1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng

74 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 246,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HDI: Chỉ số phát triển con ngườiIUCN: Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiênKT-XH: Kinh tế-Xã hội LHQ: Liên Hiệp Quốc PTBV: Phát triển bền vững TT Lâm: Thị trấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA MÔI TRƯỜNG

Vũ Thị Hồng Nhung

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VỀ KHÍA CẠNH SINH THÁI TẠI THỊ TRẤN LÂM, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỘNG

ĐỒNG (CSA)

Khóa luận tốt nghiệp hệ đại học chính quy

Ngành: Khoa học môi trường (Chương trình đào tạo chuẩn)

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA MÔI TRƯỜNG

Vũ Thị Hồng Nhung

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG VỀ KHÍA CẠNH SINH THÁI TẠI THỊ TRẤN LÂM, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỘNG

ĐỒNG (CSA)

Khóa luận tốt nghiệp hệ đại học chính quy

Ngành: Khoa học môi trường (Chương trình đào tạo chuẩn)

Cán bộ hướng dẫn: Th.S Phạm Thị Thu Hà

Hà Nội - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Th.S Phạm Thị Thu

Hà – Giảng viên Bộ môn Sinh thái Môi trường, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoahọc Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Cô đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quátrình tìm hiểu và thực hiện khóa luận cũng như giúp đỡ rất nhiều về tài liệu và phươngpháp nghiên cứu

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Môi trường, đặcbiệt tới các thầy cô trong bộ môn Sinh thái Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tựnhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã dẫn dắt, truyền thụ cho em những kiến thức và kinhnghiệm quý báu trong quá trình học tập tại trường

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bà con nhân dân vùng thị trấnLâm, huyện Ý Yên, Tỉnh Nam Định, các anh chị trong Phòng Tài nguyên và Môi trườnghuyện Ý Yên đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa Em cũngxin cảm ơn các cô chú trong Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững đãnhiệt tình cung cấp tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu để em có thể hoàn thành khóaluận này

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên vàgiúp đỡ em trong suốt thời gian qua, đặc biệt trong quá trình làm khóa luận

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Sinh viên

Vũ Thị Hồng Nhung

Trang 4

HDI: Chỉ số phát triển con người

IUCN: Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiênKT-XH: Kinh tế-Xã hội

LHQ: Liên Hiệp Quốc

PTBV: Phát triển bền vững

TT Lâm: Thị trấn Lâm

UNEP: Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng1: Các yếu tố để đánh giá độ bền vững theo phương pháp BS

Bảng 2 Các chỉ thị đơn và tỷ trọng theo LSI

Bảng 3 Bộ chỉ thị đánh giá mức độ bền vững của cộng đồng theo CSA

Bảng 4: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm các chỉ thị về

ý nghĩa của địa điểm-I1.1

Bảng 5: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về nguồn lương thực, sản xuất

và phân bố thực phẩm-I1.2

Bảng 6: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về cơ sở hạ tầng, xây dựng và giao thông vận tải, vật liệu sinh thái, phương pháp và thiết kế-I1.3

Bảng 7: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về các kiểu tiêu thụ tài nguyên

& Quản lý chất thải rắn-I1.4

Bảng 8: Điểm số các chỉ thị thành phần của nhóm chỉ thị về nguồn nước, chất lượng và

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1 Mức đánh giá độ bền vững của phương pháp BS

Hình 2 Mô hình chiếc ghế 3 chân mô phỏng sự bền vững của cộng đồng theo CSAHình 3: Biểu đồ thể hiện điểm số của các nhóm chỉ thị so với thang đánh giá của CSA

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững

1.1.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững

1.2 Vấn đề phát triển bền vững trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Một số nghiên cứu về PTBV nông nghiệp, nông thôn trên thế giới và Việt Nam1.2.2 Phát triển bền vững ở Việt Nam

1.2.2.1 Các chính sách nhằm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

1.2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

1.3 Một số phương pháp đánh giá mức độ bền vững cộng đồng

1.3.1 Thước đo độ bền vững BS (Barometer of Sustainability)

1.3.2 Đánh giá phát triển cộng đồng bằng bằng chỉ số bền vững địa phương – LSI (Local Sustainability Index)

1.3.3Phương pháp đánh giá mức độ bền vững cộng đồng - CSA (Community

Sustainability Assessment)

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 8

1.4.2.2 Văn hóa – xã hội

1.4.3 Hiện trạng môi trường vùng TT Lâm, Ý Yên, Nam Định

CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

2.2.3 Phương pháp CSA

CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái của vùng TT Lâm, Ý Yên, NamĐịnh

3.2.1 Nhóm chỉ thị về ý nghĩa của địa điểm (vị trí, quy mô, mức độ khôi phục và bảo tồn

tự nhiên) – I1.1

3.2.2 Nhóm chỉ thị về nguồn lương thực, sản xuất và phân bố thực phẩm-I1.2

3.2.3 Nhóm chỉ thị về cơ sở hạ tầng, xây dựng và giao thông vận tải, vật liệu sinh thái,phương pháp và thiết kế-I1.3

3.2.4 Nhóm chỉ thị về các kiểu tiêu thụ tài nguyên & Quản lý chất thải rắn-I1.4

3.2.5 Nhóm chỉ thị về nguồn nước, chất lượng và sử dụng nước-I1.5

3.2.6 Nhóm chỉ thị về nước thải và quản lý ô nhiễm nước-I1.6

3.2.7 Nhóm chỉ thị về nguồn năng lượng và việc sử dụng năng lượng-I1.7

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết

Theo quy luật của sự phát triển nhân loại thì dân số phát triển dẫn đến nhu cầu vềvật chất gia tăng làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Con người phải đươngđầu với những khó khăn ngày càng lớn đặc biệt là hiện tượng nóng lên của trái đất và sựdâng cao của mực nước biển Loài người đã từng có quan niệm rằng sự tăng trưởng vềkinh tế là thước đo cơ bản cho sự phát triển Những năm gần đây, con người mới nhậnthức được rằng tăng trưởng kinh tế không phản ánh được một cách toàn diện mục tiêuphát triển của con người Do vậy, con người cần phải cải thiện mối quan hệ với thiênnhiên theo hướng sống gần gũi và hoà hợp với thiên nhiên, thân thiện với môi trường Tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (năm1992) đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững (PTBV), coi đó là trách nhiệmchung của toàn nhân loại Mười năm sau, tại Hội nghị thượng đỉnh về PTBV năm 2002tại Johanesburg (Nam Phi) đã công bố kế hoạch thực hiện PTBV toàn cầu.[11]

PTBV đã trở thành xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực hướng tới Đó cũng

là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết tâmthực hiện Tuy nhiên, PTBV cấp quốc gia phải được thực hiện dựa trên nền tảng là PTBV

ở quy mô địa phương Có nhiều phương pháp được tìm ra để đánh giá việc thực hiện cácmục tiêu hướng đến PTBV, trong đó phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng-CSA có khả năng áp dụng rộng rãi và có tính linh hoạt cao, có thể áp dụng đánh giá cơbản mức bền vững cho bất cứ cộng đồng nào [10,12]

Thị trấn Lâm (TT Lâm), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xuất phát từ một làng quênông nghiệp với nghề đúc đồng truyền thống nổi tiếng Cùng với sự phát triển kinh tế xãhội của vùng và cả nước, thị trấn đang ngày càng đi lên với những tiềm năng và lợi thếsẵn có của mình, tập trung các giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cáchình thức tổ chức sản xuất hợp lý, đẩy mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp, dịch vụ Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp,công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏđến môi trường sinh thái của vùng Vì vậy việc đánh giá mức độ bền vững của thị trấn vềkhía cạnh sinh thái là điều cần thiết để có chiến lược phát triển lâu dài theo định hướngchung của cả nước

Trang 10

Với những xuất phát điểm trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá mức độ bềnvững về khía cạnh sinh thái tại thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định bằng phươngpháp đánh giá tính bền vững cộng đồng - CSA”

2.Mục tiêu nghiên cứu

Khóa luận tập trung vào 2 nhiệm vụ chính sau:

- Nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái của thị trấn Lâm,huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái chokhu vực nghiên cứu

3.Nội dung nghiên cứu

- Thu thập tài liệu, số liệu trong và ngoài nước liên quan tới nội dung nghiên cứu vàtổng quan tài liệu

- Điều tra, khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu để bổ sung số liệu cho nội dungnghiên cứu

- Sử dụng phương pháp CSA để tính toán và đánh giá mức độ bền vững về khía cạnhsinh thái của khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái cho khuvực nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2 Tổng quan về phát triển bền vững

1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Quan niệm về PTBV được hình thành qua một khoảng thời gian tương đối dài và

có nhiều thay đổi Trong những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, các nước công nghiệp thìchú trọng vấn đề tăng trưởng kinh tế được thể hiện chủ yếu qua các chỉ tiêu có thể đođếm được như GDP, GNP còn các vấn đề môi trường được xếp vào hàng thứ yếu Quanniệm này cũng được coi là kim chỉ nam tại các nước công nghiệp mới và các nước đangphát triển trước khi các nước này bắt đầu bước vào công nghiệp hóa nhằm mục đích đuổikịp các nước phát triển Sau một thời gian, với các quan niệm sai lầm như trên, các hậuquả về mặt xã hội và môi trường bắt đầu xuất hiện.[1]

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khi môi trường bị hủy hoại với mức độngày càng nghiêm trọng và có nhiều dấu hiệu cho thấy sự xuống cấp của môi trường gây

ra những trở ngại cho quá trình tăng trưởng kinh tế, Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn Thiênnhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) đã đưa ra “Chiến lược bảo tồn thế giới” Trong

đó thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển củanhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhucầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Trong chiến lượcnày lần đầu tiên nội dung PTBV được đề cập chính thức nhưng mới chỉ hiểu PTBV vớinội dung hạn hẹp là PTBV về mặt sinh thái[2] Tiếp đó, Chương trình Môi trường củaLiên Hiệp Quốc (UNEP) đã đưa ra khái niệm PTBV toàn diện hơn với nội dung gồm 5điểm sau:

- Giúp đỡ những người nghèo vì chính những người này không có sự lựa chọn nàokhác ngoài việc phá hủy môi trường để kiếm sống

- Chứa đựng ý tưởng về phát triển tự lực trong khuôn khổ những ràng buộc về tàinguyên thiên nhiên

- Chứa đựng ý tưởng về phát triển có hiệu quả so với chi phí nhờ sử dụng các chuẩn

cứ về phát triển truyền thống

- Đề cập những vấn đề lớn về theo dõi sức khỏe, sử dụng công nghệ thích hợp, tựlực lương thực, nước sạch, nhà ở cho mọi người

Trang 12

- Chứa đựng quan điểm về sự cần thiết của những đề xuất định hướng vào nhân dân Nội dung PTBV theo cách tiếp cận của UNEP rộng hơn so với nội dung PTBVtheo cách tiếp cận của IUCN Nó không chỉ dừng lại ở sự PTBV về sinh thái mà còn đềcập đến cả PTBV về kinh tế và PTBV về xã hội [1]

Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế về Môitrường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về PTBV là :

“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại màkhông làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Như vậy, việclàm thỏa mãn các nhu cầu và ước vọng của con người là mục tiêu chính của sự phát triển.Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc đáp ứng nhu cầu của những thế hệ khác nhau, bất cứmột xã hội nào muốn đạt được mục tiêu PTBV thì cả hai vấn đề công bằng trong cùngmột thế hệ và công bằng giữa các thế hệ phải được đảm bảo

Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoànchỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV được tổ chức tại Johanesburg – 2002 :

“Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa

ba mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trườngnhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người trong hiện tại nhưng không làm tổn hạiđến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Ngoài ba mặt chủ yếu này, cónhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị,văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch địnhcác chiến lược và chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương

cụ thể [3]

Quan điểm mới nhất hiện nay về PTBV được thể hiện trong cuốn sách “Không chỉ

là tăng trưởng kinh tế Nhập môn về phát triển bền vững” của tác giả TatyanaP.Soubbotina, xuất bản lần thứ hai năm 2005 của Viện Ngân hàng thế giới đã chỉ rõ “Pháttriển bền vững cũng có thể được gọi bằng cách khác là phát triển bình đẳng và cân đối, cónghĩa là để duy trì sự phát triển mãi mãi cần cân bằng giữa lợi ích của các nhóm ngườitrong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, và thực hiện điều này trên cả ba lĩnh vực kinh

tế, xã hội và môi trường”.[4]

Tuy có rất nhiều quan niệm khác nhau về PTBV nhưng quan niệm phổ biến nhấttrên thế giới hiện nay là quan niệm do Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển đưara: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu thế hệ hiện tại nhưngkhông làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quátrình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình

Trang 13

sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộcsống của con người, động vật và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệmnày tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái màcòn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa các nước giàu

và nghèo và giữa các thế hệ Như vậy, khái niệm “Phát triển bền vững” nói trên có nộihàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hòa giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí pháttriển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, nội dung khái niệm còn bao hàm những khíacạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là

“tiếng chuông” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại Do tính chấtphổ quát, tổng hợp, súc tích cao, đây là quan điểm được biết đến rộng rãi nhất, là mụctiêu phấn đấu của tất cả các quốc gia trên thế giới cho quá trình phát triển của mình.[1]

1.1.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững.

Để đo lường và đánh giá tính bền vững của sự phát triển, người ta dùng các chỉ sốPTBV Chỉ số PTBV đo lường khả năng duy trì bền vững hoặc việc thực hiện phát triển

cơ sở bền vững Các chỉ số có thể đóng vai trò hướng dẫn trong việc ra quyết định theonhiều cách khác nhau, giúp đo lường và xác định các tiêu chuẩn định lượng hướng tới cácmục tiêu PTBV Ngoài ra, chúng có thể cảnh báo để ngăn chặn kịp thời mối nguy hiểm

về kinh tế, xã hội và môi trường

Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc năm 1992 đã nhận thứcđược ý nghĩa quan trọng của các chỉ tiêu phát triển bền vững trong hỗ trợ các quốc giađưa ra những quyết định hướng tới PTBV Chương trình nghị sự 21 cũng đặc biệt kêu gọicác nước nỗ lực xây dựng các chỉ tiêu phát triển bền vững cấp quốc gia, khu vực và toàncầu

Hưởng ứng lời kêu gọi này, năm 1995, Ủy ban Phát triển bền vững của Liên hợpquốc đã thông qua Chương trình hành động 5 năm về xây dựng các tiêu chí phát triểnbền vững Chương trình nhằm xác định các tiêu chí phát triển bền vững, xây dựngphương pháp luận và tổ chức nâng cao năng lực cho các nhà hoạch định chính sách tầmquốc gia Tháng 8 năm 1996, Ủy ban Phát triển bền vững của Liên hợp quốc đã đưa rabản “Tiêu chí phát triển bền vững: Khuôn khổ và phương pháp luận”, trong đó giới thiệu

134 tiêu chí phát triển bền vững Tháng 9 năm 2001, bản “Tiêu chí phát triển bền vững:Hướng dẫn và phương pháp luận” ra đời và được coi là tổng kết của Chương trình hànhđộng 5 năm về xây dựng các tiêu chí phát triển bền vững, trong đó giới thiệu bộ 58 tiêuchí phát triển bền vững được phân chia theo 15 chủ đề và 38 chủ đề nhánh thuộc 4 chủđiểm: Xã hội, Môi trường, Kinh tế và Thể chế

Trang 14

Trong suốt thập kỷ qua, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng bộ tiêu chí PTBVquốc gia của mình dựa trên bộ tiêu chí đề xuất của Ủy ban Phát triển bền vững của Liênhợp quốc, chúng đã hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra quyết định cũng như những hành độngquốc gia nhờ tổng hợp và đơn giản hóa những thông tin liên quan vì mục tiêu PTBV Đócòn là công cụ hữu hiệu để truyền tải khái niệm và xu thế phát triển bền vững tới nhữngnhà ra quyết định, các bên liên quan và cả cộng đồng.[1]

Trong vòng hơn mười năm trở lại đây, nhiều nhà khoa học thuộc các cơ quan khácnhau của Việt Nam như Cục Môi trường, Bộ Khoa học, Bộ Tài nguyên và Môi trường,Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đã nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu pháttriển bền vững Năm 1999 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất bộ chỉ thị phát triển bền vữngcủa Việt Nam, bao gồm 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường với 23 chỉ thị đơn trong

đó phát triển kinh tế gồm 4 chỉ thị đơn, phát triển xã hội gồm 14 chỉ thị đơn và bảo vệmôi trường tự nhiên gồm 5 chỉ thị đơn Nhưng các “chỉ thị” của Bộ Kế hoạch và Đầu tưnêu ra thực chất mới chỉ là các tiêu chí.[6]

Gần đây, nhóm chuyên gia của Dự án VIE/01/021 (Dự án Hỗ trợ xây dựng và thựchiện Chương trình nghị sự 21 quốc gia của Việt nam) - Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiếnhành nghiên cứu và đề xuất bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của Việt Nam Bộ chỉ tiêu nàyđược xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệtcác nước có thể chế chính trị, điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế-xã hội tương đồngvới nước ta Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững đề xuất của Việt Nam đã phần nào đáp ứngđược nhu cầu cấp bách của công tác lập kế hoạch, đánh giá và báo cáo tiến trình thựchiện phát triển bền vững của quốc gia và địa phương Tuy nhiên, hiện nay số liệu thống

kê còn chưa thống nhất từ các nguồn khác nhau (giữa các cơ quan thu thập số liệu và giữacấp trung ương và địa phương, ), gây nhiều khó khăn cho công tác xây dựng một cơ sở

dữ liệu chính xác, tin cậy và thực hiện bộ chỉ tiêu phát triển bền vững thống nhất trên cảnước Hơn nữa, phát triển bền vững là một quá trình liên tục, vì vậy, cần có hệ thống cơquan chuyên trách về xem xét, điều chỉnh và cập nhật bộ chỉ tiêu phát triển bền vững

Dự án VIE/01/021 bước đầu kiến nghị Bộ chỉ tiêu khởi đầu VN0 ở 2 cấp Quốc gia

Trang 15

1.2 Vấn đề phát triển bền vững trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Một số nghiên cứu về PTBV nông nghiệp, nông thôn trên thế giới và Việt Nam a) Thế giới

Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về PTBV nông nghiệp, nông thôn Hộinghị toàn cầu về PTBV ở Nam Phi (09/2002) đã ban hành 2 văn kiện quan trọng đó là:Tuyên bố Johannesburg về PTBV gồm 37 nguyên tắc và bản kế hoạch thực hiện, gồm

141 nội dung đặc biệt quan tâm đến môi trường nông thôn và sự PTBV ở các vùng nôngthôn rộng lớn trên toàn thế giới Những vấn đề then chốt là: sản xuất nông nghiệp tăngnguồn lương thực kéo theo sự gia tăng thuốc bảo vệ thực vật và dẫn đến thoái hóa đất;giải quyết vấn đề nước sạch, nước ngọt, vệ sinh môi trường và sức khỏe cộng đồng; giảm50% tỉ lệ nghèo đói đến năm 2015; tăng tỉ lệ sử dụng năng lượng tái tạo tới 15% vào năm2010; phổ cập giáo dục tiểu học năm 2015; cải thiện đời sống, phát triển trang trại tạocông ăn việc làm và công bằng xã hội cho mọi người Như vậy, tất cả các vấn đề liênquan đến PTBV nông thôn đã được hội nghị toàn cầu về PTBV đặc biệt quan tâm

Gần đây, trong bối cảnh ra đời của khái niệm PTBV của các tổ chức quốc tế như

Tổ chức Nông lương Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á cũng đã nhấn mạnh kháiniệm về nông nghiệp bền vững Theo đó phải hiểu theo khả năng thích nghi trong khônggian và tính linh động qua thời gian để đáp ứng các nhu cầu về ăn, mặc, ở, nhu cầu vềbảo tồn đất đai và các nguồn tài nguyên nông nghiệp khác Nhiều hoạt động khoa họcliên quan đến nông nghiệp bền vững đã được thử nghiệm và thực thi trên phạm vi toànthế giới Điển hình là:

Phong trào LEISA (Low External Input Sustainable Agriculture – nông nghiệp bềnvững ít sử dụng vật tư từ bên ngoài hệ thống) Đó là ý tưởng của một nhóm các nhà khoahọc châu Âu khi trào lưu của cách mạng xanh đang mạnh mẽ phát triển, đã và đang bỏquên những nông dân nghèo thiếu vật tư, tài chính và điều kiện về thủy lợi, làm cho đời

Trang 16

sống của họ ngày càng khó khăn gây sức ép nặng nề đến môi trường nông thôn, dẫn đếnhủy hoại tính đa dạng sinh học trong nông nghiệp Kĩ thuật LEISA giúp cho nông dânnghèo chọn lựa phương pháp và kĩ thuật phù hợp trong việc sử dụng các nguồn tàinguyên địa phương để tăng sản lượng và lợi tức một cách lâu bền mà không phá hoại môitrường LEISA tạo nên sức mạnh cho nông dân và cả cộng đồng trong việc xây dựngcuộc sống ấm no bằng những tri thức, kĩ năng, giá trị văn hóa và thể chế của họ và điềuquan trọng hơn là mọi người dân đều được tham gia và thể hiện sự công bằng về giới vàcộng đồng trong hưởng thụ tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

Chương trình SARD ( Sustainable Agriculture Resarch Development – phát triểnnông nghiệp, nông thôn bền vững) do Tổ chức Nông lương Thế gới đề xướng trong cuốn

sổ tay huấn luyện, tập 1, chương trình có nội dung sau: Bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tốithiểu về chất và lượng của thế hệ hiện tại và tương lai, đồng thời có thể cung cấp nhữngnông sản khác; tạo việc làm ổn định, lợi tức vừa đủ và những điều kiện sống, làm việcthoải mái cho mọi người tham gia sản xuất nông nghiệp; duy trì và nếu có thể cải thiệntính năng sản xuất của các nguồn tài nguyên nói chung, đặc biệt là những nguồn tàinguyên tái tạo và cân bằng sinh thái; giảm thiểu các rủi ro do thiên tai hoặc do biến độngthị trường cho khu vực nông nghiệp, giúp họ tự tin vào thực lực của chính mình

b) Việt Nam

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có một số nghiên cứu về PTBV nông nghiệp,nông thôn Các nghiên cứu bước đầu đã giúp người đọc hiểu thêm về các khái niệm, vaitrò của nông nghiệp bền vững; các vấn đề đóng góp cho sự PTBV nông nghiệp, nôngthôn nước ta

“ Phát triển nông thôn bền vững: những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”

(Trần Ngọc Ngoạn – chủ biên – Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội, 2008) [25]

Đề tài đã làm rõ khung khổ lý thuyết cơ bản làm cơ sở cho phát triển nông thôn bềnvững Nêu những bài học kinh nghiệm về phát triển nông thôn bền vững của các nướctrong khu vực và của thế giới; Những gợi mở cho phát triển bền vững nông thôn ở ViệtNam

Nghiên cứu cho rằng, sự phát triển nông thôn theo các mô thức cũ dù là truyềnthống hay hiện đại đều bộc lộ những hạn chế nhất định về kinh tế, xã hội và môi trường

đe dọa sự tồn vong của loài người, đòi hỏi cần có một phương thức phát triển mới –phương thức phát triển bền vững Phát triển nông thôn là một tổ hợp các hoạt động đadạng có sự tham gia của các cá nhân, nhóm, tổ chức đảm bảo sự phát triển cho cộng đồngnông thôn Phát triển nông thôn bền vững có thể được coi là sự chuyển biến từ cách tiếp

Trang 17

cận công nghiệp sang cách tiếp cận hữu cơ; với phương thức phát triển bền vững thì mụctiêu lợi nhuận không còn là mục tiêu ưu tiên số một nữa mà nó nằm trong sự chi phối củacác mối quan tâm về an toàn môi trường và ổn định xã hội; từ chỗ độc đoán, chỉ huy tậptrung sang dân chủ, khuyến khích sự tham gia của người dân đối với quan lý sự pháttriển; việc quản lý nguồn lực từ chỗ tập trung tại cơ quan Trung ương chuyển sang chocác địa phương quản lý, và nhấn mạnh tới sở hữu tài sản chung Phát triển nông thôn bềnvững đang nhận được sự đồng thuận rất nhiều ở các nước đang phát triển, tuy nhiên nócần có sự tham gia ủng hộ rất lớn của các ngân hàng, các tổ chức tài chính, các tổ chứcphi chính phủ, các trung tâm hỗ trợ kux thuật để góp phần tạo nên một bước nhảy vọtquan trọng đưa công tác phát triển nông thôn ra khỏi hình thức trợ cấp và giúp ngườinông dân được tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ mới.

Nghiên cứu này đã góp phần vào việc tổng hợp những vấn đề lý luận và kinhnghiệm thế giới cho sự định hướng phát triển nông thôn bền vững

“ Nỗ lực hướng tới PTBV – Những kinh nghiệm thực tiễn từ địa phương Việt Nam”

(Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2004) [24]

Tài liệu nêu lên những trường hợp điển hình về PTBV liên quan đến nhiều lĩnhvực, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, và đang được nhiều tổ chức và cộng đồng khác nhauthực hiện Cụ thể, chúng liên quan tới: (i) sản xuất sạch hơn nhằm đảm bảo hạn chế thải

ra các chất thải nguy hại, duy trì môi trường trong sạch và ổn định, bên trong và ngoàiđơn vị sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất; (ii) thay đổi phươngthức tiêu dùng và mô hình sản xuất bằng các công nghệ sạch hơn và thân thiện hơn vớimôi trường; (iii) phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản sinh tháinhằm hài hòa các lợi ích về kinh tế và môi trường; (iv) các phương án xử lý chất thải đôthị kết hợp với các dịch vụ môi trường và các hoạt động định hướng kinh doanh trong cơcấu kinh tế của Việt Nam; (v) sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động phát triểnbền vững, nhấn mạnh sự cần thiết về sự đồng lòng và tham gia tích cực của cộng đồngnhằm giúp cho các hoạt động PTBV thực sự có hiệu quả và được duy trì trong một thờigian dài

Những trường hợp điển hình trong tài liệu này được nghiên cứu tại các khu vựckhác nhau, trong bối cảnh cơ cấu sinh thái/ kinh tế khác nhau và điển hình cho Việt Nam.Chúng phản ánh những vấn đề cấp bách khác nhau trong một loạt những khía cạnh cơbản của PTBV tại Việt Nam hiện nay Trong mỗi trường hợp, nghiên cứu nêu lên mộtcách ngắn gọn những vấn đề cấp bách cần được giải quyết, giải pháp thực hiện, kết quả

và một số nhận định sơ bộ, và bài học rút ra từ đó

Trang 18

1.2.2 Phát triển bền vững ở Việt Nam.

1.2.2.1 Các chính sách nhằm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, hàng loạt chính sách đãđược ban hành trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và thực hiện các cam kếtquốc tế về PTBV mà Việt Nam đã ký kết

Trong các văn bản này, quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã đượckhẳng định, đặc biệt rõ nét trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 đượcĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam (Đại hội VII) thôngqua, theo đó chủ trương “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xãhội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường” Đại hội VIII tiếp tục khẳng định “Tăngtrưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dântộc, bảo vệ môi trường sinh thái”

Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/ 6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo

vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nhấn mạnh: “Bảo

vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảođảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước”

Quan điểm PTBV đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội 2001 - 2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế điđôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế -

xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trườngnhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” Trong Chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cũng đã nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với pháttriển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” Phát triểnbền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã ký những công ước quốc tế có liên quan tớiphát triển bền vững như Nghị định thư Montreal về các chất phá hủy tầng ô - zôn; Côngước Vienna về Bảo vệ tầng ô - zôn; Công ước của Liên Hiệp Quốc (LHQ) về Luật Biển;Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu; Công ước Đa dạng sinh học (1994); Camkết thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Các cam kết này đã được Chính phủgiao cho các Bộ, ngành có liên quan làm đầu mối, chịu trách nhiệm quản lý, phối hợp tổchức, lồng ghép trong các kế hoạch và chương trình phát triển ở các cấp để thực hiện.[5]

Trang 19

Năm 2002 dự thảo “Định hướng chiến lược để tiến tới PTBV” Agenda 21 của ViệtNam được hoàn tất và báo cáo tại Rio+10 ở Nam Phi Agenda 21 về PTBV của Việt Nam

là một khuôn khổ chung cho các hoạt động nhằm đưa Việt Nam tiến tới sự PTBV Vớiquan niệm phát triển là một quá trình tổng thể của tăng trưởng kinh tế, không ngừng nângcao công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Agenda 21 của nước ta cũng nêu lên nhữngthách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt để ra chủ trương, chính sách và những lĩnhvực hoạt động cần được ưu tiên để có thể PTBV trong thế kỷ 21

1.2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

Trong những năm qua, nhất là sau khi ban hành “Định hướng chiến lược để tiến tới

PTBV”, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong cả ba trụ cột về kinh tế, xãhội và môi trường của PTBV và đã được tổng kết trong các Hội nghị Phát triển bền vữngtoàn quốc lần thứ nhất (12/2004), lần thứ hai (5/2006) và lần thứ ba (1/2011)

Về kinh tế: Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong số các nước

đang phát triển đã đạt được những thành tựu nổi bật trong cải cách kinh tế hướng tới tăngtrưởng và giảm nghèo Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt 7,85% trong giai đoạn

2000 - 2008 Quy mô của nền kinh tế và năng lực sản xuất các ngành đều tăng GDP bìnhquân đầu người năm 2011 là trên 1200 đô la Mỹ, tăng gấp 3 lần so với năm 2000 ViệtNam đã từ vị trí nhóm nước nghèo bước sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình

Về xã hội: Công tác xoá đói giảm nghèo, dân số, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe

người dân, giáo dục - đào tạo và tạo việc làm cho người lao động đều đạt được nhữngthành tựu bước đầu đáng khích lệ An sinh xã hội được chú trọng nhằm đảm bảo ổn địnhđời sống và sản xuất của nhân dân, đặc biệt trong tình hình lạm phát cao, nhiều thiên tai.Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học theo chuẩn phổ cập của quốcgia vào năm 2000 Tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 28,9% năm 2002 xuống còn 9,45% năm

2010, bình quân cả nước mỗi năm giảm 2% số hộ nghèo Chỉ số bình đẳng giới của ViệtNam khá cao so với các quốc gia có cùng mức độ phát triển và thu nhập Chỉ số HDIcũng được cải thiện qua các năm

Về môi trường: Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) đã

được xây dựng khá đầy đủ và toàn diện Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệmôi trường từ Trung ương đến địa phương đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạtđộng ổn định Kinh phí cho công tác BVMT đã được tăng cường Nhiều nội dung vềphòngngừa, kiểm soát ô nhiễm và bảo tồn đa dạng sinh học đã đạt được những kết quảđáng khích lệ Việc lồng ghép các vấn đề về môi trường từ giai đoạn lập chiến lược, quy

Trang 20

hoạch, kế hoạch và giai đoạn chuẩn bị đầu tư các dự án đã góp phần hạn chế và giảmthiểu ô nhiễm môi trường

Đánh giá một cách tổng thể, những thành tựu phát triển kinh tế thời gian qua đã tạonguồn lực cho việc giải quyết thành công hàng loạt các vấn đề xã hội: xoá đói giảmnghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, hoàn thành các Mục tiêu Phát triển Thiênniên kỷ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Các hoạt độngphát triển KT - XH trong thời gian qua đã bước đầu gắn kết với BVMT về các mặt thểchế chính sách, tổ chức - quản lý, xã hội hoá và hợp tác quốc tế Bằng việc lồng ghép cácmục tiêu PTBV vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển KT -

XH và của các ngành, tính bền vững của sự phát triển hay nói cách khác là sự kết hợpchặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môitrường bước đầu được xác lập và khẳng định mạnh mẽ trong thực tế.[5]

1.3 Một số phương pháp đánh giá mức độ bền vững cộng đồng

1.3.1 Thước đo độ bền vững BS (Barometer of Sustainability)

Thước đo độ bền vững BS được IUCN đề xuất năm 1994, bao gồm các chỉ thị vềphúc lợi sinh thái và phúc lợi xã hội nhân văn Sử dụng thước đo độ bền vững có thểđánh giá mức sung mãn về sinh thái và nhân văn, là một công cụ để tổng hợp và mô tảsinh động các ảnh hưởng của các phương án phát triển BS sử dụng 10 mảng vấn đề trong

đó có 5 mảng thuộc phúc lợi sinh thái, 5 mảng thuộc phúc lợi nhân văn.[6]

Bảng1: Các yếu tố để đánh giá độ bền vững theo phương pháp BS

Phúc lợi sinh thái Tỷ trọng Phúc lợi xã hội nhân văn Tỷ trọng

Đa dạng sinh học 20 Trật tự an toàn xã hội 20

Sử dụng hợp lý tài nguyên 20 Bình đẳng xã hội 20

Trong trường hợp hiệu quả tốt nhất, mức đạt được của mỗi yếu tố là 20 Tác độngmôi trường xấu sẽ làm giảm tỷ trọng các tham số môi trường cho đến 0 Tổng tỷ trọngthực tế của 2 lĩnh vực sinh thái và nhân văn dùng để đánh giá mức độ bền vững của cộngđồng nghiên cứu dựa trên 5 hạng như Hình 1

Trang 21

Hình 1 Mức đánh giá độ bền vững của phương pháp BS

Các chỉ thị đơn của phương pháp BS được xác định theo nguyên tắc sau:

Phân hệ  Mảng vấn đề  Vấn đề cốt lõi  Chỉ thị đơn

Phương pháp BS có thể sử dụng ở cấp độ địa phương (một cộng đồng) hay ở cấp

độ một quốc gia Sử dụng BS sẽ giúp cho cộng đồng dễ dàng đưa ra các kết luận về điềukiện sinh thái và nhân văn và biết được cộng đồng của họ đang ở đâu Phương pháp BS

có ưu điểm là trực quan hóa hệ thống biến hệ thống đa chiều thành hệ thống đơn giản, dễnhận thấy (khi kết quả đánh giá được biểu diễn trên biểu đồ) Nhưng BS có nhược điểm

là không đánh giá được sự phát triển trong tương lai, đánh giá quá cao mảng môi trường.[8]

1.3.2 Đánh giá phát triển cộng đồng bằng bằng chỉ số bền vững địa phương – LSI

(Local Sustainability Index)[6]

Chỉ số bền vững địa phương LSI được hai nhà khoa học Bỉ Nath và Talay đề xuấtnăm 1998 Chỉ số LSI gồm 5 chỉ thị đơn được thể hiện theo bảng sau:

Bảng 2 Các chỉ thị đơn và tỷ trọng theo LSI

I1 Tỷ lệ trẻ vị thành niên không phạm pháp 2

I2 Tỷ lệ trẻ sơ sinh không tử vong 2

I3 Tỷ lệ số dân được dùng nước sạch 4

Vùng 1: B n v ng ền vững ững Vùng 2: Bền vững tiềm năng Vùng 3: Trung bình

Vùng 4: Không bền vững tiềm tàng Vùng 5: Không bền vững

Trang 22

I4 Tỷ lệ số ngày không bị ô nhiễm khí trong năm 3

I5 Tỷ lệ diện tích đất không bị ô nhiễm 1

Chỉ số LSI được tính theo công thức sau:

- Chỉ thị I4 và I5 không có hoặc rất khó thu thập đối với các nước đang phát triển, vì

ở đó cơ sở dữ liệu về môi trường không sẵn các số liệu này

- Với những cộng đồng có trình độ phát triển cao, chỉ thị I2 không nhạy cảm,thường rất thấp Cũng như vậy, I1 có thể là không nhạy cảm với một số cộng đồng miềnnúi thuần phác

- Các cộng đồng khác nhau (ví dụ nông thôn, miền núi, vùng ven biển, đô thị, điểm

du lịch) có những đặc trưng khác nhau về môi trường và phát triển Việc dùng một chỉ sốLSI thống nhất không phản ánh sát hiện trạng của các hệ thống môi trường Cần phải cảitiến và bổ sung LSI để có thể tính nhanh độ bền vững của các cộng đồng có các đặc trưngsinh thái nhân văn khác nhau

Trang 23

1.3.3 Phương pháp đánh giá mức độ bền vững cộng đồng - CSA (Community Sustainability Assessment)[12]

Phương pháp đánh giá mức độ bền vững của cộng đồng (CSA: CommunitySustainability Assessment) được mạng lưới Làng sinh thái của Mỹ xây dựng và đã được

áp dụng trong mạng lưới Làng sinh thái toàn cầu CSA tiếp cận sự bền vững theo ba khíacạnh: sinh thái, xã hội và tinh thần, mô hình chiếc ghế 3 chân minh họa cho cách tiếp cậnnày (Hình 2) Sự bền vững tổng thể của một cộng đồng (được coi như mặt ghế) đượcnâng lên khi cả 3 chân ghế (tương ứng với 3 lĩnh vực sinh thái, xã hội và tinh thần) cânbằng và đều được nâng lên

Hình 2 Mô hình chiếc ghế 3 chân mô phỏng sự bền vững của cộng đồng theo CSA Bảng 3 Bộ chỉ thị đánh giá mức độ bền vững của cộng đồng theo CSA

Lĩnh vực sinh thái (I1)

I1.1 Ý nghĩa của địa điểm (vị trí, quy mô, mức độ khôi phục và bảo tồn tự nhiên)

I1.2 Nguồn lương thực sản xuất và phân bố

I1.3 Cơ sơ hạ tầng, xây dựng và giao thông

I1.4 Các mô hình tiêu thụ và việc quản lý chất thải rắn

I1.5 Nguồn, chất lượng nước và các mô hình sử dụng nước

I1.6 Nước thải và công tác quản lý ô nhiễm nước

I1.7 Nguồn năng lượng và việc sử dụng

Trang 24

Lĩnh vực xã hội (I2)

I2.1 Sự mở cửa, niềm tin và sự an toàn, không gian chung

I2.2 Truyền thông: dòng chảy của ý tưởng và thông tin

I2.3 Mạng lưới môi giới, tư vấn và dịch vụ

I2.4 Sự đa dạng và tính hoà đồng, việc ra quyết định, cách giải quyết các xung

I3.7 Ý thức toàn cầu và hoà bình

Cách tiếp cận sự bền vững của phương pháp CSA dựa trên 3 lĩnh vực sinh thái, xãhội và tinh thần, ba lĩnh vực này đã bao quát được các phương diện của một cộng đồng.CSA được áp dụng rộng rãi và có tính linh hoạt cao, có thể áp dụng đánh giá cơ bản mứcbền vững cho bất cứ cộng đồng nào, vì nếu trong danh mục kiểm tra có những mụckhông ứng dụng cho cộng đồnh thì có thể bỏ qua (không tính điểm) Phương pháp nàyđòi hỏi phải có kiến thức tốt về lối sống, thực tiễn và những nét đặc trưng của cộng đồng,

nó không đòi hỏi phải tính toán và định lượng chi tiết.[13, 14]

Trang 25

Mặc dù vậy, CSA cũng mang tính chủ quan khá cao do người hoàn thành danhmục kiểm tra đưa ra đánh giá tốt nhất của cá nhân họ, trong một vài trường hợp thì phảiphỏng đoán xem điều gì là đúng với cộng đồng của họ CSA đòi hỏi phải có sự xem xét ýnghĩa của những việc cộng đồng đã đạt được và những lĩnh vực cần được cải thiện.Những mục nào có điểm thấp sẽ được lựa chọn để cộng đồng tập trung ưu tiên và đưa racác hành động để nâng cao tính bền vững, đưa ra phương hướng tương lai của cộng đồng.Điểm của các hạng mục càng cao thì tính bền vững của vấn đề càng lớn, vì vậy muốn bềnvững một cách toàn diện thì cộng đồng cần có những hành động ưu tiên để nâng cao điểmcủa các hạng mục có điểm thấp

Để tính chính xác tới mức tối đa điểm của các hạng mục thì việc đánh giá các hạngmục này phải dựa vào các hoạt động hiện tại của cộng đồng Nếu việc đánh giá sự bềnvững của cộng đồng theo định kỳ nhất định thì cộng đồng đó có thể theo dõi được tiếntrình hướng tới bền vững của họ theo thời gian, khi đó có thể dễ dàng đưa ra các giảipháp thiết thực và kịp thời nhất cho cộng đồng trong tiến trình hướng tới sự bền vững củamình

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Thị trấn Lâm nằm ở trung tâm huyện Ý Yên, vị trí địa lý và tiếp giáp của thị trấn

như sau:

- Phía Bắc giáp xã Yên Khánh, huyện Ý Yên

- Phía Đông Bắc giáp xã Yên Xá, huyện Ý Yên

- Phía Đông giáp xã Yên Ninh, huyện Ý Yên

- Phía Nam giáp xã Yên Tiến, xã Yên Hồng, huyện Ý Yên

- Phía Tây Bắc giáp xã Yên Khánh, huyện Ý Yên

Thị trấn cách trung tâm tỉnh Nam Định 32 km về phía Nam

Diện tích tự nhiên: 482 ha

Với vị trí địa lý như trên, Thị trấn Lâm, huyện Ý Yên có những lợi thế mà các địaphương khác không có, điều đó tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội, giao lưu vănhoá trao đổi khoa học kỹ thuật với các địa phương trong và ngoài huyện

1.4.1.2 Địa hình, địa mạo

Trang 26

Thị trấn Lâm, huyện Ý Yên là một huyện thuộc vùng đồng bằng có địa hình bằngphẳng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp.

- Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, thời gian kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm,

có gió Đông Nam mang hơi ẩm và mưa rào thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Thángnắng nhất vào tháng 6 và tháng 7 nhiệt độ cao nhất có ngày 36oc-38oc, nóng bức mưanhiều lượng mưa trung bình 1400-1500 mm

- Mùa thu từ tháng 8 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 25 đến 300C

- Mùa đông khô hanh và lạnh rét, thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt

độ thấp nhất và có rét đậm thường vào tháng 12 nhiệt độ dưới 10oC, lượng mưa ít, chủyếu mưa phùn, độ ẩm thấp khô hanh, có gió mùa Đông Bắc, đôi khi xuất hiện sươngmuối, điều đó gây khó khăn cho việc sản xuất cây vụ đông và gieo cây vụ chiêm xuân

1.4.1.4 Thủy văn

Đây là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đờisống sinh hoạt của nhân dân địa phương Đồng thời trên địa bàn thị trấn còn có hệ thốngsông trung thủy nông và kênh mương nội đồng phân bố tương đối thuận lợi cho việc tưới

và tiêu, cùng với hệ thống trạm bơm cố định được bố trí thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp

1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội

1.4.2.1 Về phát triển kinh tế.

Thực hiện chính sách đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, trong những năm quaĐảng Bộ và chính quyền huyện đã có chỉ đạo nhân dân thực hiện tốt việc chuyển đổi cơcấu kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường Nhờ đó mà tốc độ tăngtrưởng kinh tế đã có chuyển biến mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn2005-2010 đạt 16.6% năm Tổng sản phẩm trên địa bàn huyện (GDP) (theo giá trị cố địnhnăm 1994) đạt 179,92 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người 13,5 triệu đồng Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp tăng nhanh, tỷ trọng nông nghiệpgiảm, cụ thể cơ cấu kinh tế như sau :

- Cơ cấu năm 2012

+ Nông nghiệp 9.7%

Trang 27

+ Tiểu thủ công nghiệp: 58.5 %

+ Dịch vụ thương mại: 32.1 %

a) Sản xuất nông nghiệp:

Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2012 ước đạt 30 tỷ đồng, chiếm 9.7% tổng giátrị sản phẩm trên địa bàn thị trấn

- Về trồng trọt: Lúa là cây trồng chủ yếu của thị trấn với sự cần cù sáng tạo tronglao động sản suất nhân dân trong thị trấn tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất,

bố trí giống cây trồng hợp lý Cho nên tổng giá trị sản xuất trồng trọt đạt 57% trong tổnggiá trị ngành nông nghiệp Năng xuất lúa bình quân đạt 106.7 tạ/ha

- Diện tích cây rau màu vụ đông hàng năm duy trì khoảng 10-14 ha, trồng các loạinhư ngô, khoai lang, lạc, hành, ớt, cà rốt và các loại rau khác cũng đã cho một phần đáng

kể nông sản phục vụ cho nhu cầu chăn nuôi tại chỗ và cung cấp cho thị trường trong vàngoài huyện

- Về chăn nuôi: Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản trong nhândân phát triển với tốc độ khá nhanh, nhiều hộ gia đình đã áp dụng chăn nuôi theo phươngpháp công nghiệp với số lượng lớn từ 50 con lợn trở lên, hàng nghìn con gia cầm thànhnhững trang trại chăn nuôi nhỏ

- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của thị trấn 13,8 ha năng xuất đạt khá cao

b) Sản xuất công nghiệp của thị trấn:

Trong mấy năm trở lại đây cùng với sự phát triển chung của tỉnh ngành côngnghiệp trên địa bàn thị trấn phát triển mạnh, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cácnhà máy xí nghiệp được hình thành và phát triển

Trên địa bàn thị trấn có 29 công ty doanh nghiệp tổ hợp đang hoạt động tốt, các hộ

tư nhân làm các nghệ truyền thống như: đúc đồng, mộc mỹ nghệ đã thu hút một số lượnglớn lao động của thị trấn, thu nhập của người lao động trong huyện tăng cao

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá,sản xuất công nghiệp của địa phương cũng tiếp tục phát triển do một số hộ gia đình đãmạnh dạn đầu tư máy móc cho sản xuất, đặc biệt một số ngành như cơ khí, đồ mộc dândụng, may mặc, sản xuất và chuyên chở vật liêu xây dựng Giá trị sản xuất công nghiệpgiai đoạn 2005-2010 tăng bình quân 18,56 %/năm Mặt hàng đa dạng, chất lượng sản phẩmngày được nâng cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2012 ước đạt 180 tỷđồng, chiếm 58.5% cơ cấu kinh tế

c) Ngành Thương mại và dịch vụ:

Trang 28

Thương mại dịch vụ trong năm 2012 có sự phát triển mạnh, đa dạng hóa các mặthàng kinh doanh, nhất là khu vực chợ Lâm và trung tâm dọc hai bên đường 57 Đến naytrên địa bàn có 456 hộ kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ Nhiều cửahàng có doanh thu lớn như vật liệu xây dựng, điện tử điện lạnh và hàng dân dụng.

Dịch vụ thu mua phế liệu vẫn được duy trì, tạo việc làm cho lao động nông nghiệplúc nông nhàn

Dịch vụ vận tải phát triển, khối lượng vận chuyển Bắc Nam ngày một tăng Bưuchính viễn thông phát triển nhanh, bình quân có 12,5 máy trên 100 dân

Tổng giá trị sản phẩm các ngành dịch vụ thương mại năm 2012 ước đạt 99 tỷ đồngchiếm 31.8% tổng giá trị sản phẩm

1.4.2.2 Văn hóa – xã hội

a) Giáo dục – đào tao:

- Công tác giáo dục đào tạo luôn được lãnh đạo thị trấn quan tâm lãnh đạo, chỉđạo, công tác giáo dục đào tạo thu được kết quả đáng khích lệ Quy mô trường lớp ở cácbậc học, ngành học tiếp tục ổn định và phát triển

- Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6 đạt 100% Số họcsinh tốt nghiệp THCS vào học THPT và bổ túc THPT đạt 98,8% Toàn thị trấn có 100%

số phòng học kiên cố cao tầng,

Trường tiểu học của thị trấn được Sở Giáo dục và Đào tạo công nhận trường chuẩnquốc gia Trường trung học cơ sở giữ vững trường tiên tiến xuất sắc

b) Dân số và lao động:

Theo số liệu điều tra dân số năm 2012, toàn thị trấn có 10.834 nhân khẩu, tổng số

hộ là 3.033 hộ Toàn thị trấn có 100% các hộ gia đình xây nhà mái ngói và nhà kiên cố

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã năm 2009 là 0.9%

- Mật độ dân số là: 2002 người /1km2

- Tổng số người trong độ tuổi lao động là 5066 người, chiếm 52,5% tổng số dân.Đây chủ yếu là lao dộng nông nghiệp, lao động phổ thông và công nhân viên chức Nhànước Do đó trong những năm tới cần có giải pháp đào tạo nâng cao trình độ lao độngnhằm đáp ứng nhu cầu lao động của địa phương trong những lúc nông nhàn, đồng thời đápứng lao động cho các khu công nghiệp và thị trường bên ngoài

c) Văn hoá - thể dục thể thao.

Trang 29

- Công tác văn hoá, thể dục thể thao Đến nay các thôn khu dân cư của thị trấn đều

có nhà văn hoá có sân vận động phục vụ tốt công tác vui chơi giải trí và rèn luyện sức khoẻcủa nhân dân

- Thị trấn đã có 01 trạm Bưu điện văn hoá phục vụ công tác truyền thông tin tức

và là điểm thư viện báo chí phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân

- Thị trấn có các khu dân cư văn hoá Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển rộngkhắp, có hệ thống truyền thanh đến tận khu dân cư Cơ sở vật chất, thiết bị thể dục thể thaođược tăng cường nhằm thúc đẩy phong trào TDTT của thị trấn, nhất là phong trào thể thao cầulông được nhân rộng trong toàn thị trấn

- Diện tích đất dành cho công trình văn hoá, thể dục thể thao được quan tâm, đápứng được nhu cầu sử dụng của các ngành văn hoá, TDTT của thị trấn

1.4.3 Hiện trạng môi trường vùng TT Lâm, Ý Yên, Nam Định

Môi trường của vùng thị trấn Lâm đã có sự ô nhiễm, tuy chưa đến mức nghiêmtrọng, song từng phần môi trường như nước, không khí, đất ở một số khu vực, nhất là khusản xuất nông nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề có xu hướng gia tăng ô nhiễm

a, Chất thải rắn: Hiện nay, thị trấn đã thành lập tổ thu gom và có bãi chôn lấp chất

thải sinh hoạt tập trung 100% các hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bànthị trấn đã ký kết hợp đồng thu gom và xử lý với công ty môi trường Thị Trấn Lâm.Riêng với cụm công nghiệp phía Nam thị trấn, một phần chất thải rắn công nghiệp đượctái chế, còn lại là chôn lấp

Tuy nhiên hệ thống thu gom, phân loại và công nghệ xử lý chất thải còn quá thô

sơ, mới chỉ dừng lại ở khâu thu gom, chôn lấp dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước vàkhông khí khu vực quanh bãi chôn lấp Một số nơi vẫn còn để lại các bãi rác tự phátkhông đúng nơi quy định như bãi rác ven đê kênh Tây gianh giới giữa thị trấn Lâm và xãYên Hồng, bãi rác trước trước trung tâm bưu điện huyện Khu vực trung tâm thị trấn từngã tư Phố Cháy đến cụm công nghiệp mặc dù đã đôn đốc nhắc nhở , bổ sung kinh phínhưng dọc hai bên bờ kênh, mái kênh, lòng kênh S40, rác thải sinh hoạt đã được thu gomnhưng chưa triệt để

b, Nước thải: Với cụm công nghiệp phía Nam thị trấn, 100% các doanh nghiệp đã

tự đầu tư hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tuần hoàn, hạn chế chảy trực tiếp vào môitrường Với các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hầu hết đều xây dựng hố xí tự

Trang 30

hoại hai ngăn, nước thải sinh hoạt cơ bản được xử lý qua bể phốt trước khi thải ra môitrường nhưng chưa triệt để, vẫn gây ảnh hưởng đến môi trường.

Đặc biệt nước ở kênh S40 trung tâm thị trấn đang trong tình trạng ô nhiễm nặng nề

do nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư hai bên bờ kênh tập trung đổ ra và do ảnh hưởngcủa hoạt động ngâm nứa sản xuất sơn mài, tre nứa cuốn từ làng nghề thủ công mỹ nghệ

xã Yên Tiến Hiện tại cơ quan huyện đã có một dự án xử lý ô nhiễm nước tại kênh S40,thời gian thực hiện dự án là 2 năm từ tháng 9/2010 xong đến nay dự án mới thực hiệnđược giai đoạn 1, giai đoạn 2 đến nay chưa có kinh phí để thực hiện nên tình hình ônhiễm vẫn chưa được khắc phục

c, Môi trường không khí: môi trường không khí quanh khu dân cư cơ bản trong

lành Tuy nhiên đối với khí thải công nghiệp cụm công nghiệp phía Nam thị trấn và các

cơ sở sản xuất nhỏ lẻ được thải trực tiếp ra môi trường mà chưa qua xử lý

Ngoài ra, trong sản xuất nông nghiệp, rơm rạ vẫn được bà con đốt tràn lan sau thuhoạch và khi vụ lúa đến thì sắp trổ bông hiện tượng phun thuốc trừ sâu diễn ra ồ ạt trêntất cả các cánh đồng gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường không khí và sức khỏengười dân

Nhìn chung, chất lượng môi trường vùng thị trấn Lâm có xu hướng giảm so vớinhững năm trước Các cấp lãnh đạo đã có biện pháp cải tạo nhưng chưa triệt để Vấn đề ônhiễm môi trường vẫn tồn tại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và môi trường sinhthái

Trang 31

CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cộng đồng dân cư vùng thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnhNam Định Đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái của vùng để thấy đượcnhững điểm mạnh và điểm yếu của cộng đồng trong mục tiêu hướng tới sự bền vững Từ

đó tìm ra giải pháp nâng cao tính bền vững đối với những mặt yếu kém

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp

Mục đích của thu thập tài liệu (từ các tài liệu khoa học có trước) là để làm cơ sở lýluận khoa học hay luận cứ cho vấn đề cần nghiên cứu Tác giả đã tiến hành thu thập cáctài liệu trong và ngoài nước liên quan tới vấn đề nghiên cứu: tài liệu tổng quan về vấn đềPTBV trên thế giới và trong nước, tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt về phương pháp CSA;tài liệu, số liệu đánh giá tình hình phát triển kinh tế, xã hội và tự nhiên, môi trường củakhu vực nghiên cứu (Thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định)

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa là phương pháp thu thập thông tin sơ cấp vềđối tượng nghiên cứu bằng giá trị trực tiếp và ghi chép lại những nhân tố có liên quan đếnđối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu Quan sát cho phép phát hiện vấn đề, kiểmtra và hiệu chỉnh những thông tin đã thu được qua phỏng vấn và từ tài liệu thứ cấp Ðây

là phương pháp cần thiết để đề tài nghiên cứu mang tính thực tế và khả thi Trong quátrình thực hiện khóa luận tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa, đánh giá tình hình cơ sở

hạ tầng, điều kiện kinh tế, xã hội, điều kiện sinh hoạt tại vùng TT Lâm

Phương pháp phỏng vấn

Người phỏng vấn thực hiện các cuộc phỏng vấn với cá nhân hoặc nhóm người ởnhà, nơi làm việc, ngoài đồng ruộng, ngoài đường hay một địa điểm nào đó đã thỏa thuậntrước

Trang 32

người trả lời trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu Như vậy, nguồn thông tin trongcuộc phỏng vấn này sẽ bao gồm toàn bộ câu trả lời, quan điểm và thái độ cũng như ý thứcngười trả lời Nhiệm vụ của người nghiên cứu là căn cứ vào cả hai nguồn thông tin trênxác định các câu trả lời và tiến hành ghi chép sau đó tổng hợp, phân tích.

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tiến hành phỏng vấn chính thức người dânđịa phương với toàn bộ bảng hỏi của lĩnh vực sinh thái trong bộ câu hỏi của phương phápCSA

Xác định số mẫu cần phỏng vấn theo nhóm hộ nghèo và không nghèo theo côngthức[21]

- N: tổng số hộ

- t: hệ số tin cậy của kết quả (t = 1,96)

- d: sai số mẫu (10%)

- S2: phương sai mẫu (0,25)

TT Lâm có tổng số 3.033 hộ trong đó có 178 hộ nghèo Áp dụng công thức trêntính dung lượng mẫu cần phỏng vấn là 93 hộ với 30 hộ nghèo và 63 hộ không nghèo

b, Phỏng vấn bán chính thức

Phỏng vấn bán chính thức là trò chuyện với cộng đồng dân cư thị trấn, có thểngười dân thường hay lãnh đạo, có thể là cá nhân, nhóm người hay một gia đình Ngườiđược phỏng vấn thường là gặp tình cờ hoặc hẹn trước để họ bố trí thời gian

Phỏng vấn bán chính thức khác phỏng vấn chính thức ở không khí cởi mở, thânmật giữa người người nghiên cứu và người được phỏng vấn, câu hỏi được đặt ra tùythuộc vào câu truyện, không đưa trước ra câu hỏi để người được phỏng vấn suy nghĩ vàhoạch định trước câu trả lời, bởi vì trong phỏng vấn bán chính thức người phỏng vấn chỉliệt vấn đề cần đánh giá

Đối tượng được hỏi trong quá trình thực hiện khóa luận là các nhân viên vận hànhnhà máy cấp nước sinh hoạt TT Lâm, cán bộ Môi trường của thị trấn và phòng Tài

Trang 33

nguyên và Môi trường của huyện Ý Yên, cán bộ Ủy ban Nhân dân TT Lâm và một sốngười dân trong thị trấn.

2.2.3 Phương pháp CSA

Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi chỉ áp dụng phương pháp CSA đánh giácho khía cạnh sinh thái Mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái của khu vực nghiên cứuđược đánh giá dựa trên 7 nhóm chỉ thị thành phần với 52 chỉ thị đơn được trình bày tạiphần phụ lục Từ các kết quả của những phiếu thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp, kết hợpvới những quan sát, đánh giá từ quá trình điều tra khảo sát thực địa tiến hành hoàn thànhcác nội dung trong bảng hỏi CSA áp dụng cho khía cạnh sinh thái Cách tính điểm vàđánh giá kết quả cho các nhóm chỉ thị thành phần và cho toàn bộ khía cạnh sinh thái củakhu vực nghiên cứu như sau:

- Điền vào các ô trống trong bảng hỏi của CSA nếu thấy điều đó miêu tả chân thựcnhất cộng đồng nghiên cứu Mỗi câu hỏi đều có số điểm tương ứng

- Cộng điểm của các mục đã chọn để có điểm của từng nhóm chỉ thị thành phần

Cách tính điểm cho lĩnh vực sinh thái:

Điểm của lĩnh vực sinh thái là tổng điểm của 7 nhóm chỉ thị thành phần:

I1 = 

7 1 1

k k

I

Cách đánh giá:

- Với các chỉ thị thành phần (I1k) (trong đó k có giá trị từ 1 đến 7)

I1k :

Mức 1: 50 + Có tiến trình tuyệt vời để hướng tới sự bền vững

Mức 2: 25-49 Có điểm khởi đầu tốt để hướng tới bền vững

Trang 34

Mức 2: 166 – 332 Có điểm khởi đầu tốt để hướng tới bền vững

Mức 3: 0 – 165 Cần thực hiện hành động để đảm bảo tính bền vững

Trang 35

CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái của vùng TT Lâm, Ý Yên, Nam Định

3.2.1 Nhóm chỉ thị về ý nghĩa của địa điểm (vị trí, quy mô, mức độ khôi phục và bảo tồn tự nhiên) – I1.1

Nhóm chỉ thị về ý nghĩa của địa điểm gồm 10 chỉ thị đơn, trong đó có 2 chỉ thị quy

mô dân số và mối liên hệ giữa những người sống trong cộng đồng (I1.1.1; I1.1.2), 3 chỉ thị vềbảo tồn động, thực vật hoang dã (I1.1.3; I1.1.4; I1.1.6), 3 chỉ thị về sự thay đổi chất lượng môi trường (I1.1.5 ; I1.1.7; I1.1.8) và 2 chỉ thị về mức độ tích cực của cộng đồng trong việc hạn chế suy giảm tài nguyên và bảo vệ môi trường (I1.1.9 ; I1.1.10)

a) Quy mô dân số

Quy mô dân số phản ánh đặc điểm xã hội của khu vực nghiên cứu, quy mô dân sốlớn sẽ ảnh hưởng đến trực tiếp đến vấn đề bố trí không gian sống, các vấn đề xã hội, môitrường và đòi hỏi cao về cơ sở hạ tầng đường xá, nhà ở, xử lý môi trường vv TT Lâm

có diện tích khoảng 482,04ha là nơi sinh sống của 3033 hộ gia đình, quy mô dân sốkhoảng 10.834 người với mật độ dân cư trung bình 2.312 người/km2 Như vậy thị trấn cómật độ dân cư khá cao, cao hơn so với Hà Nội (2013 người/km2-tính cả vùng ngoạithành) là 299 người/km2, và cao gấp đôi so với tỉnh Nam Định (1110 người/km2).[18]

b) Bảo tồn động, thực vật hoang dã

Tại địa phương, công tác bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã chưa được cáccấp lãnh đạo và người dân quan tâm, trong vòng mấy năm trở lại đây, sự đa dạng của cácloài trên đã bị sụt giảm nghiêm trọng Có nhiều loài đã biến mất hoàn toàn như cá cờ ta,

ốc nhồi, cà cuống, cây dứa dại, cây rau vẩy ốc vv, nhiều loài còn lại với số lượng hạnchế như ốc sên, cá rô đồng, cóc, nhái, châu chấu, các loài bọ cánh cứng vv Nguyên nhândẫn đến tình trạng trên là do không gian sống của các loài bị thu hẹp, môi trường sống ônhiễm, bên cạnh đó là sự xuất hiện của các loài động vật ngoại lai như cá rô phi, các cờkiếm và đặc biệt là loài ốc biêu vàng Ốc biêu vàng là loài phàm ăn, thức ăn ưa thích củachúng là cây lúa non nên đã gây ra thiệt hại lớn đến năng suất lúa của bà con nông dân

Để bảo vệ mùa màng, trước mỗi vụ lúa bà con tiến hành vãi thuốc diệt ốc biêu vàng,nhưng loại thuốc này cũng diệt chết hàng loạt các loài thủy sinh khác và gây ô nhiễm chomôi trường nước

Trang 36

c) Sự thay đổi chất lượng môi trường

Trong những năm vừa qua, TT Lâm chú trọng đẩy mạnh phát triển CN-TTCN vàdịch vụ mà chưa quan tâm nhiều đến vấn đề bảo vệ môi trường dẫn đến sự suy giảm chấtlượng môi trường sống của cộng đồng dân cư thị trấn nói riêng và của cả vùng nói chung

Cụ thể, chất lượng nước của vùng đang có xu hướng giảm do chưa có biện pháp xử lýtriệt để với nước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thải công nghiệp Chỉ một số doanhnghiệp trong cụm công nghiệp phía Nam thị trấn lắp đặt hệ thống xử lý nước thải côngnghiệp tuần hoàn Ngoài ra, nước thải từ các hộ gia đình và khu sản xuất kinh doanh nhỏ

lẻ đều chỉ được chảy qua bể tự hoại hai ngăn sau đó đổ trực tiếp ra môi trường Bên cạnh

đó, việc sử dụng ồ ạt hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong sản xuất nôngnghiệp cũng gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước

Chất lượng môi trường không khí trong địa bàn nghiên cứu cũng đạt được mứcđiểm số thấp, nguyên nhân quan trọng là do khí thải từ các cơ sở sản xuất đúc đồng và đồ

gỗ mỹ nghệ được thải trực tiếp ra môi trường mà chưa qua xử lý Đặc biệt khí thải từ hoạtđộng đúc đồng rất độc hại, do có chứa nhiều SO2, CO, NOx và các kim loại nặng gây ảnhhưởng đến sức khỏe người nhân dân, đặc biệt những hộ gần khu vực sản xuất [17] Bêncạnh đó, trong sản xuất nông nghiệp, việc đốt rơm rạ sau thu hoạch và phun thuốc trừ sâu

ồ ạt cũng là nguyên nhân làm suy giảm chất lượng không khí

Vấn đề rác thải sinh hoạt cũng đã được các cấp chính quyền quan tâm, xử lý Hiệnnay, thị trấn đã có đội ngũ công nhân đến từng tổ dân phố để thu gom và vận chuyển rác

về bãi chôn lấp tập trung Tuy nhiên, việc thu gom vẫn chưa triệt để, điển hình là khu vựctrung tâm thị trấn từ ngã tư Phố Cháy đến cụm công nghiệp mặc dù đã đôn đốc nhắcnhở , bổ sung kinh phí nhưng dọc hai bên bờ kênh, mái kênh, lòng kênh S40 rác thải vẫntồn tại, gây mất mĩ quan và ô nhiễm môi trường xung quanh Một số nơi vẫn còn để lạicác bãi rác tự phát không đúng nơi quy định như bãi rác ven đê kênh Tây ranh giới giữathị trấn Lâm và xã Yên Hồng, bãi rác trước trước trung tâm bưu điện huyện, bãi rác gầntrường tiểu học thị trấn Lâm

d) Mức độ tích cực của cộng đồng trong việc hạn chế suy giảm tài nguyên và bảo

vệ môi trường

Thị trấn chưa có sự tích cực trong việc lập các kế hoạch bảo tồn, hạn chế suy giảmtài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu và sự hưởng thụ của các thế hệ tương lai.Tuy nhiên, trong công tác bảo vệ môi trường và các hoạt động phục hồi (trồng cây, di dờicác loài phi bản địa, ), bước đầu đã có sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng

Trang 37

Phong trào trồng cây nhân dân gắn với phát triển kinh tế vườn-ao-chuồng được phát độngtrong dịp đầu xuân Nhâm Thìn, toàn thị trấn đã trồng được hơn 2000 cây các loại

3.2.2 Nhóm chỉ thị về nguồn lương thực, sản xuất và phân bố thực phẩm-I1.2

Nhóm chỉ thị này gồm 7 chỉ thị thành phần, trong đó có 2 chỉ thị về nguồn lươngthực (I1.2.1; I1.2.2), 2 chỉ thị về thói quen sử dụng lương thực bền vững (I1.2.3; I1.2.4) và 3 chỉthị về phương pháp sản xuất lương thực bền vững (I1.2.5; I1.2.6; I1.2.7)

a) Nguồn lương thực

Thị trấn Lâm có tổng diện tích gieo trồng nông nghiệp năm 2012 là 267,5ha (chiếm55% tổng diện tích toàn thị trấn) với cơ cấu cây trồng chủ yếu là lúa nước. Năng xuất lúabình quân 106,7 tạ/ha, sản lượng thóc đạt 2.899 tấn, với con số trên, nền nông nghiệpkhông chỉ đáp ứng nhu cầu lúa gạo trong địa bàn thị trấn mà còn được bán ra bên ngoài.Ngoài ra, bà con nông dân ở đây còn gieo trồng thêm các loại cây hoa màu khác như lạc,khoai lang, các loại cây rau đậu

b) Thói quen sử dụng lương thực bền vững

Đa số nhân dân địa phương có thói quen sử dụng lương thực, thực phẩm bền vững.Lương thực dư thừa chủ yếu được lưu trữ cho việc sử dụng trong tương lai, đem bán, chohoặc làm thức ăn động vật Thức ăn được tận dụng triệt để, đồ thừa thường được làmthức ăn cho động vật, một số ít bị thải bỏ như rác

Ngày đăng: 03/03/2017, 14:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mức đánh giá độ bền vững của phương pháp BS - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Hình 1. Mức đánh giá độ bền vững của phương pháp BS (Trang 21)
Bảng 4: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm các chỉ thị về - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Bảng 4 Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm các chỉ thị về (Trang 37)
Bảng 5: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về nguồn lương thực, sản - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Bảng 5 Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về nguồn lương thực, sản (Trang 38)
Bảng 8: Điểm số các chỉ thị thành phần của nhóm chỉ thị về nguồn nước, - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Bảng 8 Điểm số các chỉ thị thành phần của nhóm chỉ thị về nguồn nước, (Trang 42)
Bảng 9: Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về nước thải - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Bảng 9 Điểm số các chỉ thị thành phần trong nhóm chỉ thị về nước thải (Trang 43)
Bảng 10: Điểm số các chỉ thị thành phần của nhóm chỉ thị về nguồn năng lượng - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Bảng 10 Điểm số các chỉ thị thành phần của nhóm chỉ thị về nguồn năng lượng (Trang 44)
Bảng 11: Kết quả đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái vùng TT Lâm, - Bước đầu nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững sinh thái tại thị trấn lâm, ý yên nam định bằng phương pháp đánh giá tính bền vững cộng đồng
Bảng 11 Kết quả đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh sinh thái vùng TT Lâm, (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w