Hiện nay nước ta có khoảng 100 giống xoài khác nhau như: Xoài Cát Hòa Lộc Mỹ Tho, Tiền Giang; xoài Thanh ca Bình Định; xoài Canh nông ở Cam Ranh Khánh Hòa; xoài Tròn Yên Châu Sơn La; xoà
Trang 1LỜI CẢM TẠ
Tôi Hà Thị Ngọc Châu, là tác giả của đề tài nghiên cứu này Để hoàn thành đề tài này, tác giả xin chân thành cảm ơn các giảng viên của Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam cơ sở 2, các giảng viên Khoa Kinh Tế, đặc biệt Cô TS Trần Thị Thu Hà đã hỗ trợ, hướng dẫn và truyền đạt các kiến thức cho người viết trong suốt thời gian học và nghiên cứu xây dựng luận văn Người viết cũng chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, TS Lê Đình Hải, TS Lê Quang Thông đã góp ý cho các ý kiến trong luận văn Nhân đây cũng xin cảm ơn những cô chú, những anh chị, em công tác trong các cơ quan: Phòng Nông Nghiệp huyện Vĩnh Cửu, Cục Thống Kê huyện Vĩnh Cửu, UBND huyện Vĩnh Cửu, UBND xã Phú Lý, xã Mã Đà và xã Hiếu Liêm đã hỗ trợ cho người viết Đặc biệt là các nông hộ sản xuất xoài ở 3 xã trong vùng nghiên cứu đã tích cực cùng trao đổi phỏng vấn để đề tài mang tính thực tiễn Cuối cùng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, chia sẻ để tác giả có thể hoàn tất luận văn đúng thời hạn
Ngày2 tháng 10 năm 2016
Học viên thực hiện
Hà Thị Ngọc Châu
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là hoàn toàn trung thực Đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày… tháng… năm 2016
Học viên thực hiện
Hà Thị Ngọc Châu
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP QUY MÔ NÔNG HỘ 5
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất nông nghiệp quy mô nông hộ 5
1.1.1 Khái niệm và vai trò của kinh tế nông hộ 5
1.1.1.1 Khái niệm kinh tế nông hộ 5
1.1.1.2 Vai trò của kinh tế nông hộ 6
1.1.2 Hiệu quả sản xuất nông nghiệp 10
1.1.3 Khái niệm về GAP (Good Argicultural Practices) 11
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SX nông nghiệp 12
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất cây ăn quả 14
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển cây ăn quả ở Việt Nam và trên thế giới 14
1.2.1.1 Tình hình trồng xoài ở Việt Nam và thế giới 14
1.2.1.2 Tình hình tiêu thụ xoài trong nước 16
1.2.1.3 Tình hình xuất khẩu xoài trên thế giới 18
1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 19
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 21
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
2.1.1.1 Vị trí địa lý, lãnh thổ 21
2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 26
2.1.1.3 Tình hình dân số của huyện 28
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 29
Trang 42.1.2.1 Kết quả thực hiện trên lĩnh vực kinh tế: 29
2.1.2.2 Kết quả thực hiện trên lĩnh vực Văn hóa – Xã hội: 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 38
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 38
2.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 39
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 40
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích sử dụng trong đề tài 40
2.2.5 Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xoài 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Tình hình trồng xoài trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai 42
3.1.1 Diện tích canh tác 42
3.1.2 Cơ cấu giống 44
3.1.3 Năng suất, sản lượng 45
3.1.4 Tình hình tiêu thụ sản phẩm xoài trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu 46
3.1.5 Các thành viên tham gia vào kênh: 50
3.1.5.1 Nông hộ trồng xoài: 50
3.1.5.2 Thương lái thu mua xoài: 51
3.1.5.3 Chủ vựa, tiểu thương thu mua xoài: 54
3.2 Hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ tại các xã khảo sát 55
3.2.1 Tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào 55
3.2.2.1 Đất sản xuất 58
3.2.2.2 Lực lượng lao động 59
3.2.2.3 Nguồn vốn sản xuất 61
3.2.2.4 Liên kết sản xuất 63
3.2.2 Kết quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 65
3.2.2.1 Kết quả sản xuất 65
3.2.2.2 Kết quả tiêu thụ sản phẩm 68
3.2.3 Hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ 71
Trang 53.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ 76
3.3.1 Yếu tố xuất phát từ bản thân hộ sản xuất 76
3.3.2 Yếu tố bên ngoài 80
3.4 Đánh giá chung về tình hình trồng xoài của các nông hộ 81
3.4.1 Điểm mạnh 81
3.4.2 Điểm yếu 81
3.4.3 Cơ hội 83
3.4.4 Thách thức 84
3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu 88
3.5.1 Ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào phát triển xoài 88
3.5.1.1 Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất 88
3.5.1.2 Giống 88
3.5.1.3 Điều chỉnh cho ra hoa trái vụ 88
3.5.1.4 Xử lý sau thu hoạch, bảo quản và chế biến 89
3.5.2 Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm đăng ký thương hiệu 89
3.5.3 Giải pháp về tổ chức sản xuất 90
3.5.4 Tăng cường công tác khuyến nông đối với hộ trồng xoài 91
3.5.5 Giải pháp về đầu tư phát triển vùng xoài tập trung 92
3.5.5.1.Đầu tư cải tạo vườn xoài già cỗi 92
3.5.5.2 Nhu cầu vốn đầu tư và tín dụng 92
3.5.6 Giải pháp hỗ trợ người thu mua 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ: Ban chỉ đạo
CLB: Câu lạc bộ
CN QSDĐ: Chứng nhận quyền sử dụng đất
CNXD: Công nghiệp xây dựng
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
GAP : Good Argicultural Praticces
GDP: Thu nhập bình quân đầu người
GTSX: Giá trị sản xuất
GTVT: Giao thông vận tải
HK: Hành khách
HQKT: Hiệu quả kinh tế
HQXH: Hiệu quả xã hội
Trang 7TĐC: Tái định cư
TMDV: Thương mại dịch vụ
XD&PT KTTT: Xây dựng và phát triển kinh tế tập thể XDCB: Xây dựng cơ bản
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu phân bố nguồn lao động
Bảng 2.2: Bảng thống kê GTSX năm 2013
Bảng 2.3: Dung lượng mẫu và cơ cấu mẫu phỏng vấn nông hộ tại 03 xã
Bảng 3.1: Diện tích trồng xoài phân theo xã từ năm 2013-2015
Bảng 3.2: So sánh diện tích trồng và thu hoạch tăng giảm qua các năm
Bảng 3.3: Cơ cấu giống trên địa bàn từng xã
Bảng 3.4: So sánh năng suất, sản lượng qua các năm
Bảng 3.5: Lý do trồng xoài của người dân
Bảng 3.6: Nguồn giống được sử dụng
Bảng 3.7: Kinh nghiệm trồng xoài
Bảng 3.8: Lực lượng lao động trồng xoài
Bảng 3.9: Nhu cầu vốn của hộ sản xuất và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của NHNN&PTNT huyện Vĩnh Cửu
Bảng 3.10: Các tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả kinh tế của nông hộ năm
Trang 9Bảng 3.14: Phân tích Swot đối với quá trình sản xuất và tiêu thụ xoài ở huyện Vĩnh Cửu – Đồng Nai
Bảng 3.15: Suất đầu tư và mức vay bình quân 1 ha xoài
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Cửu Biểu đồ 3.1: Kinh nghiệm trồng xoài của nông hộ Biểu đồ 3.2: Số hộ phân theo quy mô diện tích trồng xoài Biểu đồ 3.3: Trình độ văn hóa của những người được phỏng vấn Biểu đồ 3.4: So sánh giữa nhu cầu và thực tế của nông hộ
Sơ đồ 3.5: Các kênh phân phối xoài của nông hộ
Sơ đồ 3.6 Tỷ lệ thu mua của các đối tượng thu mua Biểu đồ 3.7 So sánh chi phí, hiệu quả trồng xoài giữa hai vụ Biểu đồ 3.8 Mô hình thu mua 3 cấp
13%
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Cây xoài có tên khoa học Mangifera indica L, thuộc họ đào lộn hột (Anacardiaceae) Xoài được mệnh danh là "Vua của loài quả" Cây to cao 15-20m Lá nguyên, mọc so le, đơn, thuôn dài, nhẵn, bóng, dài 15-30cm, rộng 5-7cm Hoa nhỏ, màu vàng nhạt, thành chùm ở đầu cành Quả hạch khá to, hạch dẹt, hình thận, cứng trên có những thớ sợi khi nẩy mầm thì hơi mở ra Hạt có lớp vỏ mỏng, màu nâu, không phôi nhũ, lá mầm không đều
Hiện nay nước ta có khoảng 100 giống xoài khác nhau như: Xoài Cát Hòa Lộc (Mỹ Tho, Tiền Giang); xoài Thanh ca (Bình Định); xoài Canh nông
ở Cam Ranh (Khánh Hòa); xoài Tròn Yên Châu (Sơn La); xoài Tượng (Khe Sanh, Quảng trị); các giống như GL 1, GL 2, GL 6 do Viện Nghiên cứu rau quả tuyển chọn thích hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận và cho khu vực hóa.[12]
Một vài năm gần đây, cây xoài đã trở thành cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, là một trong hai loại cây trồng chủ lực của huyện Vĩnh Cửu Cây xoài thời gian gần đây trồng đạt năng suất cao, mang lại thu nhập cao cho người dân Do đó, cây xoài thực sự trở thành cây có hiệu quả kinh tế và có lợi thế cạnh tranh cao so với một số cây trồng khác, đồng thời còn là cây chủ lực xóa đói giảm nghèo, cây làm giàu của huyện Vĩnh Cửu Đặc biệt, trong tiến bộ kỹ thuật hiện nay, xoài cho trái quanh năm rất tiện lợi cho xuất khẩu (giá cả lại thường cao hơn từ 5.000 – 7.000 đồng/kg so với chính vụ)
Bên cạnh những kết quả đạt được, hướng phát triển cây xoài huyện Vĩnh Cửu hiện nay vẫn còn có những bất cập và gặp không ít khó khăn từ khâu sản xuất đến thu mua, bảo quản sản phẩm, ảnh hưởng không tốt đến phát triển, nhất là phát triển nền sản xuất hàng hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế
Trang 12khu vực và thế giới, cũng như những chính sách hỗ trợ người trồng xoài từ Nhà nước như: Diện tích trồng xoài gần đây tăng nhanh nhưng gần như mang tính tự phát chưa được quy hoạch thành vùng sản xuất tập trung, hoạt động thu mua xoài do mạng lưới tư thương ở địa phương đảm nhận theo phương thức mua đứt, bán đoạn theo giá trị thị trường tại từng thời điểm Vì vậy tôi
chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành
Kinh tế nông nghiệp nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương nói chung và của hộ trồng xoài nói riêng ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá kết quả và hiệu quả trồng xoài, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng xoài quy mô nông
hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả trồng xoài của các hộ nông dân trên
địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Phạm vi không gian: Địa bàn khảo sát tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng
Nai tại 03 xã nằm trong vùng dự án đầu tư phát triển xoài là xã Phú Lý, xã Mã
Đà và xã Hiếu Liêm
Thời gian nghiên cứu: Đề tài sử dụng nguồn thông tin, số liệu thứ cấp
trong thời gian 03 năm 2013-2014-2015 Nguồn thông tin, số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2016
4 Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất nông nghiệp quy mô nông hộ
Tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào cho sản xuất xoài của các hộ trồng xoài trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai;
Tình hình phân phối sản phẩm, giá cả tiêu thụ, tính chất thị trường và các tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho sản phẩm xoài trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Hiệu quả trồng xoài của nông hộ trồng xoài trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong quá trình nâng cao hiệu quả trồng xoài quy mô nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng xoài của các nông hộ trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Trang 145 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất nông nghiệp quy mô nông hộ
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP QUY MÔ NÔNG HỘ
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất nông nghiệp quy mô nông hộ
1.1.1 Khái niệm và vai trò của kinh tế nông hộ
1.1.1.1 Khái niệm kinh tế nông hộ
Nông hộ
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp Nông hộ bao gồm chủ yếu cha mẹ và con cái, có hộ còn có cả ông bà và cháu chắt Hộ nông dân có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản Trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng trong một đơn vị kinh
tế Do đó nông hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng mà các đơn
vị khác không thể có được, bản thân mỗi nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng, đơn vị tiêu dùng xét cả khía cạnh tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt [6]
Trang 16Đặc trưng bao trùm của kinh tế nông hộ là hoạt động sản xuất của nông
hộ sử dụng lao động gia đình là chủ yếu Các thành viên trong hộ gắn bó với nhau chặt chẽ bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống Về kinh tế các thành viên trong hộ gắn bó với nhau trên quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối mà cốt lõi là quan hệ lợi ích kinh tế, vì vậy các thành viên làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì mục đích và lợi ích chung là làm cho hộ mình càng phát triển, ngày càng giàu có
Mặc khác kinh tế nông hộ nhìn chung là có quy mô sản xuất nhỏ, phân tán và chưa thật sự sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh tế nông hộ đã tạo ra sản lượng hàng hóa đa dạng có chất lượng giá trị ngày càng cao, cung cấp sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu, góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động Tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã tạo ra
sự thay đổi lớn ở nông thôn, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục đích phấn đấu của toàn Đảng và Nhà nước làm cho nông thôn ngày càng giàu đẹp, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Nhà nước
1.1.1.2 Vai trò của kinh tế nông hộ
Kinh tế hộ sản xuất với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông
thôn
Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với cả nước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 80% dân sống ở nông thôn Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút
Trang 17lao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế
Lao động là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và là động lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực vẫn đang ở mức thấp
Hiện nay ở nước ta còn khoảng 10 triệu lao động chưa được sử dụng, chiếm khoảng 25% lao động và chỉ có 40% quỹ thời gian của người lao động
ở nông thôn là được sử dụng Còn các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn
Kinh tế hộ sản xuất có ưu thế là mức đầu tư cho một lao động thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp, kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy:
- Vốn đầu tư cho một hộ gia đình: 1,3 triệu đồng/lao động/việc làm
- Vốn đầu tư cho một xí nghiệp tư nhân: 3 triệu đồng/lao động /việc làm
- Vốn đầu tư cho kinh tế quốc doanh địa phương: 12 triệu/lao động/việc làm (Đây chỉ là vốn tài sản cố định, chưa kể vốn lưu động) [20]
Như vậy, chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây là một điều kiện thuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ
Mặt khác, là kinh tế độc lập trong sản xuất kinh doanh hộ sản xuất đồng thời vừa là lao động chính, vừa là lao động phụ thực hiện những công việc không nặng nhọc nhưng tất yếu phải làm
Xen canh gối vụ là rất quan trọng đối với hộ sản xuất trong sản xuất nông nghiệp để có khả năng cao, khai thác được mọi tiềm năng của đất đai Ở các nước tiên tiến, thâm canh là quá trình cải tiến lao động sống, chuyển dịch lao động vào các ngành nghề hiện đại hoá nông nghiệp Còn ở Việt Nam do
Trang 18trang bị kỹ thuật cho lao động cho nên thâm canh là quá trình thu hút thêm lao động sống, tạo thêm công ăn việc làm từ những khâu hầu như còn làm thủ công như: Cày bừa, phòng trừ sâu bệnh, làm cỏ
Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâu dài đất đai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm và khoa học, không làm giảm độ mầu mỡ của đất đai, hay cạn kiệt nguồn tài nguyên vì họ hiểu đó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sở hữu Mặt khác, đối với hộ sản xuất, việc khai hoang phục hoá cũng được khuyến khích tăng cường thông qua việc tính toán chi li từng loại cây trồng vật nuôi để từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân
Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và các công cụ lao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội
Kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy
sản xuất hàng hoá phát triển
Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn
vị kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ có thể tính toán sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thân mình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà không phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định Với quy mô
Trang 19nhỏ hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định
Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theo đuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triển cao hơn
Như vậy, kinh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn
xã hội Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta phát triển cao hơn
Đóng góp của hộ sản xuất đối với xã hội
Như trên đã nói, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong
sự phát triển của nền kinh tế
Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 1988 đến nay trung bình hàng năm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lương thực Gần 70% rau quả, thịt trứng, cá, 20% đến 30% quỹ lương thực và một phần hàng tiêu dùng hàng xuất khẩu là do lực lượng kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp tạo ra Từ chỗ nước ta chưa tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, công lao đó cũng thuộc về người nông dân sản xuất nông nghiệp.[19]
Trang 20Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng
có bước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như: Chè, cà phê, cao su, dâu tằm Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuất hàng hoá (thịt, sữa tươi ), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giá trị nông nghiệp
Tóm lại, với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày càng thể hiện rõ nét Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật tự,
ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "Nhàn cư
vi bất thiện" gây ra
1.1.2 Hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Sản xuất: Là một quá trình thông qua đó các nguồn lực hoặc là đầu vào
của sản xuất được sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể dùng được
Hiệu quả: Theo Farrell, hiệu quả được đinh nghĩa là khả năng sản xuất
ra một mức đầu ra cho trước từ một khoản chi phí thấp nhất Do vậy, hiệu quả
là một nhà sản xuất riêng lẻ có thể được đo lường bằng tỷ số giữa chi phí tối thiểu và chi phí thực tế để sản xuất ra mức đầu ra cho trước đó Định nghĩa này bao gồm một gói chứa hai chỉ tiêu hiệu quả khác là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu quả giá) Hiệu quả kỹ thuật đề cập đến khả năng tạo ra một lượng đầu ra cho trước từ một lượng đầu vào nhất
Trang 21định hay khả năng tạo ra một lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định Hiệu quả phân phối là khả năng lựa chọn được một lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá của đầu vào đó.[4]
Hiệu quả kinh tế: Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị, nghĩa là
khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không có hiệu quả.[4]
Hiệu quả kỹ thuật: Là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ
việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật [4]
Hiệu quả phân phối: Thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người
tiêu dùng nghĩa là các nguồn lực được phân phối sao cho lợi ích của người sử dụng nó đạt được cao nhất.[4]
Hai hiệu quả đầu tiên liên quan đến quá trình sản xuất còn hiệu quả thứ
ba liên quan đến vấn đề thị trường Trong sản xuất nông nghiệp điều mà các chủ hộ quan tâm nhất là làm sao sản xuất mang lại thu nhập cao nhất cho họ
1.1.3 Khái niệm về GAP (Good Argicultural Practices)
GAP được định nghĩa là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như: Chất độc sinh học, hóa chất…[17]
Khái niệm GAP đã phát triển vào những năm gần đây trong bối cảnh những thay đổi và toàn cầu hóa nhanh chóng của ngành công nghiệp thực phẩm và là kết quả của nhiều mối quan tâm, cam kết của những người quản lý
Trang 22sản xuất thực phẩm, an ninh lương thực, chất lượng và an toàn thực phẩm, sự bền vững môi trường của ngành nông nghiệp.[17]
Theo nghĩa rộng, GAP áp dụng những kiến thức sẵn có hướng đến sự bền vững về môi trường, kinh tế - xã hội đối với sản xuất nông nghiệp và các quá trình sau sản xuất tạo ra các sản phẩm nông nghiệp phi thực phẩm và thực phẩm bổ dưỡng an toàn Nông dân tại các quốc gia phát triển và đang phát triển đã áp dụng GAP qua các phương pháp nông nghiệp bền vững như: Quản
lý động vật gây hại, quản lý dinh dưỡng và bảo tồn nông nghiệp Những phương pháp này được áp dụng tùy theo các hệ thống canh tác và qui mô của từng đơn vị sản xuất bao gồm sự hỗ trợ, đóng góp của các chương trình và chính sách của nhà nước về an ninh lương thực, cơ sở vật chất…[17]
Sự phát triển của cách tiếp cận chuỗi thực phẩm đến chất lượng và an toàn thực phẩm có nhiều quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp và thực hành sau sản xuất, và đề ra nhiều cơ hội sử dụng các nguồn lực bền vững Ngày nay GAP được công nhận chính thức trong khuôn khổ qui tắc quốc tế nhằm giảm thiểu các mối nguy liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, đánh giá sức khỏe nghề nghiệp và cộng đồng, cân nhắc đến môi trường và an ninh
Sử dụng GAP cũng được khuyến khích trong khu vực kinh tế tư nhân qua các qui tắc thực hành và các chỉ dẫn không chính thức do các nhà chế biến và cung cấp lẻ đưa ra do nhu cầu của người tiêu thụ đối với thực phẩm không độc và sản xuất ổn định Xu hướng này thúc đẩy người nông dân công nhận GAP bởi họ có nhiều cơ hội mở thị trường mới hơn, có nhiều khả năng đáp ứng nhu cầu hơn
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SX nông nghiệp
Để đạt được mục tiêu kinh tế và hiệu quả kinh tế (HQKT) cho các ngành sản xuất – kinh doanh thì cần phải quan tâm đến nhiều yếu tố tác động
Trang 23đến quá trình sản xuất kinh doanh, các yếu tố như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội, trình độ kỹ thuật, lực lượng lao động xã hội với sản xuất Là những yếu tố tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh Với sản xuất nông nghiệp cũng vậy các yếu tố tác động được thể hiện:
Yếu tố con người: Đây là nhân tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất của các ngành sản xuất kinh doanh Trong nông nghiệp con người là nhân tố quyết định đến sản xuất, bố trí cây trồng vật nuôi, chuyển giao KHKT vào sản xuất để mang lại HQKT cũng như HQXH cao nhất
Điều kiện tự nhiên: Với sản xuất nông nghiệp đặc điểm nổi bậc nhất là,
điều kiện tự nhiên đó chính là đất đai, thời tiết, khí hậu và thủy văn Do đó để đem lại HQKT phải hiểu rõ điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất để tạo tiền
đề cho việc bố trí các giống mới vào sản xuất
Yếu tố thị trường: Thị trường luôn là khâu cuối cho mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh Thị trường tiêu thụ nông sản cũng vậy, do đặc điểm riêng của sản xuất nông nghiệp nên yếu tố này ngày càng quan trọng hơn, nó ảnh hưởng đến quyết định có sản xuất nữa hay không của người sản xuất hay nó tác động trực tiếp đến HQKT của ngành
Trong những năm gần đây thị trường tiêu thụ nông sản của chúng ta gặp nhiều khó khăn, sản phẩm tạo ra nhiều nhưng thị trường tiêu thụ hẹp dẫn đến giá sản phẩm bị hạ xuống rất thấp Nó không những ảnh hưởng tới đời sống của nguời nông dân mà còn làm cho thị trường nông sản của ta kém sôi động Khi mà giá sản phẩm ở một mức thấp thì không đạt được HQKT như mong muốn Với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay thì sản phẩm nào chiếm được ưu thế sẽ đứng vững, do đó có hai sự lựa chọn, hoặc là
Trang 24giá thành phải rất rẻ, hoặc là chất lượng phải tốt Như vậy nông sản của Việt Nam cần phải tìm ra hướng đi thích hợp để có thể tồn tại và giữ ưu thế
Yếu tố khoa học công nghệ: Các tiến bộ kỹ thuật về giống, máy móc
công cụ, phân bón, bảo vệ thực vật, Trong sản xuất nông nghiệp có tác động trực tiếp đến năng suất cây trồng Hiện nay việc áp dụng các công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng của người nông dân bởi kỹ thuật thâm canh càng cao thì sẽ tỷ lệ thuận với việc năng suất và chất lượng thu được
Chính sách Nhà nước: Từ những năm 2013 đến nay nhờ có các chính
sách hợp lý của Nhà nước ta mà nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng của nước ta mới có nhiều khởi sắc như vậy Các chính sách này đã khuyến khích người dân đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, nó đã góp phần làm tăng HQKT sản xuất nông nghiệp Với các chính sách về thuế, khuyến nông, chính sách tín dụng, chính sách về nghiên cứu, hỗ trợ Làm cho nền nông nghiệp nước ta dần hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, tạo
ra nền sản xuất có khả năng xuất khẩu cao mang lại hướng đi mới cho nền nông nghiệp nước ta
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất cây ăn quả
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển cây ăn quả ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình trồng xoài ở Việt Nam và thế giới
Việt Nam thuộc nhóm 20 nước sản xuất xoài có tiềm năng của thế giới, sản lượng xoài của Việt Nam năm 2013 đạt 306 ngàn tấn trên diện tích khoảng 53.600 ha Xoài hiện nay được trồng ở hầu hết các tỉnh phía Nam nhưng tập trung nhiều vào các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Hậu Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Khánh Hòa Ở Việt Nam có nhiều giống xoài như: Xoài Cát Hòa Lộc, Cát
Trang 25Chu, Thanh Ca, Châu Nghệ, Thơm, Xiêm, Ghép (còn gọi là xoài Bưởi), Cát Trắng, Cát Đen, Tây, trong đó xoài Cát Hòa Lộc là giống ngon nhất, hiện nay
có diện tích canh tác khoảng 17.692 ha ở các tỉnh phía Nam với sản lượng ước tính 58.472 tấn mỗi năm.[18]
Hiện nay trên thế giới có 87 quốc gia trồng xoài, với tổng diện tích hơn 3,5 triệu ha, sản lượng năm 2015 đạt gần 27,5 triệu tấn (chiếm 37% so với tổng sản lượng trái cây nhiệt đới), trong đó thì Việt Nam với diện tích 87.500
ha (xếp thứ 10 thế giới) Theo FAO sản lượng xoài thế giới năm 2010 là 22 triệu tấn đến 2015 ước đạt gần 27,5 triệu tấn, tăng 5,5 triệu tấn trong vòng 5 năm, bình quân một năm tăng 0,367 triệu tấn Xuất khẩu xoài trái tươi tăng liên tục qua các năm, Pakixtan đứng số 1 thế giới, niên vụ 2013-2014 xuất khẩu 130.000 tấn, kim ngạch 1,5 triệu USD và niên vụ 2013-2015 ước đạt 50 triệu USD; kế đến là Ấn Độ xuất khẩu 82.000 tấn xoài chất lượng cao, với giá
1 hộp xoài 3,5 kg lên đến 20 USD/hộp (bình quân 1,0 kg xoài xuất khẩu của
Ấn Độ 5,7 USD/kg) Thị trường nhập khẩu xoài là Mỹ, Nhật, Singapore, Anh, ARập Xêút [18]
Trong đó thị trường Mỹ chiếm 50% sản lượng xoài nhập khẩu hàng năm trên thế giới (Hoàng Quốc Tuấn, 2011) Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2013), cây xoài đã được trồng tất cả các tỉnh, thành phố của cả nước Trong đó 59/63 tỉnh có diện tích xoài trên 100 ha Vùng trồng xoài lớn nhất là ĐBSCL là 3.000 ha chiếm 9,25% so với tổng diện tích xoài cả nước.[18]
Song song với tiềm năng xuất khẩu cao, diện tích lớn hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái, trong đó có cây xoài ngày một tăng thì các loài sâu bệnh hại cũng bắt đầu gây hại với mức độ trầm trọng hơn Riêng nhóm côn trùng gây hại, theo đánh giá của các nhà khoa học và tình hình sản xuất thực tế của bà con nhà vườn cho thấy trong vài năm trở lại đây tình hình sâu
Trang 26hại trên các vườn trồng xoài đang có chiều hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất cũng như phẩm chất của trái xoài
1.2.1.2 Tình hình tiêu thụ xoài trong nước
Xoài là loại trái cây được nhiều người tiêu dùng cả nước ưa thích, loại trái cây này được bán khắp cả nước Sản lượng xoài càng tăng trong thời gian qua nhưng thị trường tiêu thụ chủ yếu là ở trong nước, rất ít được xuất khẩu ra các thị trường lớn Dù là tiêu thụ trong nước nhưng xoài vẫn phải cạnh tranh với các giống xoài nhập khẩu từ nước khác điển hình là xoài Thái Lan và Trung Quốc Xoài nhập từ Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia có giá bằng đến thấp hơn nội địa làm ảnh hưởng không nhỏ đến trong nước vùng Nam
Bộ Gần đây, xoài Thái Lan, và xoài Campuchia chất lượng ngon, giá cả hợp
lý nên được người tiêu dùng ưa chuộng Vì nhu cầu hưởng thụ đa dạng của người dân nên không thể ngăn xoài nhập khẩu, và mặc dù chất lượng xoài trong nước không kém và có thương hiệu nổi tiếng: Xoài cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu, Xoài Châu Nghệ nhưng đầu ra vẫn không ổn định, chưa có những sự đột phá tiêu thụ trong nước.[14]
Trong nước, xoài được tiêu thụ mạnh ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với số lượng khoảng 30.000 tấn/năm (2015); riêng xoài ở tỉnh Đồng Nai trong những năm qua, hầu hết xoài thu hoạch xong đều được bán cho các vựa xoài, số lượng xoài này được các thương lái đem đi tiêu thụ ở khắp cả nước, trong đó một phần nhỏ thì được tiêu thụ ở chợ trong tỉnh mà nhiều nhất là ở chợ đầu mối trái cây, phần lớn là được đưa đi tiêu thụ ở Thành Phố Hồ Chí Minh các tỉnh của ĐBSCL và các tỉnh miền Đông Nam bộ.[14]
Trang 27 Một số thị trường trong nước đang và có khả năng trong thời gian tới
tiêu thụ mặt hàng trái cây nói chung và trái xoài nói riêng của tỉnh Đồng Nai
- Thị trường các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Có nhiều đặc điểm
tương đồng trong phát triển kinh tế của vùng là đi lên từ thế mạnh ban đầu bằng nông nghiệp và thuỷ sản và là vựa nguyên liệu cung cấp cho chế biến hàng nông thuỷ sản Do vậy, sự liên kết với khu vực này trong thu mua nguồn nguyên liệu thuỷ sản, nông sản, trái cây để chế biến tiêu thụ trong nước và xuất khẩu có giá trị lớn là hết sức cần thiết
- Thị trường TP Hồ Chí Minh: Là thị trường tiêu thụ nhiều nhất hàng
nông sản, thực phẩm của tỉnh như trái cây, gia súc, gia cầm, thuỷ sản… Thành phố Hồ Chí Minh là đối tác quan trọng có nhiều tiềm năng để kêu gọi đầu tư, liên doanh, liên kết trong thu mua, chế biến hàng nông sản, thuỷ sản để phục
vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
- Thị trường các tỉnh miền Đông Nam Bộ: Đây là vùng kinh tế phát
triển nhanh và cao, là nơi tập trung nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng, đồng thời cũng là thị trường có nhu cầu cao về lương thực, thực phẩm Vì vậy đây là nơi có tiềm năng tiêu thụ lớn các mặt hàng trái cây
- Thị trường Bắc Bộ: Tuy cách xa Đồng Nai nhưng đây là thị trường
đầu mối tiêu thụ và trung chuyển xuất khẩu sang Trung Quốc Trong đó, thị trường Hà Nội vừa có nhu cầu tiêu dùng cao, vừa có khả năng phân phối bán buôn đối với hàng hoá của tỉnh Bên cạnh đó, các tỉnh có biên giới với Trung Quốc như Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh…, cũng có nhiều khả năng phân phối bán buôn và có nhu cầu tiêu dùng lớn
Trang 28- Thị trường miền Trung và Tây Nguyên: Là thị trường có khả năng tiêu
thụ các hàng nông sản của tỉnh, trong đó TP Đà Nẵng có nhu cầu tiêu dùng cao hơn, đồng thời có khả năng phân phối bán buôn đến các tỉnh trong vùng
1.2.1.3 Tình hình xuất khẩu xoài trên thế giới
Xoài Cát Hòa Lộc và xoài Cát Chu là giống xoài chủ lực của Việt Nam, trong thời gian qua chỉ được xuất khẩu qua đường tiểu ngạch qua thị trường Thái Lan và Trung Quốc, Campuchia, Lào [12] Mặc dù xoài Việt Nam được đánh giá khá ngon, nhưng vỏ xoài mỏng, trong quá trình vận chuyển dễ bị hư hại, dẫn đến giảm chất lượng trái xoài, vì vậy thực tế trái xoài tươi của Việt Nam chưa được xuất khẩu ra các thị trường lớn như các nước Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ do chưa đạt yêu cầu của các thị trường này Với sự nghiên cứu, đầu
tư cơ sở vật chất, nguồn vốn và nhân lực cho việc phát triển các vườn xoài theo hướng GAP, việc xuất khẩu xoài có bước phát triển mới, khi trong năm
2014 hợp tác xã xoài cát Hòa Lộc sẽ tuyển chọn 100 tấn xoài được trồng theo tiêu chuẩn VietGap xuất sang Nhật Bản Giá xoài cát Hòa Lộc được thu mua xuất khẩu trung bình là 25.000 đồng/kg Với mức giá này, nông dân trồng xoài có thể thu lãi hơn 46 triệu đồng/ha Sau khi xoài cát Hòa Lộc đạt chuẩn xuất vào thị trường Nhật Bản thì đối tác các nơi liên hệ liên tục Tuy nhiên chúng ta không dám ký hợp đồng tràn lan vì sản lượng xoài ngon quá ít, không đủ cung cấp cho khách hàng
Vì vậy việc sản xuất theo các tiêu chuẩn xuất khẩu là vấn đề các nhà vườn nên thực hiện để mở rộng thị trường tiêu thụ cho trái xoài tươi Đặc biệt, đầu năm 2013 một đoàn chuyên gia của New Zealand đã tới Việt Nam để kiểm tra các khâu chuẩn bị xuất khẩu xoài tươi vào thị trường này Dự kiến qua năm 2014, xoài của Việt Nam có thể được xuất khẩu vào New Zealand sau khi được xử lý bằng các phương pháp là chiếu xạ và hơi nước nóng
Trang 29Dù xuất khẩu trái xoài của Việt Nam đã có tiến triển tương đối tốt nhưng trái xoài Việt Nam phải không ngừng cải tiến từ khâu sản xuất, chất lượng trái, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên trái Thì trái xoài của chúng ta mới khả năng xâm nhập vào các thị trường khó tính trong thời gian tới và đủ khả năng cạnh tranh với các đối thủ xuất khẩu lớn trong khu vực Châu Á như
Ấn Độ, Pakixtan, Philippine, Thái Lan Ấn Độ là nước sản xuất xoài lớn nhất thế giới với sản lượng năm 2014 đạt khoảng 13,5 triệu tấn, trong đó xuất khẩu xoài đạt khoảng 210 ngàn tấn, chủ yếu sang thị trường Trung Đông, Mỹ và Anh Nhờ chất lượng xoài được cải thiện và tăng cường quảng bá thương hiệu, giá xoài Ấn Độ tăng ở các thị trường sinh lợi ở Mỹ Trong vụ tháng 10/2014, giá xoài Ấn Độ đạt 20 USD/hộp 3,5 kg Pakixtan là nước xuất khẩu xoài lớn thứ hai trên thế giới, hiện đang xuất sang các tiểu Vương quốc Arập Thống nhất, Arập Xêut, Bahrain, Anh, Xingapo và các thị trường khác Năm
2014, Pakixtan đã xuất khẩu được 130 ngàn tấn xoài với kim ngạch 41 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu xoài năm 2014 có thể đạt 50 triệu USD.[13]
1.2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Trần Thị Diễm My, học viên Cao học khóa 18, chuyên ngành Quản trị kinh doanh tổng hợp, Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, trường Đại học Cần Thơ Tên dự án “Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ xoài cát Hòa Lộc của nông hộ tại Cái Bè – Tiền Giang” Trong đề tài nghiên cứu này tác giả sử dụng những thông tin về quá trình sản xuất và tiêu thụ xoài của nông
hộ để tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ xoài làm cơ sở để đánh giá hiệu quả sản xuất và tiêu thụ xoài Cát Hòa Lộc ở Cái
Bè – Tiền Giang Tác giả thực hiện đề tại này cũng nhằm tìm ra những giải pháp về tiêu thụ vì đây có thể là vấn đề nan giải nhất của tỉnh Tiền Giang nói riêng Một khi giải quyết được vấn đề tiêu thụ được tốt thì cả một quá trình sản xuất- thu hoạch-bảo quản- tiêu thụ trở thành một thể thống nhất và xuyên
Trang 30suốt Điều này giúp cho tất cả các thành phần trong tiến trình hoạt động đạt hiệu quả cao, dẫn đến lợi nhuận của nông hộ và các thành phần khác trong chuỗi này ngày càng được nâng cao Tức là mức sống của người dân được nâng lên, đây là mục tiêu chung của toàn xã hội.[3]
Phan Thị Thanh Nhàn (2011) sinh viên đại học khóa 34 chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế - Xã hội Trường đại học Cần Thơ, tên luận văn tốt nghiệp “Phân tích hiệu quả kinh tế của hộ trồng xoài ở TP Cần Thơ” Hiện nay, người dân làm vườn ở Tp Cần Thơ đã và đang chú trọng phát triển trồng các giống xoài (xoài cát Hòa Lộc, xoài Thơm, xoài Chu, xoài Bưởi, xoài Thanh Ca ) và xu hướng ngày càng mở rộng diện tích trồng nhằm phát huy tính hàng hóa của sản phẩm này trên thị trường trong và ngoài nước
Vì thế để thấy được hiệu quả kinh tế cũng như vai trò của cây xoài đã góp phần vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố đồng thời nâng cao thu nhập cho nông dân trồng xoài trong những năm gần đây Thì đề tài này được lựa chọn nghiên cứu nhằm đưa ra cái nhìn khái quát về hiện trạng trồng, hiệu quả kinh tế, và các định hướng phát triển bền vững trong tương lai giúp cải thiện sinh kế người dân trên mảnh đất trồng xoài.[6]
Trang 31Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, lãnh thổ
Huyện Vĩnh Cửu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Đồng Nai, trung tâm huyện lị là thị trấn Vĩnh An cách thành phố Biên Hòa khoảng 45 km theo Tỉnh lộ 767 và khoảng 40 km theo Tỉnh lộ 768, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70 km và cách Bà Rịa Vũng Tàu khoảng 160 km Diện tích tự nhiên
là 109.255,82 ha, bao gồm 11 xã và 01 thị trấn trực thuộc.[11]
Địa giới hành chính tiếp giáp:
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đồng Phú và huyện Bù Đăng – tỉnh Bình Phước
+ Phía Đông giáp huyện Tân Phú và Định Quán
+ Phía Nam và Đông Nam giáp thành phố Biên Hòa, huyện Trảng Bom
và huyện Thống Nhất
+ Phía Tây giáp huyện Tân Uyên – tỉnh Bình Dương
Trên địa bàn huyện có Tỉnh lộ 762, Tỉnh lộ 767 và Tỉnh lộ 768 là các tuyến giao thông chính tạo mối liên kết mật thiết giữa các xã trong huyện và các huyện khác trong tỉnh Ngoài ra, tỉnh lộ 761 và hệ thống sông suối, mặt nước rộng lớn là một trong những ưu điểm đối với các chiến lược quốc phòng, an ninh của huyện nói riêng và của tỉnh nói chung [11]
Trang 32Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Cửu
Trang 33Vị trí đặc biệt của huyện Vĩnh Cửu vừa có những lợi thế, đồng thời cũng có những hạn chế không nhỏ đối với phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng đất
* Thuận lợi
+ Huyện Vĩnh Cửu nằm kế cận với thành phố Biên Hòa và thành phố
Hồ Chí Minh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Có hệ thống giao thông thủy bộ phát triển thuận lợi cho việc giao lưu trong khu vực Vĩnh Cửu
có lợi thế về phát triển công nghiệp, dịch vụ - du lịch và có triển vọng trong phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Đồng Nai cũng như trong toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
+ Có nguồn tài nguyên rừng rất lớn, có hồ Trị An với diện tích lòng hồ rộng đã tạo cho khu vực một khí hậu thoáng mát, hấp dẫn khách tham quan
+ Những năm gần đây kinh tế của huyện phát triển tương đối nhanh, tổng sản phẩm quốc nội hàng năm tăng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, có hiệu quả và ổn định
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật, các công trình công cộng được đầu tư đáng
kể như giao thông, thủy lợi, cấp nước được xây dựng phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân trong huyện
Trang 34+ Đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân được cải thiện từng bước, các chính sách về kinh tế và xã hội được quan tâm thường xuyên như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, chính sách xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ gia đình cách mạng, gia đình có công và gia đình thương binh liệt sỹ,…
* Khó khăn
+ Tài nguyên rừng trước đây bị khai thác quá mức nên thường gây tình trạng lũ quét vào mùa mưa, đất bị xói mòn ảnh hưởng đến độ phì và hiệu quả sản xuất
+ Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú nhưng chất lượng thấp và trữ lượng không lớn, nên không có giá trị xuất khẩu
+ Tài nguyên du lịch lớn nhưng chưa được đầu tư khai thác nên nguồn thu từ ngành này còn hạn chế
+ Dân số gia tăng cơ học khá nhiều, nhất là tại các khu công nghiệp, khu khai thác khoáng sản và vật liệu xây dựng, các lâm trường, khu bảo tồn thiên nhiên và di tích đã gây ô nhiễm môi trường
+ Đời sống của nhân dân lao động còn gặp nhiều khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần Đại bộ phận nông dân sản xuất còn nặng theo tập quán địa phương và có tính tự phát, nhất là các vùng có nhiều người dân tộc
+ Kinh tế xã hội phát triển kèm theo vấn đề ô nhiễm môi trường và hiện đang bức xúc, nhưng hiện nay chưa xây dựng được các công trình xử lý các loại chất thải, nên vệ sinh môi trường chưa tốt
* Địa hình
Có 2 dạng địa hình chính gồm địa hình dạng đồi và dạng địa hình đồng bằng
Trang 35- Địa hình đồi: Chiếm 78,86% diện tích tự nhiên (86.115 ha), phân bố
tập trung ở các xã phía Bắc (Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm) Công trình cao nhất khoảng 340 m và thấp dần xuống phía Nam còn 10 – 20 m Trong đó độ dốc dưới 3o chiếm 10,26% diện tích tự nhiên; độ dốc 0o – 8o chiếm 0,65%; độ dốc
8o – 15o chiếm 1,23%; độ dốc trên 15o chiếm 66,68%.[10]
- Địa hình đồng bằng: Chiếm 7,45% diện tích tự nhiên (8.142 ha) Phân
bố ở các xã phía Tây Nam của huyện (Bình Lợi, Thạnh Phú, Tân Bình, Thiện Tân, Bình Hòa) với công trình nơi cao nhất 10 – 20 m, nơi thấp nhất 1 – 2 m Địa hình bằng phẳng và mẫu chất chính là trầm tích trẻ Holocene với nền móng địa chất yếu, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là sản xuất lúa nước, cây ăn trái và hoa màu cạn.[11]
* Khí hậu
Khí hậu Vĩnh Cửu thuộc dạng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo,
có 2 mùa với nền nhiệt cao đều quanh năm, là điều kiện đảm bảo nhiệt lượng cao cho cây trồng phát triển Nhiệt độ không khí trung bình quanh năm cao với 25 – 27o, chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất 4,2oC Nhiệt độ trung bình tối cao các tháng là 29 – 60oC, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng trong năm từ 18 – 25oC
Lượng mưa tương đối lớn (2.000 – 2.800mm), phân bố theo vùng và theo mùa vụ Sự phân bố theo không gian đã hình thành 03 vành đai chính: Vành đai phía Bắc giáp Bình Phước có lượng mưa rất cao trên 2.800mm và
có số ngày mưa 150 – 160 ngày; vành đai trung tâm huyện có lượng mưa 2.400 – 2.800mm và số ngày mưa trong năm là 130 – 150 ngày; vành đai phía Nam có lượng mưa thấp nhất nhưng vẫn có trị số 2.000 – 2.400mm
Trang 36* Thủy văn
Chế độ thủy văn của huyện Vĩnh Cửu bị phân hóa theo mùa:
- Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 6 năm sau, lượng nước xấp
xỉ 20% lượng nước cả năm, trong mùa khô lượng dòng chảy nhỏ, nước trên sông Đồng Nai xuống thấp nên khả năng cung cấp nước bị hạn chế, gây tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp với các vùng địa hình đồi
- Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 7 đến tháng 10 trong năm, trong mùa
thường xuất hiện lũ, nước trên sông Đồng Nai lớn có năm gây hiện tượng ngập úng cục bộ thuộc hạ lưu, nhất là những năm mưa lớn hồ Trị An xả ở mức độ tối đa
- Hàm lượng phù sa trên sông Đồng Nai rất nhỏ (tổng lượng phù sa chỉ đạt 9.106 tấn, độ đục bình quân 10 – 30g/m3), sự xâm thực của dòng chảy các sông đổ vào Đồng Nai yếu nên lượng phù sa lắng đọng hạn chế
2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên nước
Nhìn chung huyện Vĩnh Cửu có tài nguyên nước khá phong phú, đối với diện tích sông suối nếu được khai thác hợp lý có thể cung cấp nước đầy
đủ cho sản xuất nông nghiệp
* Nước mặt
Nguồn nước mặt chính gồm có sông Đồng Nai, sông Bé và Hồ Trị An Trong đó:
- Sông Đồng Nai: Có các lưu vực chính đổ và hạ lưu sông Bé, sông Sài
Gòn, sông Lá Buông và sông Vàm Cỏ; đoạn qua huyện chảy theo hướng Bắc – Nam, lượng mưa trên sông khá dồi dào Do sông sâu và dốc nên khả năng
Trang 37bồi đắp phù sa kém, chỉ xuất hiện dãy phù sa ven theo triền sông Để cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, dọc theo triền sông đã hình thành một số hệ thống trạm bơm, lấy nước sông tưới cho cây trồng
- Sông Bé: Bắt nguồn từ dãy núi cao Phước Long, thượng nguồn có
nhánh suối Mã Đà, hạ lưu sông đổ vào sông Đồng Nai ngay trên ranh giới phía Tây giữa Đồng Nai và Bình Dương thuộc lâm trường Hiếu Liêm, sông rộng trung bình 200 m, lượng nước trên sông khá dồi dào, do sông sâu và dốc nên khả năng bồi đắp phù sa kém
- Hồ Trị An: Có diện tích 285 km2 (trong địa phận huyện Vĩnh Cửu là
* Nước ngầm
Qua kết quả khảo sát về nước ngầm ở Đồng Nai của liên đoàn Địa chất thủy văn 7 và 8 (đoàn 801), trong khu vực Vĩnh Cửu có khả năng lấy nước ngầm ở độ sâu 10 – 15 đến 60 – 50m, bề dày tầng chứa nước thay đổi 10 – 15 đến 50 – 60m Nhìn chung lưu lượng nước ngầm trên địa bàn huyện khá lớn,
có khả năng cung cấp đủ nước cho dân sinh và một phần cho sản xuất nông nghiệp
Trang 38* Tài nguyên đất:
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/50.000 (năm 2014)
cho thấy toàn huyện có 5 nhóm đất chính với 11 đơn vị đất
2.1.1.3 Tình hình dân số của huyện
Vĩnh Cửu có 11 xã thuộc khu vực nông thôn, diện tích đất ở nông thôn 709,49 ha, chiếm 0,67% diện tích tự nhiên khu vực nông thôn, đạt bình quân 73m2/người và 341m2/hộ, cao hơn bình quân của tỉnh Đặc điểm chủ yếu của dân cư nông thôn là phân bố theo dọc sông Đồng Nai và các tuyến đường lớn
để tiện giao thông, sản xuất và sử dụng nguồn nước Nhìn chung, dân cư nông thôn đến nay tuy cũng có ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất, nhưng mức độ chưa cao, chủ yếu do tỷ lệ gia tăng dân số tách hộ gia đình và một số dự án tái định cư Ngoài ra, các công trình công cộng và cơ sở hạ tầng mới được xây dựng cũng có ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất, nhưng mức độ cũng chưa cao, chủ yếu là chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất chuyên dụng.[11]
Bảng 2.1 Cơ cấu phân bố nguồn lao động
Trang 392.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2015
2.1.2.1 Kết quả thực hiện trên lĩnh vực kinh tế:
Sản xuất công nghiệp – xây dựng
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp trên địa bàn năm 2015 ước thực hiện 1.358 tỷ đồng, đạt 25,03% KH năm, tăng 7,18% so cùng kỳ
- Tình hình lao động công nghiệp trên địa bàn trước và sau tết vẫn ổn định, không có tình trạng nghỉ tết kéo dài nên không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
Sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản
Dự ước thực hiện giá trị sản xuất ngành NLT: 119,02 tỷ đồng (theo giá 2013), đạt 27,36% so với KH, tăng 0,6% so cùng kỳ Trong đó:
Bảng 2.2: Thống kê GTSX năm 2013
tiền (tỷ đồng)
Tỷ lệ tăng
4 Giá trị sản xuất ngành Nông – Lâm - Thủy sản 262,1 0,7
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vĩnh Cửu, 2013)
- Trồng trọt: Toàn huyện đã kết thúc sơ bộ gieo trồng vụ Đông xuân với
tổng diện tích là 3.199 ha, bằng 92,45% KH, tăng 0,61% so CK Mặc dù, thời tiết vụ đông xuân năm 2014-2015 không thuận lợi (dứt mưa sớm, nắng nóng kéo dài) nhưng nhờ các địa phương chủ động nguồn nước, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, cây lúa phát triển tốt, năng suất bình quân cây lúa dự kiến đạt
Trang 4060 tạ/ha, tăng 1 tạ so vụ trước; các cây trồng khác phát triển tốt và dự kiến năng suất bình quân đều tăng so với năm trước
- Chăn nuôi: Nhờ làm tốt công tác kiểm tra, ngăn chặn hoạt động giết
mổ lậu nên việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trong những tháng đầu năm có nhiều thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra, giá cả ổn định
- Nuôi trồng thuỷ sản: Ước thu hoạch được 2.550 tấn cá các loại, tăng
1,41% so cùng kỳ Trong sản xuất nuôi trồng thủy sản do giá thức ăn công nghiệp tăng khá cao nên nông dân chủ yếu là sử dụng phụ phẩm chăn nuôi, hoặc nuôi theo dạng tự nhiên nên thời gian nuôi kéo dài, lợi nhuận thấp.[8]
- Lâm nghiệp: Nhờ chủ động, tích cực trong công tác phòng chống cháy
rừng mùa khô bằng việc củng cố kiện toàn BCĐ các cấp, xây dựng phương án
và thường xuyên tiến hành kiểm tra công tác PCCR của các chủ rừng trên địa bàn, nên không có nạn cháy rừng xảy ra
- Nông thôn mới: Đã tổ chức công bố Quyết định của UBND tỉnh công
nhận xã Tân Bình, Bình Hòa, Trị An đạt chuẩn nông thôn mới, huyện cũng đã khen thưởng cho mỗi địa phương 100 triệu đồng Triển khai kế hoạch xây dựng NTM năm 2015 Chỉ đạo hướng dẫn các địa phương triển khai kế hoạch xây dựng NTM năm 2015 theo nội dung QH NTM đã được phê duyệt, tập trung phấn đấu đối với các xã Thiện Tân, Tân An, Phú Lý trước tháng 6/2015 UBND huyện đã ban hành Quyết định số 237/QĐ-UBND ngày 02/02/2015 về việc thành lập Văn phòng điều phối xây dựng nông thôn mới huyện Vĩnh Cửu, theo đúng chỉ đạo của UBND tỉnh để tiếp tục thực hiện chỉ đạo, đầu tư xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
Thương mại - Dịch vụ
+ Thương mại