Trong thời gian làm Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đánh giá sinh trưởng một số dòng keo lai được trồng năm 2013 tại trại thực nghiệm Cơ sở 2 - Trường Đại học Lâm Nghiệp” em đã có cơ h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP CƠ SỞ 2
BAN NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG MỘT SỐ DÒNG KEO LAI ĐƯỢC
TRỒNG NĂM 2013 TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM
CƠ SỞ 2 - TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
NGÀNH: LÂM SINH
MÃ SỐ: C620205
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Văn Việt
Sinh viên thực hiện: Phùng Sỹ Hải
ĐỒNG NAI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được học tập và rèn luyện tại trường Trường Đại học Lâm Nghiệp – cơ sở 2, nhận được sự chỉ bảo, giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô trong trường đã truyền đạt cho em những kiến thức về lý thuyết và thực hành về ngành Lâm Nghiệp trong suốt thời gian học ở trường
Trong thời gian làm Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đánh giá sinh trưởng
một số dòng keo lai được trồng năm 2013 tại trại thực nghiệm Cơ sở 2 - Trường Đại học Lâm Nghiệp” em đã có cơ hội áp dụng những kiến thức học ở trường,
cùng với sự giúp đỡ, chỉ bảo của các quý thầy cô và sự nỗ lực của bản thân em đã hoàn hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp của mình
Từ những kết quả đạt được này, em xin chân thành cảm ơn:
cho em thực hiện bài Khóa luận này
là thầy Nguyễn Văn Việt đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt Khoá luận tốt nghiệp này
Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót, lỗi trình bày trong bài Khóa luận Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô
để bài Khóa luận này đạt được kết quả tốt hơn
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn!!!
Sinh viên thực hiện
Phùng Sỹ Hải
Trang 3MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT
N/ha: Mật độ (Số cây/ha)
D1.3: Đường kính thân tại vị trí 1,3m(cm)
Dt: Đường kính tán cây(m) Hvn: Chiều cao vút ngọn Hdc: Chiều cao dưới cành
%: Tỉ lệ phần trăm
Tj: Tổng tần số quan sát tương ứng với chất lượng
Ti: Tổng tần số quan sát tương ứng từng mẫu n: Tổng tần số quan sát
X : Giá trị trung bình mẫu OTC: Ô tiêu chuẩn
Cv% Hệ số biến động, %
H Chiều cao của cây, m Hvn Chiều cao vút ngọn, m H_lt Chiều cao tính theo lý thuyết, m H_tn Chiều cao theo thực nghiệm, m Log Logarit thập phân (cơ số 10)
Ln Logarit tự nhiên (cơ số e) PTNT Phát triển nông thôn
4.1 Số hiệu của hình hay bảng theo chương
R2 Hệ số xác định mức độ tương quan
S Độ lệch tiêu chuẩn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Trên thế giới 2
1.1.1 Ảnh hưởng của giống đến năng suất rừng trồng thâm canh 2
1.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng, phát triển của rừng trồng 3
1.1.3 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất chất lượng rừng trồng 4
1.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất chất lượng rừng trồng 5
1.2 Ở Việt Nam 6
1.2.1 Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng 8
1.2.2 Nghiên cứu về cải thiện giống 9
1.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng 13
1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến năng xuất và chất lượng rừng trồng 13
1.2.5 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và chất lượng rừng trồng 14
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
Trang 52.2.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 17
2.3.1 Đánh giá một số đặc điểm chung của lâm phần Keo lai 3 tuổi 18
2.3.2 Đánh giá quá trình sinh trưởng 18
2.3.3 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.4.2 Xử lý số liệu 19
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đặc điểm tự nhiên 24
3.1.1 Vị trí 24
3.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai, thực bì 24
3.1.3 Tình hình khí hậu, thủy văn 25
3.2 Điều kiện về kinh tế 26
3.3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 28
3.3.1 Các đặc điểm sinh thái - Phân bố của Keo lai 28
3.3.1.1 Đặc điểm hình thái 28
3.3.1.2 Đặc tính sinh thái 29
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Một số đặc điểm sinh trưởng của lâm phần Keo lai 3 tuổi 30
4.2 Một số đặc điểm cấu trúc của lâm phần tại khu vực nghiên cứu 32
4.2.1 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 33
4.2.1.1 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng BV32CM 33
4.2.1.2 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng BV32GH 34
4.2.2 Phân bố số cây theo chiều cao 38
4.2.2.1 Phân bố số cây theo chiều cao ở dòng BV32CM 38
Trang 64.2.2.2 Phân bố số cây theo chiều cao ở dòng BV32GH 39
4.2.2.3 Phân bố số cây theo chiều cao ở ở dòng TB6 41
4.3 So sánh các chỉ tiêu sinh trưởng giữa các OTC trồng ở 3 dòng 42
4.3.1 Sinh trưởng về đường kính (D1.3) 42
4.3.2 Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn (Hvn) 45
4.3.3 Sinh trưởng về đường kính tán (Dt) 48
4.4 Đánh giá phẩm chất cá thể và trữ lượng rừng 51
4.4.1 Đánh giá phẩm chất cá thể 51
4.4.2 Trữ lượng rừng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 54
4.5 Đề xuất một số biện pháp kĩ thuật lâm sinh tác động 56
4.5.1 Đối với dòng BV32CM 56
4.5.2 Đối với dòng BV32GH 57
4.5.3 Đối với dòng TB6 57
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 58
1 Kết luận 58
1.1 Về đường kính ngang ngực D1.3 58
1.2 Về chiều cao vút ngọn Hvn 58
1.3 Về đường kính tán Dt 59
1.4 Về trữ lượng lâm phần M(m3/ha) 59
1.5 So sánh về phẩm chất cây 60
2 Tồn tại 60
3 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Mật độ rừng hiện tại của 3 dòng Keo ở khu vực nghiên cứu 31
Bảng 4.2 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng BV32CM 33
Bảng 4.3 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng BV32GH 34
Bảng 4.4 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng TB6 36
Bảng 4.5 Phân bố số cây theo Hvn ở ở dòng BV32CM 38
Bảng 4.6 Phân bố số cây theo Hvn ở dòng BV32GH 39
Bảng 4.7 Phân bố số cây theo Hvn ở dòng TB6 41
Bảng 4.8 Sinh trưởng đường kính D1.3 của các OTC Keo lai ở tuổi 3 tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 4.9 Sinh trưởng D1.3 và tăng trưởng của lâm phần Keo lai ở tuổi 3 tại khu vực nghiên cứu 44
Bảng 4.10 Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn ở 3 dòng Keo tại khu vực nghiên cứu 46
Bảng 4.11 Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn của 3 dòng Keo tại khu vực nghiên cứu 47
Bảng 4.12 Sinh trưởng đường kính tán Dt của các OTC 49
Bảng 4.13 Sinh trưởng Dt và tăng trưởng bình quân của 3 dòng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 50
Bảng 4.14 Chất lượng rừng trồng Keo lai ở 3 dòng 51
Bảng 4.15 Kết quả kiểm kê phẩm chất rừng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 53
Bảng 4.16 Sinh trưởng về trữ lượng của các OTC ở 3 dòng Keo lai 54
Bảng 4.17 Sinh trưởng về trữ lượng của Keo lai ở 3 dòng tại khu vực nghiên cứu
55
Trang 8DANH SÁCH CÁC HÌNH
Bảng 4.1 Mật độ rừng hiện tại của 3 dòng Keo ở khu vực nghiên cứu 31
Bảng 4.2 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng BV32CM 33
Bảng 4.3 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng BV32GH 34
Bảng 4.4 Phân bố số cây theo cấp kính D1.3 ở dòng TB6 36
Bảng 4.5 Phân bố số cây theo Hvn ở ở dòng BV32CM 38
Bảng 4.6 Phân bố số cây theo Hvn ở dòng BV32GH 39
Bảng 4.7 Phân bố số cây theo Hvn ở dòng TB6 41
Bảng 4.8 Sinh trưởng đường kính D1.3 của các OTC Keo lai ở tuổi 3 tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 4.9 Sinh trưởng D1.3 và tăng trưởng của lâm phần Keo lai ở tuổi 3 tại khu vực nghiên cứu 44
Bảng 4.10 Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn ở 3 dòng Keo tại khu vực nghiên cứu 46
Bảng 4.11 Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn của 3 dòng Keo tại khu vực nghiên cứu 47
Bảng 4.12 Sinh trưởng đường kính tán Dt của các OTC 49
Bảng 4.13 Sinh trưởng Dt và tăng trưởng bình quân của 3 dòng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 50
Bảng 4.14 Chất lượng rừng trồng Keo lai ở 3 dòng 51
Bảng 4.15 Kết quả kiểm kê phẩm chất rừng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 53
Bảng 4.16 Sinh trưởng về trữ lượng của các OTC ở 3 dòng Keo lai 54
Bảng 4.17 Sinh trưởng về trữ lượng của Keo lai ở 3 dòng tại khu vực nghiên cứu
55
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu, ứng dụng và phát triển chọn các loại giống cây rừng có khả năng sinh trưởng tốt có giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí quan trọng trong việc phục hồi diện tích rừng Một trong những biện pháp đang được áp dụng để thay thế rừng
đã mất là trồng rừng sản xuất để thay thế rừng đã mất Rừng sản xuất với những ưu điểm về độ thuần loài, tập trung sản xuất sẽ thay thế dần những giá trị mà rừng tự nhiên đem lại như giá trị kinh tế, giá trị môi trường
Keo lai là một trong những loài cây được sử dụng nhiều trong việc chọn giống
để trồng sản xuất Đặc tính sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối (thân cây thẳng đứng, cành nhánh nhỏ, sức khỏe tốt), biên độ sinh thái rộng (Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ) Khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện lập địa và các loại đất khác nhau Keo lai còn có tác dụng cải tạo đất, cải tạo môi trường thông qua khả năng cố định đạm, lưu giữ carbon và lượng cành khô rụng hàng năm trả lại cho đất lượng chất hữu cơ đáng kể Rừng trồng Keo lai cũng được đánh giá là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhanh thu hồi vốn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn các loài cây trồng rừng khác (từ 5 đến 7 năm đã được khai thác) Kỹ thuật trồng Keo lai đơn giản, dễ trồng, hiện nay nhiều người dân đã biết trồng rừng Keo lai
Trên cơ sở đó việc nghiên cứu sinh trưởng của các dòng cây Keo lai là việc làm cần thiết để góp phần cải thiện hiệu quả trồng rừng, ta sẽ đánh giá được ảnh hưởng của đến thổ nhưỡng khí hậu của vùng đến từng loài cây Do vậy, việc ngiên cứu đánh giá sinh trưởng của các dòng keo lai để lựa chọn dòng có sự sinh trưởng tốt nhất, qua những vấn đề trên em xin được làm Khóa luận tốt nghiệp với đề tài
“Đánh giá sinh trưởng một số dòng keo lai được trồng năm 2013 tại trại thực nghiệm Cơ sở 2 - Trường Đại học Lâm Nghiệp”
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Trên thế giới vấn đề thâm canh rừng trồng đã được nghiên cứu bởi rất nhiều nhà khoa học Trồng rừng thâm canh là một hệ thống các biện pháp kỹ thuật bao gồm từ khâu chọn giống đến trồng rừng, chăm sóc rừng trồng, quản lý bảo vệ rừng trồng cho đến khi khai thác sử dụng
1.1.1 Ảnh hưởng của giống đến năng suất rừng trồng thâm canh
Chọn giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Mục đích của cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng Trong sản xuất lâm nghiệp Việc chọn đúng các giống tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và canh tác giúp cho người sản xuất thu được năng suất cao và ổn định với phẩm chất tốt và mức chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm thấp
Từ ngàn xưa người nông dân Việt Nam đã đánh giá cao vai trò của giống Ngày nay giống vẫn được xem là một trong nhưng yếu tố hàng đầu trong việc không ngừng nâng cao nâng năng suất cây trồng giống cũng không thể vượt qua ngưỡng tiềm năng năng suất của nó chỉ có sự đột phá về giống mới có thể mang lại năng suất cao hơn
Trong thực tiễn sản xuất đó cho thấy nhờ ứng dụng giống mới, năng suất đó từng bước được nâng cao Những đột phá về giống nhằm nâng cao năng suất cây trồng và có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh các mặt hàng về gỗ và phục vụ cho ngành công nghiệp giấy từ đó góp phần ổn định kinh tế
Mỗi giống cây trồng có tính thích nghi nhất định với từng điều kiện vùng sinh thái Do đó việc lựa chọn giống cây trồng thích hợp với từng vùng sản xuất điều kiện sinh thái, điều kiện canh tác vừa có vai trò rất quan trọng trong sản xuất Lâm nghiệp nhất là những nước công nghiệp hoá Lâm nghiệp Trên thế giới, người ta đã đặt trọng tâm và phát triển Lâm nghiệp trên quy mô công nghiệp hiện đại, bằng các phương pháp sinh học tối tân, họ đã sản xuất hàng loạt giống cây trồng mới, được chọn lọc và nhân giống, lai tạo ra những thế hệ cây trồng nhiều ưu điểm, cải tạo gen
Trang 11thành những giống cây kháng sâu, bệnh giảm bớt chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian chăm sóc, tạo nên ưu thế vững chắc trong sản xuất cây Lâm nghiệp
Việt Nam chúng ta đã có nhiều thành tựu quan trọng trong công tác chọn là lai tạo giống, cũng như có những chương trình chuyển giao công nghệ sản xuất mới, tuyển lựa giống cây trồng, thúc đẩy tăng sản lượng Vấn đề quan trọng và trọng tâm
là chọn giống, lai tạo, chọn đất trồng phù hợp trên quy mô công nghiệp hiện đại, chuyên nghiệp, bền vững Đồng thời cũng phải có cơ quan nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp cách chuyên môn, hiện đại
Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình
là các nước: Công Gô, BRazin, Swazinland, Malaysi , Zim babew
Ở Công Gô bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai (Eucalyptus hybrids) có năng xuất đạt tới 35m3/ha/năm ở giai đoạn 7 năm tuổi Tại Brazin bằng con đường chọn lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis có năng xuất đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker 1986)
Tại Swazinland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng xuất 19m3/ha/năm (Pandey 1983)
Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt từ 35m3 - 40m3/ha/năm, giống bạch đàn Europhylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm,
có nơi lên tới 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori 1988)
1.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng, phát triển của rừng trồng
Kết quả nghiên cứu của tổ chức FAO 1994 ở các nước vùng nhịêt đới đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của rừng trồng đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa
là khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì
Nghiên cứu của Laulie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển điều này được thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phẫu diện đất đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ PH) và nồng độ muối Đây chính là
Trang 12nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loài đất khác
nhau là khác nhau Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở
Swzinland, Julian Evans (1992) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loại cây này có quan hệ khá chặt (R = 0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau:
Y = -18,75 + 0,0544x3 - 0,000022m32 + 0,0185x4 + 0,049x5 + 0,5346x11
Trong đó:
Y: Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m)
x3: Độ cao so với mặt nước biển (m)
x4: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%)
x5: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%)
x11: Độ phì của đất đã được xác định
Cùng với đó Julian Evans cũng đã kết luận khí hậu có ảnh hưởng khá rõ đến năng xuất rừng trồng, đặc biệt là sự ảnh hưởng của tổng lượng mưa bình quân hàng năm, sự phân bố lượng mưa trong năm, lượng bốc hơi và nhiệt độ không khí
Kết quả nghiên cứu của Pandey D (1983) về loài Bạch đàn Eucalyptus
camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy: nếu
trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10 - 20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m 3/ha/năm Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loại cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng
1.1.3 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất chất lượng rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở những nơi đất xấu Trên thế giới, việc áp dụng phân bón cho rừng trồng bắt đầu từ những năm
Trang 131950 Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân đã tăng lên 100.000ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan Đến năm 1980 diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (Ngô Đình Quế 2004) Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đi sâu nghiên cứu, điển hình
là công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazin tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân, nhưng nếu bón NPK thì năng xuất rừng trồng có thể tăng lên trên 50% Một nghiên cứu khác của Schonau (1985) ở South Ajrica về vấn đề bón phân cho Bạch đàn Eucalyptus grandis đã kết luận công thức bón 150g NPK/gốc với tỷ lệ N:P:K = 3:2:1 có thể nâng chiều cao trung bình của rừng trồng lên gấp 2 lần sau năm thứ nhất Tại Colombia, Bolstand và cộng sự (1988) cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực đối với rừng trồng Thông Pcaribeae đó là Potassium, Phosphate, Boron
và Magnesium Tại CuBa cũng với đối tượng là rừng Thông P caribeae khi nghiên cứu các công thức bón phân cho đối tượng này Herrero và cộng sự (1988) đã kết luận bón phân Phosphate sau 13 năm trồng nâng cao sản lượng rừng từ 56m3/ha lên 69m3/ha
Qua những nghiên cứu ta thấy rõ rằng phân bón đã mang lại những hiệu quả
rõ rệt như nâng cao tỷ lệ sống, nâng cao chất lượng, sản lượng, tăng khả năng chống chọi với điều kiện không thuận lợi của môi trường để cây phát triển tốt hơn
1.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất chất lượng rừng trồng
Giống là sản phẩm của sức lao động sáng tạo của con ngừơi và là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt, giống giữ vai trò quan trọng trong sản xuất, kinh doanh, nó ảnh hưởng tới năng xuất và chất lượng của rừng trồng rất lớn Mỗi loại cây trồng và mỗi mục đích kinh doanh khác nhau thì phải sắp xếp mật độ làm sao cho hơp lý nhất để đạt được hiệu quả cao nhất Với các nghiên cứu trên nhiều lập địa khác nhau điển hình là nghiên cứu của Julian Evans (1992) khi nghiên cứu mật độ trồng rừng
cho Bạch đàn E Deglupta ở Papua New Guinia đã bố trí 4 công thức mật độ trồng
khác nhau (2.985c/ha : 1.680cây/ha : 1.075cây/ha : 750cây/ha) số liệu thu được sau
5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ điều này có ý nghĩa là mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao
Trang 14hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao Theo Nguyễn Huy Sơn và Hoàng Minh Tâm nghiên cứu về mật độ trồng rừng Keo lai 9,5 tuổi ở Quảng Trị cho ta thấy rằng
Trồng rừng thâm canh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng hiện nay
là vấn đề được rất nhiều người quan tâm Các dòng Keo lai BV10, BV16 và BV32
là những giống tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận và được sử dụng để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến khả năng sinh trưởng cũng như năng suất rừng trồng sau 9,5 năm tuổi ở Đông Hà – Quảng Trị Với mật độ trồng ban đầu, phân bón lót và bón thúc năm thứ 2 có ảnh hưởng chưa rõ đến tỷ lệ sống của rừng trồng Keo lai 9,5 năm tuổi Vì ở giai đoạn 9,5 năm rừng trồng đã quá thành thục công nghệ so với mục tiêu kinh doanh gỗ nhỏ chu kỳ 7 năm, nên các cá thể trong quần thể có sự cạnh tranh nhau gay gắt về không gian dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng tỉa thưa tự nhiên rất mạnh, tỷ lệ sống chỉ còn từ 44-60% so với mật độ trồng ban đầu Ở giai đoạn 9,5 năm tuổi, mật độ hiện tại có ảnh hưởng khá rõ đến khả năng sinh trưởng cũng như năng suất và chất lượng rừng, ở những công thức mật độ hiện tại thấp nhất từ 722-738 cây/ha thì có khả năng sinh trưởng D1,3 cao nhất và đạt trung bình từ 17,22-17,49cm, số cây có D1,3≥18cm chiếm 42,55-43,75%, nhưng năng suất gỗ cây đứng lại không cao Ngược lại, ở những công thức có mật
độ cao nhất từ 968-999 cây/ha thì cho năng suất gỗ cây đứng cao nhất, nhưng khả năng sinh trưởng D1,3 lại thấp nhất và tỷ lệ số cây có D1,3≥18cm khá thấp
Từ các nghiên cứu trên cho ta thấy rằng yếu tố giống ảnh hưởng lớn đến chất lượng và khối lượng sản phẩm theo đó còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, vì vậy cần phải xác định rõ nên chọn nguồn giống nào để trồng cho có hiệu quả cao nhất
1.2 Ở Việt Nam
Từ năm 1993 đến nay, ở nước ta việc phát hiện, chọn lọc, nhân giống và khảo nghiện giống thành công cho giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm, gọi tắt là keo lai do GS.TS Lê Đình Khả chủ trì, đã mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng nguyên liệu Keo lai rất rễ nhận biết: Thân thẳng sinh trưởng nhanh Quan sát hình thái là có thể thấy rõ là trong khi Keo lai có lá lớn và to bản, chỉ số ra
Trang 15lá (chiều dài/chiều rộng) là 2,73-2,79 Keo lá tràm có lá dài và hẹp, chỉ số ra lá là 5,23-5,59 thì Keo lai có vị trí trung gian giữa hai loài keo này, chỉ số ra lá là 3,90-3,37 Trong khi lá của Keo lai có 4 gân chính lá của keo lá tràm có từ 25-3 gân chính thì lá Keo lai thường có 3 - 4 gân hay cả 2 kiểu phân gân này cùng tồn tại trên một cây Mặt cắt ngang của quả cây Keo lai có hình tròn, quả keo lá tràm có hình dẹt thì quả cây Keo lai có hình bầu dục nghĩa là cũng có tính chất trung gian Keo lai có ưu thế lai hết sức rõ rệt về sinh trưởng, ưu thế lai này được thể hiện rõ cả ở Ba
Vì lẫn Đông Nam Bộ, tại 2 nơi nay Keo lai đều sinh trưởng nhanh hơn Keo lai 1,6 lần về chiều cao và 1,64-1,98 lần về đường kính (Lê Đình Khả - 1993) (Nguyễn Thị Lan Hương, 2005)
1,5-Tại Sông Mây khi 5 so sánh với keo lá tràm cùng tuổi đã thấy rằng Keo lai sinh trưởng nhanh hơn keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao, và 1,5 lần về đường kính (Lê Đình Khả - 1993; Nguyễn Thị Lan Hương, 2005) Nghiên cứu giống lai tự nhiên là loài keo lai của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Phạm Văn Tuấn, Hồ Quang Vinh (1993, 1995, 1997) với kết quả cho thấy Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm Khi cắt cây tạo chồi thì keo lai cho rất nhiều chồi: trung bình 289 hom/gốc Nghiên cứu tiềm năng bột giấy cây keo lai của Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc (1995, 1999) cho thấy keo lai có khối lượng gỗ gấp 3-4 lần hai loài bố mẹ Nghiên cứu giống keo lai và vai trò của của các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) thấy rằng cải thiện giống và các biện pháp kĩ thuật lâm sinh đều có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất rừng trồng Trong năm 1992 – 1998, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành nhiều đề tài nhân giống bằng hom cho giống lai tự nhiên rừng Tháng 2 năm 1995, Trần Cự, Nguyễn Đình Hải đã công bố kết quả chọn lọc cây trội Keo lai và giâm hom trên thông tin khoa học kĩ thuật và kinh tế lâm nghiệp Cũng trong thời gian này Nguyễn Văn Chiến, Lưu Bá Thịnh đã tiến hành nhân hom từ chồi gốc của cây trội cho Keo lai đã thu được kết quả khá cao Nếu hom được xử lí bằng IBA thì tỉ lệ
ra rễ đạt từ 80- 90% Ứng dụng kết quả nghiên cứu này, trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Đông Nam Bộ đã sản xuất được hơn 2000 cây Keo lai
Năm 1997, Phạm Văn Tuấn đã nghiên cứu và công bố kết quả cây trội và nhân giống hom Keo lai Theo tác giả thì hom được lấy từ chồi gốc ở giai đoạn 2 tháng
Trang 16tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao (90%) nếu hom được xử lí bằng IBA dạng bột hoặc dạng dung dịch (Nguyễn Thị Vân, 2003)
1.2.1 Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng
Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ít người quan tâm, song do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của
xã hội Bên cạnh đó, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp nói chung ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vào mục đích khác như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường, … Hơn nữa, đất quy hoạch cho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng rừng thâm canh đã trở thành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy và ván nhân tạo
Vào những năm 1980 bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừng theo hướng thâm canh như: Đức, Ý, Thuỵ Điển, … thì ở Việt Nam vấn đề này cũng bắt đầu được quan tâm và đưa ra thảo luận, điển hình là các tác giả Nguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986), Phùng Ngọc Lan (1986) “Cơ cấu cây trồng rừng thâm canh trên quan điểm sản lượng” Tạp chí Lâm nghiệp, Bộ Lâm nghiệp
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) thâm canh rừng trồng là nhằm bảo vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khi hậu, đất đai, sinh vật và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan để nâng cao năng xuất rừng và hiệu quả kinh tế Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp liên hoàn từ khâu chọn loài cây trồng, chọn giống, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, tỉa thưa dựa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến đảm bảo tái sinh trong khai thác
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp được tăng cường đầu tư đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng để thu được năng xuất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường, đáp ứng yêu cầu
Trang 17phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững
Kết quả bước đầu nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn với công trình nghiên cứu cấp Nhà nước giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy có thể nâng cao năng xuất rừng trồng
từ 20m3/ha/năm đến 36m3/ha/năm ở khu vực đông nam bộ và dự đoán lên đến 30m3/ha/năm ở khu vực Đông Bắc Bộ tuy nhiên rừng trồng mới được 3 – 4 năm tuổi nên cần phải tiếp tục theo dõi thêm cho các năm cuối để có những kết luận chuẩn xác hơn nữa
Trong các nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam (2006) khi đánh giá về rừng trồng thâm canh tại một số tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Dương đã chỉ ra rằng chi phí chung cho 01 ha trồng rừng thâm canh Keo lai cao gấp đôi so với đầu
tư trong chương trình trồng rừng sản xuất theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/07/1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới
5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so với phương thức trồng rừng bán thâm canh hoặc quảng canh Tuy nhiên, trên thực tế trồng rừng thâm canh đã mang lại hiệu quả cao hơn so nhiều so với các phương thức trồng rừng khác Nếu trồng rừng bằng các loại cây mọc nhanh theo phương thức quảng canh thì chu kỳ kinh doanh thường dài trên
10 năm mà năng xuất chỉ đạt 7-10m3/ha/năm, nhưng nếu trồng rừng thâm canh thì sau từ 7-8 năm đã có thể khai thác gỗ với năng xuất đạt từ 25-30m3/ha/năm Điều này cho thấy vốn bỏ ra ban đầu được thu hồi sớm hơn, vòng quay nhanh hơn nên hiệu quả đầu tư vốn cũng cao hơn, thời gian thu hoạch sản phẩm được rút ngắn nên đất đai được giải phóng sớm để tiếp tục trồng rừng cho chu kỳ sau sớm hơn
1.2.2 Nghiên cứu về cải thiện giống
Việc xây dựng các khu khảo nghiệm loài – xuất xứ cho một số cây chủ yếu đã được thực hiện ở một số lập địa chính trong cả nước Đó là các loài Thông như
Pinus caribaea (với cả ba thứ là Pinus caribaeae var.Hondurensis, Pinus caribaea var.bahamensis và Pinus caribaea var.caribaea), Pinus oocarpa, Pinus kesiya, Pinus mercusii và các loài Thông khác Các loài Bạch Đàn chủ yếu được khảo
nghiệm là Bạch đàn trắng camal (Eucalyptus camaldulensis), Bạch đàn trắng têrê (Eucalyptu tereticornis) Bạch đàn uro (Eucalyptu urophylla), và các loài Eucalyptu
grandis, Eucalyptu pelita, Eucalyptu cloeziana, v.v…Đến nay chúng ta đã biết được
một số xuất xứ có triển vọng nhất của một số loài như Pinus caribaea
Trang 18var.hondurensis, Pinus kesiya, Eucalyptus camaldulensis, Eucalyptu tereticornis, Eucalyptu urophylla, v.v Đây là cơ sở cho việc xây dựng các chương trình trồng
rừng Việt Nam (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003)
Trong những năm 1980 bên cạnh việc tiếp tục xây dựng các khảo nghiệm loài – xuất xứ cho các loài Bạch đàn, một loạt khảo nghiệm cho các loài Keo vùng đồi thấp đã được xây dựng ở nhiều nơi trong nước Đó là các loài Keo lá tràm
(A.auriculiformis), Keo tai tượng (A mangium), Keo lá liềm (A.crassicarpa), Keo nâu (A.aulococarpa) và Keo quả xoắn (A.cincinnata) Qua một thời gian khảo
nghiệm đến nay chúng ta đã biết những loài có triển vọng cho các chương trình
trồng rừng là A.mangium, A.crassicarpa và A.auriculiformi (Lê Đình Khả và
Dương Mộng Hùng, 2003)
Từ năm 1993 khảo nghiệm cho hơn 10 loài Keo chịu hạn như A.tumida,
A.difficilis, A.torulosa, v.v… đã được xây dựng tại Tuy Phong (lượng mưa 700-800
mm/năm) thuộc tỉnh Bình Thuận và Ba Vì (lượng mưa 1650mm/năm) thuộc tỉnh Hà
Tây Các xuất xứ thuộc 25 loài Keo vùng cao như A.maernsii, A.melanoxylon, v.v
cũng được xây dựng tại Đà Lạt (1600m trên mặt biển ) và núi Ba Vì (600m trên mặt biển) và một số nơi khác (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003)
Cũng trong thời gian này một bộ giống gồm 38 xuất xứ Phi lao (Casuarina
equisetifolia) đã được xây dựng ở vùng cát ven biển thuộc các tỉnh Thanh Hoá,
Nghệ An, Quảng Nam và Bình Thuận, gần đây là khảo nghiệm xuất xứ cho Phi lao
đồi (Casuarina junghuniana) tại Đà Nẵng và Ba Vì (Lê Đình Khả và Dương Mộng
Hùng, 2003)
Trong các năm 1994 - 1995 một loạt các khảo nghiệm xuất xứ cho các loài
Tràm như Melaleuca leucadendra, Melaleuca cajuputi, v.v cũng được xây dựng
trên vùng đất ngập phèn ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng, 2003)
Gần đây nhất là một số khảo nghiệm xuất xứ cho Xoan chịu hạn
(Azadirachtaindica) được xây dựng ở Ba Vì và Truy Phong (Lê Đình Khả và
Dương Mộng Hùng, 2003)
Có thể nói, khảo nghiệm loài và xuất xứ ở nước ta được tiến hành tương đối chậm, song đã thực hiện cho nhiều loài cây trồng rừng chủ yếu trên các vùng sinh
Trang 19thái chính với một nhịp độ khá khẩn trương Từ đó đã xác định được một số xuất xứ
có triển vọng nhất của một số loài, làm cơ sở cho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam
Đối với cây Keo, các khảo nghiệm giống để tìm ra một số loài Keo thích hợp
cho trồng rừng ở vùng thấp và trung du ở Việt Nam (như Keo tai tượng Acacia
mangium , Keo lá tràm Acacia mangium và Keo lai) đã được nghiên cứu và nhiều
công trình đã được xuất bản Thông tin cho các loài Keo thích hợp cho vùng trung
du và vùng cao đặc biệt là vùng núi phía Bắc là rất hạn chế
Các khảo nghiệm giống về các loài Keo đã có từ trước đến nay, gồm: Khảo nghiệm loài/xuất xứ Keo vùng thấp được tiến hành tại Đại Lải (Vĩnh Phúc), Ba vì
Hà Nội (Hà Tây cũ), Đông Hà (Quảng Trị), Sông Mây (Đồng Nai), Bầu Bàng (Bình
Dương) Khảo nghiệm này tập trung vào khảo nghiệm 5 loài Keo (Keo lá tràm A
auriculiformis, Keo tai tương A.mangium, Keo lưới liềm A crassicarpa; Keo nâu A.aulacocarpa; Keo quả xoắn A cincinnata) có nguồn gốc giống từ Úc, Papua New
Guinea và Indonexia với nhiều xuất xứ khác nhau
Khảo nghiệm Keo lai được tiến hành tại Ba Vì Hà Nội (Hà Tây cũ), Đại Lải (Vĩnh Phúc), Bình Thanh (Hòa Bình), Hàm Yên (Tuyên Quang), Đông Hà (Quảng Trị), Quy Nhơn (Bình Định), Long Thành (Đồng Nai), Sông Mây (Đồng Nai) Khảo nghiệm Keo vùng cao được tiến hành tại Đà Lạt (Lâm Đồng) có xuất xứ
từ Úc
Khảo nghiệm xuất xứ Keo chịu hạn được tiến hành tại Tuy Phong (Bình Thuận) và Ba Vì (Hà Tây)
Kết quả của các khảo nghiệm giống nêu trên trong suốt nhiều năm qua đã chỉ
ra được một số xuất xứ của các loài Keo có triển vọng ở vùng thấp của Việt Nam Trong đó các loài như Keo tai tượng, Keo lá tràm được đánh giá khả quan nhất Tuy nhiên, việc khảo nghiệm giống đã được triển khai ở phạm vi rộng của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam tuy nhiên chỉ tập trung ở một địa phương trọng điểm mà ở đó có đại diện của mạng lưới các trung tâm nghiên cứu giống cây rừng quốc gia thuộc Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam Điểm hạn chế của các khảo nghiệm này chỉ dựa vào một số thí nghiệm tại một số tỉnh đại diện cho các vùng miền (Bắc, Trung, Nam) của Việt Nam Trong khi đó, sự đa dạng và phức tạp của địa hình đặc
Trang 20biệt khu vực miền núi phía bắc và tiểu khí hậu của từng tỉnh, thậm chí trong phạm
vị từng huyện nên các kết quả của khảo nghiệm còn thiếu cơ sở khoa học và tính thuyết phục trong việc lựa chọn giống tốt còn hạn chế
Hơn nữa, với Keo lai thì các khảo nghiệm các dòng lai được tiến hành Ba Vì
Hà Nội (Hà Tây cũ), Đông Nam Bộ, với khoảng 20 dòng Kết quả đã chỉ ra được
một số dòng có triển vọng
Chất lượng giống là những yếu tố rất quan trọng trong trồng rừng thâm canh Giống tốt được cải thiện thì năng suất rừng được nâng cao Trong thực tế cho thấy cây rừng nói chung chọn được giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 15 – 20% đối với giống lai đã được chọn lọc có thể tăng từ 40 – 90% so với giống bố mẹ Vì vậy cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ
và các sản phẩm mong muốn khác Trong năm 1993 Bộ NN&PTNT đã có quyết định ban hành “ Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống” “Quy phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa” trong đó quy hoạch rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như các phương pháp khảo nghiệm giống và xây
dựng rừng giống (Lê Đình Khả, 2006)
Bắt đầu từ những năm 1980 trở lại đây hoạt động cải thiện giống cây rừng mới được đẩy mạnh trong cả nước Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài cây trồng rừng chủ yếu là khảo nghiệm loài tại một
số vùng sinh thái chính trong nước như Keo, Phi lao, Bạch đàn vào đầu những năm 1990 phát hiện ra giống Keo lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng đã thúc đẩy các khảo nghiệm chọn lọc nhân tạo và nhân giống vô tính phát triển Trong những năm gần đây, trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, trung tâm phất triển lâm nghiệp Phù Ninh - Phú thọ thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam cùng một số cơ sở nghiên cứu khác đã nghiên cứu thành công giống nhân tạo cho các loại Keo, Bạch đàn và Thông (Lê Đình Khả, 2003) trong hơn 10 năm gần đây công tác nghiên cứu giống đã đạt được những thành công đáng kể Đã có 4 dòng có năng xuất cao và thích hợp với nhiều vùng sinh thái và được Bộ NN&PTNT cộng nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia là: BV10, BV16, BV32, BV33 (Lê Đình Khả 1999) Gần đây cũng có một số dòng được BNN &PTNT công nhận giống tiến bộ kỹ thuật TB3, TB5, TB6, TB12, BT1, BT7, BT11, BV71, BV73, … ( Lê Đình Khả, 2006)
Trang 21Lai giống nhân tạo giữa các cây trội đã được chọn lọc từ các xuất xứ có triển vọng cao nhất của Keo tai tượng và Keo lá tràm cùng một số Keo lai tự nhiên như BV10, BV16, BV32… đã được thực hiện trong các năm 1997 – 1999 Ba Vì Những
tổ hợp lai này có sinh trưởng tương đối nhanh, có thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ, ngọn cây phát triển tốt đây chính là tiền đề phát triển gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước cũng như xuất khẩu trong những năm tới
1.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng
Nghiên cứu điều kiện lập địa là nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh trường của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua khí hậu, đất đai, địa hình nhằm tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật khác nhau và năng suất sinh trưởng của chúng Đã
có nhiều công trình nghiên cứu, điển hình là nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng
sự (1994, khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, tác giả đã căn cứ 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng
Nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phan Thế Dũng và Hồ Văn Phúc (2004) đã chỉ ra rằng Keo lai cho năng xuất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau Sau 7 năm trồng năng suất cao nhất đạt 33m3/năm/ha trên đất feralit đỏ vàng và trên đất khác đạt năng xuất khác nhau Như vậy trên các loại đất khác nhau thì khả năng sinh trưởng cũng khác nhau mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau nhưng trên đất đỏ feralit Keo lai sinh trưởng tốt hơn
1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến năng xuất và chất lượng rừng trồng
Phân bón là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh quan trọng nhằm làm ổn định, tăng năng suất và chất lượng rừng trồng Phân bón bổ xung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu, làm tăng sức đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường
Đối với việt nam đã có rất nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu điển hình có công trình nghiên cứu bón phân cho Keo lai ở Cẩm Qùy (Ba Vì) của Lê Đình Khả,
Trang 22Hồ Quang Vinh (1998 Thí nghiệm được thực hiện trên đất feralit phát triển trên đá
mẹ sa thạch có tầng đất mỏng (30 – 50cm) thí nghiệm được tiến hành với biện pháp thâm canh cày đất toàn diện và bón phân với 8 công thức khác nhau Kết quả là công thức bón phân phối hợp 2kg phân chuồng với 100gam phân themophotphat cho 1 gốc cây thì cho sinh trưởng tốt nhất tiếp theo đến công thức bón 1kg phân chuồng với 100g themophotphat cho 1 gốc cây Tác giả còn cho thấy rừng trồng Keo lai được bón lót 100g NPK/cây và bón thúc 100gNPK/cây vào năm thứ 2 cho lượng tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót khi trồng Như công trình nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn nghiên cứu bón phân cho Bạch đàn Urophylla ở Đại Lải - Vĩnh Phúc năm 2006 với 8 công thức thí nghiệm bón lót khác nhau và bón thúc năm thứ 2 vào đầu mùa mưa lặp lại như khi bón lót Sử lý thực bì và làm đất toàn diện bằng cơ giới, cày toàn diện sâu 25cm, cày rạch hàng sâu 40cm, sau 6 tháng trồng thu được kết quả cho thấy tỷ lệ sống các công thức thí nghiệm đều cao Sau 30 tháng tuổi tỷ lệ sống vẫn đạt từ 97,22 – 98,15% khả năng sinh trưởng của Bạch đàn Urophylla khá nhanh và rõ rệt rệt giữa các công thức thí nghiệm cả về đường kính lẫn chiều cao, sau 6 tháng tuổi đường kính gốc đạt từ 2,54 - 3,14cm và chiều cao đạt
từ 1,87 - 2,06m; sau 30 tháng tuổi, đường kính ngang ngực đạt từ 6,32 - 7,23cm và chiều cao đạt từ 8,21 - 9,66m Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức bón phân tốt nhất thuộc về các công thức có mặt đồng thời cả phân NPK, vi sinh và vôi bột Cụ thể đối với nghiên cứu trên thì khi bón lót và bón thúc tốt nhất là ở công thức 100g NPK (5:10:3) + 200g vi sinh + 100g vôi bột Như vậy việc bón phân là rất cần thiết đối với trồng rừng và điều quan trọng nữa là phải xác định đúng loại phân, đúng thời vụ, đúng liều lượng Bón phân cho rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh đã được nghiên cứu nhiều nhất Các tác giả đều kết luận rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ đến sinh trưởng của các loài cây trồng, đặc biệt là đối với các loài cây trồng rừng nguyên liệu
1.2.5 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và chất lượng rừng trồng
Nếu mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh trưởng của cây trồng, nếu mật độ quá thấp sẽ lãng phí đất và tốn công chăm sóc Để tận dụng tối đa không gian dinh dưỡng thì việc xác định mật độ trồng rừng ban đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm làm giảm chi phí trồng rừng và nâng cao năng suất rừng trồng như mong muốn
Trang 23Mật độ trồng rừng là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng.Với những mục đích trồng rừng khác nhau và điều kiện lập địa khác nhau ta phải bố trí làm sao cho hợp lý mật độ để cho cây có điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt nhất
Để làm rõ vấn đề này, Phạm Thế Dũng và các cộng sự (2004) khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau (952 cây/ha, 1.111 cây/ha, 1.142 cây/ha và 1.666 cây/ha) Kết quả phân tích cho thấy, sau 3 năm trồng cho năng suất cao nhất ở rừng
có mật độ 1.666 cây/ha (21m3/ha/năm); năng suất thấp nhất ở rừng có mật độ 952 cây/ha (9,7m3/ha/năm) Tác giả đã khuyến cáo rằng đối với Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ nên bố trí mật độ ban đầu trong khoảng 1.111cây/ha - 1.666cây/ha là thích hợp nhất Đối với rừng trồng làm nguyên liệu giấy nên thiết kế mật độ trồng ban đầu là 1.428 cây/ha; rừng trồng phục vụ cho mục đích lấy gỗ nhỡ và nhỏ nên trồng với mật độ 1.111 cây/ha
Nguyễn Huy Sơn (2006) về xác định mật độ trồng Keo lai thích hợp trên đất feralit phát triển trên phiến thạch sét ở Quảng Trị, Các thí nghiệm được bố trí với 3 công thức mật độ khác nhau (1.330 cây/ha, 1.660 cây/ha, 2.500 cây/ha) Kết quả phân tích cho thấy sau 1 năm trồng tỷ lệ sống khá cao, đạt từ 98,15 - 100%, sau 2 năm tỷ lệ sống ở các công thức thí nghiệm có giảm nhưng vẫn đạt từ 91,67 - 93,52% Khả năng sinh trưởng tốt nhất ở công thức mật độ 1.660cây/ha và kém nhất ở công thức mật độ 2.500 cây/ha
Với các quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu giấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã qui định mật độ trồng cho một số loài Thông, Keo lá
to và Bồ đề là từ 1.200 - 1.500 cây/ha; Bạch đàn là 1.000 cây/ha; Qui trình trồng
rừng thâm canh Bạch đàn E.urophylla cũng qui định mật độ trồng từ 1.110 - 1.660
cây/ha; Qui phạm kỹ thuật trồng rừng Tếch qui định trồng thuần loài từ 2.000 - 2.500 cây /ha, trồng xen có thể trồng từ 1.000 - 1.250 cây/ha (Vụ KHCN&CLSP, 2001).Mật độ trồng các loại Keo từ 1.110 - 1.660 cây/ha (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005)
Với những quy trình quy phạm đã quy định cho các loại mật độ cụ thể cho mốt
số loại trồng rừng thâm canh và đã áp dụng có hiệu quả tương đối cao nhưng cũng
Trang 24chưa ổn định
Ngoài ra đặc điểm gỗ cũng chịu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật gây trồng cũng như điều kiện lập địa, đồng thời liên quan chặt chẽ tới các sản phẩm hàng hoá Cấu tạo gỗ là yếu tố chủ yếu nhất ảnh hưởng đến tính chất gỗ Cấu tạo và tính chất liên quan mật thiết với nhau, cấu tạo có thể xem là biểu hiện bên ngoài của tính chất Những hiểu biết về cấu tạo gỗ là cơ sở để giải thích bản chất các hiện tượng sản sinh trong quá trình gia công chế biến và sử dụng gỗ (Lê Xuân Tình 1998) Gần đây đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, điển hình là nghiên cứu của
Lê Đình Khải (1999) về tiềm năng bột giấy của một số dòng Keo lai ở nước ta, nghiên cứu đã chỉ ra rằng gỗ Keo lai có tỷ trọng trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, có khối lượng gấp 3 - 4 lần so với giống bố mẹ Ở giai đoạn 4-5 tuổi,
tỷ trọng gỗ của Keo lai trung bình khoảng 0,455g/cm3, trong khi đó Keo tai tượng
là 0,414g/cm3, keo lá tràm là 0,469 g/cm3 Các dòng Keo lai được lựa chọn có tỷ trọng gỗ và tính chất co rút của gỗ khác nhau, trong đó các dòng BV32, BV33 có tỷ trọng cao nhất, dòng BV16 gỗ không bị nứt khi phơi khô Cũng với kết quả nghiên cứu về tiềm năng sử dụng gỗ Keo lai và những điều cần lưu ý trong trồng rừng
Tóm lại, từ năm 1993 đến nay ở Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về Keo lai
Từ các nghiên cứu về hình thái Chọn lọc cây trội, nhân giong hom và nuôi cấy mô, khả năng cải tạo đất, tiêm năng bột giấy… Vì vậy việc tiếp tục ngiên cứu đánh giá sinh trưởng của keo lai có giá trị cao về mặt kinh tế lẫn sinh thái sẽ góp phần vào việc phát triển và khẳng định dòng keo lai, cũng như giúp tăng năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế khi trồng loài này
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Rừng Keo lai trồng năm 2013 tại Trại thực nghiệm Cơ sở 2 - Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam (rừng Sông Mây- Trảng Bom- Đồng Nai), rừng trồng 3 dòng là BV32CM, BV32GH và TB6
- Đồng nhất về mọi chỉ tiêu khác
- Mật độ: 3m x 1,5m
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cây Keo lai
- Thời gian thực hiên: 26/3/2016 – 12/6/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, chuyên đề tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Trang 262.3.1 Đánh giá một số đặc điểm chung của lâm phần Keo lai 3 tuổi
2.3.2 Đánh giá quá trình sinh trưởng
2.3.2.1 Sinh trưởng đường kính ngang ngực (D 1.3 , cm)
2.3.2.2 Sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn, m)
2.3.2.3 Sinh trưởng đường kính tán (D T , m)
2.3.2.4 Chất lượng của các lâm phần Keo lai 3 tuổi
2.3.3 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế -xã hội
Kế thừa tài liệu liên quan đến rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu
2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp:
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn (ÔTC) được lập ngoài hiện trường rừng trồng để thu thập những số liệu cần thiết Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500m2 ( 20m x 25m ) đảm bảo dung lượng mẫu số cây đo đếm/ÔTC, lặp lại 3 lần theo các ô tiêu chuẩn Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của máy tính, ứng dụng phần mềm Excel và SPSS
Trong ÔTC:
Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của toàn bộ cây trong ÔTC
o Đo chu vi (C1.3), đo bằng thứơc dây đơn vị tính (Cm) từ đó suy ra D1.3
o Chiều cao vút ngọn (Hvn), đo bằng sào đơn vị tính (m)
o Đo đếm toàn bộ số cây trong ÔTC
Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu 1.1:
Bảng 2.1 Biểu điều tra tầng cây cao
Trang 27Số hiệu ÔTC Loài cây Độ dốc
Hvn (m)
Hdc (m)
+ Chất lượng cây được đánh giá theo cấp tốt, trung bình và xấu
+ Cây tốt(A): là những cây có thân thẳng, tròn đều, tán lá rộng, sinh trưởng phát triển tốt
+ Cây trung bình(B): là những cây có thân hình cân đối, tán lá đều, không cong queo, sâu bệnh và phát triển bình thường
+ Cây xấu(C): là cây cong queo, sâu bệnh, sinh trưởng phát triển kém
Tiến hành lập bảng chỉnh sửa số liệu: Chia tổ tính hệ số k
TT Phân tổ Trị số giữa tổ (Xi) Fi X2i Fi*Xi Fi*X2i
1
2
Trong đó: Xi :là giá trị giữa tổ thứ i
Fi :là tần số xuất hiện của dấu hiệu quan sát
Trang 28f Q
n
i
i i i
n
i i x
+ Phạm vi biến động: R= Xmax-Xmin (2.7)
+ Tính sai số thí nghiệm với độ tin cậy 95%
Nếu ∆% > 5% thì phải điều tra bổ sung
Dùng tiêu chuẩn U để kiểm tra sự thuần nhất:
2
2 2
1
2 1
2 1
n
S n S
X X
Trang 29 Nếu U > 1,96: thì có sự sai khác về giá trị quan sát và không được phép cộng gộp số liệu
Sau khi chỉnh lí số liệu tiến hành vẽ biểu đồ phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính và chiều cao tại các mật độ khác nhau
Gi: tiết diện ngang cây thứ i
Hi: chiều cao cây thứ i
fi = 0.5
- Tính toán trữ lượng và lượng tăng trưởng bình quân chung
+ Tổng tiết diện ngang của lâm phần (G):
Trong đó: ni là số cây trong OTC
di đường kính ngang ngực thân cây + Trữ lượng thân cây đứng trên một ha:
Trang 30+ Lượng tăng trưởng bình quân chung (T)
A
T
(2.14) Trong đó: T là nhân tố điều tra của lâm phần (D, H, M)
A là tuổi cây rừng trong lâm phần Chất lượng lâm phần được đánh giá thông qua tỷ lệ phần trăm cây tốt, cây trung bình và cây xấu
Trang 31fij là tần số thực nghiệm ứng với mẫu j và cấp chất lƣợng i Tra bảng xác định X2
Trang 32Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí
+ Phía Bắc giáp Ông Ba trồng mít
+ Phía Nam giáp Vườn ươm số 1
+ Phía Đông giáp Sân gôn Trảng Bom
+ Phía Tây giáp rừng trồng huyện đội và rừng trồng của Công ty sinh thái
3.1.2 Đặc điểm địa hình, đất đai, thực bì
Khu vực thiết kế trồng rừng được chia làm 02 loại thực bì:
1- Loại thực bì nhóm I: cây lòng mức, cây bụi, cây mỳ
- Loài cây ưu thế: cây bụi, cây mỳ,cỏ dại
- Chiều cao trung bình dưới 1m, sinh trưởng và phát triển mạnh vào mùa mưa
2- Loại thực bì nhóm V:
- Loài cây ưu thế: một số cây Dầu tái sinh, nhạc ngựa
- Chiều cao trung bình 5m, Cây kém phát triển
Đất đai:
Theo kết quả điều tra, trên địa bàn huyện Trảng Bom có 5 nhóm đất chính:
+ Nhóm đất gley (Gleysols): có diện tích khoảng 300 ha, chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên của huyện; phân bố chủ yếu ở các xã Hố Nai 3, Bắc Sơn và Bình Minh Loại đất này được hình thành trên trầm tích phù sa sông Đồng Nai và một ít trên sản phẩm dốc tụ, do ảnh hưởng của quá trình ngập nước nên tầng đất từ 0 - 50cm bị gley mạnh, quá trình tích lũy mùn cao, tương đối giàu đạm, lân và kali,
Trang 33thành phần cơ giới nặng, thích hợp với việc trồng lúa nước
+ Nhóm đất tầng mỏng (Leptosols): có diện tích 76 ha, chiếm khoảng 0,2% diện tích tự nhiên của huyện; phân bố chủ yếu ở xã Hố Nai 3 Loại đất này có tầng đất hiện hữu mỏng, trơ sỏi đá trên bề mặt, không thích hợp với sản xuất nông nghiệp
+ Nhóm đất đen (Luvisols): có diện tích 16.425 ha, chiếm khoảng 50,7% diện tích tự nhiên; gồm đất đen điển hình, tầng đá sâu; đất nâu thẩm, tầng đá sâu và đất nâu thẩm, tầng đá nông; phân bố chủ yếu ở các xã Sông Trầu, Thanh Bình, Cây Gáo, Sông Thao và Bắc Sơn Loại đất này được hình thành trên đá bazan, tầng đất lẫn nhiều đá bọt, có kết von Tuy vậy, đất lại rất giàu mùn, đạm đặc biệt là lân, đất chua, giàu bazơ, cacbon, kiềm cấu tạo viên hạt bền thích hợp cho nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái và hoa màu
+ Nhóm đất xám (Acrisols): gồm đất xám điển hình, đất xám vàng, đất xám
có kết von, đất xám cơ giới nhẹ và đất xám gley; diện tích 11.737 ha, chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên Đất này được hình thành trên mẩu chất phù sa cổ, có thành phần cơ giới nhẹ, sét bị rửa trôi mạnh, độ phì nhiêu thấp; thích hợp với nhiều loại cây trồng kể cả cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, cây lương thực tuy nhiên phải đầu tư cao và có chế độ tưới tiêu tốt mới cho hiệu quả + Nhóm đất đỏ (Ferrasols): gồm đất vàng đỏ (Xanthic Ferrasols) và đất đỏ thẩm (Radic ferrasols) diện tích 3.834 ha, chiếm khoảng 11,8% diện tích tự nhiên Đất được hình thành từ đá bazan, thành phần cơ giới nặng, cấu tạo viên, tơi xốp, giàu đạm, lân Loại đất này thích hợp cho cây lâu năm như cao su, cà phê, cây ăn trái …
3.1.3 Tình hình khí hậu, thủy văn
Trang 34năm 1.800-2.000 mm/năm; lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm Số giờ nắng trung bình khoảng 2.600-2.700 giờ/năm Nhiệt độ cao đều trong năm, trung bình hàng năm khoảng 25-260C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất
là 210C, tháng có nhiệt độ cao nhất từ 34-350C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 78-82% Các tháng mùa mưa có độ ẩm tương đối cao 85 - 93% Các tháng mùa khô có độ ẩm tương đối thấp 72- 82% Độ ẩm trung bình hàng năm cao nhất là 95% Độ ẩm trung bình hàng năm thấp nhất là 50%
Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước mặt: nguồn nước mặt của huyện được dự trữ chủ yếu trong các hồ chứa như: hồ Sông Mây, hồ Trị An, hồ Bà Long và hồ Thanh niên Ngoài ra, nguồn nước mưa có chất lượng khá tốt, song lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm Do đó, việc sử dụng nguồn nước mặt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt còn hạn chế
Mạng lưới sông suối trên địa bàn ngắn và dốc, ít nước trong mùa khô: module dòng chảy trung bình vào mùa lũ có thể đạt 30-35 l/s/km2
nhưng vào mùa khô chỉ còn 10-12 l/s/km2
Tài nguyên nước ngầm: có trữ lượng tương đối lớn, chất lượng nước tốt Nước ngầm tầng sâu (>100m) có lưu lượng khá lớn Đây là nguồn nước chính phục vụ sinh hoạt và sản xuất tại địa phương
Nhìn chung, nguồn tài nguyên nước trên địa bàn là khá dồi dào, có chất lượng nước tương đối tốt ít bị ô nhiễm vì thế có giá trị rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, nếu được khai thác và sử dụng hợp lý sẽ đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, nông lâm nghiệp và đời sống của nhân dân
3.2 Điều kiện về kinh tế
Huyện Trảng Bom nằm ở phía Đông của tỉnh Đồng Nai, có 17 đơn vị hành chính (1 thị trấn Trảng Bom và 16 xã) Huyện có địa giới hành chính phía Bắc giáp các huyện Vĩnh Cửu, Định Quán, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía Tây giáp thành phố Biên Hoà và phía Đông giáp huyện Thống Nhất Trung tâm huyện Trảng Bom cách thành phố Biên Hoà khoảng 20km, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng
Trang 3550km Với vị trí địa lý này đã xác định cho Trảng Bom phát triển trở thành đô thị vệ tinh trong vùng
Trên địa bàn huyện Trảng Bom có các tuyến đường Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam đi qua tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh Đồng Nai Trong tương lai thì có các tuyến đường vành đai
IV Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam được xây dựng kết nối vào cao tốc thành phố
Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, đường Quốc lộ 1A tránh thành phố Biên Hoà, đường vành đai thành phố Biên Hoà và tuyến đường sắt Biên Hoà - Vũng Tàu Như vậy, với vị trí nằm gần các đô thị lớn và có các tuyến đường giao thông quốc gia đi qua tạo điều kiện cho huyện Trảng Bom có vị trí địa lý kinh tế hết sức thuận lợi trong hiện tại và tương lai để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Trong
đó, đặc biệt là thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp xây dựng - thương mại, dịch vụ, du lịch sinh thái và nông lâm nghiệp
- Về dân sinh - kinh tế:
Huyện Trảng Bom là một huyện đông dân với dân số 197.510 (số liệu thống
kê năm 2007), mật độ dân số được xem là cao với 606 người/km2 [3]
Trong những năm gần đây, dân số của Trảng Bom tăng nhanh chủ yếu là dân nhập cư từ phía Bắc vào do sự phát triển của các khu công nghiệp của huyện
Dân số tăng nhanh tạo áp lực lớn lên chính quyền trong vấn đề nhà ở, môi trường, phúc lợi xã hội và thu nhập lao động
GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2010 là 38,420 triệu đồng (khoảng 1.800 USD), năm 2015 là 50,7 triệu USD (khoảng 2.400 - 2.500 USD) và năm 2020 là 84,2 triệu đồng (khoảng 3.600 - 3.700 USD) - Chuyển đổi mạnh mẽ
cơ cấu kinh tế năm 2010: Công nghiệp xây dựng chiếm 70,3%; Dịch vụ chiếm 22,0%; Nông, Lâm nghiệp 7,7% Năm 2015: Công nghiệp xây dựng chiếm 64%; Dịch vụ chiếm 28,7%; Nông, Lâm nghiệp 6,6% Năm 2020: Công nghiệp xây dựng chiếm 65%; Dịch vụ chiếm 30%; Nông, lâm nghiệp 5% So với các huyện khác trong tỉnh, Trảng Bom có nhiều lợi thế về tự nhiên lẫn xã hội, nên huyện có đủ điều kiện để phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần khác nhau
Về nông nghiệp: Trảng Bom có khoảng 26.445ha đất cho nông nghiệp, chiếm