Từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thử nghiệm một số phương pháp hóa lý và đề xuất mô hình xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, thành phố Vi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm môi trường nói chung, ô nhiễm môi trường nước nói riêng đang là một vấn đề toàn cầu Nguồn gốc ô nhiễm môi trường nước chủ yếu là do các nguồn nước thải không được xử lý, thải trực tiếp ra môi trường bao gồm từ: các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, vui chơi giải trí Trong
đó, nước thải từ các hoạt động công nghiệp có ảnh hưởng nhiều nhất đến môi trường do tính đa dạng và phức tạp của nó
Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành công nghiệp giấy đang ngày càng mở rộng và đáp ứng được nhiều hơn nữa nhu cầu đa dạng, phong phú của khách hàng Chất lượng và số lượng mặt hàng giấy được sản xuất ra thay đổi nhanh theo từng năm, kéo theo lượng nước thải ra tại các công ty, xí nghiệp sản xuất giấy cũng tăng nhanh Như vậy đã không tránh khỏi trường hợp nhiều cơ sở sản xuất giấy xả thẳng nước thải chưa xử lý ra ngoài môi trường, gây nguy hại lớn đối với hệ sinh thái
Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì là một đơn vị hoạt động lâu năm trong ngành giấy vì vậy những thành tựu mà Công ty đóng góp được cho ngành giấy là không nhỏ Với mục tiêu không ngừng vươn xa, Công ty đang ngày càng thay đổi công nghệ sản xuất cũng như bắt kịp với “sản xuất sạch hơn”, nhất là trong những năm gần đây và đã thu được những kết quả rõ rệt Trong quy mô ở mức vừa, Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì đã và đang có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của khu vực Tuy nhiên cùng với sự phát triển lớn mạnh đó, lượng nước thải thải ra hàng ngày tại Công ty đang tăng rất nhanh và nếu không được xử lý kịp thời thì sẽ gây ô nhiễm môi trường xung quanh
Xử lý nước thải là một vấn đề cấp bách đối với tất cả các công ty, các
cơ sở sản xuất giấy hiện nay Có rất nhiều phương pháp xử lý nước thải giấy: phương pháp xử lý hóa - lý, phương pháp xử lý sinh học,… Tuy nhiên để lựa chọn được phương pháp phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất cho từng loại nước thải tại từng cơ sở sản xuất lại là một vấn đề rất khó khăn Công ty Cổ
Trang 2phần Giấy Việt Trì cũng đang gặp phải khó khăn này Do vậy, việc nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì là vấn đề rất cần thiết hiện nay
Từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thử
nghiệm một số phương pháp hóa lý và đề xuất mô hình xử lý nước thải tại
Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” với mục
đích tìm hiểu quy trình sản xuất; nghiên cứu đặc tính dòng thải; thử nghiệm một số biện pháp hóa - lý đối với nước thải tại Công ty; từ đó xây dựng mô hình xử lý nước thải phù hợp với điều kiện của Công ty và khu vực nghiên cứu
Trang 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về ngành Công nghiệp giấy Việt Nam
1.1.1 Thực trạng ngành Công nghiệp giấy Việt Nam
Hiện nay cùng với sự phát triển nhanh của xã hội, nhu cầu được sử dụng giấy của mọi người đang ngày càng tăng cao Để đáp ứng tốt được nhu cầu của khách hàng, các công ty, doanh nghiệp sản xuất giấy trong nước luôn luôn phải cạnh tranh nhau khốc liệt cả về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm đầu ra Tuy nhiên do chưa có bước đi đúng nên nhìn chung ngành Công nghiệp giấy của nước ta vào thời điểm này vẫn đang gặp phải rất nhiều khó khăn
Theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 300 nhà máy giấy, nhưng đa số còn ở quy mô nhỏ và trung bình, công nghệ đã lỗi thời Thời gian qua, dù một số dự án lớn trong ngành Công nghiệp giấy được triển khai nhưng trong hơn 2 triệu tấn giấy được tiêu dùng trong nước mỗi năm thì có tới 48,2 % là nhập khẩu từ nước ngoài Đối với bột giấy, dù năng lực sản xuất đạt trên dưới 438.000 tấn nhưng lại chủ yếu cũng được bù đắp nhờ nhập khẩu, trong khi các doanh nghiệp cũng chỉ hoạt động ở công xuất tối thiểu (khoảng 20 – 25%) [2]
Ngoài ra, một bất cập chung của các ngành công nghiệp mũi nhọn mà ngành Công nghiệp giấy của Việt Nam cũng không tránh khỏi là thực trạng
"xuất khẩu thô” Trong khi hiện tượng sụt giảm nguyên liệu do phá rừng, thiên tai xảy ra hàng năm nhưng mỗi năm Việt Nam vẫn xuất khẩu trên dưới
3 triệu tấn dăm khô từ gỗ rừng trồng (chỉ đứng sau Australia) Các nước mua nguyên liệu thô của Việt Nam sản xuất thành phẩm, sau đó nhập trở lại Việt Nam với giá thành cao
Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng Tổng Công ty Giấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định trong năm 2012: giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.300 tỷ, bằng 98,8% năm 2011; tổng doanh thu đạt 3.300 tỷ, bằng
Trang 4108,1% năm 2011 Tuy nhiên, nộp ngân sách năm 2012 đạt 81 tỷ, chỉ bằng 64,4% so với năm 2011; và lợi nhuận năm 2012 đạt 46 tỷ, bằng 55% so với năm 2011 [2]
Để khắc phục những yếu kém còn tồn tại trong ngành giấy, Tổng Công
ty Giấy Việt Nam đã chỉ đạo các đơn vị thành viên thay thế dần các thiết bị
cũ, kém hiệu quả; không vận hành trong tình trạng non tải; giảm thiểu mất nhiệt bằng cách bảo ôn đường ống; sử dụng lò đốt đa năng, cải tiến công nghệ, quy trình vận hành, bảo dưỡng máy móc, thiết bị để nâng cao hiệu suất
Bên cạnh đó, ngành giấy cũng đưa ra các biện pháp giảm tiêu thụ điện như: bố trí mặt bằng nhà xưởng hợp lý, giảm tối đa cự ly tải điện; tránh dùng các máy bơm, quạt quá lớn, chọn lựa thiết bị có hiệu suất cao, có nhiều chế độ làm việc; sử dụng hiệu quả hệ thống chiếu sáng, hệ thống nén;… Thực tế đã chứng minh, một số giải pháp được áp dụng đem lại hiệu quả cao, như: cải tạo
hệ thống đối lưu để tăng hiệu quả thu hồi bụi, tăng hiệu suất lò, tiết kiệm than, điện
Để khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu, ngành sản xuất giấy của Việt Nam đã phát triển mạnh lĩnh vực tái chế giấy Tỷ lệ thu hồi giấy đã qua
sử dụng dùng làm nguyên liệu trong tổng nguyên liệu sản xuất giấy ở Việt Nam là 70% Gần 100% giấy bao bì, 90% giấy tissue và 60% giấy in báo đều làm từ giấy tái chế [3]
Bộ Công thương dự báo: năm nay sản lượng giấy trong nước dự kiến sẽ đạt 2,18 triệu tấn giấy các loại; tăng 17,7% so với năm 2012 Cộng thêm khoảng 1,3 triệu tấn giấy nhập khẩu thì nguồn cung giấy tại thị trường trong nước sẽ khá dồi dào Năm 2013, nhu cầu tiêu dùng giấy các loại của cả nước đạt trên 3 triệu tấn, tăng nhẹ so với mức tiêu thụ của năm 2012 (là 2,9 triệu tấn) Với những khó khăn cũng như thuận lợi ở trên, ngành Công nghiệp giấy cần phải đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa để có thể sớm trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn trong tương lai của đất nước [2]
Trang 51.1.2 Đặc tính của nước thải sản xuất giấy
Để tìm hiểu về tính chất của nước thải sản xuất giấy, khóa luận đã phân tích đặc điểm của dòng thải tại từng công đoạn sản xuất như sau:
- Dòng thải rửa nguyên liệu bao gồm các chất hữu cơ hòa tan, đất đá, thuốc bảo vệ thực vật, vỏ cây,…
- Dòng thải của quá trình nấu và rửa sau nấu chứa phần lớn các chất hữu cơ hòa tan, các chất nấu và một phần xơ sợi Dòng thải có màu tối nên thường được gọi là dịch đen
- Dòng thải từ công đoạn tẩy của các nhà máy sản xuất bột giấy bằng phương pháp hóa học và bán hóa chứa các chất hữu cơ, lignin hòa tan và hợp chất tạo thành của những chất đó ở dạng độc hại Dòng này thường có hàm lượng BOD5, COD cao
- Dòng thải từ quá trình nghiền bột và xeo giấy chủ yếu chứa xơ sợi mịn, bột giấy ở dạng lơ lửng và các chất phụ gia như nhựa thông, phẩm màu, cao lanh Dòng thải này thường có hàm lượng TSS cao
- Dòng thải từ các khâu rửa thiết bị, rửa sàng, dòng chảy trên sàn nhà có chứa các chất lơ lửng và chất rơi vãi
- Nước ngưng của quá trình cô đặc trong hệ thống xử lý thu hồi hóa chất từ dịch đen Mức ô nhiễm của nước ngưng phụ thuộc vào loại gỗ, công nghệ sản xuất
- Nước thải sinh hoạt làm tăng nồng độ BOD5, nguy cơ có những vi sinh vật nguy hại
Như vậy, nước thải của các nhà máy sản xuất giấy sẽ có hàm lượng BOD5, COD, TSS rất cao Đặc biệt nước có thể chứa cả kim loại nặng, lignin (dịch đen), phẩm màu, xút,… Đây đều là những hợp chất có độc tính sinh thái cao và mang nguy cơ gây ung thư, rất khó phân hủy ngoài môi trường
Trang 61.2 Các phương pháp xử lý nước thải sản xuất giấy
1.2.1 Một số phương pháp cơ bản trong xử lý nước thải sản xuất giấy
Đặc tính của nước thải sản xuất giấy rất đa dạng, nó phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất và công nghệ xử lý Vì vậy, trước khi thải ra ngoài môi trường, nước thải sản xuất giấy cần phải được
xử lý bằng các phương pháp thích hợp Một cách tổng quát, các phương pháp
xử lý nước thải sản xuất giấy được chia thành các nhóm chính sau: phương pháp xử lý cơ học, phương pháp xử lý hóa - lý và phương pháp xử lý sinh học
a Phương pháp xử lý cơ học
Bao gồm các quá trình sàng lọc loại bỏ tạp chất thô, cát thô và làm lắng
sơ bộ Đầu tiên dòng thải sẽ được đưa qua song chắn rác để loại bỏ những tạp chất thô, có kích thước lớn Sau đó tiếp tục đi qua bể lắng Lắng là quá trình làm sạch cơ bản trong công nghệ xử lý nước nhằm loại bỏ phần lớn các hạt lơ lửng không tan trong nước có kích thước lớn hơn 10-4
mm [8]
Bể điều hòa được sử dụng nhằm mục đích điều hòa lưu lượng, nồng độ dòng nước cần xử lý trước khi đi vào công trình xử lý tiếp theo; đồng thời kiểm soát pH để tạo điều kiện cho các quá trình xử lý sinh học, hóa học diễn
ra thuận lợi
Lọc cũng là một phương pháp xử lý cơ học, quá trình này làm sạch nước thông qua lớp vật liệu lọc nhằm tách các hạt cặn lơ lửng, các hạt keo và ngay cả vi sinh vật trong nước Vật liệu lọc thường được sử dụng trong phương pháp lọc: cát, sỏi, than, xỉ, hạt xốp,…
b Phương pháp xử lý hóa - lý
Có nhiều phương pháp xử lý hóa - lý thường được áp dụng trong xử lý nước thải sản xuất giấy: phương pháp trung hòa, phương pháp keo tụ - tủa bông, phương pháp tuyển nổi,…
Nước thải chứa axit vô cơ hoặc kiềm cần được trung hòa đưa giá trị pH
về khoảng trung tính trước khi thải vào nguồn tiếp nhận hoặc sử dụng cho
Trang 7công nghệ xử lý tiếp theo Khi đó người ta sẽ áp dụng phương pháp trung hòa
để xử lý Trung hòa nước thải chứa axit có thể thực hiện được bằng nhiều cách: trộn lẫn nước thải axit và nước thải kiềm; bổ sung các tác nhân hóa học; lọc nước thải axit qua vật liệu có tác dụng trung hòa;…
Keo tụ - tủa bông là phương pháp thông dụng để xử lý nước thải giấy Trong phương pháp này người ta dùng các loại phèn nhôm, phèn sắt hay hỗn hợp của cả hai loại phèn này với sữa vôi, cùng mục đích là khử COD, TSS Các hợp chất bị keo tụ sẽ lắng xuống tạo thành một lớp bùn cặn dưới đáy bể
Ưu điểm cơ bản của phương pháp này là có thể khử hoàn toàn được các hạt nhỏ, nhẹ, lắng chậm trong thời gian ngắn
Trái ngược với nguyên lý của keo tụ - tủa bông, phương pháp tuyển nổi tách các tạp chất ra khỏi dòng thải bằng cách sục các bọt khí nhỏ vào pha lỏng Các bọt khí này sẽ kết dính với các hạt cặn Khi khối lượng riêng của tập hợp bọt khí và cặn nhỏ hơn khối lượng riêng của nước, cặn sẽ theo bọt nổi lên bề mặt Hiệu suất của quá trình này phụ thuộc vào số lượng, kích thước bọt khí, hàm lượng chất rắn [14]
c Phương pháp xử lý sinh học
Một phần các chất trong nước thải sản xuất giấy có khả năng phân hủy sinh học Trong một số trường hợp dòng thải có chứa các chất hữu cơ khó phân hủy và một số chất có khả năng gây hại cho vi sinh vật thì trước khi đưa dòng thải vào xử lý sinh học, nước thải cần được khử các chất độc hại và giảm tỷ lệ các chất khó phân hủy sinh học bằng phương pháp xử lý cục bộ Các phương pháp sinh học thường được áp dụng cho xử lý nước thải sản xuất giấy là phương pháp bùn hoạt tính, lọc sinh học hoặc kết hợp xử lý sinh học nhiều bậc Quá trình xử lý sinh học với bùn hoạt tính hiếu khí và kỵ khí cũng
có thể được sử dụng để xử lý nước thải sản xuất giấy với hiệu quả cao Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là thời gian xử lý dài và hiệu quả xử
lý các hợp chất hữu cơ khó phân hủy đạt mức thấp
Trang 8Hiện nay nước thải giấy thường được xử lý bằng cách kết hợp giữa quá trình xử lý sinh học và quá trình keo tụ - tủa bông Quá trình xử lý sinh học giúp loại bỏ các hợp chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học và xử lý một phần các hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học dưới tác dụng của quá trình sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật Giúp giảm bớt tải lượng của quá trình keo tụ- tủa bông, tăng hiệu quả xử lý
Do mỗi loại nước thải có thành phần và tính chất đặc trưng riêng nên công nghệ xử lý tương ứng cũng khác nhau Để xử lý trước tiên ta phải tách riêng, xử lý sơ bộ dòng thải nhằm loại bỏ các tác nhân gây hại đối với vi sinh vật rồi nhập chung và xử lý sinh học Nước thải sản xuất giấy có nồng độ chất rắn lơ lửng cao, trong đó chứa nhiều hợp chất hữu cơ có thành phần phức tạp
và khó phân hủy sinh học, có khả năng gây ức chế cho vi sinh vật Hơn nữa nhiệt độ của nước thải sản xuất giấy rất cao, không thích hợp khi đưa trực tiếp vào hệ thống xử lý sinh học Vì vậy, ta nên tiến hành xử lý hóa lý trước khi đưa dòng thải vào các công trình xử lý sinh học nhằm loại trừ các yếu tố gây hại và tăng khả năng xử lý của vi sinh vật
1.2.2 Chất keo tụ Polyaluminum Chloride (PAC) trong xử lý nước thải bằng phương pháp keo tụ - tủa bông
a Cơ chế keo tụ
Keo tụ là quá trình tập hợp các chất rắn gây đục dạng keo (cặn lơ lửng, chất huyền phù) có kích thước nhỏ (cỡ µm) khó lắng thành các tập hợp có kích thước dễ lắng
Hạt keo là những phần tử nhỏ có kích cỡ từ 10-6
đến 10-3 mm, không có khả năng lắng bởi trọng lực Do hạt keo có diện tích bề mặt lớn nên có xu hướng hấp phụ các chất như: các phân tử nước và ion nên các hạt keo sẽ lớn dần hay có thể tích điện với môi trường nước xung quanh [6]
Các hạt chất rắn gây đục tích điện trong môi trường do nhiều nguyên nhân Dấu điện tích bề mặt của chúng phụ thuộc vào pH của môi trường: trên điểm đẳng điện bề mặt tích điện âm, dưới điểm đẳng điện tích điện dương
Trang 9Trong môi trường nước tự nhiên, khoảng pH thường gặp là từ 5 - 9, các chất gây đục có thành phần hóa học chủ yếu là vô cơ nên phần lớn chúng tích điện
âm Trong khi chuyển động, các phần tử tích điện âm va chạm lẫn nhau, nếu động năng của chúng thắng được lực đẩy, chúng có thể tạo được tập hợp lớn hơn và lắng được Tuy nhiên phần lắng được do cơ chế trên chiếm tỷ lệ thấp Muốn để chúng lắng được trước hết cần khử điện tích bề mặt để chúng không đẩy nhau và tạo điều kiện cho chúng tạo thành tập hợp lớn Để khử điện tích
bề mặt người ta dùng chất keo tụ, chủ yếu là muối nhôm, muối sắt và trong một số trường hợp có thể dùng polyme tích điện dương Sau khi khử điện tích (khử tính bền) chúng có thể co cụm lại nhờ chế độ thủy động (khuấy) hợp lý hoặc có thể đưa vào chất trợ keo tụ để làm tăng quá trình co cụm [6]
Quá trình keo tụ được trải qua các bước như sau: khi có được môi trường pH phù hợp cho quá trình hấp phụ của các cấu tử nhôm trên bề mặt chất gây đục, hiện tượng keo tụ xảy ra Quá trình hấp phụ xảy ra trong một hệ
có độ phân tán cao nên tốc độ hấp phụ rất lớn Nếu hệ được khuấy trộn tốt, thời gian đạt tới cân bằng chỉ tính bằng phút
Bản thân chất keo tụ muối nhôm tự nó đã có thể kết tủa và lắng Khi nồng độ huyền phù thấp các chất gây đục khó tạo thành tập hợp để lắng Có thể thêm vào hệ đó một lượng chất keo tụ nhằm tăng khả năng kết tủa Khi nồng độ chất keo tụ cao đạt mức siêu bão hòa sẽ tự nó kết tủa và lắng, đồng thời cuốn theo các hạt đục cùng lắng
Tiếp theo, quá trình keo tụ được trải qua cơ chế hấp phụ và tạo cầu liên kết giữa các hạt keo (gồm 5 phản ứng) Sau khi hạt huyền phù được khử điện tích bề mặt chúng có thể co cụm lại thành các tập hợp lớn Quá trình này diễn
ra chậm Để thúc đẩy nhanh người ta thường sử dụng thêm một số chất trợ lắng [5]
b Chất keo tụ Polyaluminum Chloride (PAC)
Một trong những chất keo tụ thế hệ mới, tồn tại dưới dạng polime vô cơ
là Poli nhôm clorua (Polime aluminium chloride), thường viết tắt là PAC
Trang 10(hoặc PACl) Hiện nay, ở các nước tiên tiến, người ta đã sản xuất PAC với lượng lớn và sử dụng rộng rãi để thay thế phèn nhôm sunfat trong xử lý nước sinh hoạt và đặc biệt là xử lí nước thải
PAC có công thức tổng quát là [Al2(OH)nCl6.n x H2O]m (trong đó m <= 10; n <= 5) PAC thương mại ở dạng bột khô màu vàng nhạt hoặc vàng đậm,
dễ tan trong nước và kém tỏa nhiệt, dung dịch trong suốt, có tác dụng khá mạnh về tính hút ẩm [5]
PAC có nhiều ưu điểm hơn so với phèn nhôm sunfat và các loại phèn
vô cơ khác: hiệu quả keo tụ và lắng trong 4 - 5 lần; tan trong nước tốt, nhanh hơn nhiều; ít làm biến động pH của nước nên không phải dùng NaOH để xử
lý và do đó ít ăn mòn thiết bị hơn; không làm đục nước khi dùng thừa hoặc dùng thiếu; không cần chất phụ gia trợ keo tụ và trợ lắng; khả năng loại bỏ các chất hữu cơ tan và không tan cùng các kim loại nặng tốt hơn; không làm phát sinh hàm lượng SO4
trong nước thải sau xử lý là loại có độc tính đối với
2-vi sinh Tuy nhiên, do PAC có hiệu quả rất mạnh ở liều lượng thấp nên 2-việc cho quá độ lượng PAC sẽ gây hiện tượng tái ổn định của hạt keo Vì vậy cần nghiên cứu kỹ trước khi sử dụng chất keo tụ PAC để xử lý nước mang lại hiệu quả cao nhất
1.2.3 Chất trợ lắng Polyacrylamide (PAA) trong xử lý nước thải bằng phương pháp keo tụ - tủa bông
a Cơ chế hoạt động của chất trợ lắng
Để tăng hiệu quả của quá trình keo tụ - tủa bông, người ta thường sử dụng thêm một số chất trợ lắng Việc sử dụng chất trợ lắng sẽ cho phép giảm liều lượng chất keo tụ, giảm thời gian quá trình keo tụ và tăng tốc độ lắng của các bông keo
Cơ chế hoạt động của polyme trợ lắng: các polyme này sẽ bị hấp phụ trên bề mặt chất gây đục theo kiểu “mỏ neo”, tức là một phân tử polyme có thể bị hấp phụ trên nhiều hạt gây đục Chúng đóng vai trò là chiếc cầu nối của
Trang 11các chất gây đục, kéo chúng lại với nhau tạo thành cụm lớn Tốc độ này xảy
ra rất nhanh, chỉ trong vài phút [6]
Liều lượng chất keo tụ tối ưu sử dụng trong thực tế thường được xác định bằng thí nghiệm Jartest
b Chất trợ lắng Polyacrylamide (PAA)
Chất trợ lắng tổng hợp thường được dùng trong thực tế là Polyacrylamide (CH2CHCONH2)n Tùy thuộc vào các nhóm ion khi phân ly
mà các chất trợ lắng có điện tích âm hoặc dương như Polyacrylic axit (CH2CHCOO)n hoặc Polydiallyldimetyl-amon
Một số tính chất của PAA: có dạng bột tơi, mịn; tỷ trọng khoảng 0,7 - 0,8 g/cm3; đặc tính anion cao; có thể sử dụng tốt trong 24 tháng khi bảo quản
ở nhiệt độ 5 - 35oC ở chỗ thoáng tránh ánh nắng và độ ẩm cao [6]
Khi kết hợp cùng chất trợ lắng, thời gian lắng của chất keo tụ sẽ ngắn hơn nhiều Vì vậy, trong thí nghiệm Jartest cần phải tìm ra điều kiện thuận lợi nhất để thu được khả năng xử lý nước tốt nhất khi kết hợp giữa hai loại hợp chất này
1.3 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì
Cách đây tròn 50 năm, đúng dịp sinh nhật lần thứ 71 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại thành phố ngã ba sông, một nhà máy giấy hiện đại đầu tiên của miền Bắc được thành lập và đi vào sản xuất Nhà máy có công suất 18.000 tấn/năm, sản phẩm là giấy in viết Toàn bộ thiết bị và công nghệ do nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa giúp đỡ Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, sau nhiều lần đầu tư mở rộng, sản lượng của Công ty liên tục tăng từ 45.000 tấn/năm đến 62.500 tấn/năm giấy các loại và đạt 80.000 tấn/năm vào các năm tiếp theo Hiện nay, Công ty có 3 xí nghiệp trực thuộc là xí nghiệp I (sản xuất giấy làm vỏ bao xi măng, giấy in viết), xí nghiệp II (sản xuất giấy bao bì) và xí nghiệp cơ khí động lực; với hơn 700 cán bộ, công nhân viên và
là một trong những doanh nghiệp sản xuất giấy lớn, hiện đại, nằm trong tốp
500 doanh nghiệp lớn của cả nước
Trang 12Năm 2011, sản xuất của Công ty đạt hơn 68.000 tấn; bằng 104,6% so với kế hoạch và tăng 8,8% so với năm 2010, đưa tổng doanh thu đạt 965 tỷ đồng, tạo việc làm ổn định cho hơn 500 lao động với mức lương bình quân 5 triệu đồng/người/tháng; nộp ngân sách 12,6 tỷ đồng [16]
Năm 2012 là năm cả nước đối mặt với vô vàn khó khăn do lạm phát kinh tế trong nước Sản phẩm giấy tiêu thụ của Công ty chậm, thậm chí có thời điểm Công ty phải cắt giảm sản lượng sản xuất một số mặt hàng để cân đối với mức tiêu thụ trên thị trường cho phù hợp Với số tiền 15 tỷ đồng, Công ty đã đầu tư hoàn thiện hệ thống dây chuyền sản xuất cho máy xeo 3; dây chuyền khử mực; băng tải thủy lực cho dây chuyền bột giấy của xí nghiệp 2; hệ nghiền của xí nghiệp 1 và cải tạo nồi hơi đốt cám cưa,… Bên cạnh đó, Công ty cũng đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải bao gồm một số các hạng mục: bể lắng sơ cấp, bể keo tụ - tủa bông, bể aerotank, bể lắng thứ cấp… nhằm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra ngoài môi trường
Cùng với đẩy mạnh đầu tư chiều sâu, Công ty phát động phong trào phát huy sáng kiến tiết kiệm (điện, than, nước), quản lý chặt chẽ vật tư nguyên liệu kết hợp với rà soát lại toàn bộ quy trình kỹ thuật nhằm mục đích giảm và loại trừ những hóa chất sử dụng không hợp lý; thi đua sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,… Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong năm qua không những vẫn được giữ vững mà còn đạt mức tăng trưởng
so với năm trước
Công ty hiện đang nỗ lực đầu tư đổi mới công nghệ để "sản xuất sạch hơn" nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Ngay từ năm 1997, Công ty đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất bao bì công nghiệp công suất 25.000 tấn/năm Đây là dây chuyền công nghệ hiện đại với hệ thống xử
lý nội vi hoàn chỉnh, như hệ thống xử lý giấy đứt, thu hồi xơ sợi và nước trắng, sản phẩm được sản xuất từ 100% giấy tái sinh Từ đó đến nay, sản lượng giấy các loại do Công ty sản xuất ra tăng bình quân mỗi năm từ 25-30
% Riêng doanh thu năm 2010 đạt trên 600 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 11 tỷ
Trang 13đồng, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong Công ty không ngừng được cải thiện [16]
Ông Nguyễn Hồng Hà, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì cho biết: kể từ khi đăng ký tham gia vào "chương trình sản xuất sạch hơn" với Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, hàng năm Công ty đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường trên 5 tỷ đồng và hiện đang tiếp cận với hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000
Công ty cũng đã nghiên cứu các biện pháp công nghệ để giảm lượng nước sử dụng và lượng nước thải như: tăng cường tuần hoàn nước nội vi; tái
sử dụng nước thải của các máy xeo, nước thải sau xử lý Đồng thời ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm việc ăn mòn thiết bị, nâng cao hàm lượng chất độn trong giấy, giảm lượng xơ sợi trong nước thải và trồng trên 15.000 cây xanh để ngăn cản bụi Nhờ đó, qua các đợt kiểm tra giám sát môi trường của cơ quan chức năng, Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì đều được xếp loại thực hiện nghiêm túc Luật Lao động và Luật Bảo vệ môi trường [16]
Trang 14CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:
- Đánh giá được khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì bằng chất keo tụ PAC kết hợp chất trợ lắng PAA trong điều kiện phòng thí nghiệm
- Đề xuất được mô hình xử lý nước thải sản xuất giấy phù hợp với điều kiện của Công ty
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận:
- Nước thải sản xuất giấy tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Các hóa chất được sử dụng để nghiên cứu: chất keo tụ Polyaluminum Chloride (PAC) và chất trợ lắng Polyacrylamide (PAA)
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tiến hành đánh giá khả năng xử lý nước thải sản xuất giáy của Công ty bằng chất keo tụ PAC và chất trợ lắng PAA thông qua các thông số: pH, độ đục, TDS, TSS, BOD5, COD, độ muối
2.3 Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của khóa luận bao gồm:
- Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất và hệ thống xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Đánh giá đặc tính nước thải sản xuất giấy của Công ty
- Nghiên cứu thử nghiệm khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy tại Công ty bằng chất keo tụ PAC và chất trợ lắng PAA
- Đề xuất mô hình xử lý nước thải phù hợp với điều kiện của Công ty
Trang 152.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt nội dung nghiên cứu, khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
2.4.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Mục đích của việc thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu là nhằm nắm bắt được các phương pháp nghiên cứu đã thực hiện trước đây, có được phương pháp luận chặt chẽ, làm rõ hơn về vấn đề nghiên cứu của mình cũng như kiến thức rộng và sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu
Để có được các thông tin liên quan tới vấn đề đang nghiên cứu, khóa luận có sử dụng phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu môi trường liên quan đến một số biện pháp thường được áp dụng trong xử lý nước thải giấy hiện nay Các tài liệu này có thể thu thập được tại các báo cáo tổng kết đề tài, tạp chí khoa học, giáo trình môi trường, internet,…
Một số thông tin liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu, dây chuyền sản xuất của Công ty, công nghệ áp dụng, đặc tính dòng thải,… được tham khảo từ tài liệu của UBND thành phố Việt Trì, Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, tạp chí, internet và các đề tài liên quan
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực địa
Khảo sát ngoài thực địa là phương pháp truyền thống, đặc trưng và rất cần thiết trong lĩnh vực nghiên cứu môi trường Phương pháp này mang lại những nhận định, kết luận chính xác tránh được những kết luận mang tính chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn
Tiến hành khảo sát tình hình sản xuất của Công ty, đặc điểm và quy trình sản xuất; khảo sát hệ thống xử lý nước thải và tình hình môi trường xung quanh khu vực Công ty để đưa ra những nhận định sát thực nhất về đối tượng nghiên cứu
Trang 162.4.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu
Trong khuôn khổ thực hiện của khóa luận mẫu nước được lấy dựa theo TCVN 4556 : 1998 (Nước thải - Phương pháp lấy mẫu, vận chuyển và bảo quản mẫu)
Dụng cụ đựng mẫu được sử dụng ở đây là những chai nhựa có thể tích 1,5 lít Mẫu nước thải được lấy ngay tại đầu ra của quy trình sản xuất trong nhà máy với tổng thể tích lấy là 10 lít
Mẫu sau khi lấy được cho vào thùng bảo quản ở nhiệt độ 4oC và vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm của Trường Đại học Lâm nghiệp để nghiên cứu
2.4.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm (Phương pháp khảo sát hiệu quả xử
lý của chất keo tụ PAC và chất trợ lắng PAA đối với một số thông số của nước thải giấy)
Nhằm mục đích nghiên cứu khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy của chất keo tụ PAC và chất trợ lắng PAA, việc thiết kế thí nghiệm là một khâu
vô cùng quan trọng Nó sẽ quyết định sự chính xác của kết quả nghiên cứu Vì vậy, với phạm vi nghiên cứu đã nêu, các thí nghiệm sẽ tiến hành như sau:
- Thí nghiệm 1: Mô hình thí nghiệm Jartest - Nghiên cứu khả năng xử
lý mẫu nước thải giấy bằng chất keo tụ PAC
- Thí nghiệm 2: Mô hình thí nghiệm Jartest - Nghiên cứu khả năng xử
lý mẫu nước thải giấy bằng chất keo tụ PAC kết hợp chất trợ lắng PAA
Hai thí nghiệm trên đều được tiến hành theo phương pháp Jartest - phương pháp chuẩn thường được sử dụng trong công nghệ xử lý nước thải Hầu hết các loại nước thải trước khi được xử lý đều phải kiểm tra theo phương pháp này tại phòng thí nghiệm rồi mới cho vào áp dụng trong thực tế
Quy trình tiến hành thí nghiệm: Mẫu nước thải sau khi được mang về phòng thí nghiệm sẽ được loại bỏ các vật chất thô và khuấy đều để tạo thành phần đồng nhất, điều chỉnh pH về giá trị thích hợp (pH = 7) Sau đó được chia thành nhiều phần như nhau, đựng trong các cốc thí nghiệm giống hệt nhau
Trang 17Lần lượt cho hóa chất vào các cốc trên với những lượng khác nhau Tiến hành
đo các thông số: pH, độ đục, TDS, TSS, BOD5, COD, độ muối trước khi cho chất keo tụ vào và đo lại các giá trị đó sau một khoảng thời gian để đánh giá hiệu quả xử lý
Thông qua các kết quả thu được từ thực nghiệm sẽ xác định được mối quan hệ giữa nồng độ chất ô nhiễm và lượng hóa chất bổ sung, từ đó sử dụng
để tìm ra lượng hóa chất tối ưu cho quá trình xử lý nước thải của Công ty
a Bố trí thí nghiệm khảo sát khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy của chất keo tụ PAC (thí nghiệm 1)
* Trang thiết bị thực nghiệm
- Máy bơm không khí có lưu lượng 0,1 lít/phút của Mỹ
- Máy đo độ đục Micro TPI của Đức
- Máy xác định oxi hòa tan YSI 5000 của Mỹ, tủ ủ mẫu BOD tiêu chuẩn
- Máy khuấy Jartest của Đức
- Máy li tâm Univesal 320 của Đức
- Các loại dụng cụ thủy tinh thông thường
- Các cốc đựng mẫu nước thải nghiên cứu của Đức, dung tích 500 mL, miệng rộng
Tiến hành thí nghiệm lần lượt theo quy trình các bước sau:
Bước 1: Khuấy đều mẫu nước thải tạo môi trường đồng nhất, sau đó lấy lần lượt 500 mL nước thải cho vào 5 cốc giống hệt nhau có thể tích 500 mL Đồng thời lấy ra một mẫu để phân tích các thông số: pH, độ đục, TDS, TSS,
Trang 18BOD5, COD, độ muối; từ đó làm cơ sở để đánh giá hiệu quả xử lý Do nước thải giấy của Công ty mang tính chất trung tính nên không cần phải điều chỉnh pH trước
Bước 2: Lấy chính xác 0; 5; 10; 15; 20 mL dung dịch PAC nồng độ 5 mg/mL cho vào 5 cốc nước thải, tương ứng với 5 mức nồng độ chất keo tụ PAC trong mỗi cốc là 0; 50; 100; 150; 200 mg/L Ký hiệu các mức xử lý lần lượt là 1; 2; 3; 4; 5
Trước khi tiến hành thí nghiệm Jartest, khóa luận đã có một thời gian thử nghiệm kỹ và nhận thấy chất keo tụ PAC có khả năng xử lý rất tốt tại các mức nồng độ này Lý do không tiếp tục nâng nồng độ PAC lên vì: nồng độ PAC quá cao sẽ gây ra hiện tượng tái ổn định các hạt keo khiến các thông số trong mẫu nước thải lại tăng cao Bên cạnh đó, nếu tăng nồng độ chất keo tụ PAC sẽ tăng thêm kinh phí sử dụng mà hiệu quả mang lại không nhiều Vì vậy, thí nghiệm Jartest được tiến hành theo 5 mức nồng độ của PAC là: 0; 50; 100; 150; 200 mg/L
Bước 3: Tiến hành khuấy bằng máy khuấy Jartest với tốc độ khuấy như sau: trong 2 phút đầu các cốc được khuấy với tốc độ nhanh 140 vòng/phút, sau đó tốc độ khuấy giảm dần chỉ còn 40 vòng/phút và tiếp tục khuấy trong khoảng 10 phút Kết thúc quá trình khuấy, để lắng mẫu và xác định các chỉ tiêu của nước thải sau xử lý
Bước 4: Theo dõi quá trình lắng
Bước 5: Sau khi quá trình lắng kết thúc, lấy phần nước trong (ở bên trên) để phân tích giá trị các thông số nghiên cứu và tính toán kết quả
Tổng số lần phân tích mỗi thông số là 3 lần lặp
b Bố trí thí nghiệm khảo sát khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy của chất keo tụ PAC kết hợp chất trợ lắng PAA (thí nghiệm 2)
* Trang thiết bị và hóa chất thực nghiệm
Tương tự như khi bố trí thí nghiệm khảo sát khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy của chất keo tụ PAC
Trang 19* Thiết kế thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành lần lượt theo các bước như sau:
Bước 1: Khuấy đều mẫu tạo môi trường đồng nhất, lấy lần lượt 500 mL nước thải cho vào 5 cốc có dung tích 500 mL, miệng rộng Đồng thời, lấy riêng ra một mẫu để phân tích các thông số: pH, độ đục, TDS, TSS, BOD5, COD, độ muối; từ đó làm cơ sở để đánh giá hiệu quả xử lý Do nước thải của Công ty mang tính chất trung tính nên không cần phải trải qua bước điều chỉnh pH trước
Bước 2: Lấy chính xác 10 mL dung dịch PAC nồng độ 5 mg/mL cho vào 4 cốc thí nghiệm ở trên Sau đó, lần lượt thêm chính xác 0; 1,25; 2,5; 5;
10 mL dung dịch PAA nồng độ 0,5 mg/mL vào các cốc thí nghiệm Khi đó nồng độ các hóa chất tương ứng tại các cốc là: PAC 0 mg/L + PAA 0 mg/L; PAC 100 mg/L + PAA 1,25 mg/L; PAC 100 mg/L + PAA 2,5 mg/L; PAC
100 mg/L + PAA 5 mg/L; PAC 100 mg/L + PAA 10 mg/L và các mức xử lý được ký hiệu lần lượt là 1; 2; 3; 4; 5 tương ứng với các mức nồng độ trên Lý
do chọn tiến hành thí nghiệm Jartest tại các mức nồng độ trên cũng tương tự như ở thí nghiệm 1, đó là: sẽ thu được hiệu quả xử lý tốt nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao khi xử lý nước thải sản xuất giấy tại các mức nồng độ này
Bước 3: Tiến hành khuấy bằng máy Jartest với tốc độ khuấy như sau: trong 1 phút đầu các cốc được khuấy với tốc độ 80 vòng/phút, sau đó tốc độ khuấy giảm xuống còn 40 vòng/phút và tiếp tục khuấy trong 1 phút nữa Kết thúc quá trình khuấy, để mẫu nước lắng và xác định các chỉ tiêu trong nước thải sau xử lý
Bước 4: Theo dõi quá trình lắng
Bước 5: Sau khi quá trình lắng kết thúc, gạn lấy phần nước trong (ở bên trên) để phân tích giá trị các thông số nghiên cứu và tính toán kết quả
Tổng số lần phân tích mỗi thông số là 3 lần lặp
Trang 202.4.5 Phương pháp phân tích các thông số trong phòng thí nghiệm
a Phương pháp đo pH
Để xác định độ pH của nước khóa luận sử dụng bút đo pH điện tử hiện
số của hãng Hanna - Italia
b Độ đục
Xác định theo TCVN 6148:1996, ISO 7027:1990
Độ đục được xác định bằng cách đo trực tiếp, sử dụng máy đo nhanh Lovibond của Đức Quy trình đo tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất Trước khi tiến hành đo cần phải kiểm ra lại máy bằng cách điều chỉnh máy với các dung dịch chuẩn có giá trị bằng 1000; 10; 0,02 NTU Mỗi mẫu nước thải được cho vào đo 2 lần liên tiếp và sau đó lấy giá trị trung bình
c Tổng chất rắn hòa tan (TDS)
Tổng chất rắn hòa tan (TDS) - xác định theo phụ lục A của TCVN 6053:1995, ISO 9696:1992, TCVN 4560:1988 TDS là đại lượng chỉ hàm lượng chất rắn hòa tan có trong nước TDS được xác định bằng bút đo nhanh CL200 của hãng Extech - Mỹ
d Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
Xác định theo TCVN 6625:2000, ISO 11923:1997
Cách xác định: lấy chính xác một thể tích mẫu nước cần phân tích rồi lọc qua giấy lọc (đã sấy trước) Tiếp tục sấy khô giấy đã lọc bằng tủ sấy đến khối lượng không đổi ở nhiệt độ 105oC và đem cân trên cân phân tích có sai
số ±0,1mg So sánh khối lượng giấy lọc trước và sau khi lọc, từ đó suy ra hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước theo công thức sau:
Trong đó:
+ m1: Khối lượng giấy lọc sấy ở 105oC trước khi lọc (mg)
+ m2: Khối lượng giấy lọc sấy ở 105oC sau khi lọc (mg)
+ V: Thể tích mẫu nước lọc qua giấy lọc (L)
Trang 21e Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD 5 )
Nhu cầu ôxy sinh học là lượng ôxy đã sử dụng trong quá trình ôxy hóa các chất hữu cơ bởi các vi sinh vật Trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp cấy và pha lấy mẫu theo TCVN 6001:2008 để xác định nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) Trình tự các bước phân tích như sau:
- Chuẩn bị dung dịch pha loãng: dung dịch dùng để pha loãng mẫu nước thải nghiên cứu được chuẩn bị ở chai to rộng miệng bằng cách thổi không khí sạch vào nước cất và lắc nhiều lần cho đến khi bão hòa ôxy Sau đó thêm 1 mL dung dịch đệm photphat; 1 mL dung dịch MgSO4.7H2O 22,5g/L;
1 mL dung dịch CaCl2 27,5 g/L; 1 mL dung dịch FeCl3.6H2O 0,25 g/L và định mức đến 1 lít bằng nước cất
- Pha loãng và phân tích mẫu: lựa chọn hệ số pha loãng thích hợp rồi trung hòa mẫu nước phân tích Sau đó lấy một thể tích cần phân tích cho vào chai BOD có thể tích 300 mL Cho từ từ nước pha loãng vào chai đến cổ bình,
đo giá trị DOo Tiến hành đậy nút chai lại và đem đi ủ ở nhiệt độ 20o
C trong 5 ngày (tránh ánh sáng) Sau 5 ngày, lấy ra và đo lại giá trị ôxy hòa tan (DO5)
Lượng BOD5 được xác định theo công thức:
BOD5 = (Doo – DO5).F Trong đó:
+ BOD5: Giá trị BOD sau 5 ngày ủ (mg/L)
+ DOo: Giá trị DO đo ở 20o
C sau khi pha loãng (mg/L) + DO5: Giá trị DO đi ở 20o
C sau 5 ngày ủ ở 20oC (mg/L) + F: Hệ số pha loãng, được tính bằng tỷ số giữa thể tích dung dịch mang đi ủ (300 mL) trên thể tích dung dịch mẫu lấy phân tích
f Nhu cầu ôxy hóa học (COD)
Nhu cầu ôxy hóa học được xác định khi ôxy hóa các chất hữu cơ ở nhiệt độ cao bằng các chất ôxy hóa mạnh, thường là K2Cr2O7 trong môi trường axit với xúc tác Ag2SO4, đồng thời sử dụng HgSO4 để loại bỏ ảnh hưởng của Cl-
có trong mẫu nước Khi đó xảy ra phản ứng:
Trang 22với chỉ thị là Feroin Lượng COD được tính theo công thức sau:
Trong đó:
+ a: Thể tích dung dịch Fe2+
chuẩn độ mẫu trắng (mL) + b: Thể tích dung dịch Fe2+
chuẩn độ mẫu (mL) + V: Thể tích mẫu mang đi phân tích
+ N: Nồng độ mol/L của dung dịch Fe2+
g Hàm lượng bùn cặn
Là những chất rắn có khối lượng nhỏ, nhờ quá trình keo tụ chúng tạo ra thành những bông keo có kích thước lớn hơn ban đầu, chìm xuống tạo thành lớp bùn ở dưới đáy Ở đây, khóa luận sử dụng phương pháp li tâm bằng máy
li tâm Univesal 320 của Đức để tiến hành xác định hàm lượng bùn cặn tại mỗi cốc thí nghiệm Phương pháp được tiến hành theo trình tự như sau:
+ Nước thải sau khi đã qua xử lý bằng chất keo tụ, gạn hết phần nước trong ở trên, sau đó lấy 70 mL bùn cặn ở đáy cốc thủy tinh rồi cho vào máy li tâm để tách nước Trước khi tiến hành li tâm cần phải cân trước khối lượng của ống li tâm
Trang 23+ Sau khi cho vào máy, tiến hành li tâm ở 10 phút với tốc độ 4000 vòng/phút Lấy ống li tâm ra khỏi máy, tách nước ở phía trên rồi tiến hành cân
để xác định hàm lượng bùn cặn
Hàm lượng bùn cặn toàn phần (X) sinh ra được tính theo công thức:
Trong đó:
+ m1: Khối lượng ống li tâm khi không có mẫu (mg)
+ m2: Khối lượng ống li tâm khi đã tách nước ra khỏi bùn (mg)
+ V: Thể tích nước thải đem đi xử lý (L)
h Xác định tốc độ lắng
Là khoảng thời gian cần thiết để quá trình keo tụ xảy ra hoàn toàn Tốc
độ lắng có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp xử lý Trong nghiên cứu này sử dụng ống đong có chứa vạch đến cỡ mm để xác định tốc
độ lắng của bùn cặn Sau khi kết thúc quá trình khuấy, chuyển toàn bộ mẫu nước thải vào ống đong có chia vạch rồi quan sát và tính toán kết quả
Tốc độ lắng được tính theo công thức:
Tốc độ lắng = (mm/phút) Trong đó:
+ l1: Chiều cao của dung dịch ở thời điểm bắt đầu lắng (mm)
+ l2: Chiều cao của lớp bùn khi kết thúc quá trình lắng (mm)
+ t1: Thời điểm bắt đầu xảy ra quá trình lắng, khi vừa kết thúc quá trình khuấy (phút)
+ t2: Thời điểm kết thúc quá trình lắng (phút)
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu, đánh giá kết quả nghiên cứu
* Xử lý số liệu
Thông qua các kết quả phân tích và một số tài liệu thu thập được, đề tài tiến hành tổng hợp, phân tích và đánh giá với sự trợ giúp của phần mềm excel
Trang 24Tại các mức nồng độ khác nhau, mỗi giá trị thu được sau xử lý sẽ được
so sánh với giá trị trước khi xử lý và tính toán hiệu suất xử lý tại mức nồng độ
đó Công thức tính hiệu suất xử lý được sử dụng:
H = x 100 - H1 (%) Trong đó:
H: Hiệu suất xử lý (%)
X0: Giá trị đo của các thông số trước khi xử lý
X2: Giá trị đo của các thông số sau khi xử lý
H1: Hiệu xuất xử lý tại cốc đối chứng - cốc số 1 tại cả hai thí nghiệm (%) Giá trị H1 được tính theo công thức sau: H1 = x 100 (%) Trong đó: X1 là giá trị đo của các thông số sau khi xử lý tại cốc đối chứng
* Đánh giá kết quả nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu, so sánh với QCVN 12 : 2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy để đánh giá chất lượng nước thải đầu ra của Công ty
Theo QCVN 12 : 2008/BTNMT, giá trị tối đa cho phép của các thông
số ô nhiễm trong mẫu nước thải không vượt quá giá trị Cmax được tính toán theo công thức sau: Cmax = C x Kq x Kf
Trong đó:
Cmax: Nồng độ tối đa cho phép của thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp giấy và bột giấy khi thải vào nguồn nước tiếp nhận nước thải, tính bằng miligam trên lít nước thải (mg/L)
C: Giá trị nồng độ của thông số ô nhiễm quy định tại cột B1 (Áp dụng cho cơ sở chỉ sản xuất giấy) của QCVN 12 : 2008/BTNMT
Kq: Hệ số lưu lượng/dung tích nguồn nước tiếp nhận nước thải Dựa vào bảng 2 trong QCVN 12 : 2008/BTNMT, chọn Kq = 0,9 (do không có số liệu về lưu lượng dòng chảy)
Trang 25Kf: Hệ số lưu lượng nguồn thải Theo bảng 4 trong QCVN 12:2008/BTNMT, trường hợp này lấy Kf = 1 (do lưu lượng nguồn thải của Công ty là 1.100 m3/ngày đêm)
Từ kết quả phân tích các chỉ tiêu môi trường trong nước thải đầu ra trước và sau khi xử lý bằng hóa chất, so sánh với QCVN 12 : 2008/BTNMT,
có thể đánh giá được khả năng xử lý nước thải giấy của chất keo tụ PAC, chất trợ lắng PAA và từ đó xây dựng hệ thống xử lý nước thải phù hợp cho Công
ty
Trang 26CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ Thành phố có diện tích tự nhiên 11.175.11 ha, bao gồm 13 phường nội thị và 10 xã ngoại thị với tổng dân số là 277.539 người Địa giới hành chính được xác định như sau:
Phía Đông giáp với huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc);
Phía Nam giáp huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), huyện Ba Vì (Hà Nội); Phía Tây giáp huyện Lâm Thao;
Phía Bắc giáp huyện Phù Ninh
Thành phố Việt Trì nằm ở Ngã ba Hạc, là nơi giao nhau của 3 con sông lớn: sông Hồng, sông Lô và sông Đà
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Phú Thọ là tỉnh miền núi trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu Thành phố Việt Trì nằm trong tiểu vùng gò đồi thấp
bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu
Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng trọt các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực, chăn nuôi Giao thông ở đây tương đối thuận lợi, phục vụ cho việc buôn bán, phát triển kinh tế xã hội
3.1.3 Điều kiện khí hậu
Việt Trì nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy thành phố thuộc vùng Đông Bắc nhưng do độ cao không lớn nên ngay trong mùa đông thì khí hậu cũng không lạnh lắm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23oC Số giờ nắng trong năm khá cao (1300 - 1400 giờ/ năm) Lượng mưa trung bình khoảng 1500 mm/năm, tập trung vào các tháng 5 - 9 Độ ẩm trung bình là 85
% Nhìn chung, điều kiện khí hậu của thành phố tương đối thuận lợi cho việc
Trang 27phát triển nông nghiệp và một số ngành nghề khác, tăng hệ số sử dụng đất của vùng [4]
3.1.4 Thủy văn
Sông Hồng dài khoảng 1.183 km, đoạn chảy qua nước ta là 650 km Sông có lưu lượng nước bình quân hàng nǎm rất lớn, tới 2.640 m³/s (tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng nước phân bổ không đều Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30.000 m³/s
Lũ sông Hồng chủ yếu là do lũ các phụ lưu chính: sông Đà và sông Lô gây nên Hàng năm, mùa lũ kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 dương lịch) Tháng có lưu lượng nước bình quân lớn nhất tức đỉnh lũ là tháng 8, lượng nước bằng 15% tổng lượng cả năm và bằng tổng lượng nước cả 7 tháng mùa cạn (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau) Tháng có lưu lượng nước nhỏ nhất là tháng 3
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Nông nghiệp
Đây là ngành kinh tế trọng yếu của thành phố Thành phố hướng dẫn nông dân phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và đã có nhiều chuyển biến tích cực, khai thác được lợi thế của từng vùng, kinh tế hộ gia đình, kinh
tế đồi rừng, kinh tế trang trại Diện tích, sản lượng nông nghiệp tăng dần qua các năm Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của thành phố còn nhiều hạn chế
Cơ chế nông nghiệp chậm thay đổi, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao so với chăn nuôi Việc vận dụng các thiết bị khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn chậm và chưa đồng đều Tiềm năng đất đai và lao động chưa được khai thác hết
3.2.2 Công nghiệp
Việt Trì là thành phố có điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thuận lợi
để phát triển nhiều ngành công nghiệp như chế biến nông, lâm sản, thực phẩm; khai khoáng, hóa chất, phân bón; sản xuất vật liệu xây dựng và công
Trang 28nghiệp sản xuất hàng may mặc, hàng tiêu dùng Nơi đây có nền công nghiệp phát triển tương đối sớm, từ những năm 1960 Trong thời gian tới, thành phố
sẽ phát triển xây dựng các nhà máy chế biến nhiều hơn nữa để phục vụ nhu cầu xuất khẩu ra nước ngoài
3.2.3 Dịch vụ
Tỷ trọng của ngành dịch vụ ở thành phố tăng khá nhanh, nhất là vào dịp
lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương Ngành giao thông vận tải gần đây đã có nhiều chuyển biến như làm mới và nâng cấp một số tuyến đường phục vụ nhu cầu giao thương và đi lại của người dân Số phương tiện vận tải tăng nhanh
Ngành thông tin liên lạc cũng phát triển với số thuê bao điện thoại ngày càng tăng Hiện mật độ máy điện thoại đã đạt hơn 5 máy/100 dân
3.2.4 Giao thông
Tổng chiều dài đường bộ của tỉnh khoảng 4650 km, trong đó có 263 km đường quốc lộ Thế nhưng, chất lượng đường chưa cao Tuyến đường sắt Hà Nội- Lào Cai chạy dọc theo chiều dài của tỉnh, có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Đường sông có 302 km Tỉnh có 3 sông lớn là sông Hồng, sông Lô, sông Đà giao lưu rất tiện lợi, trong đó sông Thao có ý nghĩa về mặt giao thông hơn cả Ba con sông này đều tập trung quy tụ thành một mối tại thành phố Việt Trì Vì vậy rất thuận tiện cho phát triển giao thông đường thủy ở đây
Trang 29CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Quy trình công nghệ sản xuất và hệ thống xử lý nước thải của Công
ty Cổ phần Giấy Việt Trì
4.1.1 Quy trình công nghệ sản xuất giấy của Công ty
* Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giấy
Hình 4.1 Quy trình công nghệ sản xuất giấy tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì
Máy nghiền đĩa
H Sàng tubo
Bột thải
Phần cuộn lại
và cắt
H Lô cuộn H Ép quang
Hơi nước Tái tuần hoàn lề
giấy thừa làm
nguyên liệu
Trang 30* Thuyết minh quy trình công nghệ sản xuất
Nguyên liệu đầu vào sử dụng cho quá trình sản xuất giấy bao gồm: giấy tái chế và bột giấy, nhập từ trong nước hoặc nước ngoài
Theo hệ thống băng tải, nguyên liệu được truyền vào giai đoạn nghiền thủy lực 1 Tại đây xảy ra quá trình khuấy trộn và nghiền nhỏ nguyên liệu bằng nước Ngoài ra có bổ sung thêm một lượng nhỏ dung dịch NaOH để làm trương nở, mềm xơ sợi khiến quá trình nghiền thủy lực được xảy ra dễ dàng hơn Phần bột tốt sau khi đã đánh tơi có thể chui qua các mắt sàng và được bơm vận chuyển về bể chứa sau thủy lực Phần không thể chui qua được các mắt sàng ở giai đoạn nghiền thủy lực 1 sẽ được chuyển sang giai đoạn nghiền thủy lực 2 Nguyên tắc hoạt động của giai đoạn này cũng giống như giai đoạn 1
Sau đó, phần bột tốt có thể chui qua mắt sàng cũng sẽ được vận chuyển
về bể chứa sau thủy lực Một số vật liệu nhẹ như nilon không chui qua sàng ở giai đoạn này sẽ được thải bỏ ra ngoài
Tại bể chứa sau thủy lực có các cánh khuấy làm đều bột trước khi dòng bột được bơm tới lọc cát thô Tại lọc cát thô, dòng bột được bơm vào theo phương tiếp tuyến (áp lực vào khoảng 2,58 kg/cm2) Một số vật liệu nặng như cát, đinh, ghim,… dưới tác dụng của lực ly tâm sẽ va vào thành, rơi xuống qua các van và được thải ra ngoài
Sàng tubo - lọc cát cao cấp giai đoạn 2, hoạt động nhằm loại bỏ các tạp chất tinh Tuy nhiên thời gian thải ở giai đoạn lọc cát tinh này nhanh hơn ở giai đoạn lọc cát thô do lượng tạp chất ở đây không nhiều bằng giai đoạn lọc cát thô Bột tiếp tục được đưa về bể chứa trung gian nhằm ổn định lưu lượng dòng
Từ bể chứa trung gian, dòng bột được bơm sang hệ thống máy nghiền đĩa Tại đây bột được nghiền nhỏ để phù hợp với yêu cầu của sản phẩm đầu
ra Bột tiếp tục được chuyển sang bể chứa tinh và bể máy xeo
Sau đó, bột được đưa về hệ thống lọc cát tinh và lọc lần lượt theo 4 cấp lọc Qua bơm vận chuyển, bột tốt của lọc cát tinh cấp 1 sẽ được chuyển về sàng áp lực Bột thải của giai đoạn này sẽ được bơm sang lọc cát tinh cấp 2 Tiếp tục cho đến lọc cát cấp 4 thì bột thải sẽ được thải bỏ ra ngoài
Trang 31Bột vào sàng áp lực nhằm loại bỏ nốt phần bột thải trước khi được lên lưới hình thành Tại lưới hình thành, nguyên liệu bắt đầu được tiến hành tạo giấy Giấy ẩm tạo thành từ lưới hình thành được đi qua hệ thống ép Giấy qua
ép có độ ẩm khoảng 60%
Giấy qua ép tiếp tục được đưa vào hệ thống sấy nhằm mục đích làm bốc hơi nước Năng lượng cấp cho quá trình sấy được lấy từ hơi bão hoà của nồi hơi Sau khi sấy, giấy đạt độ ẩm khoảng 8%, cho qua ép quang và được cuộn thành cuộn lớn chuẩn bị cho công đoạn chế biến tiếp theo
Cuối cùng giấy được cuộn lại theo kích thước mà khách hàng đặt mua rồi cho vào kho thành phẩm Trong quá trình cắt, một lượng lớn giấy thừa được tạo ra và được sử dụng cho quay lại tái tuần hoàn trong quy trình sản xuất
* Nhận xét sơ bộ đặc tính dòng thải
Qua quá trình nghiên cứu toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, có thể đưa ra một số nhận xét như sau:
- Nguyên liệu đầu vào của quy trình sản xuất là giấy tái chế và bột giấy,
vì vậy sẽ không có hàm lượng lignin trong dòng thải ra Điều này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi lựa chọn các biện pháp xử lý nước thải giấy của Công ty, do lignin là một chất rất khó phân hủy
- Trong quá trình sản xuất, ngoài vài giọt dung dịch NaOH không đáng
kể (cung cấp cho quá trình nghiền thủy lực) và lượng nước cấp cho hệ thống lọc cát thì Công ty không hề sử dụng thêm hóa chất nào Như vậy dòng thải ra
sẽ không chứa các hợp chất hóa học khó xử lý
- Quan sát dòng chất thải được thải ra môi trường, ngoài bột thải là chủ yếu thì vẫn còn một số loại chất thải khác như: nilon, đinh, ghim,… Tuy nhiên, có thể dùng biện pháp cơ học để loại bỏ các loại chất thải này Như vậy dòng thải của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì có thành phần chính là bột giấy
Dự đoán các thông số BOD5, COD, TSS trong dòng nước thải này sẽ cao
Trang 324.1.2 Hệ thống xử lý nước thải của Công ty
* Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải
Hình 4.2 Hệ thống xử lý nước thải của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì
Nước thải
đầu vào
Bể cô đặc bùn Phèn
Trang 33* Nhận xét hệ thống xử lý nước thải của Công ty
Hệ thống xử lý nước thải của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì hiện đang
sử dụng hai phương pháp xử lý chính: phương pháp keo tụ - tủa bông và xử lý sinh học hiếu khí Qua nghiên cứu và tiến hành khảo sát thực tế, có thể đưa ra một số nhận xét về hệ thống xử lý nước thải của Công ty như sau:
- Theo quan sát, dòng nước thải cuối hệ thống có màu đục và mùi hôi Điều đó chứng tỏ hệ thống xử lý nước thải của Công ty chưa thực sự hoạt động có hiệu quả
- Hóa chất mà Công ty sử dụng trong bể keo tụ - tủa bông là phèn nhôm sunfat Chất này khi sử dụng sẽ có một số nhược điểm: thời gian lắng chậm;
dễ làm thay đổi giá trị pH của nước; làm đục nước khi sử dụng thừa hay thiếu; phải sử dụng thêm chất trợ keo tụ và trợ lắng nếu hiệu quả xử lý quá thấp; làm phát sinh hàm lượng SO42-
; ăn mòn kim loại;…
- Hệ thống xử lý được xây dựng bao gồm nhiều bể có kích thước lớn, gây tốn kém về diện tích và kinh phí vận hành
Từ những nhận xét trên, có thể thấy: cần phải xây dựng lại hệ thống xử
lý nước thải cho phù hợp với điều kiện của Công ty, nhằm mang lại hiệu quả
xử lý và hiệu quả kinh tế cao nhất
4.2 Chất lượng nước thải sản xuất giấy và lựa chọn công nghệ xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì
4.2.1 Đánh giá chất lượng nước thải
Nhằm mục đích đánh giá chất lượng nước thải ở sau quy trình sản xuất của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì, khóa luận đã tiến hành lấy mẫu và phân tích tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Thí nghiệm - Thực hành, Khoa QLTNR & MT Tiến hành đo lặp lại 2 lần đối với mỗi thông số phân tích, kết quả được thể hiện chi tiết ở bảng sau:
Trang 34Bảng 4.1 Kết quả phân tích các chỉ tiêu trước khi xử lý
Thông số Đơn vị Lần đo 1 Lần đo 2 Trung bình Cmax
Chú thích: Giá trị Cmax đƣợc lấy trong QCVN đƣợc chọn ở phần 2.4.6
Từ bảng kết quả trên có thể thấy: nhiều thông số phân tích vƣợt quá TCCP nhiều lần Cụ thể nhƣ sau:
Trang 35trong nước Mặt khác, lượng hóa chất mà Công ty sử dụng thêm trong toàn bộ quy trình sản xuất là rất ít Vì vậy hàm lượng chất rắn hòa tan trong nước thấp
* Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) sau hai lần phân tích có giá trị trung bình là 234,8 mg/L; cao gấp hơn 2,6 lần TCCP Nguyên nhân dẫn tới thông số TSS cao bởi do chất thải tạo ra chủ yếu trong toàn bộ quy trình sản xuất của Công ty là bột thải Lượng bột thải này không hòa tan mà lơ lửng trong nước thải, khiến cho thông số TSS thu được cao Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm của nước thải giấy
* Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD 5 )
Qua bảng 4.1, có thể thấy được rằng hàm lượng BOD5 của mẫu nước thải lấy tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì vượt quá TCCP hơn 8 lần Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5) của Công ty cao là do tồn tại một lượng lớn các loại cặn hữu cơ trong nước thải, chủ yếu là từ lượng bột giấy thừa Hàm lượng BOD5cao sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hàm lượng ôxy trong nước, gây nguy hiểm cho
hệ thủy vực tại khu vực nghiên cứu
* Nhu cầu oxi hóa học (COD)
Kết quả phân tích thông số COD trong mẫu nước thải thu được vượt quá TCCP hơn 3,5 lần Có thể giải thích nguyên nhân khiến thông số COD cao như vậy là do hàm lượng các hợp chất vô cơ, hữu cơ tồn tại trong nước thải giấy nhiều Bao gồm một lượng lớn bột giấy thừa bị thải bỏ sau các công đoạn và một phần nhỏ hóa chất được bổ sung trong toàn bộ quy trình sản xuất
Như vậy, nước thải sản xuất giấy của Công ty có nhiều thông số ô nhiễm vượt quá TCCP nhiều lần, đặc biệt là các thông số: TSS (2,6 lần); BOD5 (8,1 lần); COD (3,5 lần) Do đó mục tiêu đặt ra là trong quá trình đề xuất mô hình xử lý nước thải cho Công ty cần lưu ý lựa chọn công nghệ thích hợp để xử lý các thông số TSS, BOD5, COD đạt giá trị cho phép của QCVN
Trang 3612 : 2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy
4.2.2 Lựa chọn công nghệ xử lý
Theo như phần 4.2.1 ở trên, nước thải của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì có hàm lượng chất rắn lơ lửng và chất hữu cơ cao vượt quá TCCP nhiều lần Bên cạnh đó, tỷ lệ BOD5/COD thu được là gần bằng 0,5 Vì vậy, để xử lý hiệu quả nước thải của Công ty, khóa luận đã đề xuất hai biện pháp chính: xử
lý hóa lý kết hợp xử lý sinh học, đồng thời sử dụng các biện pháp cơ học như lắng để loại bỏ bớt các chất rắn lơ lửng trong nước
Đối với xử lý hóa lý, khóa luận áp dụng phương pháp keo tụ - tủa bông với chất keo tụ được sử dụng là Polyaluminum Chloride (PAC) kết hợp chất trợ lắng Polyacrylamide (PAA) Ưu điểm khi sử dụng phương pháp này là: hiệu quả keo tụ và lắng cao, khả năng loại bỏ các chất hữu cơ tan và không tan cùng các kim loại rất tốt, tiết kiệm kinh phí lớn, ít làm biến động độ pH trong nước, ít ăn mòn kim loại, không làm đục nước khi dùng thừa hay thiếu, không làm phát sinh hàm lượng SO42-
trong nước thải sau xử lý là loại có độc tính đối với vi sinh vật,…
Do thông số BOD5 trong mẫu nước thải chưa xử lý có giá trị 368 < 800, điều đó chứng tỏ nước thải của Công ty vẫn chưa chứa quá nhiều chất hữu cơ, chưa cần phải sử dụng biện pháp sinh học kỵ khí để xử lý Vì vậy, khóa luận
đề xuất áp dụng biện pháp sinh học hiếu khí: sử dụng bể Aerotank để xử lý tiếp theo sau biện pháp keo tụ - tủa bông ở trên
Như vậy, với mục tiêu xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định tại QCVN 12 : 2008/BTNMT trước khi thải ra ngoài và với những cơ sở đã phân tích ở trên, khóa luận tiến hành đề xuất quy trình công nghệ xử lý nước thải tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì bao gồm các công trình sau: song chắn rác,
bể lắng sơ cấp, bể keo tụ kết hợp lắng, bể aerotank, bể lắng thứ cấp, bể thu bùn
Trang 374.3 Khả năng xử lý nước thải sản xuất giấy của chất keo tụ PAC và chất trợ lắng PAA
Trong phạm vi nghiên cứu cho phép, khóa luận đã tiến hành thử nghiệm hai phương pháp hóa lý để bước đầu xử lý nước thải sản xuất giấy của Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì Với mỗi phương pháp hóa lý, khóa luận tiến hành một thí nghiệm riêng biệt, từ đó đánh giá hiệu quả xử lý và chọn ra phương pháp phù hợp hơn Cụ thể hai phương pháp đó là: phương pháp sử dụng chất keo tụ PAC và phương pháp sử dụng chất keo tụ PAC có kết hợp chất trợ lắng PAA
4.3.1 Hiệu quả xử lý nước thải sản xuất giấy của chất keo tụ PAC
Qua quá trình tiến hành thí nghiệm, kết quả xử lý nước thải giấy bằng phương pháp hóa lý sử dụng chất keo tụ PAC được khóa luận thể hiện chi tiết
ở bảngh4.2:
Trang 38Bảng 4.2 Hiệu quả xử lý nước thải sản xuất giấy tại Công ty Cổ phần Giấy Việt Trì của chất keo tụ PAC
Sau xử
lý
HSXL (%)
Sau xử
lý
HSXL (%)
Sau xử
lý
HSXL (%)
Sau xử
lý
HSXL (%)
BOD5 mg/L 367,5 367,5 0 281,0 23,5 232,0 36,9 221,0 39,9 213,0 42,0 45 COD mg/L 640,0 640,0 0 392,0 38,8 352,0 45,0 312,0 51,3 296,0 53,8 180 TDS ppm 366,0 366,0 0 332,0 9,3 314,0 14,2 283,0 22,7 278,0 24,0 - TSS mg/L 234,8 234,8 0 178,6 23,9 163,3 30,4 132,5 43,6 121,2 48,4 90 Hàm lƣợng