Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các Cô, Chú, Anh, Chị trong phòng sản xuất của Nông Trường Cờ Đỏ và bà con nông dân tại Nông Trường đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên thực hiện
Trần Thị Vân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian 2 năm học ở Trường, em đã được Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp và Trường Đại học Cần thơ truyền đạt những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý thuyết và thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ là hành trang giúp em trưởng thành và tự tin bước vào cuộc sống
Với tất cả lòng tôn kính, em xin gửi đến Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp và Trường Đại học Cần thơ lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Hà đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các Cô, Chú, Anh, Chị trong phòng sản xuất của Nông Trường Cờ Đỏ và bà con nông dân tại Nông Trường đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Cuối cùng em xin kính chúc Quý Thầy Cô, các Cô, Chú, Anh, Chị trong phòng sản xuất và bà con nông dân tại Nông Trường Cờ Đỏ được nhiều sức khỏe và công tác tốt
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện Trần Thị Vân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU Error! Bookmark not defined DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Nội dung nghiên cứu: 3
CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ 4
SẢN XUẤT KINH DOANH 4
1.1 Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 6
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp: 6
1.2.2 Khái niệm lúa đặc sản, lúa chất lượng cao 7
1.2.3 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ: 7
1.2.4 Khái niệm về hiệu quả, hiệu quả sản xuất: 12
1.2.5 Khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận: 12
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất: 13
1.3 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và tại Việt nam 14
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới: 14
1.3.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 18
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu: 18
2.1.1 Tổng quan về Nông Trường Cờ Đỏ-Huyện Vĩnh Thạnh: 18
Trang 42.2 Phương pháp nghiên cứu: 25
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 25
2.2.2 Thu thập số liệu 26
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu 26
CHƯƠNG 3 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thực trạng sản xuất lúa đặc sản của các hộ nông dân tại Nông Trường Cờ Đỏ qua các năm 2009-2011 29
3.1.1 Đánh giá thực trạng sản xuất lúa của các hộ nông dân 29
3.1.2 Phân tích chi phí, doanh thu, thu nhập và năng suất 38
3.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của nông hộ trong quá trình sản xuất 39
3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa đặc sản của các hộ nông dân tại Nông Trường Cờ Đỏ 42
3.2.1 Phân tích các khoản mục chi phí bình quân trên 1 ha đất trồng lúa 42
3.2.2 Phân tích các tỷ số tài chính 44
3.2.3 So sánh hiệu quả kinh tế giữa lúa đặc sản, lúa chất lượng cao và lúa thường 45
3.2.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân 46
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đặc sản 51
3.3.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của hộ nông dân 51
3.3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đặc sản 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Khuyến nghị: 58
2.1 Đối với nông hộ: 58
2.2 Đối với địa phương: 59
2.3 Đối với Nhà Nước, viện trường: 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG LÚA ĐẶC SẢN
Trang 5R: Hệ số tương quan bội
R2: Hệ số xác định
Sig F: Mức ý nghĩa F
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
liên hiệp quốc)
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU
Số
hiệu
biểu
1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm 15 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm 17 3.1 Diện tích sản xuất, năng suất và sản lượng của Nông Trường 29
và lúa thường
45
3.14 Dấu kỳ vọng đối với các biến ảnh hưởng đến thu nhập 47 3.15 Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập 48 3.16 Đánh giá kỳ vọng và kết quả nghiên cứu thu nhập 51
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu
3.5 Cơ cấu chi phí, doanh thu và thu nhập bình quân năm
2011
39
3.6 Cơ cấu chi phí sản xuất bình quân năm 2011 43
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp từ lâu đã là một lĩnh vực hoạt động sản xuất quan trọng để đảm bảo cuộc sống của con người Hiện nay nông nghiệp lại là lĩnh vực nhạy cảm trong tiến trình hội nhập Việt Nam là quốc gia có đến 75% dân số sống
ở vùng nông thôn và đa phần dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, do vậy hội nhập tạo ra cơ hội và cũng là thách thức cho nền nông nghiệp Việt Nam
Khái quát lại nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây đã tiến bộ vượt bậc, từ một nền nông nghiệp lạc hậu và bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, đến nay nông nghiệp ta không những xóa được tình trạng thiếu hụt về lương thực mà còn trở thành một quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới, đứng hàng thứ hai trên thế giới trong xuất khẩu gạo
Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu sắc, Việt Nam đã, đang và sẽ cố gắng hòa mình vào dòng chảy hội nhập của
hệ thống kinh tế thương mại thế giới bằng cách chủ động gia nhập vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới Điều này cũng không tránh khỏi những đe dọa về thị trường, về đối thủ cạnh tranh và đặc biệt là các tiêu chuẩn
về chất lượng vệ sinh an toàn trong sản xuất nông nghiệp ngày càng khắt khe hơn
Việc phát triển nông nghiệp cũng như nhiều vấn đề liên quan đến nông dân và đặc biệt là lĩnh vực lúa trong nhu cầu cao của hội nhập, được xem là
đề tài được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Ở Việt Nam, đó cũng
là lĩnh vực nghiên cứu rất quan trọng và cần thiết Chính vì vậy “Đánh giá hiệu quả sản xuất lúa đặc sản tại Nông Trường Cờ Đỏ - Huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ” là vấn đề Tôi quan tâm và chọn làm đề tài luận văn tốt
Trang 10nghiệp của mình nhằm giúp cho nông dân đạt được hiệu quả sản xuất lúa cao nhất
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đặc sản
tại Nông Trường Cờ Đỏ - Huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là các hộ trồng lúa đặc sản, đại
diện cho Nông Trường Cờ Đỏ - Huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi về nội dung: Lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực hoạt động
rất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau từ chăn nuôi đến trồng trọt về nông, lâm, ngư nghiệp… Ở đây đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế (hiệu quả tài chính) của sản xuất lúa đặc sản tại Nông Trường Cờ
Đỏ - Huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ
+ Phạm vi về không gian: Chỉ nghiên cứu tại Nông Trường Cờ Đỏ -
Huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ với số lượng 50 mẫu phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân Do số mẫu chưa mang tính đại diện cho tổng thể, vì vậy kết quả chỉ mang tính đánh giá
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài chủ yếu đánh giá thực trạng sản xuất
lúa đặc sản của các hộ nông dân tại Nông Trường Cờ Đỏ qua các năm
Trang 112009-2011 và phân tích các nhân tố ảnh hưởng thông qua số liệu điều tra của năm
2012 về việc thu thập thông tin về tình hình sản xuất của nông hộ trong năm
2011
4 Nội dung nghiên cứu
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất lúa đặc sản của các hộ nông dân tại Nông Trường Cờ Đỏ qua các năm 2009-2011
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa đặc sản của các hộ nông dân tại Nông Trường Cờ Đỏ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa đặc sản tại Nông Trường Cờ Đỏ - Huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ
SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1 Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
Mai Văn Nam (2009), Hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Cần Thơ, đồng bằng Sông cửu Long các vấn đề cần được giải quyết Số liệu thứ
cấp và sơ cấp với 177 mẫu được dùng trong nghiên cứu; phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên được sử dụng cho chọn các địa điểm khảo sát và chọn các hộ nông dân, thương lái người buôn và bán lẻ, người tiêu dùng, nhà máy xay xát và các Công ty nông nghiệp để phỏng vấn trực tiếp Phương pháp thống kê mô tả, phân tích mô hình hàm phân biệt và phương pháp phân tích kênh phân phối được sử dụng trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) giá bán và sản lượng lúa không ổn định là nguyên nhân chính tạo nên sự khác biệt về lợi nhuận giữa các nông hộ, điều này cho thấy việc trồng lúa của nông dân ở vùng nghiên cứu chưa được quy hoạch và chưa nhận được sự hướng dẫn hay định hướng vĩ mô đầy đủ từ các cơ quan quản lý nông nghiệp chức năng; (2) nông hộ có thu nhập thấp thường thiếu phương tiện sản xuất, chế biến bảo quản, vận chuyển, thiếu thông tin thị trường, thiếu vốn cần bán lúa ngay sau thu hoạch nên bị thương lái ép giá; nông hộ có thu nhập thấp không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và sau thu hoạch nên hiệu quả trồng lúa giảm; (3) kênh phân phối lúa gạo kém hiệu quả, thiếu liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, thiếu liên kết giữa tuyến kênh phân phối lúa gạo xuất khẩu và nội địa, thiếu tổng kho lương thực chế biến và dự trữ lúa gạo xuất khẩu, thiếu chức năng giám sát và điều tiết vĩ mô hiệu quả của các cơ quan quản lý lương thực nên các tác nhân trong kênh phân phối luôn bị động trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Để tăng hiệu quả
Trang 13sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, các giải pháp đề xuất như: (1) giải pháp về chọn giống tốt và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa; (2) giải pháp
về tăng cường mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp; (3) giải pháp về xây dựng tổng kho chế biến và dự trữ lúa gạo tại vùng trọng điểm sản xuất lúa; (4) giải pháp về hoàn thiện kênh phân phối lúa gạo
Huỳnh Trường Huy (2007) đã khảo sát 261 nông hộ sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Cần Thơ và Sóc Trăng; nhằm mục đích cung cấp
một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân sản xuất lúa Kết quả phân tích cho thấy, nông dân đã và đang áp dụng một số
mô hình cải tiến như: giống mới, IPM, sạ hàng, ba giảm ba tăng , lúa-thủy sản, lúa-màu; trong đó việc sử dụng giống mới được nông dân áp dụng phổ biến nhất Đồng thời, nông dân tiếp cận thông tin tiến bộ kỹ thuật chủ yếu từ các phương tiện thông tin đại chúng và cán bộ khuyến nông địa phương Hơn nữa nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả sản xuất của các mô hình cải tiến cao hơn so với mô hình truyền thống, cụ thể là thu nhập tăng 13,5% và lợi nhuận tăng 42% Trong đó, trình độ học vấn, giống, phân bón, lao động, chuẩn bị đất, thủy lợi là các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trên đơn vị đất canh tác lúa có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Nguyễn Quang Diệp (2005), đã so sánh hiệu quả kinh tế mô hình luân canh lúa mè với mô hình lúa 2 vụ ở Nông trường Sông Hậu –TP Cần Thơ Đề tài trên tác giả đã cho thấy được giữa 2 mô hình luân canh lúa mè với
mô hình lúa 2 vụ thì mô hình luân canh lúa mè đạt được năng suất cao và cũng mang lại lợi nhuận cao hơn cho các nông hộ
Nguyễn Kim Chung (2004) đã chỉ ra rằng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
vào sản xuất lúa tác động làm phân biệt hiệu quả sản xuất giữa hộ có áp dụng
Trang 14mô hình và không áp dụng Khi nông hộ sử dụng giống đạt năng suất cao sẽ giúp họ tăng lợi nhuận từ 1.100.000-1.600.000 đồng/ha; và nếu như nông hộ ứng dụng phương pháp sạ hàng thì chi phí giống chỉ còn ở mức 73% so với các mô hình khác và thuốc bảo vệ thực vật chỉ còn 35-60% kết quả được thực hiện tại Long Điền B, vụ lúa Đông Xuân
1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
a Khái niệm
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi gia súc, gia cầm… [8, tr.6] Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu
tố kinh tế, xã hội mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch…
Trong nông nghiệp có hai loại chính: thứ nhất, đó là nông nghiệp thuần nông tức là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, không có sự
cơ giới hóa trong sản xuất, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân; thứ hai, nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Ngày nay, nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền
Trang 15thống, nó không những tạo ra các sản phẩm lương thực, thực phẩm phục vụ cho con người mà còn tạo ra các loại khác như: sợi dệt, chất đốt, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học, lai tạo giống…
b Đặc điểm
Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng và vật nuôi Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực [8, tr.6]
1.2.2 Khái niệm lúa đặc sản, lúa chất lượng cao
a Khái niệm lúa đặc sản
Lúa đặc sản là lúa được sản xuất từ những giống lúa có nhiều điểm đặc biệt tạo nên những nét đặc trưng của vùng trồng lúa và được nhân dân địa phương coi như sản phẩm truyền thống của địa phương mình như cho hạt gạo
có chất lượng ngon, ngọt, thơm và bán được giá cao
b Khái niệm lúa chất lượng cao
Lúa chất lượng cao là lúa được sản xuất từ những giống có chất lượng cao như cho gạo hạt dài, mềm cơm, ít bạc bụng Lúa chất lượng cao được sản xuất theo quy trình đảm bảo các chỉ tiêu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng một số kim loại nặng, hàm lượng Nitrat, và các chỉ tiêu côn trùng, nấm mốc chủ yếu có trong hạt gạo dưới mức giới hạn tối đa đăng ký trong quy trình
1.2.3 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ
a Khái niệm về hộ
Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
Trang 16và có chung một ngân quỹ Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là hình thức liên kết giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung, hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất của hộ gia đình [4, tr.5]
Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh
tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá đặc biệt
Trong cấu trúc nội tại, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, hộ có thể cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được[4, tr.5]
b Khái quát về kinh tế hộ
Việt Nam hiện nay có dân số trên 80 triệu dân, trên 70% dân số sinh sống ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc Trong điều kiện đó, hộ được khái niệm như sau:
"Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng"[4, tr.5] Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc độ:
- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực, vốn
- Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng, lãnh thổ…
Trang 17- Trình độ phát triển kinh tế của hộ
- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ
- Trong nông thôn Việt Nam hiện nay, hộ bao gồm hộ gia đình và hộ nông dân, trong đó:
+ Hầu hết hộ gia đình ở nông thôn là những người gắn bó ruột thịt, có cùng huyết thống, chủ hộ thường là những ông, bà, cha, mẹ… và các thành viên trong gia đình là con cháu
+ Còn hộ nông dân (bao gồm các hộ sản xuất nông-lâm-nghiệp) trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia đình (từ một đến nhiều người) có tên trong bảng kê khai hộ khẩu riêng, gồm có chủ hộ và những người cùng sống trong hộ gia đình ấy
Về mặt kinh tế hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về tài sản, những người sống chung trong một căn hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải có nghĩa vụ đóng góp công sức vào quá trình xây dựng, phát triển của hộ và có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất được Nếu sản xuất đạt kết quả cao, sản phẩm thu được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp cho chi phí đã
bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật, phần thu nhập còn lại trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của gia đình và tái sản xuất Nếu kết quả sản xuất không khả quan người chủ hộ chịu trách nhiệm cao nhất và đồng trách nhiệm là các thành viên trong gia đình
c Đặc điểm của kinh tế hộ
Kinh tế hộ có những đặc trưng riêng biệt với quá trình tiến triển của hộ qua các giai đoạn lịch sử Cũng do những đặc trưng riêng biệt này của nó mà
có thể cho rằng hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt
Trang 18- Hộ mang tính huyết tộc Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể đích thực của hộ và đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản
lý, sử dụng các yếu tố sản xuất
- Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của hộ, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên
- Đặc trưng nổi bật của các hộ ở nước ta là có quy mô canh tác rất nhỏ
bé và quy mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân số,
xu hướng lấy đất đai nông nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp, giao thông, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp muốn phát triển cũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp
- Quá trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng áng hộ
sử dụng nhân công gia đình là chủ yếu Lao động gia đình này không được xem là hình thái hàng hóa Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao động đã xuất hiện ở mức độ khác nhau của sản xuất hàng hóa Thị trường lao động nông thôn cũng ra đời Có những vùng bộ phận lao động coi làm thuê như một phương thức kiếm sống
- Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động bán nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp Cơ cấu này khác nhau giữa các hộ, các địa bàn, các vùng tùy theo điều kiện cụ thể của chúng Một đặc điểm khác nữa là khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân là thấp, các hộ sản xuất trong điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng Theo vào đó, chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế tạo nên sự căng thẳng về vốn, trong khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống, quy mô canh tác nhỏ đã dẫn đến tình trạng thu nhập của đại bộ phận là thấp[4, tr.6-tr.7]
Trang 19d Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do huyết thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm
lý đạo đức gia đình, dòng họ Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hợp tác lao động một cách hợp lý
Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao - phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ nông trại và các thành viên trong gia đình Động lực lớn nhất thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia đình Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn quy mô sản xuất nhỏ và phân tán nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội rất nhiều sản phẩm quan trọng góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân
Trang 20Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng và Nhà nước ta cũng như nhân dân Nhằm để tăng thêm thu nhập cho người dân, làm cho nông thôn ngày càng giàu đẹp, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước [4, tr.7-tr.8]
1.2.4 Khái niệm về hiệu quả, hiệu quả sản xuất
Hiệu quả là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt kết quả cao nhất Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí, (2) sản xuất với chi phí thấp nhất, (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người[4, tr.11]
Muốn đạt hiệu quả sản xuất cần quan tâm một số vấn đề sau:
+ Hiệu quả kinh tế: Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị nghĩa
là sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không có hiệu quả
+ Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật
1.2.5 Khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận
a Tổng doanh thu: là toàn bộ giá trị của sản phẩm cho một đơn vị diện tích
bằng năng suất nhân với đơn giá của sản phẩm cho một đơn vị diện tích
Doanh thu = Năng suất * Đơn giá * Đơn vị diện tích
Trang 21b Tổng chi phí: là toàn bộ số tiền chi ra cho hoạt động canh tác để tạo ra sản phẩm bao gồm chi phí lao động, chi phí vật chất và chi phí khác
Tổng chi phí = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khác
c Tổng thu nhập: là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí bỏ
ra để sản xuất sản phẩm đó
Tổng thu nhập = Tổng doanh thu- Tổng chi phí Thu nhập có hai loại: Thu nhập chƣa tính lao động nhà và thu nhập có tính lao động nhà
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất
- Thu nhập trên chi phí
Thu nhập trên chi phí =Thu nhập/Chi phí
Tỷ số này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì chủ đầu tƣ thu đƣợc bao nhiêu đồng thu nhập
- Thu nhập trên doanh thu
Thu nhập trên doanh thu=Thu nhập/Doanh thu
Tỷ số này cho biết trong một đồng doanh thu mà nông hộ có đƣợc thì
sẽ có bao nhiêu đồng thu nhập trong đó
- Doanh thu trên chi phí
Doanh thu trên chi phí= Doanh thu/Chi phí
Tỷ số này cho biết rằng một đồng chi phí mà chủ đầu tƣ bỏ ra để đầu tƣ
sẽ thu lại đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 221.3 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và tại Việt nam
1.3.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu Á
Ở Châu Á lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ
Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2011) cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1961 đến 1980 Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào những năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và
có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ỏ mức 152,9 triệu ha Từ năm 2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 157,73 triệu ha cao nhất kể từ năm
1995
Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất không ngừng được cải thiện, đặc biệt từ sau cuộc Cách mạng Xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Các giống lúa này có yêu cầu kỹ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho các nước phát triển tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhờ có điều kiện phát triển hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh và đầu tư phân bón,
kỹ thuật cao Đến những năm 1990, dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) Trong khi các nước có diện tích lúa lớn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiếu điều kiện đầu tư, cải tạo môi trường canh tác và không thể đầu tư vào nông nghiệp cao nên năng suất lúa vẫn còn rất thấp và tăng chậm Điều này làm năng suất lúa
Trang 23bình quân trên thế giới cho đến nay vẫn còn ở khoảng 4,0-4,3 tấn/ha, chỉ bằng phân nửa năng suất lúa ở các nước phát triển
Biểu 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (Triệu tấn)
1.3.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống từ xưa của nhân dân Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2008), Việt Nam có diện tích lúa khoảng 7,4 triệu ha, đứng thứ 7 sau các nước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á theo thứ tự Ấn Độ (~ 44,0 triệu ha), Trung Quốc (~ 29,5 triệu ha), Indonesia (~ 12,3 triệu ha), Bangladesh (~ 11,7 triệu ha), Thái Lan (~ 10,2 triệu ha), Myanmar (~ 8,2 triệu ha) Việt Nam có năng suất 5,2 tấn/ha đứng thứ 24 trên thế giới sau Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), Salvador (7,9 tấn/ha)…, đứng đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ
4 trong khu vực Châu Á sau Hàn Quốc (7,4 tấn/ha), Trung Quốc (6,6 tấn/ha), Nhật (6,5 tấn/ha)
Trang 24Qua các giai đoạn lịch sử cải thiện đời sống của nhân dân cho thấy quan tâm của Nhà nước đối với sản xuất lúa gạo Trước 1975, diện tích trồng lúa cả nước dao động trong khoảng 4,42-4,92 triệu ha Năng suất có tăng nhưng rất chậm, chỉ khoảng 700 kg/ha trong vòng 20 năm Sản lượng lúa 2 miền chỉ trên dưới 10 triệu tấn Sau năm 1975, diện tích trồng lúa tăng khá nhanh và ổn định nhưng năng suất bình quân giảm sút khá nghiêm trọng do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh, cơ chế quản
lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp Bước sang 1980, năng suất lúa tăng dần
do khắc phục được những nguyên nhân trên như: thay đổi cơ chế quản lý nông nghiệp bằng chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất, cải thiện hệ thống kênh mương…
Sau những nỗ lực khắc phục khó khăn, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Từ một nước phải nhập khẩu gạo hàng năm chúng ta đã tự túc được lương thực và dần dần tái hòa nhập vào thị trường lương thực thế giới, chiếm lĩnh ngay vị trí quan trọng, là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ
3 rồi thứ 2 thế giới sau Thái Lan
Từ 1997 đến nay, hàng năm nước ta xuất khẩu trung bình trên dưới 4 triệu tấn gạo, đem về một nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể Hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ 6 về diện tích gieo trồng và đứng hàng thứ 5 về sản lượng lúa Hạt gạo Việt Nam chẳng những đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần quan trọng trong thị trường lúa gạo thế giới
Trang 25Biểu 1.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Việt Nam qua các năm Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lƣợng (Triệu tấn)
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Tổng quan về Nông Trường Cờ Đỏ-Huyện Vĩnh Thạnh
Nông trường Cờ đỏ (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông nghiệp Cờ Đỏ), được thành lập trên một vùng đồn điền củ của thực dân Pháp mang tên PaulEmerie trước kia, trong vùng sâu thuộc xã Thạnh phú, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trung đoàn I thuộc sư đoàn 330 quân đội nhân dân Việt nam đã tiếp quản vùng đất này để làm kinh tế và góp phần giữ gìn an ninh trật tự ở khu vực
Tháng 03 năm 1976, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn ra quyết định 216/QĐ thành lập Ban Kiến thiết Nông trường Cờ Đỏ để tiến hành khảo sát, điều tra, quy hoạch lập luận chứng kinh tế kỹ thuật cho việc thành lập Nông trường quốc doanh Cờ Đỏ
Đến ngày 25/01/1977 Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn ra quyết định thành lập Nông trường quốc doanh Cờ Đỏ trực thuộc Bộ Nông nghiệp với tổng diện tích tự nhiên là 6.400 ha Trong đó, ông Trần Tấn Nhan làm Giám đốc, ông Võ Đăng Khoa làm Phó Giám đốc, bà Phan Yến Nhi - Trưởng phòng Kế hoạch, bà Nguyễn Thị Lý - Trưởng phòng Kế toán và tài vụ, ông Phạm Giáo - Trưởng phòng Tổ chức lao động, ông Phạm Hồng Thanh - Trưởng phòng Cơ khí, ông Lê Nam - Trưởng phòng Kỹ thuật
Tháng 02/1977, Nông trường tiếp nhận diện tích đất do Trung đoàn I giao lại để đi vào hoạt động sản xuất nông nghiệp với vụ gieo sạ lúa mùa nổi
Trang 27đầu tiên vào tháng 05 năm 1977
Vào tháng 02 năm 1980, theo Quyết định của Bộ Nông nghiệp, Nông trường cắt 400 ha đất giao cho Công ty Giống cây trồng Miền Nam để thành lập trại giống lúa nguyên chủng
Tháng 03 năm 1982, Bộ Nông nghiệp quyết định chuyển Nông trường
Cờ Đỏ cho Liên hiệp các Xí nghiệp nông nghiệp Tây Nam Bộ quản lý Đến tháng 07/1984 Nông trường Cờ Đỏ thuộc quản lý của Công ty Thức ăn chăn nuôi 2
Tháng 04 năm 1987, Bộ Nông nghiệp bàn giao Nông trường Cờ Đỏ về tỉnh Hậu Giang cũ (nay là TP Cần thơ), đơn vị trực tiếp quản lý là Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cần Thơ
Năm 2008, Nông Trường chuyển đổi thành Công ty Nông nghiệp Cờ
Đỏ thuộc quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ
Năm 2010, Công ty Nông nghiệp Cờ Đỏ chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông nghiệp Cờ Đỏ thuộc quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ
a Vị trí địa lý
Nông trường Cờ Đỏ thuộc địa bàn xã Thạnh phú - Huyện Vĩnh Thạnh - Thành phố Cần Thơ Phía bắc giáp xã Thạnh Quới - Huyện Vĩnh Thạnh - Cần Thơ; phía đông giáp xã Thới Đông - Huyện Cờ Đỏ - Cần Thơ; phía nam giáp huyện Tân Hiệp - Tỉnh Kiên Giang, phía tây giáp xã Thạnh An - Huyện Vĩnh Thạnh, Cần thơ
b Điều kiện tự nhiên
Diện tích tự nhiên của Nông Trường hiện nay là gần 6.000 ha; trong đó diện tích canh tác là 5.617 ha, còn lại hệ thống kênh, mương, trụ sở, văn
Trang 28phòng làm việc, các đội sản xuất, đường, đê bao… nhà ở khu dân sinh Đây
là vùng đất thấp, trũng, cách xa sông Hậu, nhiễm phèn nhẹ, ít được phù sa bồi đắp Nguồn nước ngọt được dẫn từ Sông Hậu qua Kinh Bò Ót đến kinh Thắng Lợi nối kinh KH1 đổ vào 8 kinh số của Nông Trường Độ cao trung bình 0,2-0,4 m, mùa lũ hàng năm độ ngập sâu của mặt ruộng từ 1,2-1,6m, thời gian ngập nước kéo dài 3-4 tháng/năm Đỉnh lũ cao nhất trong năm là khoảng 1-1,2m vào tháng 9 hàng năm Trong nhiều năm qua Nông Trường đã đầu tư đê bao kiểm soát lũ nên chủ động sản xuất 2 vụ lúa trong năm Địa bàn Nông Trường cũng theo thời tiết của khu vực Tây Nam Bộ, mùa mưa bắt đầu
từ tháng 5 đến tháng 11; thời gian còn lại là mùa khô mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm; lượng mưa trung bình khoảng 2.000 – 2.200 mm/năm;
số giờ nắng trung bình 6-7 giờ/ngày
c Đặc điểm kinh tế, xã hội của Huyện Vĩnh Thạnh
- Kinh tế
Vĩnh Thạnh là huyện vùng xa của thành phố Cần Thơ, kinh tế Vĩnh Thạnh chủ yếu dựa vào nông nghiệp Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ mới chỉ ở dạng sơ khai, tự phát và nhỏ lẻ Tuy những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của huyện đã có những bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tuy nhiên vẫn chưa rõ nét Nông nghiệp vẫn chiếm vị trí cao trong tổng GDP hằng năm của huyện
Vĩnh Thạnh là huyện có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất so với các quận, huyện khác của thành phố Trước đây, phần lớn diện tích này trồng lúa mùa nổi một vụ, năng suất thấp (khoảng 1,5 tấn/ha/năm) Từ năm 1989, huyện tập trung xây dựng và củng cố hệ thống thủy lợi tạo sự phát triển ổn định và bền vững cho sản xuất nông nghiệp Cùng với đầu tư làm thủy lợi, Vĩnh Thạnh cũng tập trung chuyển đổi cơ cấu giống theo hướng sử dụng
Trang 29những giống lúa mới kháng sâu bệnh, có năng suất và chất lượng tốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác
Song song đó, huyện cũng tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường trên cơ sở khai thác những thế mạnh của địa phương Thành công nổi bật của Vĩnh Thạnh trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là việc quy hoạch các vùng sản xuất 3 vụ Năm 2004, diện tích đất trồng lúa luân canh 3 vụ của Vĩnh Thạnh đã tăng lên 7.380 ha, chiếm 20,3% diện tích đất nông nghiệp Trong đó, huyện không khuyến khích nhân dân trồng lúa vụ ba mà tập trung sản xuất hoa màu, nuôi trồng thuỷ sản, Dọc theo kênh Bắc Cái Sắn, sông Thốt Nốt, Thắng Lợi, huyện quy hoạch ao nuôi cá tra, nuôi tôm nhằm tận dụng nước mùa lũ, đồng thời tránh tình trạng nuôi thuỷ sản tự phát, vừa không hiệu quả vừa ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và gây ô nhiễm môi trường Năm 2005, diện tích màu của Vĩnh Thạnh đạt khoảng 2.480 ha, với các loại cây chủ yếu như: bắp (ngô), đậu nành, mè (vừng), sản lượng đạt 6.948 tấn Các đơn vị điển hình về xây dựng mô hình hai lúa - một màu là các
xã Thạnh Phú, Trung Hưng, Vĩnh Trinh; về nuôi trồng thuỷ sản là các xã Thạnh Mỹ, Thạnh Quới, Vĩnh Trinh, Thạnh Lộc, Năm 2004, diện tích nuôi thuỷ sản của huyện đạt 1.115,61 ha; sản lượng đạt 7.511 tấn, tăng 2.583 tấn so với năm 2003 Thành công trong công tác quy hoạch vùng sản xuất đã tăng giá trị sản xuất bình quân lên 30 - 50 triệu đồng/ha/năm, gấp hai lần so với trồng lúa hai vụ
Bên cạnh đó, huyện cũng tập trung thực hiện cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp nhằm giảm chi phí, sức lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất Đến cuối năm 2004, Vĩnh Thạnh đã hoàn thành cơ giới hoá một số công đoạn quan trọng trong sản xuất nông nghiệp như: làm đất, bơm tưới, phun thuốc sâu, gieo sạ, Huyện cũng đã xây dựng thành công nhiều mô hình tổ hợp tác
Trang 30sản xuất và câu lạc bộ khuyến nông Đến đầu năm 2005, toàn huyện có 319 tổ hợp tác, với 12.971 thành viên tham gia và 44 câu lạc bộ khuyến nông đang hoạt động rất hiệu quả Các mô hình tổ hợp tác đã thể hiện tốt vai trò huy động sức lao động và tài chính để làm đê bao, thủy lợi nội đồng, sản xuất giống,
Cùng với phát triển nông nghiệp, huyện cũng tập trung tìm hướng đi cho công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ Trong năm
2004, toàn huyện có 347 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thu hút 1.838 lao động tham gia, giá trị sản xuất đạt trên 100 tỷ đồng (theo giá
cố định năm 1994) Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Vĩnh Thạnh tập trung chủ yếu trong lĩnh vực xay xát, chế biến lương thực Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, năm 2004, toàn huyện có trên 100 cơ sở thành lập mới, nâng tổng số cơ sở trên địa bàn huyện lên 1.467 cơ sở Tổng giá trị hàng hoá bán lẻ năm 2004 đạt 549 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tăng 11,59% so với năm 2003
- Xã hội
Cách trung tâm thành phố gần 80 km về phía tây, Vĩnh Thạnh được coi
là huyện "vùng sâu, vùng xa" của thành phố Cần Thơ Khi được tách ra từ huyện Thốt Nốt vào đầu năm 2004, huyện vẫn còn 05 xã không có đường ôtô,
04 xã không có chợ, 03 xã không có trụ sở làm việc, Nằm ở vùng trũng của
tứ giác Long Xuyên, huyện Vĩnh Thạnh thường xuyên chịu cảnh lụt lội nên kết cấu hạ tầng ngày một xuống cấp
Cùng với phát triển kinh tế, Vĩnh Thạnh cũng chú trọng huy động nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Năm 2004, tổng kinh phí đầu tư xây cơ bản trên địa bàn huyện là 49,442 tỷ đồng (trong đó nguồn kinh phí do nhân dân đóng góp trên 1,693 tỷ đồng) Huyện tập trung xây dựng các công
Trang 31trình trọng tâm như: nâng cấp và xây dựng các tuyến giao thông nông thôn gắn với gia cố đê bao điều tiết lũ và từng bước hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng, hoàn chỉnh các khu dân cư vượt lũ Năm 2005, huyện đã đầu tư mở rộng mạng lưới điện và nước sạch nông thôn, nâng tỷ lệ hộ được sử dụng điện lên khoảng 97% và tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh lên khoảng 90% Bên cạnh đó, với nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản là 36,304 tỷ đồng, huyện ưu tiên cho các lĩnh vực: hoàn chỉnh quy hoạch trung tâm huyện, quy hoạch thị trấn Vĩnh Thạnh; thiết kế xây dựng và hoàn chỉnh các trụ sở làm việc tạm; đầu tư xây dựng các chợ nông thôn, mở rộng hệ thống đèn chiếu sáng công cộng,
Các chính sách về y tế, giáo dục - đào tạo cũng được triển khai thực hiện Năm 2004, Vĩnh Thạnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; toàn huyện đã xây dựng được 4 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 16% (năm 2005) Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh thông qua công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho người lao động Thông qua các lớp dạy nghề và các dự án vay vốn xoá đói, giảm nghèo, hàng nghìn lao động của Vĩnh Thạnh đã có việc làm, ổn định cuộc sống, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 2,48% (năm 2004)
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa đặc sản ở Nông Trường Cờ Đỏ
- Giai đoạn: 1977 – 1987
Chủ yếu sản xuất lúa mùa 01vụ/năm, năng suất rất thấp trung bình chỉ khoảng 2-2,5tấn/ha Giống lúa sản xuất là các giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài từ 150 -180 ngày như: Nàng hương, Trắng đùm, Trắng tép, Trắng phước, Tài nguyên… chất lượng gạo trung bình, chủ yếu tiêu thụ nội địa Từ năm 1983 -1989 một số nhỏ diện tích đất được sản xuất thử lúa cao sản ngắn
Trang 32ngày như IR42, IR58, MTL54….cho năng xuất khoảng 3-4 tấn/ha
- Giai đoạn 1989- 1998
Chuyển toàn bộ diện tích canh tác của Nông Trường sang sản xuất hai
vụ lúa cao sản ngắn ngày, có chất lượng gạo tương đối tốt có thể phục vụ cho xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Trong đó vụ Đông xuân gieo sạ vào tháng 11 và thu hoạch vào tháng 2, vụ Hè thu gieo sạ vào tháng 4 và thu hoạch vào tháng
7 dương lịch Các giống lúa sản xuất là các giống lúa cao sản ngắn ngày (có thời gian sinh trưởng từ 95-105 ngày) do Viện nghiên cứu lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long và Trường Đại học Cần Thơ chọn tạo như: OM269, OM1706, OM997, IR9729, IR19660, IR50404, IR64, IR42, IR6203, MTL103, MTL98, MTL105……Năng suất vụ Hè thu khoảng 3-4 tấn/ha, vụ Đông xuân khoảng 5-6 tấn/ha
- Giai đoạn 1998- 2011
Sự gia tăng nhanh chóng của các giống lúa đặc sản, gạo có mùi thơm, năng suất cao như : Jasmine85, VD20, ST1, ST3 Giai đoạn 1998-2004, diện tích các giống lúa đặc sản chỉ chiếm khoảng 500-1000ha/vụ, còn lại là các giống giống lúa cao sản khác Nhưng đến những năm từ 2005 đến nay diện tích các giống lúa này đã tăng nhanh chóng trung bình chiếm khoảng 94% diện tích trong vụ Đông xuân và khoảng 60-70% diện tích trong vụ Hè thu,
do hiệu quả sản xuất cao hơn các giống lúa chất lượng cao khác Năng suất trung bình trong vụ Đông xuân là 7-8 tấn/ha, vụ Hè thu 4-4,5 tấn /ha Mặc dù các giống lúa đặc sản này bị nhiễm nặng rầy nâu, bệnh cháy lá, bệnh cháy bìa
lá do chất lượng gạo rất tốt, giá bán cao hơn các giống lúa khác từ 1.000đ/kg, nên người sản xuất đạt lợi nhuận cao hơn nhất là trong vụ Đông xuân
800-Cơ cấu giống lúa sản xuất trong các vụ hiện nay của Nông Trường như
Trang 33Hiện nay sản lượng lúa sản xuất hàng năm của Nông Trường khoảng 60.000 – 65.000 tấn, trong đó lúa đặc sản chiếm khoảng 80-90%, còn lại là lúa chất lượng cao
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Khảo sát nông hộ sản xuất lúa đặc sản ở các kinh thuộc Nông Trường
Cờ Đỏ
Phương pháp chọn vùng nghiên cứu dựa vào các chỉ tiêu sau:
- Tham khảo số liệu thống kê và báo cáo của Nông Trường Cờ Đỏ thông qua sự cung cấp thông tin của cán bộ Nông Trường
- Cách chọn nông hộ để phỏng vấn theo phương pháp ngẫu nhiên
Trang 342.2.2 Thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn và phỏng vấn trực tiếp những hộ nông dân trồng lúa đặc sản tại Nông Trường
Cờ Đỏ Việc khảo sát thực hiện thông qua 2 bước:
+ Khảo sát sơ bộ: được tiến hành trên mẫu từ 5-10 hộ trồng lúa đặc sản Lấy mẫu sơ bộ nhằm phát hiện những sai sót của bảng câu hỏi và kiểm tra thang đo
+ Khảo sát chính thức: được tiến hành sau khi bảng câu hỏi được chỉnh sửa từ kết quả nghiên cứu sơ bộ Mẫu nghiên cứu chính thức gồm khoảng 50
hộ trồng lúa đặc sản
- Số liệu thứ cấp: được thu thập thông qua các tạp chí, niêm giám thống kê, các nghiên cứu khoa học về cây lúa, các trang web, …
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
Tổng hợp dữ liệu thu thập tiến hành xử lý và mã hóa số liệu dựa vào phần mềm Excel và SPSS thông qua các bảng điều tra nông hộ Các phương pháp phân tích được sử dụng trong đề tài là:
Các công cụ thống kê được sử dụng để phân tích số liệu:
+ Phương pháp phân tích hồi quy tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập của nông hộ