1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TỪ QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ – CỤ THỂ Ở NUỚC TA HIỆN NAY

19 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 – 2020 là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” . Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của đất nước ta trong thời gian tới là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” . Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ đã và đang đặt ra một cách trực tiếp và cấp bách đối với Đảng ta, đất nước và nhân dân ta. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, là nền tảng, động lực để phát triển kinh tế xã hội đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp, văn minh và hiện đại. Tuy nhiên, đối với nước ta hiện nay, con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải được nhận thức đúng đắn, thật sự khoa học và sáng tạo, phải có bước đi thích hợp, phải kết hợp những kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước tiên tiến trên thế giới với thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra ở Việt Nam. Đặc biệt, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay cần phải được xem xét và nhận thức trên quan điểm triết học Mác - Lênin, mà hạt nhân của nó là phương pháp biện chứng duy vật: đó là quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển. Trong những năm gần đây, khi Đảng ta khẳng định con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có rất nhiều nhiều đề tài khoa học trong các nghành lý luận quan tâm và nghiên cứu, rất nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả đã được công bố, trong đó có các công trình khoa học thuộc lĩnh vực triết học. Từ các góc độ khác nhau, các công trình khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về lý luận công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên đến nay, chưa có một bài viết nào nghiên cứu từ góc độ vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể trong triết học để xem xét và nhận thức đúng đắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay. Do vậy, trong khôn khổ của một bài thu hoạch triết học, bằng những kiến thức đã được học tập, tác giả mạnh dạn đi sâu nghiên cứu, làm rõ “Một số vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ quan điểm lịch sử - cụ thể ở nước ta hiện nay”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011

– 2020 là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp

theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” 1

Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của đất nước ta trong thời gian tới là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” 2 .

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ đã và đang đặt

ra một cách trực tiếp và cấp bách đối với Đảng ta, đất nước và nhân dân ta Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, là nền tảng, động lực để phát triển kinh tế xã hội đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp, văn minh và hiện đại Tuy nhiên, đối với nước ta hiện nay, con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải được nhận thức đúng đắn, thật sự khoa học và sáng tạo, phải có bước đi thích hợp, phải kết hợp những kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước tiên tiến trên thế giới với thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra ở Việt Nam Đặc biệt, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay cần phải được xem xét và nhận thức trên quan điểm triết học Mác - Lênin, mà

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG Hà Nội, 2011, tr 103.

2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG Hà Nội, 2011, tr.14

Trang 2

hạt nhân của nó là phương pháp biện chứng duy vật: đó là quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển

Trong những năm gần đây, khi Đảng ta khẳng định con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có rất nhiều nhiều đề tài khoa học trong các nghành lý luận quan tâm và nghiên cứu, rất nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả đã được công bố, trong đó có các công trình khoa học thuộc lĩnh vực triết học Từ các góc độ khác nhau, các công trình khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về lý luận công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên đến nay, chưa có một bài viết nào nghiên cứu từ góc độ vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể trong triết học để xem xét và nhận thức đúng đắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

Do vậy, trong khôn khổ của một bài thu hoạch triết học, bằng những kiến

thức đã được học tập, tác giả mạnh dạn đi sâu nghiên cứu, làm rõ “Một số vấn

đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ quan điểm lịch sử - cụ thể ở nước ta hiện nay”

NỘI DUNG

1 Quan điểm lịch sử - cụ thể: nội dung và cơ sở lý luận

1.1 Cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử cụ thể

Quan điểm lịch sử - cụ thể là một trong những quan điểm, nguyên tắc quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng nhằm chỉ đạo con người trong quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới vật chất Quan điểm lịch sử - cụ thể được rút ra từ

cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin được hình thành trong quá trình con người đi khám phá nhằm mục đích giải thích và cải tạo thế giới vật chất Quan điểm đó được rút ra từ những cơ sở lý luận triết học sau đây:

Trang 3

Thứ nhất, Triết học Mác - Lênin đã khẳng định: thế giới vật chất luôn tồn

tại khách quan, vốn có, không do ai sinh ra và không tự mất đi, mà chỉ có thể chuyển hoá từ sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn luôn vận động, chuyển hoá và phát triển không ngừng, chúng luôn tồn tại trong một không gian và một thời gian cụ thể, xác định Điều đó có nghĩa là các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất không phải là bất di bất dịch, có sẵn, mà chúng có một quá trình ra đời, phát triển

và tự tiêu vong để chuyển hoá sang sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nào lại tồn tại một cách hư vô, chung chung và trừu tượng Như vậy, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất dù là các sự vật, hiện tượng vô cơ, đến các sự vật, hiện tượng hữu cơ, từ thế giới vi mô cho đến thế giới vĩ mô, từ thế giới thực vật, động vật cho đến con người và xã hội đều tồn tại trong không gian và thời gian cụ thể, xác định, đều có một lịch sử tồn tại vận động, biến đổi

và phát triển không ngừng Do vậy, khi xem xét các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể

Thứ hai, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn tồn tại trong

các mối quan hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau, sự liên hệ, tác động, ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là cơ sở để các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại, vận động và phát triển không ngừng Các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất biểu hiện dưới nhiều hình thức rất phong phú, đa dạng Trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trong những không gian và thời gian khác nhau thì vị trí, vai trò của các mối liên hệ trong các sự vật, hiện tượng cũng khác nhau, có những mối liên hệ ở trong giai đoạn này là những mối liên hệ chủ yếu, giữ vai trò quyết định sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng nhưng khi chuyển sang giai đoạn khác lại là thứ yếu, không có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải luôn quán triệt quan điểm lịch

Trang 4

sử - cụ thể, phải nhận thức sự vật, hiện tượng trong sự tồn tại khách quan vốn có của nó, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ và phải đánh giá đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò của từng mối liên hệ trong mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất

Hơn nữa, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất có nhiều mối liên

hệ khác nhau, rất phong phú và nhiều vẻ: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ cơ bản và không cơ bản, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu…

sự phân biệt các mối liên hệ đó lại mạng tính tương đối, tuỳ thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể nhất định để xem xét Có nhiều trường hợp, trong hoàn cảnh lịch sử này, có thể là mối liên hệ bên trong, chủ yếu và quyết định, nhưng khi chuyển sang các hoàn cảnh lịch sử khác, vào thời điểm khác, trong một không gian và thời gian khác thì chính những mối liên hệ đó lại trở thành thứ yếu, bên ngoài không cơ bản không quyết định nữa…

Thứ ba, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn luôn có một quá

trình vận động, biến đổi không ngừng, sự vận động, biến đổi và phát triển đó xuất hiện những nguyên nhân khác nhau, nảy sinh những mâu thuẫn khác nhau,

có sự tích luỹ về lượng và sự biến đổi, sự nhảy vọt về chất cũng khác nhau, do

đó, trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau, sự phủ định của phủ định trong mỗi

sự vật, hiện tượng cũng diễn ra không giống nhau Trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể sẽ xuất hiện những nguyên nhân xác định, cụ thể, nảy sinh những mâu thuẫn cụ thể Do vậy, muốn nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tượng, tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải nhận thức đúng nguyên nhân và các mâu thuẫn cụ thể của sự vật, phải đặt sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh lịch sử xác định để tìm ra những mặt những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng trong không gian, thời gian cụ thể Thấy rõ quá trình phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò và mối quan hệ của từng mâu thuẫn, điều kiện chuyển hoá giữa chúng, tạo ra những điều

Trang 5

kiện thúc đẩy mâu thuẫn chín muồi tìm phương thức phù hợp để giải quyết, không điều hoà mâu thuẫn Phải tìm các hình thức giải quyết mâu thuẫn linh hoạt phù hợp với từng loại mâu thuẫn và điều kiện cụ thể Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện cụ thể đó sinh ra sự vật; muốn xoá bỏ một hiện tượng tiêu cực, không có lợi cần xoá bỏ nguyên nhân cụ thể sinh ra nó Nhận thức các sự vật hiện tượng cần phân tích các nguyên nhân, phân loại nguyên nhân chỉ ra mối quan hệ giữa các nguyên nhân, chiều hướng tác động của các nguyên nhân để có biện pháp thích hợp thúc đẩy các nguyên nhân dẫn đến kết quả có lợi, hạn chế, hoặc triệt tiêu các nguyên nhân bất lợi Bên cạnh đó, trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo sự vật phải xem xét nội dung cụ thể và hình thức cụ thể, để cải tạo sự vật phải đi từ nội dung, tác động vào cả nội dung và hình thức của sự vật, hiện tượng Cần tạo

ra hình thức cụ thể phù hợp với nội dung đang biến đổi để thúc đẩy sự vật theo nhu cầu nhiệm vụ thực tiễn Muốn hiểu biết đúng đắn về sự vật, nhận thức không dừng ở hiện tuợng mà phải đi từ hiện tượng để tìm ra bản chất Phải xác định các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh cụ thể để có kết luận chính xác bản chất sự vật ở thời điểm xác định về không gian và thời gian cụ thể Chống chủ nghĩa hình thức coi nhẹ, không thấy hết vai trò quan trọng của nội dung Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, không dựa vào khả năng, cần tính đến các khả năng để có thể đề ra chủ trương, kế hoạch hành động

cụ thể sát đúng Sau khi xác định được các khả năng phát triển của sự vật, cần kiên quyết thực hiện khả năng đó lựa chọn, tạo ra các điều kiện cụ thể để hiện thực hoá nó

Khi quán triệt phương pháp xem xét lịch sử - cụ thể của chủ nghĩa Mác,

V.I.Lênin đã khẳng định: “Bản chất linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích

cụ thể một tình hình cụ thể ”3

3 V.I.Lªnin toµn tËp, tËp 11, Nxb TiÕn bé, M¸t xc¬ va 1977, tr 161.

Trang 6

Thứ tư, quan điểm lịch sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tránh khuynh hướng

xem xét sự vật, hiện tượng một cách giáo điều, chung chung và trừu tượng, xem xét một cách đại khái, qua loa, không cụ thể, không đặt sự vật, hiện tượng trong một không gian và thời gian cụ thể, không thấy được quá trình vận động biến đổi và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất Mặt khác, cũng cần đề phòng khuynh hướng tuyệt đối hoá trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải vừa thấy tính lịch sử - cụ thể vừa thấy cả quá trình phát triển của sự vật Mọi biểu hiện xem xét các sự vật, hiện tượng mà không quán triệt đúng đắn quan điểm lịch sử cụ thể là trái với phương pháp xem xét của chủ nghĩa Mác - Lênin

1.2 Nội dung của quan điểm lịch sử - cụ thể

Quan điểm lịch sử cụ thể là một phương pháp xem xét khoa học được rút ra từ cơ

sở lý luận của triết học Mác - Lênin Nội dung của quan điểm lịch sử - cụ thể chỉ

ra rằng: khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải đặt sự vật, hiện tượng đó trong một không gian và thời gian xác định, phải xuất phát từ hiện thực khách quan, từ

sự tồn tại cụ thể, trong hoàn cảnh lịch sử nhất định để nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng Phải luôn luôn lấy sự vật, hiện tượng cụ thể làm đối tượng nghiên cứu và cải tạo, không được xuất phát từ những công thức có sẵn, từ ý muốn chủ quan hoặc từ bên ngoài để áp đặt vào sự vật, hiện tượng Mỗi sự vật, hiện tượng đều có một quá trình nhất định, một hoàn cảnh lịch sử cụ thể xác định, do vậy, phải đặt sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định với một quá trình hình thành, phát triển và diệt vong của mỗi sự vật, hiện tượng

Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn cải tạo sự vật, hiện tượng phải luôn nghiên cứu những phương thức tồn tại cụ thể của sự vật, hiện tượng, phải đặt sự vật, hiện tượng đó vào một hoàn cảnh, một môi trường sống của chính nó để từ đó nhận thức cho đầy đủ những mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, những nguyên nhân chủ yếu cơ bản quyết định sự vận động phát triển

Trang 7

của sự vật, hiện tượng đó Từ đó xác định được những mâu thuẫn cơ bản chủ yếu chi phối quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng

Quan điểm lịch sử cụ thể cũng chỉ ra trong xem xét và cải tạo sự vật, hiện tượng phải đảm bảo tính khách quan trong quá trình xem xét, quá trình nghiên cứu và quá trình cải tạo sự vật, hiện tượng Phải kết hợp phân tích cho được những nhân tố bên trong, những mối liên hệ cơ bản và những mâu thuẫn chủ yếu tồn tại trong mỗi sự vật, hiện tượng với những điều kiện và hoàn cảnh khách quan, với một quá trình lịch sử đó và đang diễn ra của bản thân mỗi sự vật, hiện tượng Không được xuất phát từ những ảo tưởng xa xôi, viển vông hão huyền và

xa rời hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi sự vật, hiện tượng Mọi cương lĩnh, mọi nghị quyết và cả đường lối lãnh đạo, quan điểm chỉ đạo phải luôn bám sát thực tiễn vận động biến đổi và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng Phải căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi sự vật, hiện tượng để đề ra nghị quyết, phương hướng chỉ đạo và cải tạo sự vật, hiện tượng một cách đúng đắn Mọi lý luận phải được khái quát từ thực tiễn đó và đang diễn ra trong cuộc sống hiện thực, từ những hoàn cảnh lịch sử sinh động của đất nước, của xã hội Lý luận mà không xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vật, hiện tượng rồi sẽ trở thành lý luận suông, hoàn toàn giáo điều, kinh viện, không có tác dụng cải tạo thực tiễn

1.3 Tác dụng của việc vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn là hai lĩnh vực hoạt động cơ bản của con người trong quá trình đi khám phá và chinh phục thế giới vật chất, quá trình cải tạo làm biến đổi giới tự nhiên xã hội loài người và làm biến đổi chính bản thân con người Để cải tạo và biến đổi thế giới vật chất theo quy luật khách quan, con người trước hết phải có những hiểu biết đúng đắn bản chất đích thực của thế giới vật chất, nhận thức được những quy luật đó, đang chi phối quyết định sự vận động phát triển của bản thân thế giới vật chất Chỉ chừng nào

Trang 8

con người nhận thức được đúng đắn những quy luật khách quan, nhận thức đúng đắn bản chất của mỗi sự vật, hiện tượng, thì chừng đó con người mới có thể cải tạo được thế giới vật chất Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo giới tự nhiên, cải tạo xã hội, con người đó nhận thức được những quy luật khách quan chi phối sự vận động phát triển của giới tự nhiên, và xã hội loài người, từ đó rút

ra được những quan điểm, những nguyên tắc quan trọng nhất để chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chính bản thân con người

Trong hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc mà con người đã khái quát thông qua quá trình tổng kết những kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người, từ những quan điểm và những nguyên tắc thuộc lĩnh vực nghiên cứu của triết học là những quan điểm chung nhất, tạo thành thế giới quan, phương pháp luận chung nhất và phổ biến nhất để chỉ đạo con người trong quá trình nhận thức

và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới vật chất Do vậy, cùng với quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử - cụ thể có vai trò và tác dụng rất lớn trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Trong hoạt động nhận thức, quan điểm lịch sử - cụ thể giúp con người nhận thức được đúng đắn tình hình, hoàn cảnh lịch sử của sự vận động và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng, nhận thức được cái bản chất, cái quy luật và các quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất Từ đó con người có thể đánh giá được tình hình và hoàn cảnh hiện tại, phân tích cụ thể một tình hình cụ thể, dự kiến được sự vận động phát triển trong tương lai và có một cái nhìn đúng đắn về những sự kiện lịch sử đó diễn ra, luôn coi trọng lịch sử của

tự nhiên, xã hội loài người đã trải qua

Trong hoạt động thực tiễn, khi thấm nhuần quan điểm lịch sử - cụ thể trong triết học, con người có thể đề ra được những chủ trương, biện pháp và các giải pháp đúng đắn, hợp lý và thật sự khoa học để góp phần cải tạo thế giới vật chất vận động và phát triển không ngừng Mọi đường lối, và nghị quyết đề ra

Trang 9

luôn bám sát được yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước và của xã hội Nếu phủ nhận quan điểm lịch sử - cụ thể thì con người sẽ đi đến chỗ bế tắc trong cải tạo thực tiễn, những giải pháp đưa ra sẽ trở lên giáo điều, kinh viện, duy tâm và siêu hình, từ đó gây cản trở quá trình vận động phát triển của thế giới vật chất, thậm chí nếu không biết vận dụng quan điểm lịch sử

-cụ thể sẽ thủ tiêu và kéo lùi sự phát triển của xã hội loài người

2 Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nhìn

từ quan điểm lịch sử - cụ thể

2.1 Bối cảnh của Việt Nam và trên thế giới

Việt Nam tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối

cảnh: “Tình hình thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt toàn cầu hoá và cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy hình thành xã hội thông tin và kinh tế trị thức ” 4

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở đất nước ta được tiến hành trong điều kiện, hoàn cảnh vừa có những thuận lợi, vừa gặp phải những thách thức lớn Những thắng lợi quan trọng đó đạt được trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, vị thế của đất nước ta ngày càng được khẳng định đối với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Gần 30 năm tiến hành đổi mới toàn diện đã làm cho thế và lực của đất nước ta lớn mạnh hơn nhiều Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường Tình hình chính trị-xã hội cơ bản ổn định, nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Từng bước mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới tạo nên một môi trường hoà bình,

4 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG Hà Nội, 2011, tr.27-29

Trang 10

hữu nghị, hợp tác, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau; đây là điều kiện hết sức thuận lợi

để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, công nghệ mới… phục vụ ngày càng tốt hơn sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khi chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh bốn nguy cơ đó là: Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tuởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham những, lãng phí còn nghiêm trọng Những biểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ, “nhân quyền” hòng làm thay

đổi chế độ chính trị ở nuớc ta Kinh tế phát triển chưa bền vững Chất lượng tăng

trưởng, năng suất thấp, hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, cung ứng điện chưa đáp ứng yêu cầu Công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng nguồn lực còn hạn chế, dàn trải, quản lý Nhà nước với danh nghiệp nói chung còn nhiều yếu kém Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm phát triển theo chiều sâu đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp Nền tảng để Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ

Dựa trên cơ sở quan điểm lịch sử - cụ thể, nhận thức đúng đắn tình hình thế giới và trong nước; dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng (tài liệu

sử dụng tại đại hội đại biểu các cấp cơ sở) chỉ rõ một số hạn chế, khuyết điểm,

đó là: “Đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện; một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội chưa đạt kế hoạch, nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020

Ngày đăng: 03/03/2017, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w