí thấp nhất”
Ngoài ra, theo Phó Đức Trù và Phạm Hồng (2002) còn cho rằng quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng
Khi nghiên cứu về quản lý chất lượng, Nguyễn Đình Phan (2002) đưa ra một số thuật ngữ và tối ưu hoá mối quan hệ giữa chúng, các mối quan hệ này được thể hiện trong mô hình sau:
Trang 32QLCL: Quản lý chất lượng KSCL: Kiểm soát chất lượng
Hình 2.1 Mô hình hoá khái niệm quản lý chất lượng
Nguồn: Nguyễn Đình Phan (2002)
Áp dụng mô hình quản lý chất lượng trên vào hoạt động ĐTN cho LĐNT, các thuật ngữ trên sẽ được hiểu như sau:
+ Chính sách chất lượng: Toàn bộ ý đồ và định hướng về chất lượng do lãnh đạo cao nhất của các CSDN chính thức công bố
+ Hoạch định chất lượng: Các hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu và yêu cầu đối với CLĐTN và để thực hiện các nhân tố của hệ thống chất lượng
+ Kiểm soát chất lượng: Các kỹ thuật và các hoạt động tác nghiệp được sử dụng để thực hiện các yêu cầu CLĐTN
+ Đảm bảo chất lượng: Mọi hoạt động có kế hoạch và có hệ thống chất lượng được khẳng định để đem lại lòng tin thoả mãn các yêu cầu đối với CLĐTN
+ Hệ thống chất lượng: Bao gồm cơ cấu tổ chức, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện công tác quản lý CLĐTN
Như vậy, quản lý CLĐTN cho LĐNT là quá trình có tổ chức nhằm đảm bảo cho người học sau khi kết thúc khóa học có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp như đã đề ra trong mục tiêu đào tạo của nghề mà LĐNT đó dự học Đồng thời những kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp mà người học nghề tiếp thu được trong quá trình học tập sẽ đáp ứng được nhu cầu công việc khi tốt nghiệp và
đi làm Điều này khẳng định rằng trình độ kiến thức và kỹ năng nghề của người
Trang 33học không phải là bất biến mà là nhân tố rất linh động bởi cần phải không ngừng nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội
Từ việc phân tích trên cho thấy việc quản lý chất lượng là hoạt động tác động vào toàn bộ các nhân tố liên quan đến quá trình ĐTN như: giáo viên, chương trình đào tạo, người học, cơ sở vật chất để không ngừng nâng cao chất lượng Việc tác động phải được diễn ra liên tục, và có sự biến đổi, điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của môi trường (trình độ khoa học công nghệ
và sự phát triển của xã hội)
2.1.2 Ý nghĩa của nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thứ nhất: Đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trên TTLĐ trong bối cảnh mở cửa
hội nhập
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, việc tích cực mở cửa hội nhập khu vực và quốc tế đã mở ra những cơ hội lớn trong phát triển kinh tế; nhưng cũng đặt ra những thách thức mới do những hạn chế về nguồn nhân lực Theo Mạc Văn Tiến (2010): “Chất lượng nguồn nhân lực sẽ là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia” Theo Ngô Tuấn Anh và Đỗ Đức Trung (2014), những hiệp định thương mại tự do kiểu mới như TPP có tiêu chuẩn cao với phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm hầu hết tất cả các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, kể cả những cam kết về LĐ; bên cạnh
đó, theo Nguyễn Vĩnh Thanh (2014) và Hà Văn Hội (2014) thì việc hình thành AEC sẽ thúc đẩy dòng chu chuyển tự do LĐ có tay nghề trong ASEAN Do đó, Bùi Thị Minh Tiệp (2015) cho rằng: “LĐ các nước có thể đến Việt Nam làm việc
và ngược lại” Giải pháp mà Đinh Trung Thành (2016) đưa ra là cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Vì vậy, việc mở rộng ĐTN cho LĐNT là hết sức cần thiết; song phải tìm ra được những giải pháp hiệu quả để vừa mở rộng về quy mô, vừa nâng cao CLĐTN cho LĐNT nhằm giúp cho LĐNT qua ĐTN đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng LĐ; tự tin cạnh tranh trên TTLĐ trong và ngoài nước để tìm kiếm
cơ hội việc làm, tăng thu nhập khi đất nước mở cửa hội nhập
Thứ hai: Đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội
Theo Lewis (1954), mô hình 2 khu vực đã chỉ ra rằng công nghiệp tăng trưởng trên cơ sở sử dụng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp Với mục
Trang 34tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2010); đòi hỏi cần phải chuyển dịch một LLLĐ lớn đang hoạt động trong khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp - dịch vụ
Để đảm bảo hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu LĐ, Trần Khánh Hưng (2013) cho rằng cần phải xác định được nhu cầu về nguồn nhân lực, xây dựng kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực và tăng cường công tác định hướng nghề nghiệp, phân luồng LĐ Thực tế, hướng thực hiện giải pháp trên cũng đã được triển khai khi Thủ tướng Chính phủ (2012a) đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm
2020 dạy nghề đáp ứng được nhu cầu TTLĐ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo Riêng với khu vực nông thôn, mỗi năm phấn đấu tổ chức ĐTN cho 1 triệu LĐNT đến năm 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2009b) Với những chủ trương, chính sách trên; việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT
sẽ rất có ý nghĩa khi giúp tạo ra một LLLĐ qua đào tạo chất lượng, có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ quá trình triển khai các mục tiêu đã đề ra trong phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba: Tăng khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh
doanh trong nông nghiệp
Với sự phát triển như “vũ bão” của khoa học công nghệ, những thành tựu khoa học công nghệ mới được áp dụng vào mọi lĩnh vực sản xuất, trong đó có sản xuất nông nghiệp Nếu chúng ta mạnh dạn áp dụng và làm chủ được công nghệ khi áp dụng vào SXKD nông nghiệp sẽ giúp giải phóng đáng kể sức người, sức vật và nâng cao hiệu quả SXKD trong sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Đình Thắng (2006), việc bồi dưỡng kiến thức cho người LĐ nông nghiệp là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất
Chính vì vậy, ĐTN cho LĐNT phải song hành với việc không ngừng nâng cao CLĐTN để LĐNT qua ĐTN có thể làm chủ được công nghệ, mạnh dạn áp dụng khoa học vào trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong SXKD nông nghiệp
Thứ tư: Đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu LĐ khu vực nông thôn
Theo De Sherbinin et al (2007), di cư của con người là một chiến lược cho
sự tồn tại ở nhiều quốc gia đang phát triển; theo UNDP (2009), có khoảng 214
Trang 35triệu người di cư quốc tế trên toàn thế giới, trong khi đó người di cư nội địa cao gấp 4 lần (dẫn theo Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu, 2015) Thực tế cho thấy, di cư nội địa tại các nước đang phát triển như Việt Nam ngày càng nhanh
và có quy mô ngày càng lớn khi LLLĐ nông thôn “ào ạt” tiến vào khu vực thành thị Nguyên nhân là do tốc độ đô thị hoá mạnh làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp và tốc độ tăng dân số khu vực nông thôn cao dẫn đến dư thừa LĐ khu vực nông thôn; ngoài ra, sự chênh lệch về mức sống, mức thu nhập giữa thành thị và nông thôn cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng thu hút LĐNT di chuyển ra khu vực thành thị
Do đó, cần phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu LĐ khu vực nông thôn thông qua việc phát triển thêm các hình thức sản xuất phi nông nghiệp, đặc biệt
là sản xuất công nghiệp tại khu vực nông thôn để thu hút LĐ dôi dư, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn Mở rộng quy mô ĐTN cho LĐNT gắn với việc không ngừng nâng cao CLĐTN trở thành một nhu cầu cấp thiết; bởi sẽ giúp LĐNT thích ứng được với những lĩnh vực LĐ sản xuất họ mới tiếp cận
Thứ năm: Thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình
Theo Kenichi Ohno (2009) thì bẫy thu nhập trung bình được hiểu là tình huống một quốc gia bị mắc kẹt tại mức thu nhập được quyết định bởi nguồn lực nhất định và lợi thế ban đầu và không thể vượt quá mức thu nhập đó Một trong những giải pháp cho những nước đang phát triển, LĐNT chiếm tỷ trọng lớn trong LLLĐ như Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình là cần phải trang bị cho nguồn nhân lực kỹ năng, kiến thức và năng lực tổ chức cao hơn (Kenichi Ohno
và Lê Hà Thanh, 2015) Do đó, việc đào tạo kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cho người LĐ nói chung và LĐNT nói riêng là một trong những đòi hỏi cấp thiết Trong khi đó, yêu cầu của TTLĐ đối với người LĐ ngày càng cao; nên việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT không chỉ giúp trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cho LĐNT một cách thực chất mà còn giúp LLLĐ này khi tham gia vào TTLĐ đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của nhà tuyển dụng
Thứ sáu: Tăng cường sự ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng và góp phần
phát triển giáo - đào tạo, nâng cao dân trí
Đối với những quốc gia có số lượng LĐNT chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu
LĐ như Việt Nam, việc tổ chức ĐTN cho LĐNT có chất lượng mang ý nghĩa rất quan trọng Luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng giữa nâng cao CLĐTN cho
Trang 36LĐNT với ổn định xã hội, nâng cao dân trí; những tác động làm thay đổi đến hiện trạng LĐNT sẽ tác động đến cả xã hội Mối quan hệ tương tác này được chúng tôi xây dựng thành sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng đào tạo
và ổn định xã hội
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Theo mối quan hệ này, nếu CLĐTN cho LĐNT tốt sẽ giúp cho LĐNT có
đủ năng lực để hành nghề, cải thiện thu nhập; bên cạnh đó, LĐNT qua ĐTN cũng được nâng cao hiểu biết, có nhận thức đầy đủ trách nhiệm với bản thân và xã hội… từ đó tạo ra sự ổn định về mặt chính trị, an ninh, quốc phòng cho đất nước
2.1.3 Đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1.3.1 Đối tượng đào tạo nghề
Đặc điểm của đối tượng đào tạo sẽ có tác động nhất định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo Qua nghiên cứu, có thể tổng hợp một số đặc điểm đối tượng ĐTN cho LĐNT như sau:
* Những đặc điểm mang tính ưu điểm
- Chịu khó, cần cù LĐ Đây là một đặc điểm rất tích cực của LLLĐNT Chính sự chịu khó, cần cù LĐ đã giúp họ giảm thiểu rủi ro khi tham gia vào hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn, thông thường gắn liền hoặc rất gần với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Có nhiều kinh nghiệm thực tế trong LĐ sản xuất Thông thường, LĐNT gắn bó, tiếp cận với nghề từ nhỏ, có sự kế thừa theo họ tộc, huyết thống nên được thừa hưởng những kinh nghiệm trong LĐ sản xuất từ những thế hệ trước truyền lại
- Ham học hỏi Do luôn tồn tại một khoảng cách nhất định giữa thành thị và nông thôn về mọi mặt Theo bản năng con người ta luôn có mong muốn vươn lên
LĐ có việc làm-Tạo thu nhập
Ổn định CT,
AN, QP
Trang 37và đó là động lực làm cho LĐNT mong muốn có thêm kiến thức để tiến gần đến mức sống, trình độ của khu vực thành thị
2.1.3.2 Tính đa dạng của ngành nghề đào tạo
Ngoài 164 nghề đã được các cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN, hiện trong dân còn hàng trăm nghề khác chưa được đưa chính thức vào hệ thống chương trình ĐTN; số nghề này giúp cho người học để có nghề có thể tìm cho mình cơ hội mưu sinh Tuy nhiên, đối với hoạt động ĐTN cho LĐNT có thể chia làm 2 nhóm nghề chính: nhóm nghề nông nghiệp và nghề phi nông nghiệp
- Với nhóm nghề nông nghiệp, có nhiều thuận lợi trong việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT bởi đối tượng được đào tạo đã có nhiều kinh nghiệm thực tế qua LĐ sản xuất
- Với nhóm nghề phi nông nghiệp, việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT sẽ gặp nhiều khó khăn do còn nhiều nghề mới mẻ với người được đào tạo; trong khi khả năng tiếp cận kiến thức mới, sự bảo thủ, ngại thay đổi là một trong những đặc điểm mang tính bản chất của đối tượng đào tạo
2.1.3.3 Sự khác biệt về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Trong quá trình ĐTN cho LĐNT, ngoài đào tạo những nghề nông nghiệp còn đào tạo cả nhóm nghề phi nông nghiệp Chính điều kiện sẵn có tại địa phương là tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT khi triển khai những nhóm nghề nông nghiệp như các phần dạy thực hành, trải nghiệm thực tế
để nâng cao kỹ năng nghề
Nhưng đối với việc triển khai đào tạo những nghề phi nông nghiệp sẽ gặp
Trang 38rất khó khăn do thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà xưởng, máy móc Trong khi các cơ sở ĐTN lớn tập trung chủ yếu tại thành thị thì các cơ sở dạy nghề tuyến huyện, xã lại không đủ cơ sở vật chất cần thiết Do dó, để nâng cao CLĐTN đối với nhóm nghề phi nông nghiệp mà quá trình ĐTN đòi hỏi phải
có cơ sở vật chất đặc thù cần quan tâm đến việc lựa chọn nghề đào tạo phù hợp với cơ sở vật chất hoặc linh hoạt trong phương thức tổ chức ĐTN (kết hợp ĐTN tại địa phương và thực tập, kiến tập tại các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp có đủ cơ
sở vật chất cần thiết)
2.1.4 Nội dung nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1.4.1 Xác định nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012), xác định nhu cầu đào tạo là xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại LĐ nào và bao nhiêu người Trong khi đó, theo Trần Kim Dung (2013) thì một trong những yêu cầu để xác định chính xác nhu cầu đào tạo là cần nghiên cứu điểm mạnh, điểm yếu của người LĐ
Đối với ĐTN cho LĐNT, nhu cầu ĐTN là những đòi hỏi của TTLĐ về số lượng LĐ, nghề đào tạo, trình độ đào tạo, mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ của LĐNT qua ĐTN theo từng trình độ… và khả năng đáp ứng những đòi hỏi trên sẽ phản ánh mức độ CLĐTN cho LĐNT Do đó, nội dung xác định nhu cầu đào tạo đóng vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu nâng cao CLĐTN cho LĐNT
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường với sự vận hành của các quy luật khách quan sẽ tạo ra sự mở rộng TTLĐ cho LĐNT, hiện tượng di chuyển LĐNT giữa các địa phương và thậm chí ra TTLĐ nước ngoài là tất yếu Do đó, khi nghiên cứu CLĐTN cho LĐNT, ngoài việc phân tích nhu cầu ĐTN đáp ứng TTLĐ tại địa phương, còn cần phải phân tích nhu cầu ĐTN đáp ứng cho việc di chuyển LĐ giữa các tỉnh và xuất khẩu LĐ
2.1.4.2 Các hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Như đã thống nhất ở trên, “Nâng cao CLĐTN cho LĐNT là quá trình tác động làm tăng kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp của người được ĐTN nhằm đáp ứng tốt nhất đòi hỏi, yêu cầu của người sử dụng LĐ trong từng thời kỳ nhất định ” Các tác động có thể ở phạm vi vĩ mô như thay đổi các chủ trương, chính sách, luật pháp của Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước trung ương về ĐTN nhằm tạo môi trường cho hoạt động ĐTN phát triển theo định
Trang 39hướng chất lượng; hoặc cũng có thể tác động ở phạm vi vi mô, hay có thể coi là tác động trực tiếp vào những yếu tố bên trong quá trình đào tạo tại từng CSDN để cải biến chất lượng đào tạo
Tiếp cận theo hướng thứ hai, Tổ chức Lao động quốc tế đã xác định có 9 nhóm tiêu chí với 100 tiêu chí cụ thể mà các CSDN cần phải cải thiện không ngừng trong quá trình ĐTN để đảm bảo chất lượng đào tạo, 9 nhóm tiêu chí chính gồm: tôn chỉ mục đích; tổ chức quản lý; chương trình đào tạo; cán bộ quản
lý và giáo viên; thư viện và học liệu; tài chính; khuôn viên và cơ sở hạ tầng; xưởng thực hành, thiết bị đầu tư; dịch vụ học sinh (dẫn theo Nguyễn Đình Trường, 2009) Các cơ quan quản lý Nhà nước về ĐTN tại Việt Nam cũng cho rằng việc nâng cao CLĐTN nói chung và CLĐTN cho LĐNT nói riêng sẽ đạt được khi các điều kiện như: mục tiêu và nhiệm vụ; công tác tổ chức và quản lý; hoạt động dạy và học tốt; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; chương trình, giáo trình; thư viện; CSVC, thiết bị, đồ dùng dạy học; quản lý tài chính; các dịch vụ cho người học nghề được đáp ứng mức tốt nhất (Bộ LĐ-TB&XH, 2008a; 2008b; 2010a)
Thực tiễn triển khai ĐTN cho LĐNT tại Việt Nam thời gian qua cho thấy còn nhiều tồn tại, bất cập; đặc biệt là CLĐTN còn rất hạn chế chưa đáp ứng được TTLĐ, ngoài ra “CLĐTN cho LĐNT chưa đồng đều trên phạm vi cả nước” và nguyên nhân của những tồn tại được cho là “danh mục ĐTN cho LĐNT tại một
số địa phương vẫn còn dàn trải; việc đầu tư CSVC và trang thiết bị dạy nghề còn dàn trải, thiếu đồng bộ; một số địa phương chưa phê duyệt định mức chi phí đào tạo cho từng nghề; có nhiều chính sách liên quan nhưng chưa tổ chức thống nhất nên có sự phân tán nguồn lực” (Bộ LĐ-TB&XH, 2016)
Như vậy, xét cả về mặt lý luận và thực tiễn thì hoạt động nâng cao CLĐTN cho LĐNT tại mỗi địa phương ngoài việc chờ sự thay đổi tích cực từ các chủ trương, chính sách của Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước cấp trung ương về ĐTN; địa phương cần tích cực, chủ động triển khai các hoạt động nhằm tác động theo hướng tích cực đến các điều kiện, tiền đề cơ bản để nâng cao chất lượng như: i) cơ chế tổ chức quản lý đào tạo; ii) nhân lực phục vụ đào tạo; iii) chương trình đào tạo, giáo trình và tài liệu học tập; iv) cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ dạy và học; v) dịch vụ cho người học; vi) nguồn tài chính và quản lý tài chính
Trang 402.1.4.3 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Kết quả thu được từ việc tổ chức hoạt động ĐTN cho LĐNT có thể được phản ánh trên nhiều góc độ: như số lượng LĐNT được đào tạo; chất lượng đào tạo; những tác động của việc trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho LĐNT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn; giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập cho nông dân; hoặc các mục tiêu về an sinh xã hội khác…
Tuy nhiên, đối với việc tổ chức hoạt động ĐTN cho LĐNT có kèm theo các chính sách hỗ trợ của nhà nước, thì việc phản ánh kết quả ĐTN cho LĐNT phải dựa trên cơ sở các mục tiêu đề ra khi áp dụng các chính sách hỗ trợ để tổ chức ĐTN cho LĐNT Theo Thủ tướng Chính phủ (2009b), những mục tiêu chính hướng tới khi triển khai tổ chức ĐTN cho LĐNT gồm một số chỉ tiêu như: tăng
tỷ lệ LĐNT qua đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển CNH, HĐH; cải thiện cơ hội việc làm, thu nhập cho LĐNT và đặc biệt là việc hỗ trợ LĐNT thuộc các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người gặp hoàn cảnh khó khăn khu vực nông thôn… có khả năng tiếp cận với cơ hội học tập, trang bị kiến thức nghề nghiệp để thay đổi cuộc sống
2.1.4.4 Đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT là một khái niệm khá trừu tượng, có thể nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau Do đó, để phản ánh một cách chính xác thực trạng CLĐTN cho LĐNT, cần phải đánh giá một cách đa chiều Các đối tượng tham gia đánh giá bao gồm: cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN, CSDN, đội ngũ GV, người học nghề, người LĐ và người sử dụng LĐ Trong đó: i) Cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN đánh giá thông qua mức độ đạt các yêu cầu trong công tác kiểm định chất lượng của các CSDN, kết quả đánh giá này sẽ phản ánh CSDN khi tham gia hoạt động ĐTN cho LĐNT có đạt chất lượng hay không và đạt mức nào ii) CSDN tự đánh giá về CLĐTN của đơn vị mình thông qua mức
độ đảm bảo các điều kiện cần thiết phục vụ cho hoạt động đào tạo, với mỗi mức điều kiện đảm bảo khác nhau sẽ phản ánh mức CLĐTN mà đơn vị đó đạt được khi tham gia vào hoạt động ĐTN cho LĐNT iii) Đội ngũ giáo viên đánh giá CLĐTN cho LĐNT qua mức độ về kiến thức, kỹ năng, thái độ của LĐNT có được sau quá trình ĐTN iv) Người học nghề (LĐNT đang học nghề và LĐNT qua ĐTN đang đi làm) đánh giá CLĐTN cho LĐNT thông qua các tiêu chí: cơ