Vì lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu và làm rõ quy luật phát sinh, sinh trưởng và phát triển của cây con; phân tích những ảnh hưởng của các điều kiện môi trường và cấu trúc quần thụ đến đ
Trang 1MỞ ĐẦU
Rừng tự nhiên ở nước ta đã và đang bị cạn kiệt mà một trong những nguyên nhân là do sử dụng các phương thức khai thác - tái sinh không phù hợp với những nguyên lý lâm sinh
Hiện nay một nhiệm vụ cấp thiết đang được đặt ra đối với ngành Lâm nghiệp
là khôi phục lại vốn rừng, nâng cao năng suất và chất lượng rừng so với tiềm năng vốn có của chúng Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, đòi hỏi phải có những hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng, trước hết là các quá trình tái sinh, sự hình thành và động thái biến đổi của rừng tương ứng với những điều kiện môi trường tự nhiên khác nhau Vì lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu và làm rõ quy luật phát sinh, sinh trưởng và phát triển của cây con; phân tích những ảnh hưởng của các điều kiện môi trường và cấu trúc quần thụ đến động thái tái sinh dưới tán rừng của cây Trai là một việc làm cần thiết và cấp bách
Trước đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về đặc tính sinh thái của một số loài cây trong đó có họ Sao - Dầu ở Đông Nam Bộ (Bộ Lâm nghiệp, 1991; V Văn Chi, 1987; Nguy n Lương Duyên, 1985; V Tiến Hinh và ctv, 1992; Phan Liêu và ctv, 1988; Lâm Xuân Sanh, 1986; Thái Văn Trừng, 1985; 1998)([4]; [5]; [8]; [11]; [13]; [17]; [27]; [26]), đối với cây Trai trước đây và hiện nay các công trình nghiên cứu về đặc tính tái sinh còn ít, do đó phạm vi và đối tượng nghiên cứu còn hạn chế, việc kế thừa những tài liệu đã có và tiếp tục đi sâu nghiên cứu đặc tính sinh thái tái sinh tự nhiên thông qua những ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến
cây Trai là việc làm cần thiết Vì lý do đó, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh thái tái sinh tự nhiên của quần thể Trai (Fagraea fragrans Roxb) trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở khu vực Bình Châu - Phước Bửu” đã được đặt ra
Trang 2Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Lịch sử nghiên cứu tái sinh, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái của một số loài cây trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu tái sinh
Các nghiên cứu đã cho thấy những khu rừng đưa vào khai thác chính luôn có
đủ lượng cây con với chất lượng tốt, để tạo ra quần thụ mới thay thế quần thụ đưa vào khai thác (Phạm Hoàng Ban, 2000; V Văn Chi, 1987; V Xuân Đề, 1989; Lâm Xuân Sanh, 1986; Thái Văn Trừng, 1985; Hoàng Văn Thân, 1998)[1 ; [5 ; [7 ; [17 ;
[27]; [19] Do đó, nghiên cứu các biện pháp giữ lại lớp cây con dưới tán rừng để tạo
rừng sau khai thác là việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn Bởi vậy, vấn đề tái sinh rừng tự nhiên trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của lâm sinh học hiện
đại
Khi nghiên cứu hiệu quả tái sinh rừng (Mibbreuad, 1930; Aubreville, 1938; Richards, 1933; 1939; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955; 1956; Schultz, 1960; Baur, 1976; 1979; Rollet, 1969) đã cho rằng hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố (dẫn theo Nguy n Văn Thêm, 1992)[20 Tuy nhiên, trong nghiên cứu
họ chỉ tập trung nghiên cứu các loài cây có ý nghĩa về mặt thực ti n ở trong tổ thành cây tái sinh Đối với rừng mưa nhiệt đới, do quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Cho nên phần lớn đến nay, những tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường mới chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi
Về đặc điểm tái sinh Van steenis (1956)[39 cho rằng hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng C ng ở chủ đề này, hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng được trao đổi nhiều hơn Kết quả đó đã được đưa vào ứng dụng trong phương thức
Trang 3lâm sinh để tác động vào rừng tự nhiên Điển hình như công trình của Bernard (1954 và 1959) (dẫn theo Nguy n Duy Chuyên, 1996)[6 ; cụ thể đối với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai, Băc Borneo được đề cập bởi Nicholson (1958); Donis
và Maudoux (1951; 1954); công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia theo Taylor (1954), Jones (1960) (dẫn theo Grieg, 1964)[35 ; phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana c ng được Barnarji (1959) nghiên cứu (dẫn theo Nguy n Duy Chuyên,1996)[6 với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann Đánh giá ứng dụng trên thông qua các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được đề cập bởi Baur (1964)[2 tổng kết trong tác phẩm: “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”
Richards (1965)[16 , Kimmins (1998)[36 đã tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đi đến nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân
bố Poisson Ở Châu Phi Tayloer (1954); Barnard (1955) trên cơ sở các số liệu thu thập đã xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải
bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Song ở Châu Á, tác giả Budowski (1956); Bava (1954); Atinot (1965) nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới lại nhận định: dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên
đề xuất các biện pháp lâm sinh cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguy n Duy Chuyên, 1996)[6
Ở Châu Phi Obrevin (1938), nhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm Lý luận “bức khảm tái sinh” được Obrevin đúc kết sau khi đã khái quát hoá các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới, song phần lý giải các hiện tượng đó còn hạn chế Do lý luận đó ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực ti n sản xuất Ở rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ, Davit và Richards (1933); Bơt (1946); Sun (1960); Rollet (1969) nhận định khác hẳn với nhận định của Obrevin (dẫn theo Hoàng Kim Ng và Phùng Ngọc Lan, 1997)[14 Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ
và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài Có được kết quả đó, khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên,
Trang 4nhiều tác giả áp dụng phương pháp điều tra bằng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Longman and Jơnik (1974)[38 có diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Với diện tích ô nhỏ, nên thuận lợi trong điều tra, song đòi hỏi số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Sau này Bernard (1950), đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô
đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau nhằm mục đích giảm bớt sai số (dẫn theo Nguy n Duy Chuyên, 1996)[6 Theo lý thuyết tái sinh tuần hoàn thành bức khảm khá hấp dẫn của Aubréville A thì thành phần ưu hợp trong rừng mưa hỗn hợp nhiều loài đều không
cố định trong không gian và thời gian, không có loài nào đạt được ưu thế cân bằng sinh thái với hoàn cảnh một cách vĩnh vi n và ổn định Nhưng Aubréville vẫn không giải thích được do tác nhân nào, cơ chế nào mà dẫn đến sự phát sinh xã hợp này hay xã hợp khác, do đó c ng như Chevalier đã phủ định sự tồn tại của những quần hợp hay những ưu hợp trong rừng mưa nhiệt đới và trước đây chính tác giả của công trình này c ng nhất trí với quan điểm đó Van Steenis (1956)[39 , đã nhận xét là trong rừng mưa nhiệt đới, còn có một cách tái sinh nữa c ng rất phổ biến đó
là cách tái sinh từng vệt Tác giả gọi những loài cây tiên phong tái sinh theo vệt là loài tạm thời hay tạm cư, còn những loài cây mọc sau là loài định cư hay định vị
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy Ramakrishnan (1981, 1992), đã nghiên cứu từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ thấy rằng chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình di n thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và ctv (1993),
đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có
17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài (Phạm Hồng Ban, 2000)[1 Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó
Trang 5được kết luận bởi tác giả Saldarriaga (1991), khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên tại rừng nhiệt đới sau nương rẫy ở Colombia và Venezuela (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)[1]
Vấn đề di n thế sau nương rẫy Lambertetal (1989); Warner (1991); Rouw (1991) đã nhận xét: đầu tiên đám nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5 - 10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây rừng mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy c mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1998)[26
Sự phát triển của nền công nghiệp ở thế kỷ XIX, trong ngành lâm nghiệp của thế giới đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo năng
suất cao nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế Beard (1947) đã gọi là "bệnh sởi trồng rừng" sau những thất bại về tái sinh nhân tạo ở Đức và một số nước nhiệt đới
mà nguyên nhân là do thiếu sinh tố sinh thái học, nhiều nhà khoa học đã nghĩ tới việc quay trở lại với tái sinh tự nhiên (dẫn theo Trần Cẩm Tú, 1999)[25
Richards (1952)[15 đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản
và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không r ràng theo Baur (1979)[3 Ngoài ra, các tác giả nhận định, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh Mặc
dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ
Trang 6tái sinh thường khá lớn đối với rừng nhiệt đới Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy đủ tất cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để từ đó có những đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp
1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm cây Trai
Cây Trai (Trai Nam bộ) (Tembusu) Fagraea fragrans Roxb (F.cochinchinensis (Lour.) A Chev.); thuộc họ Mã Tiền (Loganiaceae)
Cây gỗ nhỡ, thường xanh, cao trung bình 20m,
thân thẳng, gốc có bạnh nhỏ, tán thưa, đều Cành nhánh
mảnh màu nâu vàng, có nhiều mấu
Vỏ màu xám vàng hay nâu, nứt dọc, thịt vỏ dày
có xơ, lá đơn, nguyên, hình bầu dục, đỉnh có m i ngắn,
gốc thót lại, mép răn reo, gấp lại, phiến lá dày, dai, dài 4
– 15cm, rộng 1,5 – 5cm nhẵn, gân bên 10 – 16 đôi
Cuống lá dài 1 – 25cm
Cụm hoa hình ngù, phân nhánh, mỗi nhánh có 20
– 30 hoa ở nách lá hay đầu cành
Hoa nhỏ màu trắng, thơm Cánh đài 5, đính lại thành ống, trên chia 5 thùy, cánh tràng 5, hợp ở gốc, nhị 5, mảnh Bầu nhẵn có vòi dài
Quả hạch, gần hình cầu, màu đỏ nhạt, đường kính khoảng 1cm đỉnh có m i nhọn Hạt có góc
Trang 7lá, ưa đất cát, thoáng, nhưng chịu được ngập nước nên thường phân bố dọc theo bờ nước vùng núi
Cây ưa sáng, sinh trưởng trung bình
Gỗ có phẩm chất tốt, màu vàng, rất cứng, nặng, tỷ trọng d = 0,85, thớ gỗ mịn, bền ngay cả trong nước, dùng để đóng các đồ mộc cao cấp, đóng tàu thuyền…
1.1.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái
Các nhân tố sinh thái như: nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng),
độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi của rừng nhiệt đới là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này (V Tiến Hinh, 1991; Hoàng Kim
Ng và Phùng Ngọc Lan, 1997; Thái Văn Trừng, 1998; Lamprecht H., 1989)[10 ; [14 ; [26 ; [37 Căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Lamprecht (1989)[37 đã nhận xét rằng: kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng
Yurkevich (1960) và Timofeev (1964), đã chứng minh độ dày tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 0,7 (Dẫn theo Nguy n Văn Thêm, 1992)[20 Quan điểm cho rằng độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con được đề cập bởi Orlov, 1951; Alekseev,
1954 và Makximov, 1971 (dẫn theo Nguy n Văn Thêm, 1992)[20 Sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không r ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Mật độ và sức sống của cây con chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi độ khép tán của quần thụ (Baur, 1964)[2]
Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, Karpov, 1969 đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại
Trang 8giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật (dẫn theo Nguy n Văn Thêm, 2002)[20
Xannikov, 1967; Vipper, 1973 cho rằng: tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Ảnh hưởng không đáng kể đến các cây
gỗ tái sinh trong các quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (dẫn theo Nguy n Văn Thêm, 2002)[20]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng và dinh dưỡng đến khả năng tái sinh, theo Richards, 1965 nhận định: sau thời kỳ thứ nhất, chắc chắn vào năm đầu hay năm sau, cây mạ từ hạt giống mọc lên thường bị chết hàng loạt do thiếu chất dinh dưỡng và do thiếu ánh sáng, những cây con và cây nhỡ được sống sót lại phải trải qua một thời kỳ ức chế kéo dài đến mấy năm, thậm chí hàng chục năm do sự cạnh tranh dành lấy ánh sáng và sau đó, khi có điều kiện thuận lợi mới vươn lên, với một tốc độ sinh trưởng rất nhanh, để chiếm lấy vị trí trong tầng mà chúng sẽ là thành viên chính thức (Richards, 1965)[16
1.2 Lịch sử nghiên cứu tái sinh, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến một số loài cây ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước đây đã có một số công trình khảo sát về hệ thực vật rừng
ở miền Đông Nam Bộ (Maurand, 1952; Rollet, 1952; Vidal, 1958; Schmid, 1962) (dẫn theo Phạm Ngọc Toàn, 1988)[24 Sau này, một số tác giả đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là các công trình của V Văn Chi, 1987; Nguy n Lương Duyên, 1985; Nguy n Văn Thêm, 1992; Thái Văn Trừng, 1998 ([5 ; [8 ; [20 ; [26 ) Nghiên cứu quy luật phát sinh, tái sinh tự nhiên và di n thế thứ sinh, Thái Văn Trừng (1998)[26 , đã nhận định: trong thiên nhiên nhiệt đới không có quần hợp và chỉ có những loài ưu thế Sau này đã có nhận định lại và lấy những kiểu thảm thực vật làm đơn vị cơ bản của thảm thực vật Tác giả c ng cho rằng tồn
Trang 9tại những dạng quần hợp thực vật; những ưu hợp thực vật; những phức hợp Song nhận định này chưa làm r các nguyên nhân khống chế sự hình thành những quần hợp, ưu hợp, phức hợp tự nhiên nữa hay không? Giải quyết khúc mắc đó, Lê Viết Lộc đã dùng một số chỉ tiêu khác, ngoài số lượng cá thể cây để tính sinh khối trên diện tích điều tra như chiều cao, tiết diện ngang vv để tính độ ưu thế của các loài
và đã giải quyết được vấn đề trên khi tác giả thực hiện công trình nghiên cứu “Bước đầu điều tra thảm thực vật trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương” (dẫn theo Nguy n Duy Chuyên, 1996)[6
Công trình nghiên cứu về tái sinh Khi tìm hiểu về cây dầu con rái Ashton,
cho rằng Dipterocarpus alatus mọc cụm ở ven sông, chỉ tái sinh sau những trận lụt
lớn (dẫn theo Phạm Ngọc Toàn, 1988)[24 Trong khi nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, kiểu cách tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh theo vệt hay theo
lỗ trống (Richard, 1965; Phạm Ngọc Toàn, 1988)[16 ; [24 Tái sinh rừng trong quan hệ với cấu trúc rừng c ng đã được làm sáng tỏ trong những nghiên cứu của Nguy n Văn Trương (1984)[28 Theo V Tiến Hinh (1991), để xác định tính chất tái sinh liên tục hay định kỳ của các loài cây gỗ có thể dùng phương pháp đếm tuổi các thế hệ cây gỗ [10
Ở nước ta, hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về tái sinh rừng, đặc biệt là tái sinh tự nhiên Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường chỉ được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật hoặc trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng, Phùng Ngọc Lan (1986)[12 đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu
L ng, Lạng Sơn Nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm ngay từ giai đoạn nảy mầm là bọ xít
Từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái năm 1965, Hà Tĩnh năm 1966, Quảng Bình năm 1969 và Lạng Sơn năm 1969 Đáng chú ý nhất là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu từ 1962 đến
Trang 101964 bằng phương pháp đo đếm điển hình V Đình Huề (1975)[9 đã căn cứ vào kết quả điều tra tái sinh, mật độ cây tái sinh, phân chia khả năng tái sinh rừng thành
5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật độ tái sinh tương ứng là trên 12.000 c/ha, 8.000 - 12.000 c/ha, 4.000 - 8.000 c/ha; 2.000 - 4.000 c/ha và dưới 2.000 c/ha Kết quả nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh V Đình Huề (1975)[9 đã tổng kết và rút ra nhận xét dựa trên các kết quả nghiên cứu trên như sau: tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh,
tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện r nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng
Thái Văn Trừng (1998)[26 , khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam
đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển của cây tái sinh Theo tác giả, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh
Nguy n Văn Trương (1984)[28 đã đề cập mối quan hệ giữa cấu trúc quần xã thực vật rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài Điều này sẽ được đề tài vận dụng trong nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, thông qua yếu tố độ tàn che của tán rừng
Khi nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng, trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguy n Duy Chuyên (1996)[6 đã khái quát được đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu di n bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu Khi tiến hành nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh Trần Cẩm
Tú (1999)[25 đã rút ra kết luận, áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái
Trang 11sinh rừng, phải chú trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện các biện pháp mở tán rừng, chặt cây gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai thác phải tiến hành dọn vệ sinh rừng
Khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam Trần Ng Phương (2000) đã nhấn mạnh quá trình di n thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: "Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc c ng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng
về sau, dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng c trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng c sẽ được phục hồi" Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật phát triển của các loại hình rừng tự nhiên, từ đó tác giả và các cộng tác viên xây dựng bảng cân đối giữa một bên là mặt thoái hoá và một bên là mặt phục hồi tự nhiên, đã kết luận: "mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái hoá về số lượng c ng như chất lượng, nên muốn đảm bảo cho đất một độ che phủ thích hợp, chúng ta không thể trông cậy vào quy luật tái sinh tự nhiên mà chỉ có thể
đi theo con đường tái sinh nhân tạo, và phương thức chặt tỉa thưa kết hợp với tái sinh tự nhiên hiện nay phải bị lên án" (dẫn theo Nguy n Văn Thêm, 2002)[21
Từ thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết và làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp
kỹ thuật chính xác
1.3 Thảo luận
Ngoài những nội dung nghiên cứu trên đây, một số tác giả khác c ng mới chỉ hướng vào đánh giá thực trạng tài nguyên rừng, nghiên cứu khu hệ thực vật rừng và tài nguyên đất với mục đích quy hoạch và phục vụ định hướng phát triển kinh tế
Trang 12Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn Những số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và ít được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới
Qua những kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng chỉ
ra cho chúng ta thấy được các phương pháp nghiên cứu của một số tác giả c ng như những quy luật tái sinh ở một số nơi Song các phương pháp được các tác giả sử dụng hầu hết là căn cứ vào sinh trưởng, kết cấu rừng,…để khái quát hoá lên quy luật phát sinh, phát triển của cây tái sinh Trong khi việc áp dụng các phương pháp hoàn toàn định lượng dựa vào xác suất để xác định đặc tính sinh thái của loài cây Trai chưa có nghiên cứu cụ thể nào, đặc biệt tại địa điểm Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, Tỉnh Bà Rịa V ng Tàu
Xét về nội dung, việc chỉ r ra các nhân tố sinh thái ảnh hưởng tới độ phong phú của cây tái sinh Trai đều là những thông tin trực tiếp liên quan tới khả năng xuất hiện và tồn tại c ng như đặc tính của chúng trong điều kiện tự nhiên là việc làm rất có ý nghĩa, song chưa có nhiều các tác giả nghiên cứu Một số nghiên cứu
c ng đã làm r ảnh hưởng của độ tàn che và thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của một số loài cây trong giai đoạn gieo ươm hoặc nghiên cứu về vùng phân
bố tự nhiên và điều kiện sinh thái phát sinh quần thể như (khí hậu, địa hình - đất),
về ảnh hưởng của cường độ ánh sáng hay độ tàn che đến tái sinh của một số loài cây Tuy nhiên, cho đến nay việc hiểu r ảnh hưởng độ tàn che, độ ẩm và pH của tầng đất mặt và trạng thái rừng đến độ phong phú của loài cây Trai, đặc biệt là tại Khu bảo tồn thiên Bình Châu – Phước Bửu còn rất hạn hế Vì vậy, khi nghiên cứu
đề tài này, tác giả tập trung vào làm r xác suất bắt gặp (độ bắt gặp) loài cây Trai tùy thuộc vào độ tàn che tán rừng, độ ẩm và pH của đất và trạng thái rừng Kết quả của đề tài là căn cứ khoa học để làm sáng tỏ đặc tính sinh thái, kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng loài cây Trai trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, Tỉnh Bà Rịa V ng Tàu
Trang 13Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu, phạm vi và ý nghĩa nghiên cứu
(b) So sánh độ phong phú của cây tái sinh Trai trong hai kiểu trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quần thể Trai trong giai đoạn tái sinh tự nhiên dưới tán hai trạng thái rừng bán ngập (R1) và rừng phục hồi (R2) thuộc kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới Địa điểm nghiên cứu là Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu – tỉnh BRVT Nội dung nghiên cứu chỉ bao gồm ảnh hưởng của trạng thái rừng, độ tàn che tán rừng, độ ẩm và độ pH của tầng đất mặt đến độ bắt gặp cây tái sinh tự nhiên của loài Trai Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất sơ bộ một số biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên Trai dưới tán rừng
2.1.3 Ý nghĩa của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài đưa lại những ý nghĩa sau đây:
(1) Về lý luận, những kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu
để làm r đặc tính sinh thái của cây Trai trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở BRVT
Trang 14(2) Về thực ti n, những kết quả nghiên cứu của đề tài là căn cứ khoa học cho việc áp dụng những biện pháp tái sinh (tự nhiên và nhân tạo) và nuôi dưỡng cây Trai
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quần thể cây tái sinh tự nhiên của loài Trai Chúng sống và phát triển dưới tán hai trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới Địa điểm nghiên cứu được chọn là Khu bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu - Tỉnh Bà Rịa V ng Tàu Thời gian nghiên cứu từ tháng 02/2011 đến tháng 10/2011
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
(1) Đặc điểm chung của hai trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi
(2) Ảnh hưởng của môi trường đến độ phong phú của quần thể Trai
a Ảnh hưởng của độ tàn che tán rừng
b Ảnh hưởng của độ ẩm tầng đất mặt
c Ảnh hưởng của độ pH tầng đất mặt
d Ảnh hưởng tổng hợp của độ tàn che tán rừng, độ ẩm và pH tầng đất mặt (3) Ảnh hưởng của trạng thái rừng đến độ phong phú của quần thể Trai
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở khoa học của phương pháp luận là dựa trên những quan niệm sau đây: (1) Rừng là một hệ sinh thái; trong đó quần thụ = f (khí hậu, địa hình - đất, sinh vật, con người) Vì thế, sự hình thành và phát triển của những thành phần quần thụ phải được xem xét trên quan điểm hệ sinh thái
(2) Sự phát sinh và phát triển của những loài cây tái sinh dưới tán rừng luôn
bị kiểm soát bởi tập hợp nhiều yếu tố; trong đó một số yếu tố giữ vai trò chủ đạo, còn những yếu tố khác chỉ có vai trò thứ yếu Trong số những yếu tố môi trường có ảnh hưởng lớn đến tái sinh rừng mà con người có thể d dàng đo đếm được, thì độ tàn che tán rừng và đặc tính lý - hóa của đất (độ ẩm và pH của tầng đất mặt) là
Trang 15những yếu tố có ý nghĩa nhiều mặt cả về khoa học, cả về năng lực tài chính, thời gian,…cho nên nó được lựa chọn và coi là yếu tố chính Vì thế, độ phong phú của những lớp cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng cần được xem xét trong quan hệ với
độ tàn che tán rừng, độ ẩm và pH của tầng đất mặt Đó c ng là lý do, đề tài lựa chọn
3 yếu tố độ ẩm đất, độ pH đất và độ tàn che tán rừng để nghiên cứu
(3) Độ phong phú của những loài cây gỗ c ng thay đổi tùy theo trạng thái của quần xã hay trạng thái rừng Ở những quần xã bị rối, độ phong phú của các loài cây gỗ có thể bị thay đổi mạnh Nguyên nhân là do những rối loạn trong quần xã đã làm thay đổi điều kiện sống và số lượng cá thể của các loài Ngoài ra, do trạng thái rừng khác nhau, nên mối quan hệ của các loài cây gỗ với các yếu tố môi trường
c ng thay đổi Vì thế, khi xem xét mối quan hệ giữa độ phong phú của loài với các yếu tố môi trường thay đổi, tác giả c ng hướng vào xem xét độ bắt gặp những loài cây Trai tùy thuộc vào trạng thái của quần xã hay trạng thái rừng Như vậy, bằng cách xem xét mối quan hệ giữa độ phong phú của loài trong những quần xã khác nhau với các yếu tố môi trường thay đổi, có thể xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố sinh thái trong các trạng thái rừng đến độ bắt gặp cây Trai
(4) Quan hệ giữa độ phong phú của những loài cây gỗ với các yếu tố môi trường còn thay đổi tùy theo tuổi Vì thế, xác định tối ưu sinh thái và tính chống chịu của các loài đối với các yếu tố môi trường ở những giai đoạn tuổi khác nhau là cần thiết
(5) Khi xem xét mối quan hệ giữa độ phong phú của loài với các yếu tố môi trường, thì “Độ phong phú” của loài được sử dụng theo nghĩa hẹp, nghĩa là nó chỉ biểu thị độ bắt gặp loài cây (bắt gặp = 1, không bắt gặp = 0) trên những ô mẫu có kích thước nhất định Theo cách thu thập số liệu về độ phong phú của loài như thế, nên cách xử lý số liệu thích hợp nhất để phân tích mối quan hệ của loài với môi trường là hồi quy logit Kết quả tính toán hồi quy logit chỉ ra xác suất bắt gặp loài tùy theo mức độ biến đổi của biến môi trường Theo đó, khi môi trường sống thích hợp thì xác suất bắt gặp loài sẽ có trị số cao Ngược lại, khi môi trường sống không thích hợp thì xác suất bắt gặp loài sẽ có trị số thấp
Trang 162.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.2.1 Thu thập dữ liệu về đặc trưng của các trạng thái rừng
(a) Trước hết, thông qua điều tra và bản đồ hiện trạng rừng của khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu (Bản đồ 01), xác định hai trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi theo chỉ dẫn của Loschau, 1961 Việc phân chia những trạng thái rừng là tạo thuận lợi cho việc xác định chính xác đối tượng nghiên cứu
(b) Kế đến, xác định những đặc trưng lâm học của hai trạng thái rừng Đặc trưng lâm học của hai trạng thái rừng được thống kê điển hình trên những ô tiêu chuẩn 2.000 m2 Số lượng mẫu phân bố vào mỗi trạng thái rừng là 3 ô tiêu chuẩn; tổng số 6 ô tiêu chuẩn Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thực hiện đo đếm những chỉ tiêu sau đây:
- Thành phần loài cây gỗ lớn có D1.3 > 8 cm và sắp xếp theo chi và họ
- Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D1,3, cm) Chỉ tiêu này được đo hai chiều vuông góc và lấy giá trị trung bình, độ chính xác là 0,5 cm
- Chiều cao thân cây, bao gồm chiều cao toàn thân - kí hiệu HVN (m) và chiều cao dưới cành lớn nhất còn sống (HDC, m) Tất cả được đo bằng thước đo cao Blumme-Leise với độ chính xác 0,5 m
- Mô tả tình trạng tái sinh rừng thông qua 5 ô dạng bản đặt ở 4 góc và trung tâm ô tiêu chuẩn 2.000m2
Ô dạng bản có kích thước 2*2 m (4 m2) Cây tái sinh được thống kê theo loài và cấp chiều cao, bắt đầu từ H =10 cm đến H ≤ 4 m
2.4.2.2 Thu thập độ bắt gặp loài trong quan hệ với các yếu tố môi trường
Trình tự đo đạc như sau:
(a) Trước hết, bố trí 05 tuyến cắt ngang qua hai trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi Mỗi tuyến có bề rộng 20 m, chiều dài tùy thuộc vào trạng thái rừng
(b) Kế đến, trên mỗi tuyến của một trạng thái rừng, cứ sau 100 m lại bố trí 1
ô mẫu với kích thước 20*20 m hay 400 m2 Dự kiến mỗi trạng thái rừng cần đo đạc
30 - 50 ô mẫu 400 m2 Trong mỗi ô mẫu, những dấu hiệu đo đạc chỉ bao gồm độ bắt gặp cây tái sinh của loài Trai, độ tàn che tán rừng, độ ẩm và
O)
pH của tầng đất mặt Độ bắt gặp Trai được ghi nhận bằng hai biến định danh – đó là bắt gặp (mã hóa
Trang 17= 1) và không bắt gặp (mã hóa = 0) Để thấy r phản ứng của Trai ở những tuổi khác nhau đối với sự thay đổi độ tàn che tán rừng, độ ẩm và
O)
pH của tầng đất mặt, những cây tái sinh của loài Trai được phân chia thành ba nhóm tuổi Nhóm 1 là những cây tái sinh có H ≤ 50cm (Tr3) Nhóm 2 là những cây tái sinh có H = 50 - 100cm (Tr2) Nhóm 3 là những cây tái sinh có H > 100 cm cho đến những cây có
D1.3 < 8cm (Tr1) Độ ẩm (%) và
O)
pH của tầng đất mặt được xác định ở trung tâm
ô mẫu 400m2 bằng máy đo nhanh (máy Soil pH & Moisture Tester, Model DM - 15), còn độ tàn che tán rừng được xác định bằng mục trắc Với đặc điểm các yếu tố
độ pH đất và độ ẩm đất có thể thay đổi theo thời gian, trong khi số dung lượng điểm lấy mẫu lớn (100 điểm), vậy để đảm bảo cho giá trị của độ ẩm đất và độ pH thống nhất, ít bị biến động theo thời gian, nên khi tiến hành thu thập số liệu, tác giả thực hiện đồng bộ về thời gian và cách thức đo đếm Cụ thể tiến hành như sau: Trước tiên, xác định và đánh dấu các điểm đo từ 1 đến 120 trên bản đồ và thực địa, việc xác định được thống nhất cho tất cả đoàn điều tra Kế đến, tập huấn về sử dụng máy
và cách đo đếm hai trị số Tiếp theo, chia đoàn điều tra thành 3 nhóm, tiếp cận 120 điểm lấy mẫu để đo đếm hai yếu tố độ ẩm đất và độ pH đất trong quỹ thời gian 3 giờ (từ 8 giờ đến 11 giờ) cùng một ngày Hai yếu tố độ ẩm đất và độ tàn che đã được xác định từ 8 giờ đến 11 giờ, ngày 09 tháng 10 năm 2011
2.4.2.3 Thu thập những số liệu khác
Những số liệu khác cần thu thập bao gồm số liệu về khí hậu - thủy văn, đất
và những hoạt động lâm sinh Cách thức thu thập được thực hiện theo những chỉ dẫn chung trong lâm học Tất cả số liệu thu thập trên ô tiêu chuẩn được ghi vào bảng ngoại nghiệp
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Trình tự xử lý số liệu như sau:
2.4.3.1 Tính toán những đặc trưng lâm học của các trạng thái rừng
+ Đối với thành phần cây lớn
Trước hết, tập hợp những số liệu điều tra trên những ô tiêu chuẩn 2000m2theo hai trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi
Trang 18Kế đến, tính những đặc trưng thống kê mô tả (trung bình, nhỏ nhất, lớn nhất, sai tiêu chuẩn, phạm vi biến động, hệ số biến động…) cho những nhân tố điều tra như mật độ, tiết diện ngang thân cây, trữ lượng gỗ, tổ thành hay độ ưu thế của loài… Độ ưu thế (%) của loài được tính trung bình từ ba tham số - đó là mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng thân cây Tiết diện ngang và trữ lượng gỗ thân cây được xác định bằng biểu thể tích lập sẵn trong sổ tay điều tra rừng Sau đó quy đổi ra đơn
vị 1ha rừng
+ Đối với thành phần cây tái sinh
Trước hết, tập hợp những ô dạng bản theo từng trạng thái rừng Kế đến, trong mỗi trạng thái rừng tính những chỉ tiêu sau đây:
+ Mật độ cây tái sinh Chỉ tiêu này được tính bằng cách nhân số cây tái sinh trên 1 ô dạng bản (mỗi ô 4 m2) với hệ số 250 (= 10.000 m2/4 m2)
+ Phân chia cây tái sinh theo nhóm loài Cây tái sinh được phân loại theo hai nhóm loài – đó là nhóm cây mục đích và những loài khác Nhóm loài cây mục đích được quy ước là những loài cho gỗ lớn như cây họ Dầu (Sao đen, Vên vên, Dầu rái ), Bằng lăng, Bình linh, Trường, Gụ bông lau Mục đích là xem xét khả năng tái sinh của các loài cây dưới tán rừng; đánh giá vai trò của Trai trong kết cấu rừng hiện tại và tương lai
Sau đó, từ số liệu tính toán thuyết minh và phân tích những vấn đề sau đây: + Thành phần loài cây gỗ lớn và vai trò của các loài trong sự hình thành quần
xã, đặc biệt là Trai Phân tích loài cây phân bố theo họ; những loài cây gỗ lớn, gỗ quý; những loài cây khác Vai trò của loài được đánh giá thông qua độ ưu thế trung bình của nó
+ Kết cấu tiết diện ngang và trữ lượng gỗ của các trạng thái
+ Số loài cây tái sinh dưới tán rừng
+ Mật độ tái sinh, chất lượng và phân bố cây theo cấp chiều cao
+ Đánh giá chung về kết quả tái sinh rừng…
2.4.3.2 Tính toán độ bắt gặp loài trong quan hệ với trạng thái rừng
Trang 19Trạng thái rừng được chia thành 2 kiểu rừng bán ngập và rừng phục hồi Vấn
đề đặt ra ở đây là tần số xuất hiện cây tái sinh của loài Trai có phụ thuộc căn bản vào trạng thái rừng hay không? Để làm r vấn đề này, cách giải quyết là lập bảng chéo R*C; ở đây R = hàng, C = cột (Mẫu bảng 1) Khi biến phản hồi (độ bắt gặp loài) được mã hóa là 1 (bắt gặp loài) và 0 (không bắt gặp loài), thì phản hồi kỳ vọng
Ey là tần số kỳ vọng hay là xác suất xuất hiện loài cây trong 2 trạng thái rừng Tần
số kỳ vọng nhận được bằng cách chia tần số ô mẫu bắt gặp loài Trai cho tổng số ô mẫu của trạng thái rừng đó Như vậy, tần số tương đối chính là một ước lượng xác suất bắt gặp loài Trai
Mẫu bảng 1 Số lượng ô mẫu bắt gặp và không bắt gặp loài Trai
tùy thuộc vào trạng thái rừng Loài cây Rừng bán ngập Rừng phục hồi Tổng
() hoặc P < (0,05 hoặc 0,01), thì phân bố của loài cây có liên hệ với trạng thái rừng Ngược lại, nếu 2
< 2
() hoặc P > (0,05 hoặc 0,01), thì phân bố của loài cây không có liên
hệ với trạng thái rừng Những cách thức tính toán như trên được thực hiện theo 3 nhóm tuổi khác nhau – đó là nhóm cây: Tr1; Tr2 và Tr3
2.4.3.3 Tính toán độ bắt gặp loài trong quan hệ với các biến môi trường a) Tính độ bắt gặp loài Trai trong quan hệ với từng biến môi trường:
Phần dưới đây tính toán xác suất bắt gặp loài Trai theo ba nhóm tuổi khác nhau đó là: Tr1; Tr2 và Tr3
Trình tự tính toán như sau:
- Trước hết, tập hợp độ bắt gặp Trai và các biến môi trường (X1 = độ ẩm; X2
= pH đất; X3 = độ tàn che tán rừng) ở cả 2 trạng thái rừng
Trang 20- Tiếp đến, tính quan hệ giữa độ bắt gặp loài Trai với mỗi biến môi trường Ở đây xác suất bắt gặp loài (PX) tương ứng với một biến môi trường nhất định (Xi) được thăm dò bằng hai dạng mô hình hồi quy logit sau đây:
đa Để biết đường cong logit Gauss có phù hợp hơn đường cong sigmoid hay không, thực hiện kiểm định giả thuyết (H0: b2 = 0) bằng thống kê t Khi mô hình logit Gauss tồn tại và b2 < 0 một cách có ý nghĩa, thì từ mô hình 2 tính những ước lượng sau đây:
- Tối ưu sinh thái: U = 2bb1
- Tính chống chịu sinh thái: T = 1
- Xác suất lớn nhất bắt gặp loài: Pmax = exp(b0 + b1U + b2U
Ở đây xác suất bắt gặp loài Trai (PX) tùy theo tập hợp biến môi trường X1; X2
và X3 được thăm dò theo những dạng mô hình hồi quy logit sau đây:
+ Dạng mặt phẳng với hai biến dự đoán
loge[P/(1-P)] = b0 + b1X2 + b2X2 (2.7)
hay P = exp(b0 + b1X1 + b2X2)
1 + exp (b0 + b1X1 + b2X2)
Trang 21+ Dạng mặt phẳng với ba biến dự đoán
loge[P/(1-P)] = b0 + b1X2 + b2X2 + b3X3 (2.8)
hay P = exp(b0 + b1X2 + b2X2 + b3X3)
1 + exp (b0 + b1X2 + b2X2 + b3X3) + Dạng mặt logit Gauss 2 biến số:
loge[P/(1-P)] = b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 + b4X22 (2.9)
hay P = exp(b0 + b1X1 + b2X1
2 + b3X2 + b4X22) [1 + exp (b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 + b4X22)]
+ Dạng mặt logit Gauss 3 biến số:
loge[P/(1-P)] = b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 + b4X22 + b5X3 + b6X32 (2.10)
hay P = exp(b0 + b1X1 + b2X1
2 + b3X2 + b4X22 + b5X3 + b6X32) [1 + exp (b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 + b4X22 + b5X3 + b6X32)]
Ở các mô hình (7 - 10), biến độ ẩm; pH đất; độ tàn che Các tham số của mô hình được ước lượng theo nguyên lý hợp lý tối đa
Để thấy mặt phản hồi ở mô hình 9 và 10 có giảm đều theo hướng x1 hay không, thực hiện kiểm định giả thuyết về sự tồn tại của b2 bằng thống kê t (H0: b2 0; H0-: b2 < 0) Tương tự, sử dụng thống kê t để kiểm định sự tồn tại của b4 (H0: b4 0; H0: b4 < 0) và b6 (H0: b6 0; H0: b6 < 0) nhằm xác định mặt phản hồi có giảm đều theo hướng x2 và x3 hay không
Khi các mô hình 9 và 10 tồn tại, thì những thông tin về tối ưu (U) và tính chống chịu sinh thái (T) của loài đối với biến X1, X2 và X3 được tính toán bằng việc thêm tương ứng các tham số b1 và b2, b3 và b4 của mô hình 9 và b5 và b6 của mô hình 10 vào các phương trình từ 3 đến 6 Kết quả tính toán những thông tin về tối
ưu (U) và tính chống chịu sinh thái (T) ở đây có thể so sánh với kết quả tính toán từ
mô hình 2
c) Xác định sự tương tác giữa các biến giải thích
Hai biến giải thích cho thấy ảnh hưởng tương tác với nhau nếu ảnh hưởng của biến này phụ thuộc vào giá trị của biến khác Việc kiểm định ảnh hưởng tương tác của hai biến X1 và X2 có thể thực hiện bằng cách mở rộng phương trình (9) với
Trang 22biến thứ ba là tích số X1*X2 Mô hình Gauss của hàm 9 với một tích số có dạng logit như sau:
loge[P/(1-P)] = b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 + b4X22 + b5X1x2 (2.11)
hay P = exp(b0 + b1X1 + b2X1
2 + b3X2 + b4X22 + b5X1X2) [1 + exp (b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 + b4X22 + b5X1X2)]
Nếu b2 + b4 < 0 và 4b2b4 – b52 > 0, thì phương trình 11 là một mặt phẳng với đường viền ellipsoid Khi bề mặt là phẳng, thì tối ưu (U1, U2) c ng có thể được tính
từ các hệ số của hàm 11 như sau:
Việc so sánh ảnh hưởng của từng biến môi trường ở hai trạng thái rừng (R1
và R1) đến độ phong phú của loài Trai được thực hiện bằng cách phát triển mô hình hồi quy logit có dạng:
loge(P/(1-P)) = b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2 (2.15)
hay P = exp(b0 + b1X1 + b2X1
2 + b3X2) [1 + exp (b0 + b1X1 + b2X12 + b3X2)]
Trong đó X1 là độ ẩm đất hoặc pH đất hoặc độ tàn che tán rừng, còn X2 là biến giả biểu thị ảnh hưởng của trạng thái rừng Các quan sát ở trạng thái rừng R1 được mã hóa tương ứng X1 = 0 Các quan sát ở trạng thái rừng R2 được mã hóa tương ứng X2 = 1 Cách mã hóa như thế cho phép so sánh từng cặp biến phản hồi ở trạng thái rừng R1 với biến phản hồi ở trạng thái rừng và R2
Trang 23Khi biến đổi mô hình (15), có thể thu được hai mô hình mô tả xác suất bắt gặp loài Trai tùy thuộc vào mỗi biến môi trường trong 2 trạng thái rừng Hai mô hình có dạng:
+ Đối với trạng thái rừng R1
loge(P/(1-P)) = b0 + b1X1 + b2X12 (2.16)
hay P = exp(b0 + b1X1 + b2X1
2) [1 + exp (b0 + b1X1 + b2X12)]
+ Đối với trạng thái rừng R2
loge(P/(1-P)) = (b0 + b3) +b1X1 + b2X12 (2.17) Hai đường cong này sẽ có hai xác suất cực đại khác nhau, nhưng tối ưu sinh thái và tính chống chịu là giống nhau Hệ số b3 chỉ sự khác biệt giữa logit lớn nhất của đường cong đối với trang thái rừng R1 so với trạng thái rừng R2 Sự khác biệt giữa các cực đại của hai đường cong này được kiểm định bằng cách so sánh các sai tiêu chuẩn của sai lệch giữa hàm 16 với hàm 17 Nếu trạng thái rừng không có ảnh hưởng đến độ bắt gặp loài Trai, thì sự khác biệt là 2 với 1 độ tự do Từ các hàm 16
và 17, c ng có thể tính được tối ưu sinh thái và tính chống chịu sinh thái của loài Trai với từng biến môi trường Kết quả tính toán những thông tin về tối ưu (U) và tính chống chịu sinh thái (T) ở đây c ng có thể so sánh với kết quả tính toán từ các
Trang 24Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nghiên
3.1.1 Vị trí địa lý
3.1.1.1.Vị trí địa lý, ranh giới, địa hình
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu nằm trong địa phận hành chính các xã Phước Thuận, Xuyên Mộc, Bông Trang, Bưng Riềng và Bình Châu, thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - V ng Tàu (Bản đồ 01)
Tọa độ địa lý:
* Từ 10o27'57" đến 10o37'46" vĩ độ Bắc
* Từ 107o24'31" đến 107o36'07" kinh độ Đông
- Phía Bắc khu bảo tồn giáp Lâm trường Xuyên Mộc
- Phía Nam là Biển Đông từ ấp Hồ Tràm đến Bến Lội xã Bình Châu
- Phía Đông giáp huyện Hàm Tân thuộc tỉnh Bình Thuận
- Phía Tây giáp sông Hoả và Lộ 328
Tổng diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn là 11.392,0 ha Khu bảo tồn được chia làm hai phần r rệt do đường quốc lộ 55, bao gồm 11 tiểu khu rừng
Nhìn chung toàn bộ Khu bảo tồn có dạng địa hình đồi thấp trên nền phù sa cổ
và trầm tích biển là dạng chiếm diện tích chủ yếu, mang những nét đặc trưng của địa hình miền Đông Nam Bộ là đồi thấp bề mặt lượn sóng, địa hình tương đối bằng phẳng, thoai thoải từ 4 phía đổ vào trung tâm, tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau như sau:
- Vùng bằng phẳng: Chiếm diện tích 9.902,0 ha, trải rộng từ phía bắc đến phía nam, độ cao từ 20 – 50 m so với mặt biển, độ dốc bình quân từ 3 – 5o
- Vùng đồi: Bao gồm một số ngọn đồi có độ cao tuyệt đối từ 60 đến 160m như: Hồng Nhung (118m) nằm ở phía bắc thuộc phân trường I Lâm trường Xuyên Mộc, cụm Hồ Linh (cao từ 100 - 162m) nằm ở ven biển thuộc tiểu khu 51 Khu vực
Trang 25Mộ Ông, Gái Ma ở phía tây nam thuộc tiểu khu 49 Tổng diện tích của vùng có địa hình đồi là 350 ha
- Vùng hồ lòng chảo: Có diện tích khoảng 200 ha gồm các hồ tr ng ven sông suối thường ngập nước mùa mưa và các hồ có nước quanh năm như: Hồ Linh, Hồ Tràm, Hồ Cốc, Hồ Nhám, Hồ Tròn và Hồ Núi Le
- Vùng cồn cát ven biển: Diện tích 940 ha, chạy dọc trên 12 km bờ biển, ở khu bảo tồn thiên nhiên từ ấp Thuận Biên xã Phước Thuận đến bến lội xã Bình Châu Dạng địa hình này bao gồm các cồn cát di động đã ổn định có thảm thực vật che phủ và cồn cát di động chưa có thảm thực vật che phủ có độ cao từ 30 - 60 m so mặt nước biển (KBTTN Bình Châu, 2001)[32
* Đất Feralit màu đỏ: Phát triển trên đá Bazan có màu nâu vàng đến nâu đỏ, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ (Sét tới 60%) hàm lượng NPK cao;
* Đất màu xám và vàng nâu phát triển trên phù sa cổ;
* Đất phèn: Đất phèn tiềm tàng nông chiếm diện tích khá lớn được hình thành trên bưng ngập nước vào mùa mưa Đất có màu xám trắng đến xám đen, độ
pH từ 4 – 4,5 Thành phần cơ giới nhẹ (Cát từ 50 – 60%);
Trang 26* Đất cát ven biển: Chạy dọc theo bờ biển hình thành 2 dạng đất khác nhau: Cồn cát di động không ngập nước biển Đất cát ướt thường bị ngập nước thủy triều dâng Cả hai loại đất này đều có tỷ lệ cát từ 60 – 70%, tầng mùn hầu như không có, hàm lượng NPK rất thấp, hút và thoát nước mạnh, độ che phủ thực vật rất thấp dưới 10%;
* Đất cát trắng và cát vàng trong nội địa: có tỷ lệ khá cao trên 70%, hàm lượng NPK rất thấp
3.1.2 Khí hậu - thuỷ văn
Về mặt khí hậu thuỷ văn, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu nằm trong vùng ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới mưa mùa Số liệu theo d i tại trạm khí tượng V ng Tàu ghi nhận như sau (KBTTN Bình Châu, 2001)[32 :
* Nhiệt độ bình quân hàng năm của không khí là 25,8oC, cao nhất (TMax) là
38oC vào tháng 4 – 5, thấp nhất (TMin) là 15oC vào tháng 12 Biên độ nhiệt 3oC;
* Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.396 mm, cao nhất (PMax) là 1.877 mm (năm 1917) và thấp nhất (PMin) là 704 mm vào năm 1907 Số ngày mưa bình quân trong năm là 124 ngày;
* Số tháng mưa là 6 tháng (từ tháng 5 – 10) nhưng thường tập trung vào tháng 7, 8, 9 hàng năm Mùa nắng kéo dài từ tháng 11 – 4 năm sau (6 tháng) có khi tới 7 tháng Số tháng khô từ 1 – 3 tháng Số tháng hạn từ 2 – 3 tháng Số tháng kiệt
từ 0 – 1 tháng
* Độ ẩm của không khí:
- Độ ẩm tuyệt đối bình quân hàng năm là 85,2%;
- Độ ẩm tuyệt đối (Max) hàng năm tới 100%;
- Độ ẩm tuyệt đối (Min) là 36% vào tháng 12 và tháng 1;
- Lượng bốc hơi cao nhất (Max) là 43,7% vào tháng 3
* Chế độ gió: Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu thường chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió thịnh hành theo 2 mùa chính liên tục là:
- Gió Tây - Nam thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11;
- Gió Đông - Bắc thổi vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Trang 27Tốc độ trung bình của gió là 8 – 10km/h Vào những ngày mưa bão gió xoáy lốc có thể đến 50 – 70km/h
Biểu đồ lượng mưa bình quân năm (Phụ lục 17)
Hai hướng gió này đều từ ngoài biển đông thổi vào và suốt dọc vùng ven biển đều không có cây cao chắn gió, cho nên có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự phân
bố thực vật c ng như quá trình sinh trưởng, phát triển và tái sinh rừng
Hệ thống sông suối trong khu bảo tồn nhìn chung không đáng kể, chỉ có các suối cát, suối đá, Rải rác trong khu bảo tồn c ng có các bàu và hồ như bàu Nhám, bàu Tròn, hồ Cóc, hồ Linh có nước quanh năm, diện tích mặt nước thay đổi theo mùa (mùa mưa rộng ra, mùa khô thu hẹp lại)
Trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu có khoảng 43 km sông suối lớn, nhỏ thường có nước quanh năm nhưng ngắn dưới 10 km như Sông Hỏa, Suối Cát, Suối Nhỏ, Suối Bang Ngoài ra còn có một số bàu và hồ có nước quanh năm như : Bàu Nhám, Bàu Bàng, Hồ Cốc, Hồ Tràm, Hồ Linh, Hồ tròn và Hồ Núi le Đặc biệt ở phía đông bắc Khu bảo tồn có suối nước khoáng Bình Châu có nhiệt độ từ 60 – 800C đây là khu du lịch rất có giá trị Nhìn chung mực nước ngầm trong khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu là tương đối thấp, thuận lợi cho sự phát triển của thực vật (KBTTN Bình Châu, 2001)[32
3.1.3 Đất đai, tài nguyên rừng
a) Đất đai
Bảng phân thống kê diện tích đất rừng tại Khu BTTN (Phụ lục 18)
Từ bảng 18 trên nhận thấy, diện tích có rừng che phủ chiếm tỷ lệ 71.59% Đất trống đồi trọc chiếm tỉ lệ (28.41%) Do đó đòi hỏi một mặt phải khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng hiện có, mặt khác phải đẩy nhanh tốc độ khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung ở những nơi điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phép;
Khu khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng rừng bổ sung của khu bảo tồn có diện tích là 1754 ha (trạng thái IC) chiếm 15.4% tổng diện tích tự nhiên Rừng khoanh nuôi kết hợp trồng rừng bổ sung hầu hết trạng thái (IC), chất lượng rừng nhìn chung kém, số cây tạp nhiều Cây có giá trị kinh tế như Dầu, Sến, Chò còn rất ít Tuy
Trang 28nhiên, rừng còn có độ tàn che trên 0,5 vẫn còn giữ được tiểu hoàn cảnh rừng, đất còn tính chất đất rừng, diện tích rừng tập trung liền lô, liền khoảnh (KBTTN Bình Châu, 2001)[32]
b) Tài nguyên rừng
Về tài nguyên động thực vật rừng: theo kết quả điều tra khảo sát xây dựng danh lục và tiêu bản động thực vật rừng tại khu bảo tồn của Phân viện điều tra quy hoạch rừng II năm 2000 đã xác định hệ thực vật rừng của khu bảo tồn có các yếu tố đặc trưng của kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới Có các loài thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Malaysia, Indonesia và khu hệ thực vật Ấn độ - Miến điện Đã ghi nhận được 732 loài thuộc 132 họ khác nhau Trong số các họ thực vật
kể trên, họ Đậu (Fabaceae) có số loài nhiều nhất 68 loài Là họ có nhiều loại thực vật quý hiếm như: Xay (Dialium cochinchinensis), G đỏ (Afzelia Xylocarpa), Gõ mật (Sindora siamesis), Cẩm lai Bà rịa (Dalbergia Bariensi)
Trong 123 họ thực vật thì họ Dầu ở Khu bảo tồn có 13 loài; hầu hết các loài
cây trong họ dầu đều là cây đại mộc, trong đó có dầu cát (Dipterocarpus costatus)
là loài cây đặc hữu của khu bảo tồn Ngoài ra còn có 13 loài thực vật được xếp loại sách đỏ Việt Nam
Hệ thực vật rừng có các yếu tố đặc trưng của “kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới”, đặc biệt có các tổ hợp thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Malayxia - Indonexia và khu hệ Ấn độ - Miến điện
Các tổ hợp thực vật trong đó tràm (Melaleuca cajuputi), dầu lông (Dipterocarpus intricatus), chiếm ưu thế trên đất cát hoặc đất cát pha ngập nước
theo mùa là những cảnh quan độc đáo ít thấy xuất hiện ở các khu vực khác Phân Viện điều tra quy hoạch rừng II (năm 2000) đã xác định được tên 732 loài thực vật mọc tự nhiên thuộc 123 họ Có 17 loài được ghi trong “Sách đỏ Việt Nam” trong đó
có 8 loài thuộc nhóm nguy cấp (có thể bị đe dọa tuyệt chủng) như: Bình linh nghệ
(Vitex ajugaeflora); Cẩm lai Bà rịa (Dalbergia bariensis); Cầy (irvingia malayana); Giên trắng (Xylopia pierrei); G đỏ (Afzelia xylocarpa); Hồng quang (Rhodoleia
Trang 29championii); Thiết đinh lá bẹ (Markhamia stipulata); Xây, Xây lông (Dialium cochinchinensis)
Dựa trên sự phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của tiến sĩ Thái Văn Trừng và Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì khu bảo tồn có một kiểu rừng là kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới với 8 kiểu phụ và 21 thảm thực vật
Hệ động vật có 38 loài trong đó: 15 loài bò sát và ếch nhái quý hiếm đã được ghi vào sách đỏ của Việt Nam chiếm 30% tổng số loài Như rắn hổ chúa
(Ophiophagus hannah) Có 106 loài chim trong khu rừng đặc dụng Trong đó có 5
loài đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam, chiếm 4,7% tổng số loài như gà lôi vằn
(Lophura nycthemera anamensis), gà lôi hông tía (Lophura diardi), bồ câu nâu (Columa pucicea); cú lợn rừng (Phodius badius), yến núi (Collocalia brevirostris)
Trong số 5 loài kể trên có 2 loài nằm trong danh sách của 47 loài bị đe doạ của thế
giới là gà lôi hông tía (Lophura diardi); bồ câu nâu (Columa pucicea) Về thú đã
thống kê được 49 loài, có 10 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam; có 8 loài ghi trong sách đỏ thế giới
Điều đó chứng tỏ rằng khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu không chỉ là nơi bảo tồn nguồn gen cây lá rộng của rừng nhiệt đới, nơi cung cấp giống cây họ dầu họ đậu qúy hiếm, mà còn là một khu vực quan trọng có tầm cỡ quốc tế trong việc bảo tồn thiên nhiên bảo vệ nguồn gen các loài thú qúy hiếm của thế giới
Về phòng hộ môi trường và du lịch sinh thái, Khu BTTN Bình Châu Phước Bửu nằm ở hạ lưu vực sông Đồng Nai Hệ sinh thái rừng của khu rừng đặc dụng là
lá phổi xanh cung cấp dưỡng khí trong lành cho các khu công nghiệp; lọc sạch khí thải và chất ô nhi m từ các khu công nghiệp và các khu dân cư Góp phần hạn chế những tác hại môi trường, giảm hiệu ứng nhà kính, góp phần hạn chế quá trình nóng lên của trái đất (KBTTN Bình Châu, 2001)[32]
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Những hoạt động kinh tế xã hội liên quan đến sự hình thành và phát triển của thảm thực vật
Trang 30* Giai đoạn trước năm 1975:
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khu vực Bình Châu - Phước Bửu c ng là một căn cứ địa cách mạng quan trọng của nhân dân tỉnh Bà rịa -
V ng tàu Trong thời kỳ này hoạt động gây ảnh hưởng lớn nhất đối với quá trình hình thành và phát triển của hệ thực vật ở khu vực Bình Châu - Phước Bửu là bom đạn trong chiến tranh, các hoạt động chặt phá của con người hầu như không đáng
kể
Do đó, ở thời kỳ này do tác động phá hoại của con người còn ít nên trữ lượng
rừng khá cao Tổ thành rừng chủ yếu là họ Dầu gồm: Dầu (Dipterocarpus), Sao (Hopea), Sến (Shorea), Vên Vên (Anishoptera) và Bằng Lăng Còn có nhiều loài
cây gỗ qúy như: G đỏ, Cẩm lai, Dáng Hương, Trai Có nhiều khu vực tổ thành cây Dầu, Sao, Vên Vên, Sến chiếm ưu thế trên 40% số lượng cá thể loài
* Giai đoạn sau năm 1975 đến năm 1992:
Sau năm 1975 có 2 lực lượng tham gia tác động vào Khu bảo tồn thiên nhiên là:
Lực lượng Nhà nước: có 2 đơn vị tham gia, Lâm trường Xuyên Mộc quản lý toàn bộ diện tích phân trường I (các tiểu khu 22, 23 và 24) với nhiệm vụ là khai thác
gỗ, củi và trồng rừng Những tiểu khu này trước khi bàn giao cho Ban quản lý Khu Bảo tồn thì đã được khai thác tận thu sản phẩm nên cấu trúc rừng đã thay đổi rất nhiều Tổ thành rừng còn lại chủ yếu là các loài cây gỗ tạp hoặc cây ưa sáng Ban quản lý rừng cấm với nhiệm vụ làm công tác bảo vệ rừng của khu rừng cấm c (các tiểu khu 25, 26, 27, 28, 29 và 30) do đó tài nguyên rừng ở các tiểu khu này đã được được quản lý khá chặt chẽ
Lực lượng địa phương: tuy không có các tổ chức tập thể hợp tác xã nghề rừng, nhưng với lực lượng lao động 4% làm nghề rừng chính và 52% lực lượg lao động không có nghề nghiệp gì nên đã vào rừng đốt rẫy, lấy gỗ củi, lấy dầu, lấy lâm sản, đốt than… để sinh sống nuôi gia đình theo từng thời điểm và từng thời vụ
Về giao thông, ngoài 30 cây số đường quốc lộ bao bọc phía Bắc và phía Tây của khu bảo tồn và trên 12 cây số bờ biển, còn có hàng chục cây số đường mòn nhỏ,
Trang 31đường xe bò đi toả khắp khu rừng nên rất thuận tiện cho việc đi lại vận chuyển gỗ, than, củi … của dân địa phương vào phá rừng Do địa hình bằng phẳng nên việc đi lại và tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái trong khu bảo tồn rất thuận lợi, nhưng
c ng là những điều kiện thuận lợi cho những hoạt động khai phá rừng
* Từ những năm 1993 đến nay:
Sau khi luận chứng kinh tế kỹ thuật của khu bảo tồn Thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt và đầu tư, việc quản lý bảo vệ Khu Bảo tồn đã dần dần đi vào ổn định Ban quản lý khu bảo tồn được thành lập và củng cố Các hoạt động quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, và trồng rừng đã được thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn Từ năm 1993 đến năm 1999, hơn 750 ha rừng đã được trồng tại những khu vực trước đây là đất trống Hệ thống các trạm quản ý bảo vệ rừng được thiết lập hầu hết đến các tiểu khu rừng
Theo kết quả điều tra của nhóm công tác đã thực hiện ở huyện Xuyên mộc kết hợp với những tài liệu thống kê về dân số bao quanh khu bảo tồn cho thấy tổng dân
số toàn huyện 119.550 người (KBTTN Bình Châu, 2001)[32] trong đó dân ở ven khu bảo tồn chiếm hơn 50% chủ yếu là người kinh, một số ít là dân tộc Châu ro ở bản địa và các dân tộc khác như: Tày, Nùng, Khơme, Mường di cư từ nơi khác đến Ngành nghề lao động chủ yếu là Nông nghiệp, ngư nghiệp, các ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp dịch vụ chưa phát triển Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn huyện Xuyên Mộc là 2,15%
Với 53% lực lượng lao động nông nghiệp và nghề biển là ngành nghề chính của dân địa phương 7 xã xung quanh khu bảo tồn nhưng chỉ theo từng thời vụ và ít được hỗ trợ vay vốn của nhà nước nên sản xuất không phát triển mạnh được, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp, cho nên đời sống của dân địa phương c ng ở mức độ thấp không đủ ăn (nhất là người lao động nghèo) đây c ng là một bộ phận thường
có tác động xấu đến tài nguyên rừng trong Khu bảo tồn (KBTTN Bình Châu, 2001)[32]
Trang 32Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm chung của các trạng thái rừng
Kết quả phân tích các đặc trưng lâm học cơ bản của trạng thái rừng bán ngập
và rừng phục hồi như sau (Bảng 4.1):
Bảng 4.1 Những đặc trưng bình quân của 2 kiểu trạng thái rừng
Trạng thái N, cây/ha D1,3 (cm) Hvn (m) G (m2/ha) V (m3/ha)
Rừng bán ngập 457 16,90 ± 0,4 10,74 ± 1,38 27,75 ± 0,61 96,20 ± 0,66 Rừng phục hồi 418 19,14 ± 0,6 14,03 ± 2,18 15,93 ± 0,10 149,35 ± 1,37
4.1.1 Trạng thái rừng bán ngập
Số liệu tính toán ở bảng 4.1 chỉ cho thấy, trạng thái này bao gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần loài ít phức tạp không đều tuổi, độ ưu thế tương đối r ràng Đường kính trung bình là 16,90 ± 0,4 (cm) Chiều cao (Hvn) trung bình đạt 10,74 ± 1,38 (m) Tổng tiết diện ngang bình quân là 27,75 ± 0,61(m2/ha) Trữ lượng rừng trung bình đạt 96,20 ± 0,66 (m3/ha) (Phụ lục 1)
Bảng 4.2 Tổng hợp đặc trưng lâm phần trên ÔTC 01
Số loài Loài cây N, cây G, m2 V, m3 Tỷ lệ (%) theo:
Trang 33Bảng 4.3 Tổng hợp đặc trƣng lâm phần trên ÔTC 02
Số loài Loài cây N, cây G, m2 V, m3 Tỷ lệ (%) theo:
19 Cộng 19 loài 82 0,51 3,36 100 100 100 100
Bảng 4.4 Tổng hợp đặc trƣng lâm phần trên ÔTC 03
Số loài Loài cây N, cây G, m2 V, m3 Tỷ lệ (%) theo:
Trang 34Phân tích số liệu bảng 4.2 – 4.4 cho thấy, trạng thái rừng bán ngập có các kiểu ưu hợp thực vật sau:
(1) Ưu hợp 1: Tràm – Trai – Dầu… có các đặc trưng sau:
+ Tổ thành loài: 91,5% Tràm + 5,3% Trai + 3,3% Khác
+ Mật độ quần thụ là 470 cây/ha
+ Tiết diện ngang quần thụ là 0,6 m2/ha (100%)
+ Trữ lượng của quần thụ là 3,25 m3/ha (100%)
+ Cây Trai chiếm mật độ 5,3% số lượng cây trong quần thụ nhưng tỷ trọng trung bình là 8,3
(2) Ưu hợp 2: Trâm – Sến – Gõ – Trai… có các đặc trưng sau:
+ Tổ thành loài: 30,5% Trâm + 23,2% Sến + 4,9% Gỗ + 3,7% Trai + 37,7% Khác
+ Mật độ quần thụ là 410 cây/ha (100%); có 8 loài ưu thế đóng góp 259 cá thể hay 72%, còn lại 11 loài khác 115 cá thể hay 28%
+ Tiết diện ngang của quần thụ là 2,6 m2/ha (100%); với 8 loài ưu thế đóng góp 1,9 m2/ha hay 73,1%, số loài khác là 11, tương ứng 0,7 m2
/ha hay 26,9%
+ Trữ lượng của quần thụ là 16,8 m3/ha (100%); có 8 loài ưu thế đóng góp 13,9 m3/ha hay 82,4%, số còn lại 11 loài khác tương ứng với 3,0 m3/ha hay 17,6%
Nhìn chung, trong ưu hợp này độ ưu thế của 8 loài (Trâm, Sến, G , Trai…)
là 76,6%; trong đó cây Trai đóng góp 5,2% với trữ lượng 1 m3/ha
(3) Ưu hợp 3: Trâm – Trai – Bình linh… có các đặc trưng sau:
+ Tổ thành loài: 41,7% Trâm + 25% Trai + 10,4% Bình linh + 22,9% Khác + Mật độ quần thụ là 480 cây/ha (100%); loài ưu thế gồm 8 loài, đóng góp
450 cá thể hay 93,8%, còn lại 5 loài khác chỉ có 30 cá thể hay 16,2%
+ Tiết diện ngang của quần thụ là 2,3 m2/ha (100%); với 8 loài ưu thế đóng góp 2,1 m2/ha hay 91,3%, còn lại 5 loài khác tương ứng 0,2 m2/ha hay 8,7%
+ Trữ lượng của quần thụ là 18,9 m3/ha (100%); trong đó 8 loài ưu thế đóng góp 18,1 m3/ha hay 96%, số còn lại 5 loài khác tương ứng với 0,8 m3
/ha hay 4%
Trang 35Nói chung, trong ưu hợp này độ ưu thế của 8 loài (Trâm, Trai, Bình linh, Cám, Keo, Cầy) là 93,7%; riêng cây Trai đóng góp 9,6% với trữ lượng 0,3 m3
/ha
4.1.2 Trạng thái rừng phục hồi
Ở trạng thái này bao gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối
ưa sáng, thành phần loài phức tạp không đều tuổi, độ ưu thế không r ràng Những loài cây vươn lên khỏi tán rừng là những cây còn sót lại của quần thụ c Đường kính trung bình là 19,14 ± 0,6 (cm) Chiều cao (Hvn) trung bình đạt 14,03 ± 2,18(m) Tổng tiết diện ngang bình quân là 149,35 ± 1,37 (m2/ha) Trữ lượng rừng trung bình đạt 81,65 ± 21,16 (m3/ha) (theo Bảng 4.1, Phụ lục 1)
Bảng 4.5 Tổng hợp đặc trƣng lâm phần trên ÔTC 01
Số loài Loài cây N, cây G, m2 V, m3 Tỷ lệ (%) theo:
Trang 36Bảng 4.6 Tổng hợp đặc trƣng lâm phần trên OTC 02
Số loài Loài cây N, cây G, m2 V, m3 Tỷ lệ (%) theo:
Bảng 4.7 Tổng hợp đặc trƣng lâm phần trên ÔTC 03
Số loài Loài cây N, cây G, m2 V, m3 Tỷ lệ (%) theo:
Trang 37Kết quả tính toán ở bảng 4.5 – 4.7 cho thấy, trạng thái rừng phục hồi có các kiểu ưu hợp thực vật sau (phụ lục 1):
(1) Ưu hợp 4: Trai – Gõ – Cườm thị…có các đặc trưng sau:
+ Tổ thành loài: 15,4% Trai + 11,5% G + 10,3% Cườm thị + 62,8% Khác + Mật độ quần thụ là 390 cây/ha (100%); với 6 loài ưu thế đóng góp 195 cá thể hay 50%, số còn lại 17 loài khác chỉ có 195 cá thể tương đương 50%
+ Tiết diện ngang của ưu hợp 4 là 6,8 m2/ha (100%); cụ thể có 6 loài ưu thế đóng góp 5,3 m2/ha hay 77,9%, còn lại 17 loài khác tương ứng 1,5 m2
/ha hay 22,1%
+ Trữ lượng của quần thụ là 68,3 m3/ha (100%); trong đó 6 loài ưu thế đóng góp 60 m3/ha hay 87,9%, còn lại 17 loài khác tương ứng với 8,3 m3/ha hay 12,1%
Nói chung, trong ưu hợp này độ ưu thế của 6 loài (Trai, G , Cườm thị, Bình linh, Sơn đào, Vên vên) là 71,9%; riêng với cây Trai đóng góp 8,5% và đạt trữ lượng 3m3
/ha
(2) Ưu hợp 5: Sến – Trâm – Cám….có các đặc trưng sau:
+ Tổ thành loài: 26,6% Sến + 19% Trâm + 12,7% Cám + 41,7 Khác
+ Mật độ quần thụ là 395 cây/ha (100%); trong 10 loài ưu thế đóng góp 285
cá thể hay 72,2%, với 14 loài khác chỉ có 110 cá thể hay 27,8%
+ Tiết diện ngang của quần thụ là 4,3 m2/ha (100%); trong đó 10 loài ưu thế đóng góp 2,9 m2/ha hay 66,3%, còn lại 14 loài khác tương ứng 1,3 m2/ha hay 33,7%
+ Trữ lượng của quần thụ là 33,8 m3/ha (100%); trong đó 10 loài ưu thế đóng góp 25,7 m3/ha hay 76%, còn lại 14 loài khác tương ứng với 8,1 m3/ha hay 24%
Trong ưu hợp 5 độ ưu thế của 10 loài (Sến, Trâm, Cám, Dầu, Cầy, Trai, Trường…) là 71,4%; trong đó cây Trai đóng góp 5,0% với trữ lượng 2,2 m3
/ha (3) Ưu hợp 6: Sến – Thẩu tấu – Dầu…có các đặc trưng sau:
+ Tổ thành loài: 27,6% Sến + 14,7% Thẩu tấu + 8,5% Dầu + 49,2% Khác + Mật độ quần thụ là 470 cây/ha (100%); tổng cộng có 10 loài ưu thế đóng góp 275 cá thể hay 58,5%, còn lại 16 loài khác chỉ có 195 cá thể hay 41,5%
Trang 38+ Tiết diện ngang của quần thụ là 4,6 m2/ha (100%); trong đó 10 loài ưu thế đóng góp 3,2 m2/ha hay 70,3%, 16 loài khác tương ứng 1,4 m2
/ha hay 29,7%
+ Trữ lượng của quần thụ là 39,3 m3/ha (100%); trong đó 10 loài ưu thế đóng góp 30 m3/ha hay 76,4%, còn lại 16 loài khác tương ứng với 9,3 m3/ha hay 23,6%
4.1.3 Đặc điểm cây tái sinh ở trạng thái rừng bán ngập và rừng phục hồi
Kết quả nghiên cứu tình hình tái sinh rừng (Bảng 4.8) nhận thấy, mật độ tái sinh ở trạng thái rừng bán ngập cao hơn trạng thái rừng phục hồi (27000 cây/ha) Chất lượng cây tái sinh tốt chiếm tỷ lệ 71,4% trạng thái rừng bán ngập và 59,2% ở rừng phục hồi trong tổng số cây tái sinh Trong đó, thành phần cây Trai trong tổ thành loài cây tái sinh chiểm tỷ lệ 9,7% ở rừng bán ngập và 6,6% ở rừng phục hồi, với tỷ lệ cây có chất lượng tốt đạt tỷ lệ 100% ở trạng thái rừng phục hồi và 60,9% trạng thái rừng bán ngập Tuy nhiên, cây tái tái sinh có tiềm năng tham gia vào tầng tán của rừng ở cấp chiều cao Hvn từ 200 - 400(cm) đạt 13,9% với trạng thái rừng bán ngập và 15,8% trạng thái rừng phục hồi
Trang 39Bảng 4.8 Đặc điểm tầng cây tái sinh trong các trạng thái rừng
Trang 404.2 Ảnh hưởng của trạng thái rừng đến độ phong phú của cây Trai
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự xuất hiện của cây Trai có quan hệ chặt chẽ (P < 0,01) với trạng thái rừng (Bảng 4.9 - 4.14, Phụ lục 2 - 3)