1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ

92 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu - Hiệu quả kinh tế hiệu quả tài chính hay tương quan giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận để làm rõ thực trạng của việc sản xuất lúa, xác định được mô hình nào hiệu

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Nông nghiệp từ lâu đã là một lĩnh vực hoạt động sản xuất quan trọng để đảm bảo cuộc sống của con người Hiện nay nông nghiệp lại là lĩnh vực nhạy cảm trong tiến trình hội nhập Việt Nam là quốc gia có đến 70% dân số sống

ở vùng nông thôn và đa phần dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, do vậy hội nhập tạo ra cơ hội và cũng là thách thức cho nền nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây đã tiến bộ vượt bậc,

từ một nền nông nghiệp lạc hậu và bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, đến nay nông nghiệp ta không những xóa được tình trạng thiếu hụt về lương thực

mà còn trở thành một quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới, đứng hàng thứ hai trên thế giới trong xuất khẩu gạo, năm 2012 xuất khẩu gạo Việt Nam vượt qua mặt Thái Lan về số lượng gạo xuất khẩu

Tuy nhiên Việt Nam là một nước có nền kinh tế còn phụ thuộc vào nông nghiệp Dân cư tập trung đa số ở nông thôn và chiếm hơn lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp Do đó, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đặc biệt mục tiêu quan trọng hàng đầu việc giải quyết vấn đề về lương thực, trong đó lúa là cây lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày của con người Trong điều kiện hiện nay, lúa gạo cung cấp cho con người 80% calo trong khẩu phần ăn Lúa gạo còn cung cấp một phần cho việc phát triển chăn nuôi, phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm như: Chế biến rượu, chế biến bánh, kẹo Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu góp phần tăng thu nhập quốc dân

Nước ta có nhiều tiềm năng về khí hậu, đất đai, lao động thích hợp cho sản xuất lúa nước Tuy nhiên trong mấy năm trở lại đây, đất sản xuất bị thu hẹp do sự bùng nổ về dân số diễn ra trên toàn cầu, làm cho dân số tăng nhanh,

Trang 2

nhu cầu về xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi khác cũng tăng lên Cùng với sự phát triển về kinh tế, nền công nghiệp cũng phát triển mạnh, đất nông nghiệp bị chuyển sang đô thị hoá, xây dựng các khu công nghiệp, nhà máy cũng tăng lên nhiều

Với đặc điểm sản xuất của nông hộ ở Cần Thơ nói chung, quận Ô Môn nói riêng có diện tích đất phần lớn dưới 1ha nên mô hình sản xuất lúa - màu là

mô hình phổ biến tại các phường của quận Ô Môn Do đó, mô hình sản xuất

lúa: 2 vụ lúa - 1 vụ màu và 3 vụ lúa được chọn làm mô hình nghiên cứu

Quận Ô Môn được xem là một quận có diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nên nhận thức được việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp là hết sức quan trọng Thế nên, việc lựa chọn mô hình sản xuất lúa nào tối ưu nhất nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trên một diện tích sản xuất lúa ở địa phương góp phần thúc đẩy Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 - 2020 tại địa phương là rất cấp thiết

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, em tiến hành thực hiện đề tài “So

sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ ”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

- Phân tích thực trạng và hiệu quả tài chính giữa các mô hình sản xuất lúa;

Trang 3

- So sánh hiệu quả tài chính giữa các mô hình sản xuất lúa;

- Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các mô hình sản xuất lúa;

- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các mô hình sản xuất lúa tại quận

Ô Môn, thành phố Cần Thơ

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả tài chính, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của các mô hình sản xuất lúa tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

- Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân sản xuất lúa và màu trên địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

b) Phạm vi nghiên cứu:

+ Giới hạn về nội dung:

- Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đi sâu phân tích và so sánh hiệu quả tài chính, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình sản xuất: 2 vụ lúa - 1 vụ màu, 3 vụ lúa Các yếu tố liên quan đến tình hình sản xuất nhằm giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp

+ Giới hạn vùng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu sơ cấp tại 4 phường của quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (phường Long Hưng, Thới Hưng, Trường Lạc và Châu Văn Liêm) là những phường có diện tích có mô hình sản xuất lúa lớn trong quận, số liệu được ghi nhận từ tháng 01/2013 - 09/2014

+ Phạm vi về thời gian:

- Luận văn được thực hiện và hoàn thành từ tháng 09/2014 đến tháng 06/2015

Trang 4

Thông tin sử dụng trong luận văn bao gồm thông tin sơ cấp và thứ cấp

- Thông tin thứ cấp là số liệu từ năm 2012 đến 2014;

- Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua cuộc điều tra bằng bảng câu hỏi đã chuẩn bị sẵn đối với các hộ trồng lúa theo tùng vụ mùa như: Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông

4 Nội dung nghiên cứu

- Hiệu quả kinh tế (hiệu quả tài chính) hay tương quan giữa doanh thu,

chi phí và lợi nhuận để làm rõ thực trạng của việc sản xuất lúa, xác định được

mô hình nào hiệu quả hơn Đề tài nghiên cứu mô hình: (1) 2 lúa - 1 màu; (2) chuyên canh lúa (3 lúa)

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của các mô hình sản xuất

lúa

- Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng mô hình sản xuất lúa

* Giả thuyết cần kiểm định

- Khi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài đặt ra giả thuyết sau:

+ Không có sự khác biệt ý nghĩa về hiệu quả sản xuất giữa các mô hình sản xuất lúa tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

+ Không có sự khác biệt ý nghĩa về việc sử dụng hiệu quả nguồn lực giữa các mô hình trên

- Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài đặt ra 4 câu hỏi để làm cơ sở cho nội dung nghiên cứu:

- Câu hỏi 1: Thực trạng sản xuất lúa trong những năm gần đây như thế

nào?

- Câu hỏi 2: Giữa các mô hình sản xuất lúa thì mô hình nào mang lại

hiệu quả tài chính cao hơn cho người sản xuất?

- Câu hỏi 3: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng mở

rộng sản xuất của người trồng lúa?

Trang 5

- Câu hỏi 4: Các giải pháp nào có thể nâng cao hiệu quả tài chính cho người sản xuất lúa tại địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ ?

5 Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu được về hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất 2 lúa - 1 màu

và chuyên canh 3 lúa tại Ô Môn, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị cho người dân, cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của người nông dân

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần phụ lục thì bố cục chính của luận văn được chia như sau:

- Phần mở đầu: Giới thiệu sự cần thiết và tầm quan trọng của đề tài; mục

tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, tình hình các

nghiên cứu có liên quan đến đề tài

- Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng

cao hiệu quả tài chính của các mô hình sản xuất lúa tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

- Phần kết: kết luận và các kiến nghị

Trang 6

xã hội mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch…

Trong nông nghiệp có hai loại chính: thứ nhất, đó là nông nghiệp thuần nông tức là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, không có sự

cơ giới hóa trong sản xuất, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân; thứ hai, nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Ngày nay, nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, nó không những tạo ra các sản phẩm lương thực, thực phẩm phục vụ cho con người mà còn tạo ra các loại khác như: sợi dệt, chất đốt, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống…

Trang 7

1.1.1.2 Đặc điểm

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng và vật nuôi Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực

1.1.2 Khái niệm về hộ, kinh tế nông hộ đặc điểm kinh tế hộ

1.1.2.1 Khái niệm về hộ

Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung

và có chung một ngân quỹ Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là hình thức liên kết giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung, hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất của hộ gia đình

Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh

tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá đặc biệt

Trong cấu trúc nội tại, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, hộ có thể cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được

1.1.2.2 Khái niệm về kinh tế nông hộ

- Việt Nam hiện nay có dân số 90 triệu dân, trên 70% dân số sinh sống

ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc Trong điều kiện đó, hộ được khái niệm như sau:

"Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu

Trang 8

dùng"[24] Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc độ:

- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực, vốn

- Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng, lãnh thổ…

- Trình độ phát triển kinh tế của hộ

- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ

- Trong nông thôn Việt Nam hiện nay, hộ bao gồm hộ gia đình và hộ nông dân, trong đó:

+ Hầu hết hộ gia đình ở nông thôn là những người gắn bó ruột thịt, có cùng huyết thống, chủ hộ thường là những ông, bà, cha, mẹ… và các thành viên trong gia đình là con cháu

+ Còn hộ nông dân (bao gồm các hộ sản xuất nông - lâm - nghiệp) trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia đình (từ một đến nhiều người) có tên trong bảng kê khai hộ khẩu riêng, gồm có chủ hộ và những người cùng sống trong hộ gia đình ấy

Về mặt kinh tế hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về tài sản, những người sống chung trong một căn hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ đóng góp công sức vào quá trình xây dựng, phát triển của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất được Nếu sản xuất đạt kết quả cao, sản phẩm thu được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp cho chi phí đã

bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật, phần thu nhập còn lại trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của gia đình và tái sản xuất Nếu kết quả sản xuất không khả quan người chủ hộ chịu trách nhiệm cao nhất và đồng trách nhiệm là các thành viên trong gia đình

Trang 9

1.1.2.3 Đặc điểm của kinh tế nông hộ

- Kinh tế hộ có những đặc trưng riêng biệt với quá trình tiến triển của

hộ qua các giai đoạn lịch sử Cũng do những đặc trưng riêng biệt này của nó

mà có thể cho rằng hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt

- Hộ mang tính huyết tộc Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể đích thực của hộ và đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản

lý, sử dụng các yếu tố sản xuất

- Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của hộ, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên

- Đặc trưng nổi bật của các hộ ở nước ta là có quy mô canh tác rất nhỏ

bé và quy mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân số,

xu hướng lấy đất đai nông nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp, giao thông, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp muốn phát triển cũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp

- Quá trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng áng hộ

sử dụng nhân công gia đình là chủ yếu Lao động gia đình này không được xem là hình thái hàng hóa Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao động đã xuất hiện ở mức độ khác nhau của sản xuất hàng hóa Thị trường lao động nông thôn cũng ra đời Có những vùng bộ phận lao động coi làm thuê như một phương thức kiếm sống

- Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động bán nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp Cơ cấu này khác nhau giữa các hộ, các địa bàn, các vùng tùy theo điều kiện cụ thể của chúng Một đặc điểm khác nữa là khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân là thấp, các hộ sản xuất trong điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng Theo vào đó, chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế tạo

Trang 10

nên sự căng thẳng về vốn, trong khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống, quy mô canh tác nhỏ đã dẫn đến tình trạng thu nhập của đại bộ phận là thấp

1.1.3 Khái niệm về sản xuất

Sản xuất là việc sử dụng nguồn nhân lực để biến đổi những nguồn lực vật chất và tài chính trở thành của cải và dịch vụ Là các hộ có phương tiện sống dựa trên ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất, nằm trong kinh tế lớn về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia vào thị trường hoạt động với trình độ hoàn chỉnh không cao

- Mô hình sản xuất: theo nghĩa hẹp trong phạm vi đề tài nghiên cứu, mô hình là hệ thống sản xuất nông nghiệp được tính bằng các vụ mùa trong năm, điển hình như: 2 vụ lúa - 1 vụ màu và 3 vụ lúa

1.1.4 Nguồn lực sản xuất

- Lao động: là tất cả những người trong gia đình có khả năng lao động và

sẵn sàng tham gia lao động sản xuất sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để cung cấp cho gia đình và xã hội Lao động gia đình của hộ nông dân gồm những người trong độ tuổi lao động và cả những người ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động khi cần thiết Lao động gia đình không loại trừ lao động đổi công, lao động thuê mướn hoặc đi làm thuê vào thời vụ lao động như thời điểm làm đất, thu hoạch Vậy lao động gia đình là nguồn nhân lực được các thành viên trong hộ sử dụng trong các mô hình sản xuất lúa thể hiện bằng ngày công lao động (8 giờ/ngày)

- Lao động chính: số lượng thành viên trong gia đình hộ nông dân từ 16

đến 60 tuổi

- Diện tích đất trồng lúa: Diện tích đất dùng để sản xuất lúa, đơn vị tính

là héc ta (ha)

Trang 11

- Chi phí sản xuất: tổng đầu tư dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật, thuê lao

động trên cánh đồng lúa, màu được biểu hiện bằng tiền (đồng)

- Số tiền tín dụng: số tiền mà người nông dân vay mượn từ những nguồn

chính thức và không chính thức

1.1.5 Cơ sở lý luận về hiệu quả

Hiệu quả là sử dụng tối ưu về mặt kinh tế và tập hợp các nguồn lực để đạt được mức phúc lợi về mặt vật chất cao nhất cho người tiêu dùng của xã hội theo tập hợp giá nguồn lực và giá thị trường đầu ra nhất định

Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, đó là: “kết quả theo yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả”[22]

1.1.6 Phân loại hiệu quả

-Hiệu quả tài chính: Hiệu quả tài chính là hiệu quả chỉ tính dựa trên góc

độ cá nhân, tất cả chi phí và lợi ích đều tính theo giá thị trường Hiệu quả tài chính trong nông nghiệp được tính như sau:

Hiệu quả tài chính trên 1 đơn vị diện tích = Doanh thu trên 1 đơn vị diện tích - Tổng chi phí sản xuất trên 1 đơn vị diện tích Trong đó:

+ Doanh thu trên 1 đơn vị diện tích = Giá bán sản phẩm x Sản lượng trên

1 đơn vị diện tích canh tác

-Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế hàng hóa và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội

Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Trước hết là ruộng đất là tư liệu sản xuất

Trang 12

không thể thay thế được, nó vừa là sản phẩm tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, chúng sinh trưởng, phát triển, diệt vong theo các quy luật sinh vật nhất định, và chúng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh (ruộng đất, thời tiết, khí hậu) Con người chỉ tác động tạo ra những điều kiện thuận lợi để chúng phát triển tốt hơn theo quy luật sinh vật, chứ không thể thay thế theo ý muốn chủ quan được

Hiệu quả kinh tế là hiệu quả trên góc độ xã hội, tất cả các chi phí và lợi ích đều tính theo giá kinh tế hay giá mờ bao gồm cả chi phí hay lợi ích mà dự

án hay chương trình tác động vào môi trường

- Hiệu quả kỹ thuật: là khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định

- Hiệu quả sản xuất: Được đo lường bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được tính như sau:

Hiệu quả sản xuất = Thu nhập trên một đơn vị diện tích – Tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị diện tích

Trang 13

1.1.7 Thông tin nông hộ

- Nhân khẩu: chỉ số lượng thành viên sống và sinh hoạt chung trong một gia đình

- Độ tuổi: chính là tuổi của chủ hộ, được tính theo năm

- Trình độ học vấn: là trình độ học vấn cao nhất mà chủ hộ và các thành

viên trong hộ đã hoàn thành các lớp học, tính theo năm

- Kinh nghiệm sản xuất: là số năm của chủ hộ đã có kinh nghiệm trong

sản xuất lúa, màu

1.1.8 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay

Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do huyết thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm

lý đạo đức gia đình, dòng họ Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hợp tác lao động một cách hợp lý

Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao - phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ nông trại và các thành viên trong gia đình Động lực lớn nhất thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia

Trang 14

đình Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn quy mô sản xuất nhỏ và phân tán nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội rất nhiều sản phẩm quan trọng góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng và Nhà nước ta cũng như nhân dân Nhằm để tăng thêm thu nhập cho người dân, làm cho nông thôn ngày càng giàu đẹp, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước

1.1.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các mô hình trên địa bàn nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên: Trong những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên

thông thường nhân tố đầu tiên mà người ta phải kể đến đó là đất đai, các tiêu thức của đất đai cần được phân tích, đánh giá về mức độ thuận lợi hay khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Tuy đất đai được xem xét trước nhưng mức

độ ảnh hưởng của nó không mang tính quyết định bằng khí hậu thông qua các thông số như độ ẩm, lượng mưa bình quân, ánh sáng, đều phải được phân tích đánh giá Ngoài đất đai và khí hậu ra còn phải kể đến nguồn nước hoặc khả năng đưa nước từ nơi khác tới vùng sản xuất, nơi chúng ta đang xem xét

- Điều kiện kinh tế, xã hội: Đặc điểm dân cư, trình độ cũng ảnh hưởng đến việc sản xuất lúa Giá cả cũng là nhân tố tác động đến người nông dân sản xuất, chi phí cho sản xuất: khi chi phí lên quá cao mà người nông dân không

Trang 15

có vốn để đầu tư cho sản xuất cũng buộc họ phải thu hẹp qui mô sản xuất Khi thu hẹp qui mô thì họ sẽ có vốn để đầu tư cho chất lượng nông sản

- Điều kiện sinh học, kỹ thuật:

+ Giống: Là yếu tố trực tiếp quyết định năng suất và sản lượng của cây lúa Nếu giống tốt phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng, có khả năng chống chịu sâu bệnh, có năng suất cao kết hợp việc chăm sóc hợp lý thì sẽ nâng cao sản lượng của lúa

+ Kỹ thuật: Nhằm nâng cao sản phẩm nông nghiệp đòi hỏi không ngừng

áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cũng như phát triển quy trình công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm…

+ Phân: Cung cấp dưỡng chất cần thiết cho cây trồng

+ Thuốc BVTV: Phòng chống sâu bệnh có hiệu quả nhanh và ít tốn công,

người ta thường dùng các thuôc hóa học cho cây trồng Chi phí để phòng trừ bệnh cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí

Trang 16

1.1.10 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp

+ Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

+ Tỉ suất lợi nhuận (LN/CP): là tỷ số được tính bằng cách lấy lợi nhuận chia cho chi phí Tỷ số này thể hiện phần trăm đồng vốn đầu tư của nông hộ.

Tỷ số này cho biết cứ một ngày công lao động bỏ ra thì người nông dân

sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập

+ ROE (lợi nhuận trên vốn tự có) = Lợi nhuận/Vốn tự có

+ ROS (lợi nhuận trên doanh thu) = Lợi nhuận/doanh thu

+ ROA (lợi nhuận trên tài sản) = Lợi nhuận/Tổng tài sản

- Thu nhập trên doanh thu:

Thu nhập trên doanh thu = Thu nhập/Doanh thu

Tỷ số này cho biết trong một đồng doanh thu mà người nông dân thu được thì sẽ có bao nhiêu đồng thu nhập

- Doanh thu trên chi phí:

Doanh thu trên chi phí = Doanh thu/Chi phí

Tỷ số này cho biết một đồng chi phí mà người nông dân bỏ ra để sản xuất lúa sẽ thu lại được bao nhiêu đồng doanh thu

Trang 17

nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của hộ nông dân nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận từ sản xuất lúa

và hoa màu

Chi phí sản xuất lúa là tất cả các chi phí bỏ ra để thu được những sản phẩm từ lúa Trong sản xuất lúa có các chi phí sau: chi phí cải tạo đất, cây giống, chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, chi phí máy móc, điện nước, nhân công, thiết bị, dụng cụ và các khoản chi phí khác

Các yếu tố về chi phí phát sinh bao gồm các loại chi phí sau: Chi phí đầu

tư ban đầu bao gồm: chi phí chuẩn bị đất đai và chi phí những tháng đầu khi cây lúa chưa ra bông, cây màu chưa cho trái và tôm chưa trưởng thành: chi phí vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây, thuốc trừ

cỏ, trừ nấm bệnh); chi phí lao động, chi phí nhiên liệu, khấu hao máy móc thiết bị Chi phí đầu tư ban đầu được chia cho số tháng thu hoạch vì thế chi phí này cố định ở các tháng còn gọi là định phí Ngoài ra, trong những tháng thu hoạch lúa, màu và tôm phát sinh thêm những chi phí về phân bón, chăm sóc, thu hoạch…và chi phí biến đổi từng tháng gọi là biến phí

Định phí (chi phí những tháng đầu của cây và cin chưa thu hoạch):

+ Chi phí chuẩn bị đất: Bao gồm chi phí để cải tạo đất, làm tơi xốp đất, đào mương dẫn nước, lên liếp, đắp mô, làm thủy lợi, chi phí cây giống

+ Chi phí nhiên liệu

+ Khấu hao máy móc thiết bị

+ Chi phí vật tư nông nghiệp bao gồm: Chi phí phân bón, thuốc trừ biện, thuốc dưỡng cây, thuốc trừ cỏ

+ Chi phí lao động (trồng cây, tưới nước, bón phân, làm cỏ, bồi bùn, tỉa cành,…) chi phí lao động là số tiền mà nông hộ bỏ ra để thuê mướn lao động Chi phí lao động được tính bằng cách lấy đơn giá lao động nhân với số ngày công

Trang 18

+ Chi phí nhiên liệu: Đơn giá nhiên liệu x số lượng

- Lợi nhuận

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của sản xuất kinh doanh, đây chính là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí

Lợi nhuận = Doanh thu - chi phí

1.2 Lược khảo tài liệu nghiên cứu có liên quan

Mai Văn Nam (2004) - “ Phân tích lợi thế so sánh lúa và heo tại Đồng

bằng Sông Cửu Long” phương pháp phân tích lợi thế cạnh tranh, hàm Probit được sử dụng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đề tài khẳng định là lúa và sản phẩm heo ở Đồng bằng Sông Cửu Long có lợi thế cạnh tranh cao so với các vùng khác

Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) đăng trên Tạp chí Khoa học

Trường Đại học Cần Thơ số 33 với nghiên cứu: “So sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mô hình không Ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật trong sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long” Nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình ứng dụng tiến

bộ kỹ thuật (ƯDTBKT) và mô hình không ƯDTBKT trong sản xuất lúa của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ 750 nông hộ sản xuất lúa thuộc các tỉnh khu vực ĐBSCL Ứng dụng phương pháp các tỷ số tài chính và kiểm định trung bình giữa hai tổng thể độc lập, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mô hình sản xuất lúa có ƯDTBKT đạt hiệu quả tài chính cao hơn so với mô hình không ƯDTBKT Các chỉ tiêu như: tổng chi phí, năng suất, doanh thu và lợi nhuận của mô hình sản xuất có ƯDTBKT đều cao hơn mô hình không ƯDTBKT Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương đẩy mạnh công tác ƯDTBKT trong sản xuất lúa, góp phần tăng năng suất, tăng lợi nhuận, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông hộ sản xuất lúa ở ĐBSCL Bên cạnh kết quả phân tích,

Trang 19

nghiên cứu còn đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan trong sản xuất lúa của vùng nhằm nâng cao hiệu quả ƯDTBKT trong họat động canh tác của nông hộ Các kiến nghị hướng đến các đối tượng bao gồm: nông

hộ, chính quyền địa phương và các cơ quan ban ngành, các tổ chức viện, trường

La Nguyễn Thùy Dung và Mai Văn Nam (2015) đăng trên Tạp chí

Khoa học Trường Đại học Cần Thơ số 36 với nghiên cứu: “Phân tích hiệu quả tài chính của hộ sản xuất lúa theo mô hình liên kết với doanh nghiệp ở tỉnh An Giang” Nghiên cứu này tập trung phân tích, so sánh các chỉ tiêu tài chính của nông hộ tham gia mô hình liên kết và không tham gia mô hình liên kết giữa nông hộ sản xuất lúa và doanh nghiệp ở tỉnh An Giang Phương pháp kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập được sử dụng để kiểm tra sự khác biệt về hiệu quả tài chính giữa nhóm nông hộ tham gia và không tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp Bên cạnh đó, phương pháp thống kê

mô tả, phân tích tần số được sử dụng để đánh giá thực trạng sản xuất lúa của nông hộ Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các nông hộ tham gia canh tác lúa với phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Số nông hộ được phỏng vấn là 338 nông hộ thuộc 4 huyện Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên, trong đó có 126 hộ tham gia liên kết với doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc nông hộ tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp đem lại hiệu quả tài chính cao hơn so với nông hộ không tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp, giúp giảm chi phí và tăng lợi nhuận đồng thời còn giúp nông dân sản xuất tốt hơn và an toàn hơn Đó là cơ

sở để nông hộ tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả canh tác trong sản xuất lúa

Phạm Lê Thông (2010), Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học

Cần Thơ với nghiên cứu: “Hiệu quả kinh tế của nông dân trồng lúa và thương

Trang 20

hiệu lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long” Trong bài nghiên cứu này, hiệu quả kỹ thuật và kinh tế được ước lượng từ hàm sản xuất và lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 477 nông

hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất trung bình của các nông hộ trong vụ Đông Xuân là 7,2 tấn lúa/ha và các nông hộ có thể thu lãi khoảng 20 triệu đồng/ha (không tính chi phí lao động gia đình) Mức hiệu quả kỹ thuật và kinh tế đạt được lần lượt là 85% và 72% Phần kém hiệu quả do chưa đạt hiệu quả tối đa gây thất thoát khoảng 1,2 tấn lúa/ha và 3,2 triệu đồng/ha Có sự chênh lệch lớn trong năng suất cũng như hiệu quả giữa các nông hộ do kỹ thuật không đồng bộ và khả năng lựa chọn đầu vào tối

ưu khác biệt Kết quả này cho thấy tiềm năng lớn để nông dân cải thiện năng suất của mình nếu cải thiện kỹ thuật và khả năng nắm bắt và lựa chọn đầu vào tối ưu tương ứng với giá cả Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc tham gia tập huấn kỹ thuật của nông dân sẽ giúp cải thiện đáng kể năng suất và lợi nhuận đạt được

Nguyễn Quang Diệp (2005), đã so sánh hiệu quả kinh tế mô hình luân

canh lúa mè với mô hình lúa 2 vụ ở Nông trường Sông Hậu - Tp Cần Thơ

Đề tài trên tác giả đã cho thấy được giữa 2 mô hình luân canh lúa mè với mô hình lúa 2 vụ thì mô hình luân canh lúa mè đạt được năng suất cao và cũng mang lại lợi nhuận cao hơn cho các nông hộ

Hà Văn Sơn, Nguyễn Văn Sánh, Trần Văn Sáu và ctv … (1999)- “

Báo cáo kết quả điều tra mô hình canh tác lúa - tôm ở ấp Cái Côn và Mang

Cá, xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang” Kết quả nghiên cứu ở

4 mô hình: lúa Hè Thu - lúa Đông Xuân, lúa Hè Thu - lúa Mùa, tôm + lúa Hè Thu - tôm + lúa Đông Xuân, tôm + lúa Hè Thu - tôm + lúa Mùa cho thấy lợi nhuận và tỷ suất doanh thu của nông dân trong mô hình canh tác tôm + lúa Hè

Trang 21

Thu - tôm + lúa Mùa đạt năng suất cao hơn 3 mô hình còn lại (khoảng 10 tấn lúa/ha/năm)

Theo kết quả nghiên cứu của Tiêu Thị Diễm (2007) với đề tài “Phân

tích hiệu quả sản xuất của hai mô hình canh tác lúa 2 vụ và Lúa-Tôm” tại

huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, cho thấy cơ cấu chi phí của sản xuất lúa phần lớn tập trung vào phân bón và thu hoạch, do đó nếu nhà nước áp dụng các chính sách kiềm chế giá phân bón thì sẽ giúp người nông dân cải thiện cuộc sống Ngoài ra, nếu có cơ giới hóa khâu thu hoạch cũng làm giảm đáng

kể chi phí sản xuất So sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình cho thấy mô hình 2 vụ lúa mặc dù cho tỷ suất lợi nhuận (1,87 đồng lợi nhuận/đồng vốn) thấp hơn mô hình Lúa-Tôm (2,29 đồng lợi nhuận/đồng vốn), nhưng chi phí sản xuất thấp hơn, và cần ít lao động gia đình (90 ngày) hơn, do đó phù hợp cho các hộ nông dân ít vốn và ít nhân lực hoặc các hộ có điều kiện làm các nghề phi nông nghiệp Nếu có đủ vốn đầu tư thì áp dụng mô hình Lúa-Tôm sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn mô hình 2 vụ lúa Hiệu quả sử dụng đồng vốn của

mô hình này (BCR=2,29) cao gấp 1,5 lần so với mô hình 2 vụ lúa Đây là mô hình sản xuất sử dụng nhiều lao động nên phù hợp cho các gia đình đông con

và có thời gian nhàn rỗi trong mùa khô Một nghiên cứu về mô hình canh tác Lúa-Tôm của Thành & ctv (2011) thực hiện, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hệ thống canh tác Tôm-Lúa đã đạt được khoảng 182 kg tôm/ha/năm và khoảng 850 kg lúa/ha/năm, trong đó, chi phí nuôi tôm chí 75% tổng chi phí toàn hệ thống nhưng lợi nhuận chiếm khoảng 97% tổng lợi nhuận của toàn hệ thống Một kết quả sản xuất ở tỉnh Cà Mau cho thấy, nuôi tôm không luân canh với lúa mỗi năm đạt 250-400 kg tôm; có luân canh với lúa, đạt 300-500

kg tôm với tiền lời 50 triệu đồng; lại thu thêm được khoảng 3,5 tấn lúa với đầu tư thấp Giống lúa dùng trong sản xuất thường là một bụi đỏ, trắng tròn,

Trang 22

tép hành, trái mây và các giống mới ngắn ngày như OM1490, AS996, OM576, OM2717 (Nguyễn Văn Luật, 2012)

Theo Brennan & ctv (2002), mô hình Lúa -Tôm đã hạn chế được những

tác động tiêu cực của việc nuôi tôm thâm canh Do đó, mô hình canh tác Tôm-Lúa được xem là mô hình canh tác sinh thái bền vững trong nuôi tôm

Trong nghiên cứu Towards sustainability of integrated rice-shrimp farming

system in the Mekong Delta, Vietnam của Dũng và Sánh (2010) cũng đã

chứng minh hệ thống Lúa-Tôm đã mang lại lợi ích cho cả người sản xuất và

xã hội về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Nhiều nghiên cứu cho thấy các hệ thống canh tác kết hợp như Lúa-Cá, Lúa-Màu, Lúa-Tôm, vườn - ao - chuồng (biogas) là những hệ thống canh tác thích hợp và phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững hiện nay (Thanh, 2002; Nhan et al., 2003) Cùng nhận định trên, theo nghiên

cứu của Nguyễn Hữu Kiệt (2008) mô hình Lúa-Tôm đòi hỏi vốn đầu tư ít và

mang tính bền vững Vì ruộng lúa vốn giàu thức ăn tự nhiên, sau khi thu hoạch thì gốc rạ, rễ lúa, hạt lúa rơi vãi cùng với dinh dưỡng đã tạo nên nguồn thức ăn phong phú trên đồng ruộng Ngoài lợi ích về kinh tế, mô hình Lúa-Tôm kết hợp còn có lợi về mặt môi trường và xã hội Mô hình Lúa-Tôm, sau mỗi vụ tôm sẽ giúp bồi đấp chất dinh dưỡng cho vụ lúa được tốt hơn, do dưỡng chất hữu cơ từ thức ăn tôm lắng đọng đáy ao, đồng thời sau mỗi vụ lúa môi trường nuôi tôm cũng sẽ tốt hơn, là môi trường bền vững, đem lại hiệu quả cao, có thể nhân rộng ra nhiều địa phương, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho bà con nông dân (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2005)

Wilder & Phương (2002) cũng đã tìm ra từ nghiên cứu The status of

aquaculture in the Mekong Delta Region of Vietnam: Sustainable production and combine farming system rằng mô hình Tôm-Lúa là mô hình bền vững và

Trang 23

là mô hình phù hợp nhất cho các nông dân tại vùng ven biển cả về nguồn lực lẫn trình độ kỹ thuật

Phương thức trồng lúa trong mùa mưa, rồi sử dụng ruộng lúa để nuôi tôm sú mùa khô, nông dân đã tạo ra nguồn thu nhập mới mà trước đây không thể có được trong mùa khô Thực tế cho thấy mô hình Lúa-Tôm là mô hình có tính hỗ trợ lẫn nhau và là mô hình canh tác phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng và mặn xâm nhập sâu hiện nay Sau khi nuôi tôm đất trở nên màu mỡ hơn (giảm được phèn), cây lúa phát triển mạnh, giảm được chi phí phân bón cũng như thuốc bảo vệ thực vật Ngược lại, đất được canh tác qua một vụ lúa thì khi thả nuôi tôm mau lớn, ít gặp rủi ro về dịch bệnh hơn

nhiều so với ao thả nuôi nối vụ (Đỗ Thị Huyền Trang, 2011)

Nhiều nghiên cứu cho thấy nuôi tôm kết hợp với trồng lúa có thu nhập cao hơn so với độc canh cây lúa hay chỉ nuôi tôm trong cùng điều kiện canh

tác (Trần Thanh Bé và Lê Cảnh Dũng, 1997; Thanh, 2002) Ngoài ra, theo

nghiên cứa của Thanh (2002) cho thấy năng suất lúa trong mô hình Lúa-Tôm đạt 4,3 tấn/ha cao hơn so với độc canh cây lúa chỉ 3,9 tấn/ha; năng suất tôm trong mô hình kết hợp cũng cao hơn so với chuyên tôm (346 kg/ha so với 274 kg/ha) Kết quả lợi nhuận từ mô hình Lúa-Tôm (10,5 triệu đồng/ha) cao hơn

so với các mô hình chỉ chuyên lúa (4 triệu đồng/ha) hoặc tôm (8 triệu đồng/ha) Ngoài lợi ích về kinh tế, mô hình lúa tôm kết hợp còn có lợi thế về môi trường và xã hội Nông dân trồng lúa độc canh có khuynh hướng sử dụng thuốc BVTV và phân bón nhiều hơn; chẳng hạn, trong vùng sản xuất lúa độc canh có từ 40-60% nông dân sử dụng thuốc trừ sâu rầy trong khi đó con số này chỉ 2-5% ở vùng Lúa-Tôm kết hợp Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Bé và Lê Cảnh Dũng (1997), mô hình canh tác Lúa-Tôm kết hợp sử dụng nhiều lao động hơn các mô hình độc canh nhờ đó cũng góp phần giải quyết công ăn việc làm vùng nông thôn ven biển khu vực ĐBSCL Đánh giá

Trang 24

chi tiết về tính bền vững của hệ thống canh tác Lúa-Tôm, theo Hoàng (2005) thực hiện so sánh tính bền vững của ba mô hình canh tác (Lúa-Tôm, lúa 2 vụ

và nuôi tôm quảng canh) phổ biến tại vùng đất phèn Chủ Chí, Bạc Liêu Thông qua việc đánh giá bốn tiêu chí: hiệu quả kinh tế, sinh khối, đa dạng sinh học và khả năng tài tạo tài nguyên Tác giả kết luận mô hình canh tác Lúa-Tôm cho thu nhập cao gấp 3 lần mô hình nuôi tôm quảng canh và 2,4 lần

mô hình hai vụ lúa Đặc biệt trong ba mô hình canh tác trên thì mô hình Tôm có tính bền vững cao nhất

Lúa-Theo Võ Tòng Xuân (2009), mô hình sản xuất một vụ lúa, một vụ tôm

là hệ thống canh tác mang tính bền vững nhất ở vùng Bán đảo Cà Mau hiện nay Mô hình sản xuất này được khẳng định dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học của các chuyên gia Australia và Trường Đại học Cần Thơ Qua khảo sát thực tế vùng sản xuất chuyên tôm, Lúa-Tôm mới đây tại Cà Mau, Võ Tòng Xuân cho rằng, trong điều kiện hệ thống thủy lợi chưa được khép kín đồng

bộ, trình độ thâm canh của nông dân còn hạn chế, nền sản xuất còn bấp bênh, nuôi tôm chuyên canh dễ đưa tới thảm họa dịch bệnh tôm chết Việc trồng lúa trên đất nuôi tôm là biện pháp tốt nhất để cải tạo môi trường ruộng nuôi, cân bằng hệ sinh thái trong đầm nuôi do có sự phân bố hài hòa giữa hệ động và thực vật Việc áp dụng hình thức sản xuất luân canh Lúa-Tôm sẽ góp phần cách ly, hạn chế sự lây lan mầm bệnh từ vụ nuôi tôm này sang vụ nuôi khác

(Đức Toàn st, 2009) Còn nhận định của Nguyễn Anh Tuấn và ctv (1992)

việc xuất hiện và phát triển theo phương thức tự phát, mô hình canh tác Tôm nước mặn vẫn còn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm của nông dân, họ chưa được hướng dẫn và trang bị những kiến thức cơ bản của nghề, do đó việc ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất không đáng kể nên năng suất thấp và biến động lớn

Trang 25

Lúa-Từ những phương pháp so sánh, phân tích và kết quả nghiên cứu của các

đề tài nêu trên có thể giúp cho nghiên cứu có được phương pháp cũng như nội dung nhằm mục tiêu đánh giá và ước tính mức hiệu quả tài chính của các mô hình sản xuất lúa Từ đó, xác định những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của nông hộ Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin cho việc ra các quyết định hợp lý trong trong sản xuất lúa để tăng hiệu quả đồng thời tăng thu nhập cho nông hộ

1.3 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và tại Việt nam

1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu Á

Ở Châu Á lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ

Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2011) cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1961 đến 1980 Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào những năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và

có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ỏ mức 152,9 triệu ha Từ năm 2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 157,73 triệu ha cao nhất kể từ năm

1995

Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất không ngừng được cải thiện, đặc biệt từ sau cuộc Cách mạng Xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Các giống lúa này có yêu cầu kỹ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho các nước phát triển tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhờ có điều kiện phát triển hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh và đầu tư phân bón,

Trang 26

kỹ thuật cao Đến những năm 1990, dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) Trong khi các nước có diện tích lúa lớn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiếu điều kiện đầu tư, cải tạo môi trường canh tác và không thể đầu tư vào nông nghiệp cao nên năng suất lúa vẫn còn rất thấp và tăng chậm Điều này làm năng suất lúa bình quân trên thế giới cho đến nay vẫn còn ở khoảng 4,0-4,3 tấn/ha, chỉ bằng phân nửa năng suất lúa ở các nước phát triển

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm

Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lƣợng (Triệu tấn)

1.3.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam

Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống từ xưa của nhân dân Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2008), Việt Nam có diện tích lúa khoảng 7,4 triệu ha, đứng thứ 7 sau các nước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á theo thứ tự Ấn Độ (~ 44,0 triệu ha), Trung

Trang 27

Quốc (~ 29,5 triệu ha), Indonesia (~ 12,3 triệu ha), Bangladesh (~ 11,7 triệu ha), Thái Lan (~ 10,2 triệu ha), Myanmar (~ 8,2 triệu ha) Việt Nam có năng suất 5,2 tấn/ha đứng thứ 24 trên thế giới sau Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), Salvador (7,9 tấn/ha)…, đứng đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ

4 trong khu vực Châu Á sau Hàn Quốc (7,4 tấn/ha), Trung Quốc (6,6 tấn/ha), Nhật (6,5 tấn/ha)

Qua các giai đoạn lịch sử cải thiện đời sống của nhân dân cho thấy quan tâm của Nhà nước đối với sản xuất lúa gạo Trước 1975, diện tích trồng lúa cả nước dao động trong khoảng 4,42-4,92 triệu ha Năng suất có tăng nhưng rất chậm, chỉ khoảng 700 kg/ha trong vòng 20 năm Sản lượng lúa 2 miền chỉ trên dưới 10 triệu tấn Sau năm 1975, diện tích trồng lúa tăng khá nhanh và ổn định nhưng năng suất bình quân giảm sút khá nghiêm trọng do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh, cơ chế quản

lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp Bước sang 1980, năng suất lúa tăng dần

do khắc phục được những nguyên nhân trên như: thay đổi cơ chế quản lý nông nghiệp bằng chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất, cải thiện hệ thống kênh mương…

Sau những nỗ lực khắc phục khó khăn, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Từ một nước phải nhập khẩu gạo hàng năm chúng ta đã tự túc được lương thực và dần dần tái hòa nhập vào thị trường lương thực thế giới, chiếm lĩnh ngay vị trí quan trọng, là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ

3 rồi thứ 2 thế giới sau Thái Lan

Từ 1997 đến nay, hàng năm nước ta xuất khẩu trung bình trên dưới 4 triệu tấn gạo, đem về một nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể Hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ 6 về diện tích gieo trồng và đứng hàng thứ 2 về sản lượng lúa Hạt gạo Việt Nam chẳng những đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần quan trọng trong thị trường lúa gạo thế giới

Trang 28

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Việt Nam qua các năm Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lƣợng (Triệu tấn)

(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2014)

1.3.3 Tình hình sản xuất lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long

Sản xuất lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong những năm qua đã có sự thay đổi diện tích, trong giai đoạn 2000-2010, diện tích lúa ĐBSCL thu hẹp 6.000 ha Riêng trong giai đoạn 2000-2005 diện tích lúa giảm 119.500 ha, sau đó phục hồi lại trong giai đoạn 2005-2010 tăng 113.500 ha

Sự tăng giảm diện tích theo các giai đoạn chủ yếu do: (i) giá cả lúa bấp bênh diện tích tăng, giảm cục bộ trong từng vụ; (ii) sự không ổn định diện tích lúa thu đông và (iii) sự tăng giảm diện tích của vụ lúa mùa (trong đó có vụ lúa trên nền đất nuôi tôm sú)

Trang 29

Năng suất lúa đã và đang được cải thiện một cách đáng kể, năm 2000 năng suất bình quân 4,23 tấn/ha đến năm 2010 năng suất bình quân đạt 5,47 tấn/ha (tăng gần 1,24 tấn/ha) sự tăng năng suất cơ bản là việc áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất một cách rộng rãi hơn trong

đó quan trọng là sử dụng giống mới, biện pháp ba giảm ba tăng, thu hoạch cơ giới và rút ngắn được khoảng chênh lệch năng suất giữa các hộ trồng lúa

Sản lượng lúa cũng gia tăng mặc dù diện tích trồng lúa có giảm, năm

2000 sản lượng đạt 16,702 triệu tấn nhưng đến năm 2010 sản lượng đã đạt 21,55 triệu tấn (tăng 4,85 triệu tấn) sản lượng tăng vừa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, vừa đảm bảo tăng sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm

Xuất khẩu gạo năm 2000 đạt 3,5 triệu tấn, đến năm 2010 sản lượng gạo xuất khẩu đạt 6,754 triệu tấn Giá trị xuất khẩu từ 668 triệu USD năm 2000 đến 2,912 tỉ USD năm 2010

Thành công của sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam trong hai thập niên qua do nhiều yếu tố tác động, trong đó “đổi mới” chính sách, nghiên cứu

và chọn tạo, phổ biến các giống lúa mới cho năng suất và chất lượng cao vào sản xuất, mở rộng hệ thống thủy lợi khai thác lúa nước tưới, hướng canh tác vào thâm canh cao, áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa và sự

mở rộng thị trường xuất khẩu gạo đóng vai trò quan trọng

Vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, cũng như điều kiện khí hậu thuận lợi Nhìn chung, sản xuất lúa ở ĐBSCL có xu hướng gia tăng về năng suất và sản lượng, các yếu tố góp phần cho sự gia tăng này tập trung vào khâu chọn giống lúa và bố trí thời vụ Các kỹ thuật canh tác (làm đất, bón phân, quản lý nước, bảo vệ thực vật) và biện pháp giảm thất thoát chưa đóng góp nhiều trong việc gia tăng này

Sản xuất lúa theo định hướng cho sự phát triển bền vững đòi hỏi: (i) năng suất, sản lượng lúa phải ổn định trong từng vụ lúa, từng năm và trong

Trang 30

nhiều năm tới; (ii) thu nhập, lợi nhuận và đời sống nông dân được nâng cao; (iii) giảm thiểu sự suy thoái về đất đai canh tác lúa, nguồn nước phục vụ sản xuất và tiêu dùng, sức khỏe người trồng lúa được bảo vệ; (iv) đời sống văn hóa - xã hội nông thôn được cải thiện

Sự bền vững này cần nhiều chương trình, giải pháp, nhiều chính sách

hỗ trợ và sự đồng bộ trong sản xuất, tiêu thụ và bảo vệ sức khỏe người dân, bảo vệ môi trường Liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và phải được thực hiện bằng các bước đi, giai đoạn thích ứng với trình độ và sự phát triển của người dân trong vùng ĐBSCL

Sản xuất lúa ở ĐBSCL trong nhiều năm qua vẫn tập trung chủ yếu vào hướng mở rộng diện tích và gia tăng năng suất Thực tế, việc mở rộng diện tích lúa có giới hạn và gia tăng năng suất lúa các biện pháp kỹ thuật vẫn chưa đồng bộ, vùng ĐBSCL chưa có một quy trình sản xuất lúa cơ bản cho toàn vùng và cụ thể cho các tiểu vùng sinh thái, do vậy sự gia tăng năng suất, sản lượng vẫn mang tính bấp bênh, tùy thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên, thời tiết, khí tượng và sự phát sinh, phát triển của dịch hại Sự áp dụng các tiến bộ

kỹ thuật vẫn còn mang tính riêng lẽ ở từng khu vực Mặc dù các tiến bộ kỹ thuật ba giảm ba tăng, bón phân đạm theo bảng so màu lá, phòng trừ dịch hại tổng hợp, sử dụng giống lúa xác nhận, xuống giống tập trung né rầy … được

Bộ Nông nghiệp và PTNT phát động, khuyến cáo áp dụng rộng rãi Tuy

nhiên, biện pháp xuống giống tập trung né rầy được thể hiện rõ nhất {hàng

năm chiếm khoảng 65% (trong vụ Hè Thu) đến 80% (trong vụ Đông Xuân) diện tích xuống giống lúa} các biện pháp kỹ thuật khác chưa thấy sự thống kê

áp dụng rõ ràng ở từng tỉnh, từng vùng

Trang 31

Bảng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở ĐBSCL qua các năm

Năm Diện tích

(ha)

Năng suất (tấn/ha) (ngàn tấn) Sản lƣợng

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Quận Ô Môn là quận nội ô trực thuộc thành phố Cần Thơ (được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Ô Môn thành quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ theo Nghị định 05/2004/NĐ-CP của Chính phủ), có diện tích 13.222 hecta; dân số toàn quận hiện nay là 133.297 người (66.625 nữ), trong đó đồng bào dân tộc: Khmer: 1.072 hộ, 4.985 người; Hoa: 384 hộ, 1.990 người; dân tộc thiểu số khác: 6 hộ, 17 người

Hình 2.1:Trụ sở Ủy ban nhân dân quận Ô Môn

Về vị trí địa lý: Bắc giáp quận Thốt Nốt; Nam giáp quận Bình Thủy và huyện Phong Điền; Đông giáp sông Hậu, ngăn cách với các tỉnh Vĩnh Long

và Đồng Tháp; Tây giáp huyện Thới Lai và huyện Cờ Đỏ

Về đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 phường:

Trang 33

- Phường Châu Văn Liêm: thành lập từ thị trấn Ô Môn, diện tích: 881

ha, dân số: 23.398 người

- Phường Thới Hòa (tách ra từ phường Châu Văn Liêm theo Nghị định

số 11/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ): diện tích:

743 ha, dân số: 7.238 người

- Phường Thới An, diện tích: 2.489 ha, dân số: 26.135 người

- Phường Phước Thới, diện tích: 2.826 hecta, dân số: 26.593 người

- Phường Trường Lạc: diện tích: 2.420 hecta, dân số: 16.690 người

- Phường Thới Long: diện tích: 2.047 hecta, dân số: 19.445 người

- Phường Long Hưng (tách ra từ phường Thới Long theo Nghị định số 162/2007/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ): diện tích: 1.815 hecta, dân số: 13.818 người

Hình 2.2: Bản đồ hành chính quận Ô Môn - Tp Cần Thơ (Nguồn: Phòng Kinh tế Quận Ô Môn - UBND quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ)

Trang 34

Quận Ô Môn nằm cách quận Ninh Kiều (Trung tâm thành phố Cần Thơ) 21 km, nên sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của thành phố ít nhiều

có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của quận Ô Môn Bên cạnh đó, quận

Ô Môn cũng có một số điều kiện thuận lợi như: Về giao thông đường bộ, Ô Môn có tuyến quốc lộ 91, 91B nối từ quốc lộ 1A qua địa bàn quận dài 20 km,

4 tuyến tỉnh lộ nối từ quốc lộ 91 tỏa ra các hướng; Về đường thủy có sông Hậu chảy qua địa phận quận dài 15km, các phương tiện có trọng tải lớn lưu thông dễ dàng đến cảng Cần Thơ, cảng Cái Cui Nhìn chung, cả hai tuyến thủy, bộ đều giao lưu thuận tiện đến các tỉnh lân cận, thành phố Hồ Chí Minh

và cả nước bạn Campuchia Ngoài ra, còn có sông Ô Môn là đầu mối giao lưu thuận tiện đến các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau

và hệ thống kênh rạch chằng chịt như: Rạch Tắc Ông Thục, Ba Rích, Cam

My, Bà Sự, Tầm Vu, Rạch Bằng Tăng, … rất thuận lợi việc đi lại, vận chuyển

Đất Ô Môn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, sản xuất nhiều lúa gạo, có sông nước hiền hoà, là nơi phong cảnh đẹp, các vùng Thới Long, Thới

An, Trường Lạc nổi tiếng với những vườn cây trái sum suê bốn mùa Sản lượng lúa hàng năm vẫn giữ vững và tăng đều ở mức trên 92 nghìn tấn, với năng suất bình quân trên 4,93 tấn/ha/năm Tổng diện tích trồng màu hàng năm đạt trên 1.766 ha, tập trung vào những loại cây phù hợp cho năng suất cao, có thị trường ổn định như: đậu nành, mè, bắp lai, đậu xanh, vườn cây ăn quả đặc sản các loại trên 2.500 ha, cung cấp sản lượng hàng năm khoảng 25.000 tấn trái cây, có thể gắn với phát triển du lịch sinh thái rất tốt Các phường nằm ven sông Hậu như: Phước Thới, Thới An, Thới Long còn phát triển với nghề nuôi trồng thủy sản như: cá tra, cá bống tượng, cá rô phi đơn tính, cá rô đồng, tôm với sản lượng khoảng 50.000 tấn/năm

Trang 35

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

2.1.2.1 Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế

Nếu trước đây, Ô Môn là huyện thuần nông với các sản phẩm chủ đạo như: lúa, cá, cây ăn quả, các cơ sở sản xuất công nghiệp hầu như chưa được thiết lập thì đến tháng 4-2005, quận Ô Môn đã có 1.176 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thu hút 6.641 lao động Trong đó, các ngành, nghề truyền thống như: sản xuất bánh kẹo, tương chao, chế biến lương thực, nghề làm bánh tráng, làm nhang, nghề đan lợp tép, đang trên đà phát triển Nhờ đó, đến năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của quận vươn lên đứng thứ hai (sau quận Bình Thuỷ) trong 8 quận, huyện của thành phố, đạt 419.565 triệu đồng Ngoài sự gia tăng về số lượng các cơ

sở sản xuất và sự đa dạng trong cơ cấu ngành nghề, các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn còn thể hiện xu hướng "tích tiểu thành đại" để hình thành những doanh nghiệp, công ty có quy mô khá lớn, có

tổ chức kỷ luật chặt chẽ và quản lý kinh tế khoa học

Lĩnh vực thương mại - dịch vụ cũng có những bước tiến mới Đến tháng 4-2005, quận Ô Môn có tổng số 11 điểm chợ và 3.042 cơ sở kinh doanh, thu hút 5.915 lao động với các loại hình kinh doanh phong phú, đa dạng Đáng chú ý nhất là chợ trung tâm quận Ô Môn ngày càng được chỉnh trang, sắp xếp theo hướng văn minh thương mại

Do quá trình đô thị hoá và định hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp của quận ngày càng thu hẹp Bởi vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Ô Môn lần thứ IX xác định ngành nông nghiệp Ô Môn sẽ tập trung phát triển theo hướng nông nghiệp chất lượng cao Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới như IPM, 3 giảm, 3 tăng, sử dụng giống lúa có chất lượng tốt, đặc biệt là các giống lúa thơm, đã giúp nông dân quận Ô Môn giảm chi phí đầu tư, nâng cao lợi nhuận và chất lượng

Trang 36

lúa, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu Sản lượng lúa hàng năm vẫn giữ vững và tăng đều ở mức trên 90 nghìn tấn, với năng suất bình quân trên 4,93 tấn/ha/năm Tổng diện tích trồng màu năm 2004 đạt 1.587,6 ha, tập trung vào những loại cây phù hợp cho năng suất cao, có thị trường ổn định như: đậu nành, mè (vừng), bắp (ngô) lai, đậu xanh, Đặc biệt, diện tích cây màu tăng mạnh và cho năng suất cao trong mô hình lúa - màu - dịch vụ, lúa - màu và lúa - màu - cá Ngoài ra, với lợi thế của một vùng đất cặp sông Hậu trải dài ở 3/5 phường của quận Ô Môn (từ phường Phước Thới, Thới An tới phường Thới Long), nhiều mô hình nuôi cá tra, cá bống tượng, cá rô phi đơn tính, cá

rô đồng, nuôi tôm, phát triển rộng khắp, khai thác hiệu quả nguồn nước bạc ven sông Hậu, vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa góp phần giải quyết việc làm cho người lao động

2.1.2.2 Nỗ lực chuyển dịch cơ cấu lao động

Đến tháng 4-2005, tỷ lệ lao động ở khu vực nông nghiệp chiếm 69% cơ cấu lực lượng lao động trên địa bàn quận Để giải quyết thoả đáng vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn, Đảng bộ, chính quyền quận Ô Môn đã từng bước đưa lao động nông nghiệp vào làm việc trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp Quận còn tăng cường phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và người lao động để thực hiện mục tiêu "đào tạo theo đơn đặt hàng"; phối hợp với Quân khu IX, các sở, ban, ngành, đoàn thể của thành phố Cần Thơ tổ chức các trung tâm học tập cộng đồng để trang bị kiến thức, tay nghề cho người lao động

Cùng với đó, quận còn tiến hành hỗ trợ vốn, khoa học - kỹ thuật, mở rộng các ngành nghề nhằm tạo ra nhiều chỗ làm mới cho người lao động Quận cũng không ngừng đẩy nhanh công tác tuyên truyền, vận động và tạo mọi điều kiện thuận lợi để đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn đã góp phần giải quyết nhiều việc

Trang 37

làm tại chỗ cho người lao động là Chi nhánh Công ty may Tây Đô (800/1.200 lao động đang làm việc tại chi nhánh là người Ô Môn); Công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 2 - Cần Thơ (85% công nhân, lao động là người Ô Môn), nhà máy nhiệt điện Ô Môn, bệnh viện lao trung ương, bệnh viện thần kinh trung ương Ngoài ra, đón đầu các dự án đầu tư đang được mở rộng, nắm bắt kịp thời các thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn, từ đó lên kế hoạch đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu mà quận Ô Môn thực hiện trong những năm qua Chẳng hạn, ngay từ những ngày đầu khởi công dự án cấp quốc gia xây dựng Nhà máy điện Ô Môn, Đảng bộ, chính quyền quận đã kết hợp với Ban quản lý dự án đào tạo hơn 100 kỹ sư điện Trong tương lai, khi dự án này chính thức đi vào hoạt động sẽ thu hút và giải quyết việc làm cho khoảng 4.500 - 6.000 lao động địa phương

2.2 Đặc điểm về dân cư, lao động và cơ cấu dân số tại quận Ô Môn

2.2.1 Đặc điểm về dân cư và lao động

Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013

của quận Ô Môn

Quận, Huyện Diện tích

(Km 2 )

Dân số trung bình (Người)

Mật độ dân số (Người/ Km 2

)

(Nguồn: Niêm giám thống kê 2011, Cục thống kê Cần Thơ)

Trang 38

2.2.2 Cơ cấu dân số

Bảng 2.2: Cơ cấu dân số Tp Cần Thơ 2006 - 2011

Nông Nghiệp

Phi nông nghiệp

Thành Thị

Nông thôn

Nông Nghiệp

Phi nông nghiệp

(Nguồn: Niêm giám thống kê 2011, Cục thống kê Cần Thơ)

2.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát

- Nghiên cứu được thực hiện tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ để dễ

so sánh với các quận, huyện bên cạnh; các quận, huyện đó cũng đang trong quá trình đô thị hóa, các khu công nghiệp ngày càng nhiều hơn ảnh hưởng đến sản xuất lúa Vì thế, Tác giả chọn vùng nghiên quận Ô Môn làm vùng nghiên cứu để đưa ra những đề xuất nhằm phát triển các mô hình sản xuất lúa đạt được hiệu quả tài chính cao nhất

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Nhiều loại số liệu thứ cấp liên quan đến hệ thống sản xuất lúa; năng suất, sản lượng lúa trên địa bàn quận được thu thập thông qua niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, địa phương, các nghiên cứu khoa học của viện, trường trong những năm gần đây và các tài

Trang 39

liệu liên quan Các số liệu và thông tin này sẽ được phân tích để tìm chiều hướng phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội của địa phương được khảo sát Số liệu thứ cấp cũng giúp định hướng cho việc thu thập số liệu sơ cấp ở bước tiếp theo

2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Tiến hành xây dựng biểu mẫu điều tra, tổng số quan sát mẫu điều tra là

120, đối tượng thu thập số liệu là những nông hộ có sản xuất mô hình sản xuất lúa, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẩu nhiên phân tầng, thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại nông hộ

+ Phương pháp chọn vùng

Đề tài chọn các phường Châu Văn Liêm, Trường Lạc, Long Hưng và Thới Long để tiến hành nghiên cứu vì những phường này đáp ứng được mục tiêu của đề tài đặt ra, là những phường có diện tích trồng lúa lớn trong quận Ô Môn Đồng thời cũng thỏa mãn được yêu cầu là có các mô hình sản xuất lúa

mà đề tài đang nghiên cứu Đối tượng được chọn phỏng vấn là những nông hộ

đã và đang canh tác lúa và có kinh nghiệm sản xuất lúa từ 3 năm trở lên, diện tích canh tác thực hiện mô hình lớn

+ Phương pháp chọn mẫu

Tổng số 120 mẫu nghiên cứu là những nông hộ có sản xuất lúa theo mô hình chuyên canh 3 lúa, 2 lúa -1 màu, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại nông hộ, cơ cấu mẫu được thể hiện qua Bảng 2.3

Trang 40

Bảng 2.3: Phân bố số quan sát mẫu theo địa điểm

Số liệu được ghi nhận bao gồm các thông tin về:

+ Thông tin về hiện trạng nông hộ trong vùng nghiên cứu

- Tuổi, dân tộc, trình độ văn hóa của chủ hộ, nhân khẩu, lao động chính trong gia đình

- Diện tích canh tác của nông hộ

- Tài sản, máy móc phục vụ sản xuất màu, lúa của gia đình

- Lý do chọn mô hình sản xuất

- Tham gia các tổ hợp tác sản xuất, Hợp tác xã

+ Thông tin về kỹ thuật sản xuất của nông hộ và thị trường tiêu thụ lúa và hoa màu

- Lịch thời vụ

- Kinh nghiệm sản xuất

- Thông tin về khoa học kỹ thuật

- Tình hình sử dụng chi phí đầu vào, giá bán, doanh thu, lợi nhuận

- Tình hình tiếp cận thị trường tiêu thụ

Những khó khăn, thuận lợi của các mô hình trồng lúa trên địa bàn nghiên cứu

Ngày đăng: 03/03/2017, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Mai Văn Nam (2008), Giáo trình nguyên lý thống kê kinh tế, Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nguyên lý thống kê kinh tế
Tác giả: Mai Văn Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
10. Nguyễn Văn Luật (2012). Luân canh tôm - lúa, một kiểu nông nghiệp thông minh. Tại website http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/moi-truong/item/931502-.html. Truy câp ngày 20/11/2012 Link
18. Đức Toàn (2009). Mô hình sản xuất lúa - tôm: Hướng mở cho sản xuất bền vững - Bài 3: Mở hướng cho đôi dòng mặn ngọt. Từ website:http://www.tinkinhte.com/viet-nam/nong-nghiep-nong-thon/mo-hinh-san-xuat-lua-tom-huong-mo-cho-san-xuat-ben-vung-bai-3-mo-huong-cho-doi-dong-man-ngot.nd5-dt.50342.113119. Truy cập ngày: 8/03/2012 Link
19. Tổng quan về Cần Thơ. Tại Website: http://www.cantho.gov.vn/gioithieu/default.aspx?Source=/gioithieu&Category = &ItemID=3&Mode=1,. Truy cập ngày 08/03/2012 Link
20. Đỗ Thị Huyền Trang (2011). An Minh - Kiên Giang: Hiệu quả từ mô hình lúa tôm. Từ Website: http://vifep.com.vn /NewsViewItem.aspx?Id=1086. Truy cập ngày: 20/09/2012.\ Link
1. Trần Thanh Bé (2009). Phát triển bền vững hệ thống canh tác Lúa - Tôm vùng nước lợ ĐBSCL: Kết quả nghiên cứu và vấn đề quan tâm. Hội nghị lần thứ nhất phát triển hệ thống sản xuất Lúa - Tôm bền vững vùng ven biển ở ĐBSCL. Cục Trồng trọt phối hợp với Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Sóc Trăng tổ chức, trang 7-17 Khác
2. Trần Thanh Bé và Lê Cảnh Dũng (1997). So sánh hiệu quả kinh tế các hệ thống canh tác vùng nước lợ ĐBSCL. Tuyển tập công trình khoa học công nghệ từ năm 1993-1997. Trường Đại học Cần Thơ, trang 245-251 Khác
3. Cục thống kê thành phố Cần Thơ (2012). Thực trạng nông thôn - nông nghiệp Cần Thơ, tiềm năng và phát triển Khác
4. Cục thống kê thành phố Cần Thơ (2012). Niên giám thống kê thành phố Cần Thơ năm 2011 Khác
5. Lê Cảnh Dũng, C.T.Hoanh, C.Le Page và Gasaeni, 2010. Phân tích kinh tế - xã hội và môi trường bằng cách tiếp cận mô hình hóa đa tác nhân đối với hệ trồng Lúa - Tôm ở Cần Thơ, Việt Nam. Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ, số 16a, ISSN: 1859-2333 Khác
6. Tiêu Thị Diễm (2007). Phân tích hiệu quả sản xuất của hai mô hình canh tác lúa 2 vụ và lúa tôm tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp Khác
7. Huỳnh Minh Hoàng (2005). Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần xác định cơ cấu cây trồng hợp lí trên vùng đất phèn Chủ Chí - Cần Thơ. Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội, 159 trang Khác
8. Lâm Quang Huyên (2004), kinh tế nông hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Việt Nam. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Khác
9. Nguyễn Hữu Kiệt (2008). Đặc tính môi trường đất và nước của các mô hình canh tác vùng nuôi tôm thuộc huyện Mỹ Xuyên, Long Phú và Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Luận án thạc sĩ ngành Phát triển nông thôn.Trường Đại học Cần Thơ Khác
13. Nguyễn Thanh Phương, Trương Hoàng Minh, Nguyễn Anh Tuấn (2004). Tổng quan về các mô hình nuôi tôm sú ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Hội nghị phát triển thủy sản ven bờ, ngày 04/08/2004. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, trang 1-10 Khác
14. Lê Xuân Sinh (2005). Giáo trình môn học kinh tế thủy sản. Khoa Thủy sản. Trường Đại học Cần Thơ (Lưu hành nội bộ) Khác
15. Sở Nông nghiệp & PTNT thành phố Cần Thơ (2013). Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2012 và kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn năm 2013 Khác
16. Nguyễn Công Thành, Nguyễn Văn Hảo, Lê Xuân Sinh và Đặng Thị Phượng (2011). Phân tích những rủi ro và hạn chế của mô hình luân canh Khác
17. Phạm Xuân Thùy và Phạm Xuân Yến, 2005. Kỹ thuật nuôi tôm sú thương phẩm. Trung tâm nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi trồng thủy sản.Trường Đại học thủy sản Nha Trang Khác
23. Nguyễn Bảo Vệ, Nguyễn Thị Xuân Thu (2005). Giáo trình Hệ thống canh tác. Đại học Cần Thơ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm (Trang 26)
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Việt Nam qua các năm - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Việt Nam qua các năm (Trang 28)
Hình 2.1:Trụ sở Ủy ban nhân dân quận Ô Môn - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 2.1 Trụ sở Ủy ban nhân dân quận Ô Môn (Trang 32)
Hình 2.2: Bản đồ hành chính quận Ô Môn - Tp. Cần Thơ   (Nguồn: Phòng Kinh tế Quận Ô Môn - UBND quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ) - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 2.2 Bản đồ hành chính quận Ô Môn - Tp. Cần Thơ (Nguồn: Phòng Kinh tế Quận Ô Môn - UBND quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ) (Trang 33)
Bảng 2.2: Cơ cấu dân số Tp. Cần Thơ 2006 - 2011 - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 2.2 Cơ cấu dân số Tp. Cần Thơ 2006 - 2011 (Trang 38)
Bảng 2.3: Phân bố số quan sát mẫu theo địa điểm - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 2.3 Phân bố số quan sát mẫu theo địa điểm (Trang 40)
Bảng  2.4: Kỳ vọng dấu các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc  hàm sản xuất - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
ng 2.4: Kỳ vọng dấu các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc hàm sản xuất (Trang 43)
Bảng  2.5: Kỳ vọng dấu các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc  hàm lợi nhuận - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
ng 2.5: Kỳ vọng dấu các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc hàm lợi nhuận (Trang 44)
Bảng 3.2: Năng suất lúa bình quân hộ điều tra - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 3.2 Năng suất lúa bình quân hộ điều tra (Trang 50)
Hình 3.1: Cơ cấu chi phí sản xuất mô hình 3 lúa  (Nguồn: kết quả điều tra thực tế, 2014) - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 3.1 Cơ cấu chi phí sản xuất mô hình 3 lúa (Nguồn: kết quả điều tra thực tế, 2014) (Trang 51)
Hình 3.2: Cơ cấu chi phí sản xuất mô hình 2 lúa 1 màu        (Nguồn: kết quả điều tra thực tế, 2014) - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Hình 3.2 Cơ cấu chi phí sản xuất mô hình 2 lúa 1 màu (Nguồn: kết quả điều tra thực tế, 2014) (Trang 54)
Bảng 3.11: Lợi nhuận và các tỷ số tài chính khác của 2 mô hình - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 3.11 Lợi nhuận và các tỷ số tài chính khác của 2 mô hình (Trang 61)
Bảng  3.12: Kỳ vọng dấu các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
ng 3.12: Kỳ vọng dấu các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc (Trang 64)
Bảng 3.13: Kết quả phân tích Hàm Cobb-Douglass - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
Bảng 3.13 Kết quả phân tích Hàm Cobb-Douglass (Trang 65)
Bảng  3.16:  Hệ  số  tương  quan  (Correlations)  giữa  các  biến  độc  lập  với biến phụ thuộc (Y) - So sánh hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất lúa tại quận ô môn, thành phố cần thơ
ng 3.16: Hệ số tương quan (Correlations) giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc (Y) (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w