1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh tp hồ chí minh

82 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DNNVV muốn phát triển sản xuất kinh doanh SXKD thì không thể tự mình đáp ứng được tất cả nhu cầu về vốn kinh doanh mà cần phải có nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài DN, do đó DNNVV rất cần h

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

- Vốn đối với một Doanh nghiệp (DN) là quyết định sự thành bại và phát triển của DN đó Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) rất khó tiếp cận những nguồn vốn vay, nhất là từ các tổ chức tín dụng (TCTD) DNNVV muốn phát triển sản xuất kinh doanh (SXKD) thì không thể tự mình đáp ứng được tất cả nhu cầu về vốn kinh doanh mà cần phải có nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài DN, do đó DNNVV rất cần hỗ

trợ nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng

- Theo hiệp hội DNNVV, cùng nghiên cứu của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì “Chỉ có khoảng 30% DNNVV tiếp cận được vốn vay từ ngân hàng” Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố gần đây cũng khẳng định:

“chỉ có khoảng một phần ba DNNVV có khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, số

còn lại khó tiếp cận hoặc không tiếp cận được Không ít DN cho rằng, thủ tục các

ngân hàng đặt ra quá sức với họ, thậm chí ngay cả khi có chính sách ưu đãi của

Chính phủ cũng chỉ có rất ít số DNNVV vay được”

- Để nền kinh tế đứng vững và phát triển trong giai đoạn đất nước đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa thì DNNVV là thành phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng và phát triển bền vững

- Để tìm ra một mô hình và đề xuất một số giải pháp bổ sung nguồn vốn vay

dùng cho SXKD của DNNVV nên Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Bình Thạnh - Tp.Hồ Chí Minh, để thực hiện làm

đề tài luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế của mình

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu tổng quát Tìm hiểu về nguồn vốn SXKD và nhu cầu vốn cho sự

phát triển SXKD của các DNNVV tại Quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh Từ đó tìm ra những yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận được các nguồn vốn vay từ các TCTD và gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn

Trang 2

vay để phát triển SXKD cho các DNNVV tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống cơ sở lý thuyết về DNNVV, cơ sở lý thuyết và vai trò của nguồn

vốn vay đối với phát triển SXKD của các DNNVV

- Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của DN và khả năng tiếp cận nguồn

vốn vay từ các TCTD của các DNNVV

- Xác định các yếu tố tác động của nguồn vốn vay và khả năng tiếp cận nguồn

vốn vay đến việc phát triển SXKD của DNNVV

- Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng của vốn vay đối với việc phát

triển SXKD của DNNVV tác giả đề tài đưa ra một số gợi ý về giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của DNNVV trên địa bàn Quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh

3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn vốn vay với phát triển SXKD của các DNNVV

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đưa ra một số gợi ý về giải pháp giúp cho DNNVV dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay từ các TCTD và các TCTD cũng hiểu rõ hơn những khó khăn của DNNVV

Trang 3

trong việc tiếp cận nguồn vốn cho vay từ các TCTD để phát triển SXKD của các DNNVV

3.2.2 Phạm vi về không gian

- Địa bàn nghiên cứu là một số DNNVV kinh doanh các ngành nghề trên địa bàn Quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh Đề tài nghiên cứu một số DNNVV hoạt động các lĩnh vực theo phương pháp xác suất ngẫu nhiên tại một số DNVVV trên địa bàn Quận để thực hiện việc khảo sát nghiên cứu

3.2.3 Phạm vi về thời gian

- Số liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ năm 2011 trở về trước để làm cơ sở lý luận và thực tiễn Số liệu thứ cấp qua các năm đã được công bố trên các phương tiện truyền thông, báo cáo tổng kết từ UBND Quận Bình Thạnh, từ Tổng cục Thống

kê, Từ Phòng Kinh tế, Chi cục Thuế Quận Bình Thạnh, …

- Số liệu sơ cấp sử dụng trong việc thực hiện nghiên cứu đề tài được tiến hành khảo sát thực tế tại các DN trên địa bàn quận Bình Thạnh Khảo sát DNNVV về việc khả năng tiếp cận nguồn vốn vay trong năm 2011 và nhu cầu vay vốn để phát triển SXKD của DNNVV trong năm 2012 và các năm tiếp theo

4 NÔI DUNG NGHIÊN CỨU

4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về DNNVV, vai trò của nguồn vốn vay phát triển SXKD của các DNNVV của những nước phát triển, cùng với các chủ trương chính sách nhằm hỗ trợ vốn vay để phát triển SXKD của các DNNVV tại Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu nguồn vốn SXKD của các DNNVV trên địa bàn Quận Bình Thạnh để từ đó đưa ra những gợi ý về giải pháp nhằm giúp cho DNNVV dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng

4.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của các DNNVV và khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của các DNNVV từ các TCTD để phát triển SXKD trên địa bàn quận Bình Thạnh

Trang 4

- Tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các TCTD ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển SXKD của DNNVV

4.3 Giải pháp đề xuất

- Từ khảo sát về nhu cầu nguồn vốn vay sử dụng để phát triển SXKD của các DNNVV trên địa bàn Quận Bình Thạnh và tình hình vay vốn từ các TCTD của các DNNVV

- Từ những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các TCTD của các DNNVV Đề tài đề xuất Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DNNVV trên địa bàn Quận Bình Thạnh, Tp.HCM

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) 1.1.1 Khái niệm về DNNVV và Nguồn vốn vay với phát triển SXKD của DNNVV

1.1.1.1 Khái niệm về DNNVV

DNNVV là một khái niệm mà các quốc gia trên thế giới có những tiêu chí đánh giá khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế cụ thể của mỗi nước Tuỳ vào giai đoạn phát triển kinh tế (PTKT) xã hội của từng thời kỳ, từng giai đoạn mà các nước có những tiêu chí khác nhau về khái niệm DNNVV

Ngân hàng thế giới ( WB) đánh giá những DN có quy mô nhỏ về nguồn vốn,

về lao động và về doanh thu đó là những DNNVV Như vậy so sánh về quy mô thì DNVVV được chia ra thành ba loại, đó là: DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa Về lao động làm việc trong DN thì những DN có số lao động làm việc từ 10 lao động trở xuống là DN siêu nhỏ, DN có số lao động từ trên 10 người đến 50 người là DN nhỏ,

DN có số lao động trên 50 đến 300 lao động là DN vừa

Đầu của thế kỹ 21 Khối liên minh Châu Âu ( EU) đã xem những DN có trên

10 đến 250 lao động là DNNVV Ngày nay Khối liên minh Châu Âu phân loại DNVVV theo các tiêu chí sau đây:

Bảng 1.1: Phân loại các DDNVV của khối EU

Loại DN Số lao động ( Người) (Triệu EURO) Doanh số Tổng số tài sản ( Triệu EURO)

“Nguồn : European Recommendation 0f 06 may, 2003”

Theo như Bộ Kinh tế, Tài chính và Công nghiệp Cộng Hoà Pháp (MEF) thì

“Không tồn tại một định nghĩa thống nhất về DNNVV Các tiêu chí được áp dụng

Trang 6

khác nhau tuỳ thuộc vào các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ DNNVV của các nước”

Luật cơ bản về DNNVV của Nhật Bản ban hành ngày 03/12/1999 thì tiêu chí

“DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.” và các địa phương phải “Căn cứ vào tình hình kinh

tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.”

Năm 2009 qua hơn 20 năm đất nước đổi mới, phát triển và Khái niệm về DNNVV đã trở nên không phù hợp với hiện tại nên Chính phủ đã ra Nghị định số

56/2009/NĐ-CP vào ngày 30 tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV thay

thế cho Nghị định 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001 Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP thì “DN nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Trang 7

Bảng 1.3: Phân loại các DDNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP Quy mô

Tổng nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200 người

từ trên 20

tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người

II Công nghiệp

và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200 người

từ trên 20

tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người

III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 50 người

từ trên 10

tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

“Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009”

1.1.1.2 Khái niệm về nguồn vốn vay với phát triển SXKD của DNNVV

DN SXKD đòi hỏi phải có một nguồn vốn lưu động để quay vòng trong hoạt động SXKD của mình, nhưng hầu hết các DNNVV là những DN nhận được hỗ trợ

từ những nguồn vốn hỗ trợ kém nhất trong những DN đang hoạt động hiện nay Tuy nhiên những DN tạm thời có nguồn tiền nhàn rỗi sẽ không thể, hoặc không biết những DN nào thiếu tiền mà cho vay, ngược lại những DN đang thiếu vốn không thể và cũng không thể vay từ những DN đang tạm thời có vốn nhàn rỗi nên phải thông qua tổ chức trung gian đó là những tổ chức tín dụng, những quỹ đầu tư Trong đó ngành Ngân hàng là trung tâm của việc huy động vốn và cho vay vốn nhằm đáp ứng được nhu cầu của hai đối tượng là bên dư vốn và bên thiếu vốn Như vậy Ngân hàng là tổ chức trung gian trong việc điều phối nguồn vốn cho nền kinh tế từ nơi tạm thời đang thừa vốn và một bên trong thời gian tạm thời đang thiếu vốn Ngân hàng vừa là tổ chức phải vay vốn từ những người dân, tổ chức, DN đang có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhưng lại là tổ chức cho vay vốn với

Trang 8

những người dân, tổ chức, DN đang thiếu vốn để SXKD, tiêu dùng Hoạt động của

tổ chức Ngân hàng làm cho dòng vốn trong nến kinh tế phát huy hiệu quả nhất và đảm bảo cho nền kinh tế luôn luôn vận hành trong điều kiện tốt nhất

Vậy vốn vay từ các TCTD sẽ bổ sung vào nguồn vốn SXKD của DN đang thiếu vốn, và DN phải trả một khoản lãi suất vay vốn gọi là chi phí sử dụng vốn vay Nhờ có nguồn vốn vay từ các TCTD nên DN không phải gặp khó khăn lớn trong giai đoạn thiếu vốn để tránh việc phải dừng SXKD hoặc phá sản

1.1.1.3 Khái niệm về t n d ng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng

là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ

Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn

tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là

người cho vay, và một bên là người đi vay Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả

1.1.1.4 Đặc điểm, vai trò của tín dụng

a Đặc điểm của tín dụng: Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả, Hoạt động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả

b Vai trò của tín dụng: Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất

mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Tín dụng góp phần thúc đẩy quá

Trang 9

trình tích tụ và tập trung vốn, Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội,

Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội

c Các loại tín dụng:

- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới

hình thức mua bán chịu hàng hóa Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến

thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình

thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu

- Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh

giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn

xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ, Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay, Quá trình vận động

và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa, Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế

- Tín dụng nhà nước: Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước

với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô Tín dụng nhà nước có Chủ thể là nhà nước, các pháp nhân và thể nhân, Tín dụng nhà nước chủ yếu là loại hình trực tiếp, không thông qua tổ chức trung gian

- Tín dụng tiêu d ng: Tín dụng tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa dân cư với

doanh nghiệp, ngân hàng và các công ty cho thuê tài chính tín dụng tiêu dùng ứng

Trang 10

nhu cầu tiêu dùng cho dân cư, hình thức là hàng hóa hoặc tiền tệ, Dân cư là người vay; ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, doanh nghiệp là người cho vay

- Tín dụng thuê mua: Tín dụng thuê mua là quan hệ phát sinh giữa các công

ty cho thuê tài chính với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân dưới hình thức cho thuê tài chính Đối tượng là tài sản, Chủ thể là công ty cho thuê tài chính (người cho thuê), và doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân (người đi thuê)

- Tín dụng quốc tế: Tín dụng quốc tế là mối quan hệ giữa các nhà nước,

giữa các cơ quan nhà nước với nhau, hoặc với ngân hàng quốc tế và các tổ chức quốc tế, các cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nước với nhau

1.1.2 Đặc điểm và Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân

1.1.2.1 Đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân

* Về các điểm mạnh

- DNNVV dễ khởi sự Hầu hết các DNNVV có số vốn ít, số lao động không

nhiều, diện tích mặt bằng không lớn, các điều kiện làm việc giản đơn đã có thể bắt đầu kinh doanh (KD) ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh

- Tính linh hoạt cao Vì hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các

DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu nhiều biến động đột ngột các thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao động đột biến trên thị trường

- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống

- DNNVV có lợi thể về sử dụng lao động: Quan hệ lao động trong các

DNNVV thường có tính chất thân thiện, gần gủi hơn so với các DN lớn Do đó người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong công việc

* Về các điểm yếu: Bên cạnh các điểm mạnh được thì các DNNVV còn có

các điểm yếu nhất định như: DNNVV thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, không có các lợi thế kinh tế theo quy mô

Trang 11

và bị yếu thế trong các mối quan hệ tín dụng với ngân hàng, với Chính phủ và báo chí Nhiều DNNVV bị phụ thuộc rất lớn vào các DN lớn trong quá trình phát triển SXKD của DN mình

1.1.2.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân

Việt Nam cũng như nhiều trên thể giới, các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự PTKT và có vai trò quan trọng trong mạng lưới SXKD trên toàn cầu

*Về kh a cạnh kinh tế

- Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phân làm tăng GDP

- Thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẳn có trong dân cư

Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Vốn là yếu tố cơ bản

đễ khai thác và phối hợp các yếu tố sản xuất khác như lao động, đất đai, công nghệ

và quản lý dễ tạo ra lợi nhuận cho các chủ DN Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu

tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như trình độ quản lý của chủ DN Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều DN đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân

cư còn nhiều nhưng không huy động được Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa thực sự gây được niềm tin đối với những người

có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhiều DNNVV đã tiếp xúc trực tiếp với người dân và huy động được vốn để KD, hoặc bản thân chính người có tiền nhàn rỗi sẽ ra đầu tư kinh doanh, thành lập DN Dưới khía cạnh đó, DNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế

- Nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn

Trong quá trình kinh doanh, nhiều DNNVV có thể hỗ trợ cho các DN lớn KD một cách hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các DN lớn, cung cấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà DN lớn khó có thể với tới để phân phối các SP của DN lớn Bên cạnh đó, khi số DNNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng

Trang 12

các SP và dịch vụ mới trong nền kinh tế Chính sự phát triển của các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt và giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Việc phát triển các DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất

cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế Trước tiên, đó

là sự thay đổi cơ cấu kinh tế vùng, nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn thông qua phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Các

DN được phân bổ đều hơn về lãnh thỗ ở các vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh các DNNVV còn có tác dụng làm cho cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và việc sắp xếp lại các DN nhà nước Sự phát triển các DNNVV cũng kéo theo sự thấy đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề

và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các

SP mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước

- Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế

Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác nhau luôn

có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN lớn Nhiều DN nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung cấp các SP cho các DN lớn Mối quan hệ giữa DNNVV và các DN lớn cũng chính là nguyên nhân thành công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỹ qua Do đó, khi các DNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường các môi quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các DNNVV và giữa DNNVV với các DN lớn Nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ được chia sẽ và góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội

- Tạo cơ sở để hình thành các DN lớn

Kinh nghiệm PTKT ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn các công ty và các tập đoàn kinh tế đa quốc gia đều trưởng thành từ các DNNVV Với cách xem xét đó DNNVV chính là nguồn tích lũy vốn ban đầu và là cái nôi cho các DN lớn Hầu hết các cơ sở dân doanh ở Việt Nam khi mới ra đời do thiếu kinh nghiệm và

Trang 13

chưa thiệt hiểu biết về thị trường nên họ thường là chọn quy mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Sau một thời gian tích lũy thêm vốn, kinh nghiệm và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, họ mới tiến hành mở rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớn hơn

* Vê kh a cạnh xã hội

- Tạo việc làm cho người lao động, góp phân giảm tỷ lệ thất nghiệp

Đặc điểm chung của các DNNVV là ít vốn và hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động Do dó, DNNVV ở tất cả các nướccó thể tạo công ăn việc làm cho một sô lượng lớn người lao động Nhiều nước trên thể giới, kể cả các nước phát triển, DNNVV là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất Khi các DNNVV phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội tăng việc làm, thu hút lao động và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư và người thất nghiệp, phụ nữ và người tàn tật Với tính chất sản xuất nhỏ, chi phí để tạo ra một chỗ làm việc thấp, các DNNVV Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra và tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và ổn định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ yếu bằng vốn của người dân

* Nâng cao thu nhập của dân cư góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội

Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp Việc phát triển các DNNVV ở thành thị cũng như ở nông thôn là một trong các biện pháp cơ bản góp phân tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư Thông qua việc phát triển các DNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các DN nhỏ thu nhập của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và mức sống của dân cư sẽ được nâng cao góp phần xóa đói, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế

- Tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh

Trang 14

Ngoài các vai trò như đã nói ở trên, các DNNVV Việt Nam còn có vai trò trong việc phát triển các tài năng kinh doanh Sự ra đời của các DNNVV làm xuất hiện rất nhiều tài năng trong kinh doanh, đó là các doanh nhân thành đạt biết cách làm giàu cho bản thân mình và xã hội

1.1.2.3 Vai trò của các tổ chức t n d ng (TCTD) đến sự phát triển SXKD (PTSXKD) của các DNNVV

Các TCTD đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân TCTD

là một định chế tài chính trung gian, trong quan hệ cung cấp tín dụng cho DN thì TCTD là tổ chức đi vay và cho vay Thông qua hệ thống tín dụng, mà ngành ngân hàng là chủ đạo đã làm cho những nguồn vốn nhỏ lẽ từ trong dân chúng và trong

DN không có khả năng sinh lời vì chưa đem vào lưu thông, trở thành những nguồn vốn lớn cung ứng cho các DN SXKD đang thiếu hụt nguồn vốn, từ đó tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế và cho xã hội Các TCTD đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và phát triển đất nước

- TCTD góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính, tạo nguồn lực tài chính để góp phần hỗ trợ cho các DNNVV TCTD là nơi giải quyết các quan hệ cung cầu về nguồn vốn cho các DN nhằm thoả mãn nhu cầu vốn cho việc phát triển SXKD của các DNNVV

- TCTD góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, tài trợ cho DN

bổ sung tư liệu sản xuất, nâng cao khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động SXKD của DNNVV, tạo điều kiện để tăng năng suất lao động, tăng lượng SP, giảm giá thành sản xuất, nâng cao lợi nhuận của DN

- TCTD góp phần khai thác tiềm lực lao động của DNNVV, với nhu cầu phát triển SXKD của DNNVV, có ngân hàng giải ngân, đáp ứng được nhu cầu về vốn,

DN có cơ hội mở rộng hoạt động SXKD, sẽ tăng thêm mua sắm máy móc thiết bị, tuyển thêm nhân công lao động, từ đó thu hút được một lượng lao động đang dư dôi trong xã hội, góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

- TCTD góp phần phát triển ngành nghề truyền thống, tạo điều kiện để phát triển những ngành nghề mới Ngày nay xu hướng hộp nhập quốc tế sâu rộng, các

Trang 15

ngành nghề truyền thống luôn được khuyến khích bảo tồn và phát triển, và cũng mở

ra những ngành nghề mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường tiêu dùng ngày càng tăng Những DNNVV là những DN dễ dàng thích ứng với khả năng nhạy cảm của thị trường và TCTD là bà đỡ cho DNNVV

Những nghiên cứu của các nhà kinh tế và của các chính phủ đã chỉ ra được rằng DNNVV chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và đổi mới DN Ở Hoa

kỳ là quốc gia có rất nhiều tập đoàn kinh tế lớn, nhưng chính phủ Hoa kỳ vẫn rất chú trọng quan tâm đặc biệt đến các DNNVV DNNVV đã đóng góp vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng DNNVV cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tồn tại và phát triển hoạt động SXKD, mở rộng thị trường và tăng trưởng Với nguồn vốn hạn hẹp, nhân lực ít nên DNNVV rất cần đến nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài trong quá trình SXKD và mở rộng phát triển SXKD của DN Trong bài nghiên cứu

“Further Evidence on the Link between Finance and Growth: An International Analysis of Community Banking and Economic Performance”

của các tác giả Allen N Berger, Iftekhar Hasan, Leora F Klapper Đã nghiên cứu

số liệu của 49 nước trên thế giới trong 8 năm từ 1993-2000 đã chứng minh được mối liên hệ của việc nâng cao năng lực tài chính cho DNNVV thông qua các tổ chức tín dụng, đã đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế của quốc gia, như vậy để cho DNNVV tồn tại và phát triển bền vững thì tổ chức tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển của DNNVV, góp phần vào tăng trưởng, phát triển kinh tế của đất nước Nhờ nguồn vốn vay từ các TCTD, nên các DNVVV

sẽ nâng cao hiệu quả SXKD, mở rộng SX, đối mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 16

khả năng tích lũy thấp, nên các phương án đầu tư thường cũng chủ yếu dựa vào vay tín dụng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức Một khi lãi suất ở mức cao, mọi DN đều phải tính toán lại phương án SXKD của mình Nhưng bản chất là DNNVV, tức là quy mô vốn nhỏ, tuy cộng đồng DN này có thể tham gia thu hút nguồn lao động đa dạng và sản xuất ra các SP và dịch vụ đa dạng, với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu của thị trường Hơn nữa, tỷ suất lợi nhuận của các DN ngoài nhà nước trên vốn sản xuất và doanh thu đều thấp, chỉ đạt bình quân 2-3%, so với mức 4-6% chung của cả nước Cũng theo điều tra thống kê hằng năm với các DN mấy năm gần đây (2006-2008), có đến 30% (2006), 28% (2007) và 26% (2008) DN nói chung và DN ngoài nhà nước bị lỗ Vậy trong điều kiện lãi suất vay trên 20%, chỉ một số ít công ty mới có thể có hiệu quả kinh doanh cao có thể vay được Để hoàn thành công trình đầu tư và dự án dở dang, một số DN đành chấp nhận lãi suất vay cao trong ngắn hạn, nhưng nhìn chung, nhiều DN khó trụ được lâu dài với mức lãi suất cao này Hơn nữa, các điều kiện cho vay của các ngân hàng cũng rất khó khăn để tiếp cận nguồn vốn, dù lãi suất cao Theo điều tra của Bộ Kế hoạch đầu tư (KHĐT), có tới 1/3 DN vừa và nhỏ không thể tiếp cận nguồn vốn vay, nên dầu tư và kinh doanh cầm chừng và 1/3 tuy có tiếp cận được nhưng gặp khó khăn Do đó, với các nguồn vốn vay lãi suất cao hiện trên 20%, các DN cần lựa chọn phương án đầu tư và kinh doanh có hiệu quả cao nhất để có thể sử dụng các nguồn vốn này, hoặc tạm thời chỉ sử dụng một số vốn vay lãi suất cao để mua các trang thiết bị cần thiết nhất, tránh đầu tư tràn lan Với đa số các DN đang gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho SXKD đang sử dụng nhiều cách thức, biện pháp được để tháo gỡ như kêu gọi liên doanh, liên kết giữa các thành viên trong hội để đầu tư vào các dự án khả thi; giới thiệu để các thành viên của hội vay vốn ngân hàng như lãi suất hiện nay nhưng được trả nợ theo cách thức khác nhau phù hợp với điều kiện từng DN Huy động thêm các nguồn vốn khác từ nội bộ cán bộ nhân viên của DN và các hình thức liên kết khác để cùng nhau vượt qua giai đoạn khó khăn, với những ưu đãi nhất định dành cho họ lâu dài sau này

Trang 17

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẦN ĐẾ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Kinh nghiệm hỗ trợ nguồn vốn vay để SXKD để phát triển SXKD các DNNVV

1.2.1.1 Kinh nghiệm từ Thái Lan

Trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 thì Chính phủ Thái lan chưa có những chính sách đủ mạnh để khuyến khích phát triển SXKD cho các DNNVV Tuy nhiên sau năm 1997 thì Thái lan đã có những chính sách cụ thể để hỗ trợ Phát triển SXKD của DNNVV, đây là những DN chủ chốt trong quá trình phục hồi kinh tế từ sau giai đoạn khủng khoảng của Thái lan Những năm đầu của thập

kỹ 60 của thế kỹ 20, Thái lan đã có những chính sách trợ giúp cho DNNVV Văn phòng tài chính DN nhỏ đã được thành lập từ năm 1963 và được chuyển thành Tập đoàn Tài chính DN nhỏ Nội dung chủ yếu các chính sách DNNVV của chính phủ Thái lan thể hiện những ý sau:

- Cũng cố mạng lưới thể chế chuyên trách về DNNVV Thái lan thành lập Uỷ ban khuyến khích DNNVV( SMEPO), có chức năng độc lập, trực thuộc Chính phủ Nhiệm vụ của Uỷ ban là xem xét định nghĩa về DNNVV, đề xuất các chính sách, biện pháp khuyến khích DNNVV và quản lý Quỹ phát triển DNNVV Uỷ ban này

có trách nhiệm chuẩn bị “ Sách trắng” hàng năm về DNNVV Thái lan đệ trình lên Thủ tướng Quỹ Phát triển DNNVV trực thuộc SMEPO cũng được thành lập Quỹ này được Chính phủ cấp vốn hàng năm, được trợ giúp bởi khu vực tư nhân, các chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế Thái lan cũng thành lập Viện Nghiên cứu phát triển DNNVV, cũng cố các tổ chức như Tập đoàn bảo lãnh tín dụng KD nhỏ, Tập đoàn tài chính KD nhỏ, Hiệp hội công nghệp

- Hoạch định kế hoạch lớn phát triển DNNVV Kế hoạch này bao gồm 7 chiến

lược cơ bản để trợ giúp DNNVV Mỗi chiến lược cơ bản này lại bao gồm nhiều biện pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu của chiến lược Chiến lược Nâng cấp năng lực kỹ thuật và quản lý của các DNNVV; Phát triển Doanh nhân và nguồn lực con người của các DNNVV; Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của các DNNVV; Tăng cường hệ thống trợ giúp của các DNNVV; Cung cấp môi trường

Trang 18

KD thuận lợi hơn; Phát triển các DN siêu nhỏ và các DN cộng đồng; Phát triển các mạng lưới và các cụm DNNVV

- Xác định các nhóm ngành cần phải nhanh chóng phát triển mạng lưới DNNVV Chính phủ Thái lan đã chỉ ra 10 ngành cần phải nhanh chóng phát triển

Tất cả 10 ngành này là những ngành công nghiệp có định hướng xuất khẩu, có kết cấu hạ tầng tương đối tốt và có giá trị gia tăng cao

- Hoạch định chương trình hành động nhằm phát triển DNNVV Chương trình

này đề ra 18 biện pháp cần phải thực hiện để phát triển DNNVV, gồm các biện pháp: Trợ giúp Tài chính cho các DNNVV; Thành lập và phát triển thị trường vốn cho DNNVV; Đào tạo Doanh nhân và người lao động; Hỗ trợ phát triển công nghệ mới; Hỗ trợ nghiên cứu và tìm kiếm thị trường; Phát triển các liên kết giữa các DNNVV với DN lớn; Phát triển các hiệp hội DNNVV; Phát triển DNNVV ở nông thôn: sửa đổi các quy định pháp luật gây cản trở cho DNNVV

1.2.1.2 Kinh nghiệm từ Đài Loan

Phát triển DNNVV ở Đài loan đã được chú trọng từ rất lâu, chính quyền Đài loan đã ban hành và thực hiện một hế thống chính sách phát triển DNNVV toàn diện và rất có hiệu quả Ngày nay, điểm nhấn mạnh trong chính sách trợ giúp DNNVV của Đài loan là hoàn thiện khung pháp lý và tạo dựng môi trường cạnh tranh thuận lợi cho các DNNVV Một số chính sách mà Chính quyền Đài loan thực hiện như sau:

- Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp cho DNNVV phát triển

Những năm gần đây Chính quyền Đài loan tiến hành sửa đổi một số luật nhằm tạo

Trang 19

điều kiện thuận lợi cho hoạt động SXKD của các DNNVV Cụ thể là, vào năm 1997

đã bổ sung một điều khoản về DNNVV vào Hiến pháp Đài loan, sửa đổi Luật lao động vào năm 1998 nhằm mở rộng việc thuê mướn lao động ngoài nước, sửa đổi luật Quy chế phát triển DNNVV vào năm 1999, sửa đổi Luật đất đai cho phép DNNVV tiếp cận dễ dàng hơn với đất đai, sửa đổi các văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường

Thời gian gần đây Chính phủ Đài loan đã thành lập “Nhóm đặc trách thúc đẩy DNNVV” Nhóm này có chức năng rà soát các điều luật và kiến nghị sửa đổi luật

để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc hoạt động của DNNVV Nhóm này cũng được quyền tham gia, góp ý vàoquá trình soạn thảo mọi văn bản luật và quy định có liên quan tới các DNNVV Dựa trên việc tiến hành thu thập ý kiến của các chủ DNNVV và thực hiện các báo cáo định kỳ về việc xây dựng và sửa đổi các điều luật

và các quy định của chính phủ, thuê chuyên gia đánh giá tác độngcủa các luật và các quy định đã ban hành

- Các biện pháp trợ giúp tài chính cho DNNVV Những quỹ trợ giúp tài chính

cho các DNNVV gồm: Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Quỹ bảo lãnh tương hỗ; Quỹ Phát triển DNNVV và Tập đoàn Phát triển DNNVV

+ Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV thành lập từ năm 1974 với sự trợ giúp của Chính phủ và các ngân hàng lớn của Đài loan, đến năm 2002 đã có 107.049 DNNVV được nhận vốn bảo lãnh từ Quỹ này với tổng số vốn lên tới trên 60 tỷ USD

+ Quỹ Phát triển DNNVV được thành lập năm 1989 có số vốn khoảng 400 triệu USD nhằm cung cấp tín dụng trực tiếp cho các DNNVV, đặc biệt là cho các

DN đang đầu tư phát triển SP mới, khai thác thị trường mới, hoặc chuyển đổi công nghệ mới

+ Quỹ bảo lãnh tương hỗ thành lập từ tháng 6/1998 để thành lập các nhóm trợ giúp tương hỗ và tin tưởng lẫn nhau để bảo lãnh cho các khoản vay của các DN trong nhóm Từ khi thành lập đến nay quỹ này hoạt động không có nhiều hiệu quả

Trang 20

DNNVV tại Đài loan còn nhận được những khoản vay đặc biệt để giải quyết các vấn đề như: giảm ô nhiễm, giảm chi phí hoạt động và trợ giúp

- Những hệ thống tư vấn cho DNNVV Chính quyền Đài loan đang tiến hành

thực hiện 10 hệ thống hướng dẫn cho DNNVV do Cục quản lý DNNVV chịu trách nhiệm điều phối tổng thể để cung cấp thông tin, tư vấn cho DN Trong năm 2010 các hệ thống này đã thực hiện tư vấn 100 lần cho trên 1000 DN được hưởng lợi từ những kế hoạch này 10 Hệ thống hướng dẫn gồm: (1) Tài chính và Tín dụng; (2) Quản lý; (3) Công nghệ; (4) Nghiên cứu và phát triển; (5) Quản lý thông tin; (6) An toàn công nghiệp; (7) Quản lý ô nhiễm; (8) Marketing; (9) Hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau; (10) Nâng cao chất lượng

- Hệ thống DN trung tâm – vệ tinh(CSPS) là một trong những chính sách trợ

giúp DNNVV quan trọng của Đài loan, với mục tiêu là giảm chi phí và nâng cao chất lượng SP bằng cách tạo kết nối chặt chẽ giữa các DN lớn và DNNVV

1.2.1.3 Kinh nghiệm từ Nhật Bản

Nội dung chủ yếu như sau:

- Cải cách pháp lý: Việc cải cách pháp lý được Chính phủ Nhật bản đặc biệt

quan tâm và là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Luật cơ bản về DNNVV ban hành năm 1999 để trợ giúp cho việc cải cách cơ cấu để tăng tính thích nghi của DNNVV với những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội để giúp cho việc tái cơ cấu DN Luật tạo thuận lợi cho thành lập DN mới, Luật trợ giúp DNNVV đổi mới, Luật xúc tiến các hệ thống phân phối có hiệu quả ở DNNVV và một hệ thống chính sách hỗ trợ cũng được thiết lập nhằm hạn chế sự phá sản của các DNNVV

- Trợ giúp về nguồn vốn: Ba định chế tài chính thuộc Chính phủ là Công ty

Đầu tư KD nhỏ, Ngân hàng Hợp tác Trung ương về Thương mại và Công nghiệp, Công ty đầu tư mạo hiểm quốc gia là những đầu mối để trợ giúp DNNVV về vốn DNNVV được vay vốn bằng các khoản vay thông thường với lãi suất cơ bản hoặc

là khoản vay đặc biệt với những ưu đãi theo các mục tiêu chính sách

+ Hệ thống trợ giúp tăng cường cơ sở quản lý các DNNVV ở từng khu vực, các khoản vay được thực hiện tuỳ theo điều kiện của từng khu vực thông qua một

Trang 21

quỹ chung từ chính quyền trung ương và các địa phương, và được ký quỹ ở một thể chế tài chính tư nhân

+ Kế hoạch cho vay để cải tiến quản lý của các DN nhỏ, không đòi hỏi phải

có thế chấp hoặc bảo lãnh

+ Hệ thống bảo lãnh tín dụng giúp bảo lãnh cho các DNNVV vay vốn tại các thể chế tài chính tư nhân Hiệp hội bảo lãnh có chức năng mở rộng các khoản tín dụng bổ sung và bảo lãnh tín dụng cho DNNVV Hệ thống này được hoạt động từ năm 1998 đến nay được xem là, có chức năng một mạng lưới an toàn để giảm nhẹ những rối loạn vế tín dụng và giúp DNNVV tránh bị phá sản

- Trợ giúp về công nghệ DNNVV có thể được hưởng các chính sách trợ giúp

cho nghiên cứu và phát triển hoặc tiến hành các hoạt động KD dựa trên công nghệ mới Các khoản trợ cấp, bảo lãnh vay vốn, hay đầu tư trực tiếp cho DNNVV được tiến hành theo các quy định của Luật xúc tiến các hoạt động sáng tạo của DNNVV

- Trợ giúp về quản lý Viện quản lý kinh doanh nhỏ và Công nghệ thực hiện

các chương trình đào tạo cho các nhà quản lý, các chuyên gia kỹ thuật của DNNVV

và đội ngũ nhân sự của các địa phương Việc giúp cho DNNVV tiếp cận thông tin là một trong những ưu tiên của chính phủ “Sách trắng” được xuất bản hàng năm chứa đựng nhiều thông tin bổ ích cho DNNVV

- Xúc tiến xuất khẩu: Chính phủ Nhật bản cung cấp dịch vụ hướng dẫn và

thông tin cho DNNVV nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động KD ở ngoài nước

1.2.1.4 Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ

- Cải cách pháp lý Chính phủ Hoa kỳ đã có một số cải cách hợp lý quan

trọng trong thời gian gần đây để trợ giúp DN nhỏ, như nới lỏng những quy định cho phép tham gia thị trường KD nhỏ dễ dàng hơn, các ngành như Ngân hàng, điện lực, viển thông và triệt để thi hành Luật chống độc quyền Chính phủ Hoa kỳ đang tiến hành những cải cách quan trọng về chính sách an sinh xã hội và thuế khoá để tạo điều kiện cho các DN KD nhỏ

- Trợ giúp tài chính Theo SBA, năm 1997, Hoa kỳ có 125 chương trình trợ

giúp KD trị giá 75 tỉ USD, năm 1999 có khoảng 200 chương trình trợ cấp liên bang

Trang 22

tài trợ KD nhỏ đang hoạt động Chương trình trợ giúp chính như: Tín dụng trực tiếp

và bảo lãnh tín dụng, thưởng KD, thưởng xuất khẩu, hỗ trợ tài chính cho các chương trình đào tạo và nhiều loại bảo hiểm khác nhau

- Trợ giúp đổi mới về công nghệ Chương trình chuyển giao công nghệ KD

nhỏ; Quỹ hợp tác mở rộng chế tạo; Chương trình nghiên cứu đổi mới KD nhỏ cung cấp vốn trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu và triển khai KD nhỏ; Thành lập các vườn ươm công nghệ và vườm ươm KD tại 50 tiểu bang

- Xúc tiến xuất khẩu Chính phủ Hoa kỳ ban hành nhiều chương trình và biện

pháp trợ giúp hoạt động xuất khẩu của các DN KD nhỏ Uỷ ban điều phối xuất khẩu

có trách nhiệm điều phối những biện pháp đa dạng của các thể chế khác nhau nhằm trợ giúp xuất khẩu của các DNNVV Trung tâm trợ giúp xuất khẩu cung cấp các dịch vụ tư vấn và thông tin vế thị trường ngoài nước, hợp đồng quốc tế thông qua trên 100 văn phòng trải khắp tất cả các tiểu bang

1.2.1.5 Những chủ trương ch nh sách của nhà nước về Phát triển DNNVV tại Việt Nam

Hệ thống thể chế hỗ trợ DNNVV tại Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của

Thủ tướng được thành lập theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 Hội đồng Khuyến khích phát triển DNNVV làm cố vấn cho Thủ tướng trong công tác phát triển DNNVV do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm chủ tịch Cục Phát triển DNNVV là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới DNVV ở cấp trung

ương đồng thời đóng vai trò là thư ký thường trực cho Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV Sở Kế hoạch và Đầu tư dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh/ thành phố là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới DNNVV ở cấp địa phương đồng thời các Sở ban ngành khác cũng thực hiện các biện pháp hỗ trợ DNNVV Các

cơ quan ban ngành của Chính phủ ở Trung ương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đại diện cho khu vực tư nhân và các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cũng như nhà nước hỗ trợ DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh

Nguyên tắc cơ bản Hướng dẫn phát triển khu vực DNNVV ở Việt Nam được tóm tắt theo (Quyết định Phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV 2006-2010):

Trang 23

(1) Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế: “thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” (Nghị quyết 14-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX) ngày 18 tháng 03 năm 2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân)

(2) Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi cho DN nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển

(3) Phát triển DN nhỏ và vừa theo phương châm tích cực, vững chắc, nâng cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tạo nhiều việc làm, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; phát triển DN nhỏ và vừa gắn với các mục tiêu quốc gia, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương, khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống; chú trọng phát triển DN nhỏ và vừa ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; ưu tiên phát triển và hỗ trợ các DN nhỏ và vừa do đồng bào dân tộc, phụ nữ, người tàn tật … làm chủ DN;

ưu tiên phát triển một số lĩnh vực có khả năng cạnh tranh cao

(4) Hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp để nâng cao năng lực cho các DN nhỏ và vừa

(5) Gắn hoạt động SXKD với bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

(6) Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của DN nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế - xã hội "

Để Đánh giá thực trạng của DNNVV của Việt Nam hiện nay; mặt được và hạn chế trong các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển; quỹ phát triển; kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển; kế hoạch phát triển giai đoạn 2011-

Trang 24

2015; đề xuất, khuyến nghị về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển thời gian tới là những nội dung chủ yếu được tập trung thảo luận trong Hội thảo với chủ đề: “Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DN nhỏ và vừa” do Viện Chiến lược và Chính sách tài Chính – Bộ Tài chính phối hợp với Trung tâm hỗ trợ DN nhỏ và vừa – Phòng

TM và CN Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội sáng ngày 23/12/2011 Tại buổi Hội thảo, các nhà nghiên cứu, các DN, các nhà quản lý cùng nhau thảo luận, phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học trên tinh thần xây dựng và nhìn thẳng vào

sự thật để tìm ra nguyên nhân và những giải pháp thiết thực và hiệu quả khắc phục những tồn tại yếu kém trong chính sách tài chính hỗ trợ các DNNVV ở Việt Nam Theo TS Vũ Nhữ Thăng, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính cho rằng, qua cuộc khủng hoảng cho thấy trong trung và dài hạn, sự phục hồi kinh tế và khả năng cạnh tranh bền vững của DN cần cân đối dựa vào tăng trưởng xuất khẩu

và mở rộng thị trường trong nước Trong khi đó, do các DNNVV là những đối tượng dễ bị tổn thương nên nhiều chính sách trong thời gian qua đã tập trung hỗ trợ tài chính DN, hỗ trợ các DN phát triển sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa Còn theo Tổng thư ký, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), TS Phạm Thị Thu Hằng cho rằng, mặc dù Chính phủ có một số chính sách, chương trình ưu đãi, hỗ trợ phát triển DN, nhưng các DNNVV còn chưa tiếp cận được hiệu quả Tỷ lệ DNNVV tham gia và các chương trình hỗ trợ của Chính phủ như: Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Quỹ đổi mới Khoa học Công nghệ v.v còn rất khiêm tốn (dưới 10%) Do vậy, để hỗ trợ phát triển DNNVV Việt Nam trong thời gian tới cần sửa đổi, xây dựng các văn bản luật, nghị định của Luật Chứng khoán nhằm tạo điều kiện các DN sử dụng các kênh thu hút vốn khác như phát hành trái phiếu nhằm giảm sự lệ thuộc vào thị trường tín dụng Hoàn thiện mô hình Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV cho phù hợp với tình hình mới nhằm trợ giúp DNNVV tiếp cận nguồn cung tài chính phù hợp với điều kiện của DNNVV Theo ng Tô Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam, chính phủ sớm thành lập Quỹ phát triển DNNVV để hỗ trợ tài chính phát triển DNNVV, hình thành một nguồn kinh phí dành riêng hỗ trợ DNNVV mở rộng hoạt động

Trang 25

SXKD và nâng cao sức cạnh tranh, đặc biệt là dành kinh phí hỗ trợ DNNVV trên một số lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, khắc phục sự phân tán, chồng chéo, kém hiệu quả khi sử dụng nguồn lực Nhà nước cho các chương trình hỗ trợ DNNVV Kết thúc buổi Hội thảo, TS Vũ Nhữ Thăng tổng kết những vấn đề quan trọng được đưa

ra để bàn luận tại Hội thảo trong đó tập trung vào những nội dung liệu chúng ta có

cơ chế nào để đánh giá một cách khách quan nhất, chính xác nhất tình hình khó khăn của DN Liên quan đến vấn đề ưu đãi thì nên giành ưu đãi vào đâu, trực tiếp DNNVV hay vào các trung gian tài chính Trong việc hoạch định chính sách cần có

sự phối hợp nhịp nhàng giữa các Bộ, giữa công cụ chính sách này với công cụ chính sách khác để tạo ra được sự đồng bộ kích thích sự phát triển của DNNVV

Hiện nay, các cơ quan đang gấp rút hoàn thiện để đưa ra một chương trình hành động cho việc hỗ trợ DNNVV trong giai đoạn từ 2011 – 2015 và tầm nhìn

2020

1.2.2 Nghiên cứu Các yếu tố môi trường vi mô

1.2.2.1 Các yếu tố về khả năng quản trị DN

DN được hình thành và phát triển được hay không là phụ thuộc rất lớn vào khả năng quản trị DN của các nhà điều hành DN Để DN phát triển và bắt kịp quá trình toàn cầu hoá, ứng dụng các công nghệ mới, các ý tưởng mới vào hoạt động SXKD của DN, thì đòi hỏi nhà quản trị DN phải có khả năng phân tích nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo và có tính quyết đón với tầm nhìn chiến lược trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Để có sự thích ứng linh hoạt cho từng giai đoạn phát triển SXKD của DN thì người quản trị DN tài năng sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của DN

1.2.2.2 Các yếu tố về nhân lực sản xuất

Bên cạnh nguồn vốn bằng tiền, thì nguồn nhân lực cũng là yếu tố đầu vào của SP Nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động SXKD của DN,

vì vậy một DN có một đội ngũ nhân lực lành nghề, có trình độ tay nghề và kỹ năng cao thì DN đó sẽ phát triển bền vững Để DN ổn định và phát triển thì đòi hỏi phải

có một đội ngũ quản lý, lao động phải có tay nghề tương đối đồng đều và gắn bó lâu

Trang 26

dài với DN, muốn được như vậy thì DN có chế độ đãi ngộ, đào tạo thường xuyên,

và cập nhật tư tưởng, trình độ công nghệ cho nhân lực của DN Với sự phát triển của khoa học công nghệ như hiện nay thì các DN phải biết huy động nguồn nhân lực tiến đển những SP có hàm lượng chất xám cao, để được như vậy thì chất lượng nhân lực là yếu tố quyết định

1.2.2.3 Các yếu tố cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu

SP được sản xuất ra thì phải có đầy đủ những yếu tố đầu vào, trong đó khâu cung cấp đủ nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu cho quá trình hoạt động SXKD của DN

là rất quan trọng Với những nguyên, nhiên, vật liệu có chất lượng tốt thì sẽ có những SP tốt, cộng thêm những sáng tạo, lành nghề của nguồn nhân lực thì sẽ có những SP tốt với giá trị gia tăng của SP sẽ có giá cao hơn rất nhiều so với chất lượng nguyên, nhiên, vất liệu không tốt, không đồng đều

1.2.2.4 Các yếu tố máy móc thiết bị

DN hoạt động SXKD thì phải có máy móc, thiết bị, trong thế kỹ 21 thì tiến

bộ khoa học kỹ thuật ( KHKT) tiến nhanh như vũ bão Những DN nào có thiết bị văn phòng, máy móc sản xuất tốt, công nghệ mới thì DN đó sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí sản xuất, giảm giá thành SP và nâng cao sức cạnh tranh của SP Cho nên đầu tư vào máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, đó cũng là một thách thức cho DN, với những máy móc thiết bị hiện đại thì phải có một đội ngũ nhân lực thành thạo, lành nghề để tiếp cận, sử dụng được công nghệ là cơ hội cho DN cạnh tranh, khẳng định sự nổi trội của SP , dịch vụ mà DN cung ứng ra thị trường Tuy nhiên với tốc độ phát triển nhanh của KHKT thì DN phải cân nhắc kỹ càng khi đầu

tư mở rộng sản xuất, quyết định việc mua sắm máy móc thiết bị phải đúng mức để đảm bảo rằng thu hồi vốn nhanh và kinh doanh có lợi nhuận DN cũng phải tận dụng và khai thác được hết công suất, hết những tiện ích mà máy móc, thiết bị mang lại nhằm mục đích giảm gía thành SP, tăng sức cạnh tranh và đảm bảo chất lượng SP

Trang 27

1.2.2.5 Các yếu tố vốn cho phát triển SXKD

Vốn là điều kiện tiên quyết để cho một DN ra đời, dù DN đó có số vốn khiêm tốn bao nhiêu thì cũng phải có “Vốn” Vốn dùng cho mua sắm Tài sản cố định (TSCĐ) như mặt bằng cho hoạt động kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, thiết bị văn phòng, trang bị máy móc thiết bị dùng cho sản xuất và vốn lưu động dùng cho việc mua sắm nguyên, nhiên, vật liệu, trả lương cho người lao động

Vốn được huy động từ nhiều kênh, như : mượn vốn kinh doanh từ người thân, bạn bè; huy động vốn trên các thị trường tài chính; vay vốn từ các quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm; vay vốn từ các tổ chức tín dụng; hoặc mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng qua các công ty cho thuê Tài chính Trong các kênh tiếp cận nguồn vốn cho hoạt động SXKD thì nguồn vốn vay tại tổ chức tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất cho các DN Đối với DNNVV thì kênh vay vốn ở các tổ chức tín dụng là rất quan trọng và hiệu quả hơn cả, giúp cho DN giải quyết được sự thiếu hụt về vốn tương đối dễ dàng hơn so với các kênh khác

1.2.2.6 Các yếu tố về tiếp thị và nghiên cứu thị trường

Tất cả các DN SXKD đều phải tham gia vào thị trường, thị trường trường là nơi cung cấp đầu vào và đầu ra cho các SP của DN Để hoạt động SXKD có hiệu quả thì nghiên cứu thị trường, nắm bắt được nhu cầu của thị trường là yếu tố không thể thiếu đối với một DN Trên thị trường thì có rất nhiều nhà cung cấp, cung ứng các dịch vụ như nhau, nhưng chất lượng của dịch vụ, SP thì lại không thể giống nhau được, do đó DN phải có nghiên cứu kỹ về các đối thủ cạnh tranh, nắm bắt nhu cầu, đòi hỏi của thị trường để có những điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của

DN Giới thiệu SP tới tay người tiêu dùng và nghiên cứu thị trường là rất quan trọng đối với sự ổn định sản xuất, phát triển SXKD của DN

1.2.3 Nghiên cứu Các yếu tố môi trường vĩ mô

1.2.3.1 Về môi trường ch nh trị, pháp luật

Ổn định chính trị là rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước Hoạt động SXKD trong môi trường pháp luật rõ ràng, chính sách của Chính phủ nhất quán, và ổn định về chính trị thì các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn bỏ vốn ra để đầu

Trang 28

tư Kinh doanh Từ khi đổi mới nền kinh tế nhà nước ta đã có một bước tiến dài về trong việc ổn định chính trị, xây dựng môi trường KD thuận lợi, pháp luật rõ ràng

và chính sách nhất quán trong suốt thời gian qua Tuy nhiên trong giai đoạn đầy biến động của chính trị thế giới, trải qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ Thái lan và khủng hoảng kinh tế năm 2007 đến nay, thì Việt nam vẫn đang giữ được ổn định về chính trị, kinh tế, pháp luật, và tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi cho tất cả các loại hình đầu tư DNNVV rất được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, cụ thể đã có nhiều văn bản đề cập đến sự ổn định, phát triển SXKD của các DNNVV Trong thời gian khó khăn về kinh tế, thực hiện thắt chặt tín dụng, chi tiêu công, giảm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng nhưng DNNVV hoạt động trong các lĩnh vực SXKD hàng hoá, Nông, lâm, thuỷ hải sản, may mặc vẫn được ưu tiên cho vay vốn để phát triển SXKD

1.2.3.2 Về môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế vĩ mô tác động rất lớn đến hoạt động SXKD của DN và nhất là với những DNNVV, là loại hình DN dễ bị tổn thương nhất so với các loại hình DN khác Trong các năm gần đây nền kinh tế thế giới đang lâm vào khủng hoảng kinh tế, các nước trong liên minh đồng tiền chung Châu âu lâm vào cảnh thâm hụt ngân sách quốc gia, nợ công vượt quá mức cho phép, chính phủ Mỹ suýt

bị không có ngân sách để hoạt động đã phần nào ảnh hưởng đến kinh tế của Việt nam Lạm phát là nỗi lo sợ của tất cả các DN, đối với DNNVV thì lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động SXKD của DN, trong các năm từ 2008 đến nay lãi suất luôn ở mức cao nên hoạt động SXKD rất khó khăn Nhà nước đã có những chính sách miễn, giảm gia hạn nộp thuế cho một số đối tượng DN trong thời gian qua, phần nào giảm bớt khó khăn cho các DNNVV Với một mức tỷ giá tương đối ổn định trong những năm gần đây, phần nào tạo được sự ổn định kinh tế vĩ mô cho các

DN yên tâm sản xuất Nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, từ khi Việt nam gia nhập WTO thì đòi hỏi các DNNVV phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đó cũng là cơ hội nhưng cũng là thách thức cho các DNNVV

Trang 29

1.2.3.3 Về môi trường xã hội, tập quán tiêu dùng

Môi trường xã hội, tập quán tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến sức tiêu thụ, tiêu dùng của từng loại SP SP của DN sản xuất và cung ứng phải phù hợp với thuần phong mỹ tục của thị trường mà DN nhắm tới, nếu DN không nắm rõ được xã hội, tập quán tiêu dùng của vùng miền để cung ứng SP, hàng hoá thì chắc chắn DN đó

sẽ thất bại, vì SP, hàng hoá dó sẽ không được cư dân chào đón và sử dụng Với việc tham gia vào kinh tế thế giới thì DN phải biết rõ môi trường xã hội, quy định của pháp luật và nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng của các nước mà DN nhắm tới

1.2.3.4 Về môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên cũng là một sự quan tâm của DN, vì khi tiếp cận các yếu

tố đầu vào với giá cả hợp lý, nhằm giảm chi phí, và khi cung ứng hàng hoá ra thị trường cũng sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, quảng cáo, tiếp thị Yếu tố môi trường tự nhiên có tầm quan trọng đối với đời sống của con người, có ảnh hưởng đến quá trình phát triển, phân bố sản xuất, đây là yếu tố giúp cho DN có lợi thế cạnh tranh trong việc cung cấp, SP dịch vụ

1.2.3.5 Về môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ

Ngày nay khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, mở ra nhiều khả năng cho DNNVV, ứng dụng KHCN vào quá trình sản xuất để giúp năng suất lao động, nâng cao chất lượng SP, có khả năng giảm chi phí sản xuất, hạn chế được sự ô nhiểm môi trường Khoa học công nghệ giúp cho DNNVV phát huy được khả năng nhạy bén trong hoạt động SXKD, giới thiệu SP , dịch vụ và thu nhập thông tin nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nhằm điều chỉnh hoạt động SXKD của DN

1.2.3.6 Về môi trường dân số

DN muốn hoạt động SXKD thì phải có nhân công, nhân lực, mà môi trường dân số là đáp ứng, cung ứng nguồn nhân lực cho DN Môi trường dân số trở thành yếu tố quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến DN Môi trường dân số ảnh hưởng đến các yếu tố khác như yếu tố kinh tế, yếu tố văn hoá xã hội

Trang 30

1.2.3.7 Về môi trường cạnh tranh

Cơ chế thị trường là phải có cạnh tranh, và các DN cùng SXKD những SP cùng loại sẽ có sự cạnh tranh gay gắt nhằm thu hút được số lượng người tiêu dùng

về cho DN của mình, đây là sự cạnh tranh nếu không có sự định hướng của nhà nước thì sẽ xẩy ra nhiều bất cập Trong sự cạnh với những SP , hàng hoá, dịch vụ cùng chất lượng tương đương của các DN khác thì các DN làm ăn chân chính lại phải cạnh tranh với những SP hàng giả, hàng nhái làm cho sự thiệt hại của DN lại càng bị tăng lên, làm cho DN khó khăn hơn, do đó đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước để giúp cho những DN cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động SXKD

1.2.4 Những cơ hội và thách thức của các DNNVV trong quá trình tham gia thị trường

1.2.4.1 Những cơ hội khi tham gia thị trường của các DNNVV

DNNVV Khi tham ra thị trường sẽ có nhiều cơ hội đối với thị trường trong nước và thị trường ngoài nước

- DNNVV có cơ hội mở rộng thị trường, nắm bắt thị trường là vấn đề sống còn của DN Trong thời gian nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng như hiện nay, DNNVV đang tập trung vào thị trường nội địa đã bỏ trống trong suốt thời gian qua, DNNVV của Việt nam đã có những chương trình phù hợp nhằm lấy lại lòng tin của người tiêu dùng trong nước Việt nam đã gia nhập vào các tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới như ASEAN, APEC, WTO đã tạo điều kiện cho các DNNVV mở rộng thị trường sang các nước thành viên và được đối xử bình đẳng theo các nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), quy chế đối xử quốc gia ( NT) của các nước thành viên Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho DNNVV đa dạng hoá thị trường tiêu thụ

SP, khai thác thị trường mới để mở rộng SXKD, và qua đó cũng học hỏi được kinh nghiệm, khai thác thông tin, thị hiếu tiêu dùng, tiếp cận được những công nghệ, kỹ năng quản lý tiên tiến của các nước mà DNNVV có tham gia vào thị trường tiêu thụ

- DNNVV được đối xử bình đẳngtrong hoạt động cung ứng SP hàng hoá, dịch

vụ Tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế trong quá trình hội nhập sẽ tạo

Trang 31

điều kiện thuận lợi nâng cao vị thế của DNNVV, các DN sẽ được đối xử bình đẳng trên trường quốc tế, tránh được sự phân biệt đối xử giữa các nước lớn và các nước

bị xem là chưa có nền kinh tế thị trường thực thụ ( phi thị trường) Các tranh chấp giữa các DN sẽ được giải quyết công bằng theo luật pháp quốc tế, tránh được thiệt hại cho các DNNVV của Việt Nam Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt nam phải thực hiện công khai, minh bạch các chính sách, cải cách môi trường kinh doanh trong nước, đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo cam kết của các tổ chức kinh tế mà chúng ta tham gia Do vậy, DNNVV sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động SXKD nhờ lợi ích mà các chính sách mang lại, nó giúp cho DNNVV rút ngắn được thời gian, dễ dàng trong việc tiếp cận các dịch vụ công trong quá trình tổ chức, hoạt động SXKD

- DNNVV muốn tồn tại và phát triển thì phải năng động, sáng tạo hơn, không ngừng vươn lên vì thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt DN phải tích cực ứng dụng các công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng SP hàng hoá, dịch vụ để thu hút người tiêu dùng và hạ giá thành SP Trong xu thế hội nhập, các DN làm ăn kém hiệu quả, không có sáng tạo, đổi mới thì nhất định sẽ bị đào thải, do đó nó sẽ tạo ra động lực thúc đẩy các nhà quản trị DN năng động hơn trong cơ chế thị trường

1.2.4.2 Những thách thức khi tham gia thị trường của các DNNVV

- Năng lực cạnh tranh của DNNVV không thể có những nguồn vốn lớn để theo đuổi cạnh tranh khốc kiệt đối với các DN lớn có tiềm lực vốn lớn, kinh nghiệm thương trường Do đó các DNNVV phải biết khai thác thị trường tránh sự đối đầu đối với các DN lớn, vậy DNNVV có thể tận dụng DN lớn làm tiền đề giúp cho việc tiêu thụ SP hàng hoá, dịch vụ của DNNVV Với nguồn vốn bị hạn chế, kinh nghiệm thị trường yếu, sẽ là thách thức rất lớn đối với DNNVV trong quá trình hội nhập và phát triển

- SP hàng hoá, dịch vụ của DNNVV phải cạnh tranh gay gắt với các SP , hàng hoá cùng loại của các nước trong khu vực theo đường chính ngạch hoặc là nhập khẩu trái phép Với sự hội nhập kinh tế của Việt nam nên hàng hoá, SP của

Trang 32

các nước như Trung quốc, Thái lan, đã xâm nhập vào thị trường trong nước và cạnh tranh với các hàng hoá, SP của DNNVV

1.2.5 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu để xem xét trường hợp cụ thể các DNNVV trên địa bàn Quận Bình Thạnh

DNNVV trên địa bàn quận Bình thạnh chủ yếu được hình thành từ những cơ

sở sản xuất nhỏ trong thời bao cấp và phát triển mạnh sau khi có luật doanh nghiệp

ra đời Trong suốt thời gian đổi mới của đất nước, Quận Bình Thạnh đã cùng với

Tp Hồ Chí Minh cải các thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho DNNVV hoạt động SXKD trên địa bàn, và cũng từ những DNNVV đã trở thành những DN lớn như hiện nay, như Công ty Tân Hiệp Phát, Công ty XD số 5 và hiện nay các chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng, các tổ chức tín dụng được đóng trên địa bàn nhiều để tạo điều kiện hỗ trợ cho DNNVV phát triển

Nhìn chung, những mục tiêu hỗ trợ DNNVV đều nhằm vào việc phát triển SXKD, khắc phục những điểm yếu, thiếu ở các DNNVV để tạo điều kiện cho loại hình DN này phát triển bền vững Hỗ trợ DNNVV phải có hiệu quả, giúp DN nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, Nhà nước, Địa phương chỉ giữ vai trò hỗ trợ, giúp đỡ về các thủ tục hành chính, thuế, cung cấp các thông tin thị trường cho DNNVV để DN nắm bắt và định hướng phát triển của DN Hỗ trợ DNNVV ở mức thuế, thời gian nộp thuế, vốn, đào tạo nhân lực, mạng lưới hạ tầng như giao thông, công nghệ thông tin, trợi giúp cho DNNVV như cấp tín dụng trực tiếp, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp ở một số DNNVV hoạt động trong một số ngành nghề mà Chính phủ khuyến khích, bảo lãnh tín dụng, trợ cấp nghiên cứu và phát triển ngoài

ra trợ giúp marketing SP ra thị trường, phát triển thị trường, tiếp thị, giới thiệu địa bàn đầu tư Hợp tác, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo lực lượng quản lý cho DNNVV, tạo các buổi hội thảo giới thiệu SP mới, thị trường mới, nhu cầu mới cho các DNNVV trên địa bàn Hỗ trợ chính sách pháp luật, môi trường kinh doanh cho các DNNVV bằng các buổi hội thảo góp ý về tháo gở chính sách, giải đáp thắc mắc của các DN

Trang 33

Trong những năm đầu của thế kỹ 21 các DNNVV ở Quận Bình Thạnh được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, thu hút một số lớn lực lượng lao động tại địa bàn và cũng đóng góp cho địa phương với một số lượng ngân sách rất lớn Những DN lớn hoạt động trên địa bàn Quận Bình Thạnh nhưng lại do Cục thuế Tp

Hồ Chí Minh quản lý thu thuế, còn Chi cục thuế Bình Thạnh chỉ quản lý thu thuế những DNNVV và các cơ sở KD, hộ cá thể nhưng với mức thu năm 2010 đã nằm trong câu lạc bộ 1.000 tỉ đồng Điều đó nói lên rằng DNNVV tại địa bàn Quận Bình Thạnh đã được chính quyền Tp Hồ Chí Minh và Chính quyền Quận Bình Thạnh quan tâm hỗ trợ để phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Giới thiệu chung về Quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh

2.1.1.1 Quy mô của DN

Từ khi đất nước chuyển đổi mô hình kinh tế thì trên địa bàn Quận Bình Thạnh

có ít DN được thành lập và chủ yếu là các cơ sở SXKD nhỏ, lẽ, số lượng DN không nhiều, năm 1999 khi luật Doanh nghiệp ban hành, thì ở địa bàn Quận Bình Thạnh cũng như Tp Hồ Chí Minh đã được khơi thông dòng chảy, số lượng DNNVV được thành lập mới năm sau cao hơn năm trước và đến nay thì số lượng DNNVV đang hoạt động trên địa bàn là rất lớn

Bảng 2.1 Số lượng DNNVV thành lập mới qua các năm từ 2000-2011

Năm Số lượng DN Tỷ lệ tăng ( %) Loại hình DN

Trang 35

nhưng về số lượng tuyệt đối thì cũng là số lượng lớn, cụ thể năm 2010 so với 2009

có 1.190 DNNVV được thành lập mới Với số lượng quy mô như vậy, và chưa kể đến những DN lớn và các tổ chức kinh tế của Nhà nước đóng trên địa bàn, thì chúng

ta nhận thấy rằng hoạt động kinh tế hàng ngày rất sôi động Các DNNVV đang hoạt động tại Quận Bình Thạnh đa số là Thương mại Dịch vụ (TMDV), Kinh doanh vận tải (KDVT), Xây dựng cơ bản (XDCB), Sản xuất hàng tiêu dùng (SXHTD), May mặc, Da dày, Kinh doanh bất động sản ( KDBĐS) với một ví trí thuận lợi nằm ở phía đông bắc Thành phố Hồ Chí Minh, Quận Bình Thạnh có 2 cửa ngõ dẫn vào trung tâm TP qua ngõ Cầu Bình triệu và cầu Sài gòn, điều đó góp phần tăng mạnh các hoạt động SXKD của các DN hoạt động trên địa bàn

2.1.1.2 Nguồn vốn SXKD

Do là DNNVV nên nguồn vốn tự có của DN sẽ không đủ để cung ứng, trang trải cho toàn bộ các hoạt động SXKD của DN, do đó DNNVV phải có nguồn vốn vay ở bên ngoài từ các tổ chức tín dụng Các DNNVV do khả năng tích lũy thấp, nên các phương án đầu tư thường cũng chủ yếu dựa vào vay tín dụng của các ngân hàng và tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức Hiện nay, các cơ chế, chính sách về tín dụng đối với nền kinh tế (trong đó có DNNVV) đã được ban hành tương đối đồng bộ, các quy định của Ngân hàng Nhà nước không còn sự can thiệp hành chính đối với việc cho vay của tổ chức tín dụng; tổ chức tín dụng được tự chủ xem xét, quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc cấp tín dụng cho các DNNVV phù hợp với quy định của pháp luật Cùng với hình thức cho vay truyền thống, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành cơ chế về các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán, nhằm tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức tín dụng mở rộng các kênh cấp tín dụng cho các DNNVV phù hợp với thông lệ quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam Nhiều ngân hàng như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Chính sách - Xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã triển khai nhiều phương thức hỗ trợ tín dụng thích hợp hơn với đối tượng DNNVV, thành lập các phòng chuyên môn để đảm trách công việc này

Trang 36

Về Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV: Hiện tại có 9 Quỹ được thành lập tại các địa phương: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Yên Bái, Trà Vinh, Đồng Tháp, Vĩnh Phúc, Bình Thuận, Bắc Ninh, Hà Giang, trong đó chỉ có 3 quỹ chính thức hoạt động Tuy nhiên, hoạt động của các quỹ này còn yếu và thiếu Hiện nay, Bộ Tài chính đang đánh giá việc triển khai lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng, trình Thủ tướng Chính phủ các giải pháp cụ thể để đẩy nhanh việc thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV ở các địa phương Tình trạng thiếu vốn hoặc không có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh là hiện tượng khá phổ biến của các DNNVV hiện nay Ngoài phần vốn tự có, các doanh nghiệp thường huy động từ gia đình, người thân, bạn bè hoặc vay ngân hàng Mặc dù các Tổ chức tín dụng đã có nhiều nỗ lực trong việc cung ứng tín dụng cho DNNVV nhưng khó khăn trong việc xử lý các vấn đề tài chính vẫn là khó khăn nổi trội của các DNNVV

2.1.1.3 Khoa học kỹ thuật công nghệ

Phần lớn các DNNVV là những DN phát triển lên từ các cơ sở sản xuất nên còn sử dụng các loại máy móc thiết bị cũ, đã qua sử dụng, và mua lại từ các DN bị giải thể hoặc các loại máy móc đã qua sử dụng được nhập khẩu từ các nước phát triển, chỉ có một số lượng ít DN là được trang bị thiết bị máy móc từ đầu khi thành lập DN hoặc là đổi mới công nghệ Với công nghệ máy móc thiết bị như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng cạnh tranh của DNNVV Vốn đầu tư ban đầu của DNNVV ít, và vốn dùng cho hoạt động SXKD không nhiều nên vốn đầu tư cho máy móc thiết bị hạn chế, mặt khác DNNVV khó kăn trong việc vay vốn của các DNNVV nên việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ rất hạn chế

2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên

Quận Bình Thạnh nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, ở vị trí cửa ngõ thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng Phía Đông Bắc giáp với quận 2 và Thủ Đức; ở phía Nam, Bình Thạnh và quận 1 cách nhau bởi con rạch Thị Nghè; về phía Tây - Tây Bắc giáp với quận Gò Vấp và Phú Nhuận Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc Cùng với sông Sài Gòn, các kinh rạch: Thị Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hố Tàu, Thủ Tắc đã

Trang 37

tạo thành một hệ thống đường thủy đáp ứng lưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi sâu vào các khu vực trên khắp địa bàn Bình Thạnh, thông thương với các địa phương khác Kinh Thanh Đa được khởi đào vào năm 1897 đã biến bán đảo Thanh Đa- Bình Quới trở thành “vùng sâu” có 3 mặt giáp với sông Chính địa thế này đã tạo nhiều thuận lợi cho phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Bình Hòa-Thạnh

Mỹ Tây trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Hiện nay, bán đảo Thanh Đa - Bình Quới xinh đẹp với khí hậu tươi mát là một khu du lịch nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh Quận Bình Thạnh được xem là một nút giao thông quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh bởi vì Bình Thạnh là điểm đầu mối gặp gỡ các quốc lộ: Quốc lộ 1, Quốc lộ 13; là cửa ngõ đón con tàu thống nhất Bắc Nam qua cầu Bình Lợi vào ga Hòa Hưng và lại có Bến xe khách Miền Đông

Với Diện tích tự nhiên là: 2076 ha, với dân số : 464.397 người ( 01/4/2009), với 21 dân tộc sinh sống, mà đa số là người Kinh, mật độ dân số 21.708, và một bộ phận không nhỏ khách vãng lai đến làm việc, khách du lịch đến tham quan thì sẽ là một thị trường tiêu dùng rộng lớn Quận Bình Thạnh là một trong những khu vực có người cư trú khá cổ xưa của thành phố, nơi qui tụ của nhiều lớp cư dân qua các thời

kỳ lịch sử hình thành ngày nay Ở Bình Thạnh, cho đến nay, hầu như có mặt nhiều người từ Bắc, Trung, Nam đến sinh sống lập nghiệp Chính vì vậy mà các hoạt động văn hóa vừa phong phú vừa đa dạng và các tập quán tiêu dùng cũng từ đó mà có

những đáp ứng đa dạng theo nhu cầu của người dân

2.1.3 Các đặc điểm về kinh tế xã hội

2.1.3.1 Nguồn nhân lực

DNNVV tuy đông về số lượng, nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, năng lực sản xuất hạn chế do thiếu vốn, trình độ công nghệ, kỹ thuật máy móc lạc hậu, tốc độ đổi mới chậm chạp; năng lực cán bộ quản lý doanh nghiệp không được đào tạo chính quy nên yếu kém, công tác nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất kinh doanh chưa được doanh nghiệp quan tâm Trình độ quản lý còn yếu, nhiều bất cập, nhân viên, công nhân lao động thiếu kỹ năng, yếu về tay nghề, thiếu kiến thức tiếp thị và thiếu thông tin Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt, song việc quản lý

Trang 38

doanh nghiệp còn tụt hậu về quản trị và khoa học công nghệ DNNVV thiếu chiến lược kinh doanh và phát triển thị trường; sức cạnh tranh của doanh nghiệp và SP, dịch vụ thấp: yếu tố tư bản cấu thành trong SP thấp, hàm lượng trí thúc và công nghệ trong sản xuất không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị SP nói chung thấp Trình độ tay nghề của người lao động hạn chế, tuy có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao do tiếp nhận được nguồn lao động có trình độ ở các trường đào tạo, nhưng lực lượng lao động làm việc cho các DNNVV chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, sức khoẻ hạn chế, năng suất lao động không cao Sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn với DNNVV còn thấp dẫn đến chất lượng, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh thấp của cả DNNVV và doanh nghiệp lớn

Trình độ nguồn nhân lực hạn chế, dẫn đến sự hiểu rõ về pháp luật kinh doanh của chủ DN còn yếu Khởi sự DN mang tính tự phát khi chưa hội đủ các yếu tố về vốn, nhân lực, thị trường, kinh nghiệm, chưa am hiểu rõ ràng về các quy định của pháp luật lên quan nên thường phải gặp khó khăn trong hoạt động SXKD Do hạn chế về trình độ quản lý nên trong hoạt động của DN, không có một kế hoạch SXKD bài bản, khoa học, chưa có kế hoạch cụ thể về nguồn vốn, nguồn nhân lực, chưa nhận định được rõ ràng những rủi ro có thể xẩy ra để khắc phục, đối phó DNVVV chức có xây dựng được chiến lược kinh doanh dài hạn dẫn tới trong hoạt động SXKD mang tính chất chắp vá, không theo hệ thống, kế hoạch, vì vậy DNNVV luôn tiềm ẩn rủi ro

2.1.3.2 Nguồn vốn của DN

Vốn thành lập của DNNVV là từ vốn tự tích luỹ của cá nhân, hộ gia đình và anh em họ hàng thân thiết, hoặc là những người bạn bè thân hợp tác với nhau để thành lập DN Do đó, lúc đầu thành lập nguồn vốn của DNNVV sẽ không lớn, không đáp ứng được hoạt động của DN, vậy DNNVV muốn tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt thì bắt buộc phải có nguồn vốn bổ sung cho hoạt động của DN Các nguồn vốn bổ sung cho các hoạt động của DNNVV từ nguồn lợi nhuận KD được giữ lại, vay vốn từ người thân, bạn bè, chiếm

Trang 39

dụng vốn, vay vốn từ các tổ chức tín dụng và đây là nguồn vốn chủ yếu nhưng DNNVV khó tiếp cận được nguồn vốn vay này Có nhiều lý do để lý giải cho việc DNNVV khó tiếp cận được nguồn vốn vay từ các TCTD, nhưng tổng hợp lại thì do DNNVV không có các phương án SXKD thuyết phục, không có tài sản thế chấp, báo cáo tài chính không được kểm định bởi kiểm toán độc lập, và lãi suất vay quá cao Do đó, DNNVV trong thời gian qua chủ yếu dựa vào vốn vay mượn từ người thân, bạn bè và nguồn chiếm dụng vốn của các DN khác, tiếp cận các nguồn vốn từ các quỹ

2.1.3.3 DNNVV đóng góp vào ngân sách, PTKT của Quận Bình Thạnh

Trong quá trình phát triển của mình, DNNVV đã đóng góp vào ngân sách của Quận Bình thạnh, Ngân sách của Tp Hồ Chí Minh với một số lượng không nhỏ Từ năm 2000 đến nay thu ngân sách của Quận Bình Thạnh luôn tăng trưởng với một tỷ lệ cao trong thời gian qua, mà đóng góp vào nguồn thu ngân sách đó chủ yếu là DDNVV Quận Bình Thạnh đã nằm vào câu lạc bộ có nguồn thu ngân sách đạt từ 1.000 tỉ đồng trở lên, thực sự đây là một nguồn thu ngân sách rất lớn, điều đó chứng tỏ hoạt động SXKD trên đại bàn Quận không ngừng phát triển

Bảng 2.2 DNNVV đóng góp vào ngân sách của Quận Bình Thạnh

Năm Tổng thu NS

Toàn Quận ĐVT: triệu đồng

DNNVV Nộp NS ĐVT: triệu đồng

Tỷ lệ % Nộp NS của DNNVV

Tỷ lệ tăng hàng năm của DNNVV

Trang 40

2009 1.041.575 619.336 59,46% 107.56%

“ Nguồn: Báo cáo công tác thu Thuế các năm của CCT Bình Thạnh”

DNNVV đã tham gia vào hoạt động tăng trưởng tiêu dùng của Quận Bình Thạnh, tổng mức bán lẽ của quận thông qua các siêu thị, chợ và các cửa hàng tạp hoá đã tăng đáng kể Giúp cho các DN cung ứng, tiêu thụ hàng hoá, SP , dịch vụ ra thị trường, đến tận tay người tiêu dùng, kích thích hoạt động SXKD Với hệ thống phân phối tới những vùng nhỏ tại trên từng địa bàn nên sự nhạy bén của người tiêu dùng sẽ được tiếp nhận nhanh chóng, nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

DNNVV phát triển tạo thu hút một lực lượng lớn lao động trên địa bàn, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó giảm được các tệ nạn xã hội, mang lại lợi ích xã hội trong cộng đồng dân cư Là những DN có quy mô sản xuất nhỏ, chi phí đầu tư thấp nên dễ dàng tạo được việc làm cho người lao động DNNVV dễ giàng thu hút lao động với mức lương không cao nên giảm được chi phí hoạt động, nhưng nếu những lao động này không làm việc ở những DNNVV thì lại trở thành thất nghiệp, vì trình

độ tay nghề, kỹ năng không đáp ứng được ở những DN lớn ứng dụng công nghệ, đòi hỏi nhân lực phải đáp ứng được trình độ sản xuất của DN Do vậy, DNNVV đã đóng góp vào sự phát triển của Quận Bình Thạnh nói riêng và Tp Hồ Chí Minh nói chung với một kết quả không nhỏ, góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và

ổn định an ninh chính trị tại địa phương

2.1.4 Khái quát về tình hình và kết quả hoạt động của DNNVV địa bàn Quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh

Trong những năm trở lại đây tình hình thành lập mới DNNVV, kết quả hoạt động SXKD của DNNVV là rất đáng khả quan, năm sau luôn phát triển hơn năm trước thể hiện qua các số liệu ở bảng 2.1 và bảng 2.2 cho chúng ta thấy sự phát triển của DNNVV trên địa bà Quận Bình Thạnh Trải qua những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế thế giới và của Việt nam, với mức lạm phát trong các năm từ 2007 đến

2011 luôn ở mức 2 con số, lãi suất ngân hàng luôn ở mức cao, nhưng các DNNVV

Ngày đăng: 03/03/2017, 11:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Phân loại các DDNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP              Quy mô - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 1.3 Phân loại các DDNVV theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP Quy mô (Trang 7)
Bảng 2.2 DNNVV đóng góp vào ngân sách của Quận Bình Thạnh - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 2.2 DNNVV đóng góp vào ngân sách của Quận Bình Thạnh (Trang 39)
Sơ đồ 2.2: Mô hình tác giả nghiên cứu đề nghị - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Sơ đồ 2.2 Mô hình tác giả nghiên cứu đề nghị (Trang 45)
Bảng 2.4: Thang đo các khái niệm của mô hình nghiên cứu - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 2.4 Thang đo các khái niệm của mô hình nghiên cứu (Trang 47)
Bảng 2.5: Bảng giá trị các biến quan sát trong mô hình - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 2.5 Bảng giá trị các biến quan sát trong mô hình (Trang 51)
Bảng 3.1: Bảng kiểm định các nhân tố Cronbach's Alpha lần 1 - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.1 Bảng kiểm định các nhân tố Cronbach's Alpha lần 1 (Trang 53)
Bảng 3.2: Kiểm định KMO và Bartlett - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.2 Kiểm định KMO và Bartlett (Trang 55)
Bảng 3.4. Bảng Ma trận nhân tố xoay  (Rotated Component Matrix a ) - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.4. Bảng Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrix a ) (Trang 56)
Sơ đồ 3.1: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Sơ đồ 3.1 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh (Trang 58)
Bảng 3.6: Tóm tắt mô hình - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.6 Tóm tắt mô hình (Trang 60)
Bảng 3.8: Kiểm định Spearman (Correlations) - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.8 Kiểm định Spearman (Correlations) (Trang 61)
Bảng 3.11: Bảng Tóm tắt mô hình hồi quy - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.11 Bảng Tóm tắt mô hình hồi quy (Trang 65)
Bảng 3.14: Vị trí quan trọng của các nhân tố - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.14 Vị trí quan trọng của các nhân tố (Trang 67)
Bảng 3. 15: Vốn mở rộng sản xuất kinh doanh của DNNVV - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3. 15: Vốn mở rộng sản xuất kinh doanh của DNNVV (Trang 68)
Bảng 3.17: Bảng Các biến quyết định cấp vốn vay của các tổ chức tín dụng - Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn quận bình thạnh   tp hồ chí minh
Bảng 3.17 Bảng Các biến quyết định cấp vốn vay của các tổ chức tín dụng (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w