1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội giai đoạn hiện nay

204 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 4,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp mới về khoa học của luận án - Khái niệm: Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện tron

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN HƯNG

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN HƯNG

Mã số: 62 31 02 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGÔ HUY TIẾP

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Xuân Hưng

Trang 4

1.1 Các công trình khoa học về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã

1.2 Các công trình khoa học về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã

1.3 Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 16

Chương 2: CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - NHỮNG

2.1 Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng và công bằng xã hội, thực hiện

2.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội -

Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

3.1 Thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng 64 3.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội -

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG

CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

4.1 Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo

của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội 108 4.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở

đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội 119

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBXH : Công bằng xã hội CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

HTCT : Hệ thống chính trị KTTT : Kinh tế thị trường MTTQ : Mặt trận Tổ quốc Nxb : Nhà xuất bản PTLĐ : Phương thức lãnh đạo QPAN : Quốc phòng, an ninh XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, công bằng xã hội (CBXH) luôn là khát vọng và mục tiêu đấu tranh của con người Trong thời đại ngày nay, cùng với

sự tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, nhu cầu về quyền con người về CBXH đã thật sự trở thành tiêu chí, điều kiện để đánh giá sự phát triển bền vững và tiến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc và chế độ chính trị do các chính đảng cầm quyền lãnh đạo và điều hành Với ý nghĩa đó, CBXH đang và sẽ là một vấn đề lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại

Ở Việt Nam hiện nay, thực hiện CBXH không những là nguyện vọng chính đáng của nhân dân, mà trở thành một nhu cầu bức thiết, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và kiên trì phấn đấu đi theo con đường đó là sự khẳng định nhận thức chính trị sâu sắc, có tầm chiến lược và trách nhiệm cao của Đảng đối với việc thực hiện CBXH, nhất là khi Đảng trở thành đảng cầm quyền Điều đó, cũng khẳng định vai trò to lớn của CBXH đối với xây dựng thành công CNXH ở nước ta: CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đường lối xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong toàn bộ quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [17, tr.113] Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định phải: “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ” [24, tr.101] Những chủ trương, quan điểm và

Trang 7

quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về CBXH đã được các cấp uỷ, chính quyền địa phương lãnh đạo thực hiện đạt nhiều thành tựu lớn

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng có vị trí, vai trò rất quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh với những tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế và thực hiện CBXH Trong 30 năm qua, các tỉnh uỷ trong vùng đã coi trọng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH, đạt kết quả quan trọng Ở các tỉnh vùng này, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, chính trị ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện và nâng lên; CBXH trong giáo dục đào tạo được cải thiện; CBXH trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, văn hóa, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện các quyền của công dân được cải thiện

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế, thực hiện CBXH nói trên, tình trạng phân hóa giàu nghèo cũng đang diễn ra nhanh và có xu hướng mở rộng ở các tỉnh ĐBSH Sự phân hóa ấy càng gây bức xúc xã hội hơn khi một số người giàu lên nhanh chóng do làm ăn phi pháp, tham nhũng, lãng phí và thu nhập không chính đáng; trong khi, với nhiều gia đình trong diện chính sách và người nghèo, Nhà nước đang thiếu nguồn lực để chăm sóc, hỗ trợ Tình trạng thất nghiệp, bất bình đẳng giới và sự xuống cấp của các dịch vụ y tế, giáo dục, sự gia tăng của các tệ nạn xã hội và tai nạn đang đòi hỏi phải được giải quyết

Trong lãnh đạo thực hiện CBXH, bên cạnh những ưu điểm và kết quả nêu trên, việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về CBXH còn nhiều hạn chế Ở một số nơi, cấp ủy lãnh đạo thực hiện CBXH chưa gắn chặt với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội Trình độ, năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH của nhiều cấp ủy và cán bộ chủ chốt các cấp còn nhiều bất cập Một số ít cán bộ tham nhũng cả nguồn kinh phí của Nhà nước về cứu trợ thiên tai, hỗ trợ gia đình khó khăn, gia đình chính sách Việc phát huy vai trò của chính quyền trong thực hiện CBXH chưa mạnh mẽ Vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong thực hiện CBXH ở nhiều nơi chưa được phát huy mạnh mẽ Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện

Trang 8

CBXH chưa thường xuyên, nhiều yếu kém Việc phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH trong thực hiện CBXH đang thực sự là vấn đề cấp thiết, cần được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng

Để góp phần thực hiện vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh chọn và

thực hiện đề tài “Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công

bằng xã hội giai đoạn hiện nay” làm luận án tiến sĩ khoa học chính trị

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh ủy ở ĐBSH

lãnh đạo thực hiện CBXH giai đoạn hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh uỷ đối với thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH đến năm 2025

2.2 Nhiệm vụ

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH

- Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH trong giai đoạn hiện nay, tập trung vào thời kỳ từ năm 2006 đến nay, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH đến năm 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu: Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

- Luận án tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH từ năm 2006 đến nay

- Phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2025

Trang 9

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn

- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng ta về CBXH và Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội

- Cơ sở thực tiễn của luận án là các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội thực hiện CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin; đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành chủ yếu như: phương pháp logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

Mác-5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Khái niệm:

Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội , phản ánh mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng và phạt của cá nhân (nhóm xã hội), bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, hài hòa, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội loài người, vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội

Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của các tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hiện CBXH, ban hành các nghị quyết, quyết định về thực hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc, các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã hội ở địa phương tổ chức thực hiện; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện để các nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH trở thành hiện thực

- Luận án tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện CBXH: các tỉnh ủy tập

trung lãnh đạo chính quyền tỉnh tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị

Trang 10

quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; đồng thời phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã

hội và các tổ chức xã hội tham gia vào thực hiện CBXH ở địa phương

- Luận án đề xuất hai giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của

các tỉnh uỷ ở các tỉnh ĐBSH đối với thực hiện CBXH đến năm 2025: Một là, đổi

mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị quyết chuyên đề của

tỉnh uỷ về phát triển kinh tế tạo cơ sở vững chắc để thực hiện công bằng xã hội

Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo chặt chẽ công tác thanh tra, xử lý sai phạm trong thực

hiện CBXH; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu về Xây dựng Đảng ở các trường chính trị tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

4 chương, 9 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trong thời kỳ đổi mới thực hiện kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) CBXH và thực hiện CBXH là vấn đề đặc biệt quan trọng, thu hút khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những góc độ, khía cạnh khác nhau, đạt kết quả quan trọng Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đã được công bố trên sách, báo, tạp chí, tham luận hội thảo khoa học, tổng quan các đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Các công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án, gồm:

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Công trình của các nhà khoa học Trung Quốc

- Cát Chí Hoa, Từ nông thôn mới đến đất nước, con người [39] Cuốn sách tập

hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và biến động của nông thôn Trung Quốc trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, khái quát những vấn đề lý luận, nguồn gốc hình thành và những đặc trưng của vấn đề "tam nông" ở Trung Quốc

- Dang Guoying, Agriculture, rural areas and farmers in China (Nông

nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc) [11] Cuốn sách khái quát về nông

nghiệp, các vùng nông thôn và các trang trại ở Trung Quốc; phân tích tình hình kinh

tế và xã hội ở các khu vực nông thôn Trung Quốc; sự thành thị hóa và sự luân chuyển dân số nông thôn ra thành thị, đưa ra phương hướng xây dựng một số vùng nông thôn mới

Hai công trình trên cung cấp một số điểm để xây dựng khung lý thuyết của luận án

- Quyết định của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về Xây

dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa [35] Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối

với luận án Những nội dung bổ ích, gồm: quan niệm, nguyên tắc xây dựng xã hội hài hòa XHCN Đáng quan tâm hơn là các giải pháp xây dựng xã hội hài hòa

Trang 12

XHCN, gồm: đảm bảo phát triển cân đối, chú trọng phương diện xã hội của phát triển; xây dựng văn hóa, củng cố nền tảng tư tưởng đạo đức của xã hội hài hòa; hoàn thiện quản lý xã hội, duy trì xã hội ổn định có trật tự; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng xã hội hài hòa XHCN

- Trác Vệ Hoa, Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung

Quốc 30 năm qua [40] Tác giả phân kỳ sự phát triển của nông thôn Trung Quốc

qua 30 năm thành 4 giai đoạn: từ năm 1978 đến năm 1984 là giai đoạn đột phá cải cách nông thôn; từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn thúc đẩy cải cách toàn diện nông thôn; từ năm 1992 đến năm 2001 là giai đoạn cải cách nông thôn chuyển toàn diện sang thể chế kinh tế thị trường XHCN; từ năm 2002 đến nay là giai đoạn mới tính toán tổng thể phát triển thành thị và nông thôn, xây dựng nông thôn mới XHCN Tác giả khái quát những thành tựu quan trọng và rút ra một số kinh nghiệm, đồng thời nêu một số giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

1.1.2 Công trình của các nhà khoa học Lào

- Phêng-Pha Văn Đao-Phon-Cha Rơn, Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn đầu

tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào [70] Luận án nêu những nguyên lý cơ bản về hiệu quả đầu tư; phân

tích thực trạng đầu tư nhà nước vào lĩnh vực kinh tế - xã hội nông thôn Lào, đưa ra các giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Lào Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn là một giải pháp quan trọng thực hiện CBXH Công trình này là tài liệu tham khảo tốt để luận án đề xuất giải pháp

- Khăm-Bay Ma-La-Sinh, Thực trạng đói, nghèo trong các hộ gia đình ở

nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [49] Luận văn đã

hệ thống hóa, đường lối, quan điểm về chính sách xã hội của Đảng Nhà nước Lào; đánh giá thực trạng đói, nghèo ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, chỉ rõ quy mô, mức

độ đói nghèo của các hộ gia đình; nêu một số kiến nghị về chính sách và các giải pháp xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Luận văn cung cấp một số điểm để xác định nguyên nhân và giải pháp của luận án

Trang 13

- Xỉn-Xỏn Phun-Bun-Sỉ, Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân

Lào thời kỳ đổi mới [145] Luận án làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển

kinh tế nông thôn Lào thời kỳ đổi mới; phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn; đề xuất sáu giải pháp phát triển kinh tế nông thôn Lào hiện nay Trong đó, phát triển kinh tế nông thôn là một giải pháp quan trọng của thực hiện CBXH, có giá trị tham khảo tốt đối với luận án

- Bun-Thoong Chit-Ma-Ni, Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây

dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [7] Luận án nêu quan niệm về nông

thôn mới và chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của nông thôn mới ở Lào; khái niệm Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, nội dung, phương thức, quy trình Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới Tác giả khái quát thực trạng Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, đề xuất phương hướng và sáu giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Tiếp theo các tác giả nêu sự tăng trưởng kinh tế và CBXH ở một số nền kinh

tế Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), Đông Nam Á (Malaixia, Thái Lan) Bài học về CBXH gắn với tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản nửa sau thế kỷ XX; kinh nghiệm của Hàn Quốc về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

Trang 14

và CBXH theo quan điểm tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm bất bình đẳng thu nhập; thực hiện CBXH thông qua việc tạo dựng các cơ hội việc làm và các phúc lợi

xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; kinh nghiệm của Đài Loan về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và CBXH thông qua một số chính sách như cải cách ruộng đất; bình đẳng trong thu nhập; hỗ trợ nông nghiệp trong những năm 50-60 của thế kỷ trước

Từ đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta, gồm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển; tăng cường hơn nữa công tác kế hoạch hóa gia đình; xóa đói giảm nghèo; chống tham nhũng, buôn lậu; xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển y tế, giáo dục; phát huy vai trò của Nhà nước trong thực hiện CBXH

- Lê Văn Sang, Kim Ngọc (đồng chủ biên), Tăng trưởng kinh tế và công

bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ “đổi mới” [83]

Theo các tác giả sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản nhanh chóng phục hồi và có bước phát triển nhảy vọt, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt đã tạo được môi trường thuận lợi cho các công ty hoạt động nhờ tạo dựng cơ chế thị trường, cơ chế quản lý kinh tế hợp lý; ý thức trách nhiệm của mỗi người dân, mỗi công ty

Trên cơ sở kinh nghiệm của Nhật Bản các tác giả khảo sát thực trạng tăng trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta sau 10 năm đổi mới, đánh giá các biện pháp, chương trình quốc gia thực hiện tăng trưởng kinh tế và CBXH Đồng thời, luận giải một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH

- Trịnh Quốc Tuấn (chủ nhiệm), Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và

công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [135] Các tác giả bàn đến

nhiều nội dung như quan niệm mới về phát triển và phương hướng phát triển kinh tế

- xã hội ở nước ta (GS.TS Đỗ Thế Tùng); mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam (GS.TS Nguyễn

Trang 15

Ngọc Long); hậu quả xã hội của quá trình tăng trưởng kinh tế qua thực tiễn đổi mới

ở Việt Nam và Trung Quốc (TS Hoàng Thị Thành); những vấn đề xã hội cần giải quyết để phục vụ trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế (TS Nguyễn Hữu Dũng); về phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (TS Phạm Hảo); sự lựa chọn và thực hiện chính sách xã hội bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH trong điều kiện phát triển KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta (TS Nguyễn Thanh Tuấn) Kỷ yếu cũng cung cấp cho luận án nhiều điểm quan trọng để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của luận án

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Vấn đề phân phối và phân hóa

giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [5] Các tác giả tập trung luận bàn về phân phối và phân hóa

giàu nghèo trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta; đánh giá quá trình thể chế hóa và thực hiện các chủ trương, đường lối đó, chỉ ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân; kiến nghị giải pháp giải quyết vấn đề phân phối và phân hóa giàu nghèo Đáng chú ý là các tham luận về phân phối và tác động của phân phối đến sự phân hóa giàu nghèo trong nền KTTT của GS Đỗ Thế Tùng; phân phối, tăng trưởng và công bằng trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam của TS Đặng Đức Đạm; CBXH và mối quan hệ giữa CBXH với tăng trưởng kinh

tế của PGS.TS Trần Đình Thiên

- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS), German Catholic Action For

Human Development (MISEREOR), "Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và

đoàn kết xã hội" "social justice, social responsibility and social solidarity" [142]

Có 35 tham luận được đưa vào kỷ yếu của Hội thảo Qua các tham luận, các nhà khoa học đưa ra các quan niệm về CBXH, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội; quan hệ giữa CBXH với trách nhiệm xã hội và với đoàn kết xã hội; các chức sắc tôn giáo đưa ra quan niệm của các tôn giáo về CBXH, trách nhiệm xã hội và về đoàn kết xã hội theo thế giới quan của họ; đề xuất các giải pháp giải quyết có hiệu quả mối quan hệ đó

- Nguyễn Gia Thơ, Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết học

phương Tây [91]

Trang 16

Sau khi trình bày tư tưởng của các nhà triết học phương Tây, tác giả nêu bật quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về CBXH và kết luận: đa phần các quốc gia cần tiến hành các cuộc cách mạng xã hội khoa học để giải phóng con người bị áp bức, bóc lột, thống trị; một số quốc gia cần tiếp tục giữ vững định hướng XHCN trong đổi mới toàn diện đất nước, đấu tranh triệt để hơn với quan liêu, tham nhũng, thoái hoá biến chất; xã hội hóa việc thực hiện CBXH trong sự phối hợp chặt chẽ của lãnh đạo chính trị, quản lý của Nhà nước và nhân dân

Từ tư tưởng của các nhà triết học phương Tây tác giả cuốn sách nêu những

đề xuất đối với nước ta Theo tác giả, đối với nước ta CBXH chỉ có thể thành hiện thực khi có sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Trong đó, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh là cơ sở vững chắc để biến khả năng CBXH thành hiện thực

- Nguyễn Duy Quý Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa [80] Tác giả đã phân tích tư tưởng của C.Mác về CBXH và

nguyên tắc phân phối theo lao động để thực hiện CBXH; việc thực hiện CBXH ở nước ta trước và trong thời kỳ đổi mới, khẳng định: không nhất thiết phải giàu có mới thực hiện CBXH; Việt Nam coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của

sự phát triển xã hội; không chờ tới khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện CBXH,

mà ngay từ khi bắt đầu đổi mới phải kết hợp nhiệm vụ kinh tế với các nhiệm vụ xã hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế với đổi mới chính sách xã hội, đó là một phương thức để thực hiện CBXH hiệu quả Tác giả đề xuất các giải pháp về nâng cao nhận thức; chính sách; huy động nguồn lực; gắn phát triển kinh tế với văn hóa

- Phạm Xuân Nam, Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [64] Tác giả đã điểm qua một số

mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới xét từ góc độ giải quyết mối quan hệ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với thực hiện CBXH; phân tích việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta qua hơn 20 năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu và những vấn đề đặt ra Đáng chú ý hơn là, tác

Trang 17

giả đã kiến nghị một số hướng giải pháp về thực hiện CBXH trong nền KTTT định

hướng XHCN ở nước ta trong thời gian tới Thứ nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm

túc nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực vào quá trình sản xuất,

kinh doanh Thứ hai, trong việc thực hiện đầu tư cho phát triển, cần có quy hoạch

và kế hoạch cụ thể để cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau

Thứ ba, trong số những chính sách có liên quan đến phân phối lại tổng thu nhập

quốc dân, không nên chỉ đặt vấn đề phân phối thông qua phúc lợi xã hội Thứ tư,

ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả những hiện tượng làm giàu phi pháp, vì đây chính là nhân tố vừa làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế chung, vừa tạo ra bất CBXH lớn nhất

- Lê Hữu Tầng (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc

thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay [87] Tác giả đã trích dẫn một số ý

kiến về CBXH: ở những nước kém phát triển, nội dung quan trọng nhất của CBXH

là công bằng về kinh tế Ở nước ta, tác giả đề xuất, để thực hiện đầy đủ hơn CBXH cần mở rộng nguyên tắc phân phối theo lao động và theo mức đóng góp vốn vào sản xuất kinh doanh hiện nay thành nguyên tắc phân phối theo cống hiến (về lao động, nguồn vốn và những cống hiến khác) cho xã hội không chỉ cho sản xuất, mặc dầu cống hiến cho sản xuất là chủ yếu

- Đỗ Huy (2009), Công bằng xã hội ở Việt Nam nhận diện và giải pháp [47]

Tác giả đã khái quát việc thực hiện CBXH ở nước ta trong các thời kỳ cách mạng từ khi Đảng và nhân dân ta giành được chính quyền và trong thời kỳ đổi mới hiện nay;

chỉ ra những hạn chế bất cập của việc thực hiện CBXH trong các thời kỳ đó Tác

giả đề xuất những giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu CBXH toàn diện ở nước

ta trong điều kiện hiện nay: một là, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; hiện đại hoá lực lượng sản xuất; hai là, từng bước tập thể hoá, quốc doanh hoá trong quá trình thiết lập quan hệ sản xuất mới; ba là, xây dựng hệ tư tưởng chính thống theo tư tưởng Hồ Chí Minh; bốn là, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, quốc tế, con người; năm là, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc; sáu là, xây dựng Đảng

vững mạnh

Trang 18

- Nguyễn Minh Hoàn, Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [41] Cuốn

sách có giá trị tham khảo đối với luận án về một số điểm: một số quan điểm tiêu biểu về CBXH thời kỳ trước C.Mác; một số quan điểm hiện đại về CBXH của các học giả phương Tây; quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguyên tắc phân phối đảm bảo CBXH; tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH và bình đẳng xã hội Đáng chú ý là tác giả đã nêu một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, gồm: thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng gia tăng phân hoá giàu nghèo và bất bình đẳng hiện nay; vấn đề thực hiện CBXH trong phân phối tư liệu sản xuất; vấn đề CBXH trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân; trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

1.2.2 Luận án, luận văn và các bài đăng trên tạp chí

1.2.2.1 Luận án, luận văn

- Nguyễn Hữu Đổng, Sự hình thành thu nhập cá nhân trong các doanh

nghiệp nhà nước theo hướng đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam [36] Luận văn

phân tích những đặc điểm, nội dung chủ yếu, thực trạng phân phối hình thành thu nhập cá nhân thực hiện CBXH trong các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN; đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân phối hình thành thu nhập cá nhân thực hiện CBXH trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

- Lê Như Nhất, Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong

giai đoạn hiện nay [67] Luận văn đã xây dựng quan niệm về Đảng bộ tỉnh Kon

Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo; tổng kết được những kinh nghiệm về Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong những năm qua Luận văn đã đề xuất được các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh đối với xoá đói, giảm nghèo

- Nguyễn Văn Kính, Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công

bằng xã hội ở Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay [51] Luận văn phân tích những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng

trưởng kinh tế và CBXH trong lịch sử; phân tích một số mâu thuẫn giữa KTTT và thực hiện CBXH ở Hải Phòng, đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp có hiệu quả

Trang 19

giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ở Hải Phòng giai đoạn hiện nay gồm: đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH; đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển nguồn nhân lực; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, khuyến khích làm giàu chính đáng và thực hiện tốt chính sách xã hội

- Trịnh Sơn, Các huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm

nghèo giai đoạn hiện nay [84] Luận văn khái quát được tình hình đói nghèo ở tỉnh

Hà Giang, đã xây dựng được quan niệm về huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xoá đói, giảm nghèo; chỉ ra kết quả và tổng kết được những kinh nghiệm về các huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo Luận văn đề xuất được các nhóm giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ đối với công

tác xoá đói, giảm nghèo: Một là, nhóm giải pháp về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo Hai là, nhóm giải pháp về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm Ba là, nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức của các cấp uỷ, về công tác xoá đói, giảm nghèo Bốn

là, phát huy vai trò của Mặt trận, đoàn thể trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo

- Nguyễn Hồng Quân, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống

văn hóa ở nông thôn giai đoạn 1997-2010 [73] Luận văn đã phân tích thực trạng

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 1997-2010 Luận văn đã tổng kết được những kinh nghiệm bổ ích Đáng quan tâm

là kinh nghiệm về phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong việc làm của cán

bộ chủ chốt, nhất là cán bộ xã, thôn, bản và gia đình trong thực hiện nghiêm những quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đối với xây dựng và thực hiện thiết chế văn hóa nông thôn

- Phạm Thị Hường, Các huyện ủy ven biển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát

triển văn hóa giai đoạn hiện nay [46] Luận văn đã xây dựng khái niệm các huyện

ủy ven biển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển văn hóa, xác định nội dung và phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với phát triển văn hóa, khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ ven biển tỉnh Thanh Hoá đối với phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay Đáng chú ý là

Trang 20

giải pháp về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của huyện uỷ đối với phát triển văn hoá

- Lê Văn Diến, Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng nông thôn

mới giai đoạn hiện nay [12] Luận văn đã xây dựng khái niệm, xác định nội dung và

phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với xây dựng nông thôn mới, khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ đối với xây dựng nông thôn mới Giải pháp có giá trị tham khảo đối với luận án là, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của các huyện uỷ

1.2.2.2 Các bài đăng trên tạp chí

Nguyễn Trần Quế, Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam [74]; Phạm Tất Dong, Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội

dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [14]; Phùng Văn Hùng, Vai trò của Nhà nước trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam [45];

Nguyễn Văn Huyên, Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội nhân văn [48]; Lương Việt Hải, công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện

nay [38]; Phương Ngọc Thạch, Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội [88]; Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công bằng xã hội

và xóa đói, giảm nghèo [86]; Ngô Ngọc Thắng, Chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng [89] Các bài báo này đã tập trung nghiên

cứu từng mặt, từng khía cạnh của CBXH trong điều kiện hiện nay, cung cấp cho luận án một số điểm để xây dựng khái niệm, nội dung CBXH

- Hoàng Thị Bích Phương, Thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững ở tỉnh

Bắc Giang (2008-2013) [71] Bài báo đã đánh gia thực trạng thực hiện xóa đói,

giảm nghèo bền vững trong những năm qua; đề xuất các giải pháp xóa đói, giảm nghèo bền vững, đáng chú ý là các giải pháp: tăng cường vận động các doanh nghiệp, doanh nhân tham gia xóa đói, giảm nghèo bền vững

- Hà Vũ Tuyến, Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một số kinh

nghiệm [137] Bài báo đã đánh giá thực trạng, tổng kết được những kinh nghiệm về

công tác dạy nghề ở tỉnh Vĩnh phúc Đáng quan tâm là kinh nghiệm về hoàn thiện

Trang 21

hệ thống dạy nghề; đổi mới giáo trình, bài giảng, đặc biệt coi trọng thực hành; xã hội hóa đào tạo nghề

1.3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT

1.3.1 Kết quả đạt được

Qua tổng quan một số công trình nêu trên của các nhà khoa học nước ngoài

và trong nước về CBXH và thực hiện CBXH, thấy rằng, các công trình đã đạt kết quả đáng trân trọng:

Một là, về CBXH: Nhiều công trình đã phân tích những tư tưởng, quan điểm

khác nhau về CBXH Một số công trình đã nêu khái niệm CBXH theo tư tưởng, quan điểm khác nhau đó Tuy nhiên, những tư tưởng quan điểm khác nhau đó, có những điểm chung là: từ khi xã hội phân chia thành giai cấp CBXH luôn là khát vọng và mục tiêu đấu tranh của con người Trong thời đại ngày nay, cùng với sự tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, nhu cầu về quyền con người về CBXH đã thật sự trở thành tiêu chí, điều kiện để đánh giá sự phát triển và tiến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc và chế độ chính trị do các chính đảng của giai cấp cầm quyền lãnh đạo và điều hành Với ý nghĩa đó, CBXH đang và sẽ là một vấn đề lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại Một số công trình đã nêu một vài nội hàm của khái niệm CBXH và cho rằng, CBXH gắn liền và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, song tập trung ở bốn lĩnh vực chủ yếu là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Khá nhiều công trình đã luận bàn về vai trò và một số đặc tính của CBXH

Hai là, về thực hiện CBXH: Hầu hết các công trình ở những mức độ khác

nhau đều bàn về thực hiện CBXH Một số công trình đã chỉ ra kinh nghiệm về thực hiện có hiệu quả CBXH ở một số nước tư bản và khái quát về chủ trương giải pháp

cụ thể về thực hiện CBXH đạt hiệu quả ở một số nước Đối với Việt Nam, hầu hết các công trình ở những mức độ khác nhau đều đề xuất các giải pháp thực hiện có kết quả CBXH hoặc ở phương pháp luận, đề xuất quan điểm, hoặc các giải pháp cụ thể ở các địa phương và trong cả nước Những đề xuất này rất đa dạng, phong phú

Trang 22

Ba là, về Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện CBXH: Tuy đã có một vài công

trình đề cập đến vấn đề rất quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và các cấp uỷ đảng nói riêng lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, song mới chủ yếu dừng lại ở nêu vấn đề, việc luận giải chưa được chú ý Như vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào luận bàn và làm sáng tỏ vấn đề này; chưa có công trình nào đề cập và làm sâu sắc các giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện CBXH

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Thứ nhất, về CBXH: Xây dựng khái niệm CBXH; chỉ ra và phân tích nội

dung, đặc tính của CBXH, khái quát và phân tích, làm rõ vai trò của CBXH nói chung, từ đó làm rõ vai trò ấy đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay nói riêng Phân tích những đặc tính cơ bản của CBXH

Thứ hai, về thực hiện CBXH: Xây dựng khái niệm thực hiện CBXH, xác

định và phân tích làm rõ nội dung của thực hiện CBXH; chỉ ra và phân tích những nhân tố chủ yếu chi phối việc thực hiện CBXH

Thứ ba, về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH: Xây dựng khái niệm,

xác định nội dung và phương thức lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy trong điều kiện hiện nay làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm và

đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH đến năm 2025

Trang 23

Chương 2 CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ CÔNG BẰNG

XÃ HỘI, THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

2.1.1 Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng

2.1.1.1 Khái quát về các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng

Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh (QPAN) vùng ĐBSH đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 191/2006/QĐ-TTg, ngày 17-8-2006 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW nêu trên, xác định ĐBSH gồm 10 tỉnh và 2 thành phố Sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính đến tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, ĐBSH còn 9 tỉnh, gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và 2 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội và Hải Phòng

* Điều kiện tự nhiên: Các tỉnh ở ĐBSH có tổng diện tích hơn 21.049,2 km2, chiếm 5% diện tích toàn quốc [Phụ lục 1] Đây là các tỉnh thuộc đồng bằng lớn thứ hai ở nước ta (sau đồng bằng sông Cửu Long) Phía Đông và Đông Nam ĐBSH là vịnh Bắc Bộ rộng lớn, nối liền với biển Đông Các tỉnh có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, với 4 mùa trong một năm (xuân, hạ, thu, đông), trong đó có một mùa đông lạnh; đất đai màu mỡ, mưa, nắng khá thuận hòa, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là trồng lúa nước và chăn nuôi Hệ thống sông ngòi dày đặc, các cảng ven biển cùng với cảng lớn Hải Phòng và cảng nước sâu Cái Lân tạo thuận lợi cho các tỉnh giao lưu với nhau, giao lưu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống đường quốc lộ được nâng cấp khá hiện đại, cùng với đường sắt, đường hàng không tạo thuận lợi lớn cho các tỉnh phát triển kinh

tế - xã hội, bảo đảm QPAN, phát triển bền vững

Trang 24

Các tỉnh ở ĐBSH có nguồn tài nguyên đất nông nghiệp khá lớn, với tổng số 11.280,6 km2 [Phụ lục 1] Một số tỉnh có bờ biển dài và thềm lục địa rất thuận tiện cho phát triển kinh tế biển và du lịch Ở nhiều tỉnh có nguồn tài nguyên, khoáng sản

đa dạng, trữ lượng lớn, như: đất sét, than nâu, đá vôi và các tài nguyên khác có giá trị lớn đối với phát triển công nghiệp

* Đặc điểm kinh tế: Qua 30 năm đổi mới, kinh tế ở các tỉnh phát triển khá

mạnh Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng giá trị kinh tế nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị kinh tế công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GDP Kinh tế nông nghiệp phát triển khá mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm, nhiều sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao

Số lượng lao động nông nghiệp giảm mạnh, chuyển sang ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tỷ trọng giá trị công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong tổng GDP của các tỉnh ngày càng tăng, nhất là các tỉnh gần Tam giác kinh tế trọng điểm

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Ở các tỉnh đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, nhiều tỉnh có các khu công nghiệp lớn, như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương thu hút ngày càng lớn lượng vốn đầu tư và nhiều doanh nghiệp có uy tín của nước ngoài Tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được hình thành, phát triển hoạt động

có hiệu quả, có vai trò, tác dụng lớn đối với phát triển kinh tế của các tỉnh: tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình 8,2% (năm 2013), 7,83% (năm 2014); tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh có số liệu tương ứng: 10,2% và 16,2%; 9,2% và 7,7%; 7,1% và 8,8% [Phụ lục 2]

Các tỉnh ở ĐBSH có nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm có giá trị không chỉ nổi tiếng trong nước, mà còn được nhiều nước trên thế giới biết và

ưa chuộng, như: gốm, sứ Bát Tràng; đồ gỗ chất lượng cao ở La Xuyên (Nam Định), Đồng Kỵ (Bắc Ninh); đúc đồng ở Vụ Bản (Nam Định); chiếu cói ở Phát Diệm, huyện Kim Sơn (Ninh Bình)

Ngành du lịch ở các tỉnh phát triển khá nhanh Với nhiều cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, nhiều di tích lịch sử, văn hóa, một số cảnh quan thiên nhiên được UNESCO công nhận là cảnh quan thiên nhiên của thế giới như: Vịnh Hạ Long,

Trang 25

Tràng An là tài sản vô giá do thiên nhiên ban tặng các tỉnh để phát triển du lịch, dịch vụ ở ĐBSH đã hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh, thu hút ngày càng lớn du khách trong, ngoài nước, đóng góp đáng kể vào sự phát triển mọi mặt của các tỉnh, nhất là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

* Đặc điểm văn hóa: ĐBSH có Thủ đô Hà Nội “là trái tim của cả nước, đầu

não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế” [20, tr.2], tác động rất lớn đến sự phát triển văn hóa của các tỉnh Các tỉnh ở vùng này là cội nguồn của văn hóa Việt, đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân nơi đây, gắn chặt với văn hóa làng, xã, lễ hội và quan hệ huyết thống Đây là một trong những nét đặc trưng của văn hóa vùng ĐBSH, đã phát huy tác dụng góp phần to lớn vào sự phát triển của các tỉnh và đất nước

Các tỉnh ở ĐBSH là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, như Kinh, Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, Mường , trong đó người Kinh là chiếm tuyệt đại đa

số Các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân cư trong vùng, sống tập trung ở một số huyện như Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Hải Hà (Quảng Ninh), Nho Quan (Ninh Bình), có truyền thống văn hóa riêng, độc đáo, tạo nên bức tranh đa dạng về văn hóa trong vùng Các dân tộc thiểu số cần cù, chịu khó, tương thân, tương ái, sống hòa thuận với nhau và với người Kinh Nhìn chung, đời sống của họ được nâng lên một bước khá lớn, song đời sống của nhiều gia đình vẫn còn khó khăn, thiếu thốn

Nhân dân ở các tỉnh có truyền thống hiếu học, tôn sư, trọng đạo, khắc phục mọi khó khăn, luôn vươn lên nâng cao trình độ trí tuệ Hệ thống giáo dục đào tạo phát triển khá (tỉnh Vĩnh Phúc có 183 trường mầm non, 173 trường tiểu học, 146 trường trung học cơ sở, 37 trường trung học phổ thông; các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương có số liệu tương ứng: 301, 295, 271, 39; 266, 293, 242, 57; 109,

281, 272, 54 [Phụ lục 6]) tạo thuận lợi cho việc học tập người dân và phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở Nơi đây, tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu khoa học lớn, nổi tiếng của nước ta là thuận lợi lớn để cư dân học tập để có trình độ cao nên nhìn chung, trình độ dân trí ở các tỉnh vào loại cao nhất nước

Trang 26

* Đặc điểm xã hội: ĐBSH là vùng có mật độ dân số cao, lao động dồi dào

Số lượng, mật độ dân cư ở các tỉnh ĐBSH vào loại lớn nhất so với các tỉnh vùng đồng bằng trong cả nước Tổng dân số của chín tỉnh là 9.765.445 người, chiếm 22,7% dân số cả nước [Phụ lục 2]; mật độ dân số là 934 người/km2, phân bố không đều giữa các tỉnh Phần lớn các tỉnh có mật độ dân số trên 1000 người/km2; tỉnh có mật độ dân số cao nhất là tỉnh Bắc Ninh (1.313 người/ km2, tiếp đến là tỉnh Hưng Yên (1.237 người/ km2), thấp nhất là tỉnh Quảng Ninh (195 người/ km2) [Phụ lục 2]

Dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người vào loại thấp nhất

so với cả nước (450m2/đầu người) Bởi vậy, vùng này được gọi là "vùng đất chật người đông" Cùng với việc tăng dân số, thu hẹp đất canh tác, sức cạnh tranh của hàng hóa tiểu thủ công nghiệp thấp nên nhiều lao động không có việc làm, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp

Đồng bằng sông Hồng là cội nguồn và là trung tâm của hai tôn giáo lớn ở nước ta là Phật giáo và Công giáo Các trung tâm Phật giáo lớn, nổi tiếng ở miền Bắc nước ta đều nằm ở các tỉnh ĐBSH như Trúc Lâm Thiền Viện (Vĩnh Phúc), Yên Tử (Quảng Ninh) Số người theo đạo Phật ở các tỉnh rất lớn, nhưng thực chất chỉ trên danh nghĩa

“Thiên Chúa giáo bắt đầu du nhập vào vùng ven biển ĐBSH từ đầu thế kỷ XVI, đời vua Lê Trang Tông, năm 1533 và sau đó theo các triền sông tỏa vào nội địa” [53, tr.92] Tín đồ Công giáo sống tập trung ở các huyện ven biển của các tỉnh Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình, đông nhất là ở các huyện Kim Sơn (Ninh Bình); Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Trực Ninh (Nam Định); Tiền Hải (Thái Bình) Số lượng tín đồ Công giáo đông nhất là ở tỉnh Nam Định (43 vạn tín đồ, chiếm 21,5% dân số của tỉnh), có huyện số lượng tín đồ chiếm 49% dân

số của huyện, như huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định [50, tr.14] Trong vùng đã hình thành trung tâm đạo Công giáo lâu đời và vào loại lớn nhất nước ta - Xứ đạo Bùi Chu và Xứ đạo Phát Diệm

Phật giáo và Công giáo ở các tỉnh ĐBSH đã có đóng góp nhất định trong các cuộc chiến tranh chống phong kiến, thực dân, đế quốc trước đây và trong xây dựng,

Trang 27

bảo vệ Tổ quốc hiện nay Tuy nhiên, trước đây Công giáo ở một số tỉnh đã bị các thế lực phản động lợi dụng, gây cho Đảng, cách mạng và nhân dân không ít khó khăn, phức tạp và tổn thất, kể cả xương máu

* Đặc điểm chính trị, QPAN: nhân dân vùng này một lòng một dạ đi theo

Đảng làm cách mạng, vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt giành thắng lợi trong chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Các tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng về QPAN đối với đất nước Đây là nền tảng, địa bàn đặc biệt quan trọng để triển khai chiến lược quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, chủ động đối phó có hiệu quả với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, lãnh thổ và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Nhìn chung, chính trị ở các tỉnh ổn định, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm

Qua 30 năm đổi mới, các tỉnh đã phát triển khá mạnh mẽ về nhiều mặt, song vẫn còn một số khó khăn, thách thức: nhiều tiềm năng, thế mạnh chưa được khai thác và phát huy mạnh mẽ; kinh tế - xã hội phát triển chưa vững chắc; cơ cấu kinh

tế chuyển dịch chậm; lúng túng trong phát triển tiểu thủ công nghiệp; các làng nghề truyền thống chưa phát triển mạnh và còn khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm; số lượng lao động không có việc làm còn lớn và có xu hướng gia tăng, điều kiện học hành của các cháu trong độ tuổi đi học và việc khám chữa bệnh của nhiều gia đình người dân gặp nhiều khó khăn; môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng; sự chênh lệch về mức sống dân cư còn lớn; nhân dân còn bất bình với tệ tham nhũng, lãng phí; vẫn còn khiếu kiện đông người, vượt cấp; hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội truyền thống còn diễn ra; một số vấn đề dân tộc, tôn giáo diễn biến phức tạp, các tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn và đẩy lùi

2.1.1.2 Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng - chức năng, nhiệm vụ, vai trò

và đặc điểm

* Chức năng: Điều lệ Đảng quy định: "Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo

của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban Chấp hành đảng bộ, chi

bộ (gọi tắt là cấp ủy)" [30, tr.17] Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam , là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội" [79, tr.10] Đây là cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của sự lãnh đạo

Trang 28

của tỉnh ủy ở ĐBSH Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội Chức năng của tỉnh ủy là lãnh đạo; tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức trong HTCT

từ tỉnh đến cơ sở, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội Tỉnh ủy còn có chức năng thực hiện công tác xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và về đạo đức đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh Tỉnh ủy là cấp ủy của hệ thống tổ chức thứ hai trong hệ thống tổ chức của Đảng, chịu sự lãnh đạo, kiểm tra của Trung ương Đảng, có trách nhiệm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng Đồng thời, tỉnh ủy có chức năng và trách nhiệm tham mưu, đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và của Đảng

Từ phân tích trên, có thể thấy, tỉnh ủy ở ĐBSH có chức năng sau:

Một là, tỉnh ủy ở ĐBSH thực hiện chức năng lãnh đạo chính trị đối với

HTCT và các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương

Tỉnh uỷ thực hiện lãnh đạo trực tiếp, mọi mặt công tác của đảng bộ tỉnh, nghĩa là tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức trong HTCT và lãnh đạo các lĩnh vực đời sống

xã hội trên địa bàn tỉnh Sự lãnh đạo của tỉnh ủy là lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt, thể hiện ở: tỉnh ủy đề ra phương hướng, chủ trương, mục tiêu, biện pháp lãnh đạo các đối tượng lãnh đạo nói trên; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức trong HTCT, nhất là tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hóa các chủ trương, biện pháp lãnh đạo đó thành nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch, đề án và biện pháp của chính quyền để tổ chức thực hiện Tỉnh ủy lãnh đạo các cấp ủy, nhất

là cấp ủy trực thuộc và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy về kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy, đồng thời trực tiếp tổ chức tiến hành công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên theo quy định tại Điều 30 Điều lệ Đảng

Lãnh đạo chính trị là chức năng lãnh đạo cơ bản nhất của tỉnh ủy Để thực hiện chức năng này, tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức, các lĩnh vực đời sống xã hội thông qua việc ban hành các nghị quyết, chính sách và các định hướng lớn, đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức và lĩnh vực đời sống xã hội theo định hướng XHCN

Trang 29

Tỉnh ủy không can thiệp quá sâu, không bao biện, làm thay công việc cụ thể của các

tổ chức, tỉnh ủy lãnh đạo phát huy vai trò, chủ động sáng tạo của các tổ chức của HTCT thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong HTCT

Hai là, tỉnh ủy thực hiện chức năng xây dựng Đảng và xây dựng đảng

bộ tỉnh

Trước hết, tỉnh ủy tiếp nhận và lãnh đạo thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng về công tác xây dựng Đảng Đồng thời, xuất phát từ thực tế đảng bộ tỉnh, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, tỉnh ủy xây dựng, ban hành và lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về công tác xây dựng đảng bộ tỉnh để đảng bộ ngang tầm nhiệm vụ chính trị

Ba là, tỉnh uỷ thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất và tham gia xây dựng

đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Tỉnh ủy tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước về xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần để đường lối, chủ trương, chính sách ấy đúng đắn, phù hợp thực tiễn và có tính khả thi Bí thư tỉnh ủy thường là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong tỉnh ủy thường có một

số cán bộ là đại biểu quốc hội Những cán bộ này, trực tiếp tham gia xây dựng và

quyết định về đường lối chiến lược của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Ba chức năng nêu trên tác động biện chứng lẫn nhau Các tỉnh uỷ không thể thực hiện tốt chức năng lãnh đạo chính trị, nếu không thực hiện tốt chức năng xây dựng đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh Mục đích của xây dựng nội bộ đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh là để tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ tỉnh Việc lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ tỉnh lại đặt ra mục tiêu, yêu cầu xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh Thực

hiện tốt chức năng thứ nhất và thứ hai thì mới thực tốt chức năng thứ ba Thực

hiện tốt ba chức năng đó, bảo đảm cho đảng bộ tỉnh có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó

* Nhiệm vụ: Chương IV, Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: "Cấp ủy tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Tỉnh ủy, Thành ủy), cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành

Trang 30

ủy) lãnh đạo thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên [30, tr.33] Trên cơ sở quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương, xuất phát từ chức năng của tỉnh ủy, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ tỉnh, các tỉnh ủy ở

ĐBSH có những nhiệm vụ chủ yếu: Một là, quán triệt đường lối chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ nhiệm kỳ của tỉnh, ra các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy và lãnh đạo

tổ chức thực hiện Hai là, lãnh đạo Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân

(UBND) cụ thể hóa và triển khai thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường

vụ tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, QPAN Ba là, lãnh đạo và tổ chức thực hiện

nhiệm vụ xây dựng Đảng, bao gồm quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các nghị quyết của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo, chỉ

đạo, các tổ chức đảng cấp dưới thực hiện Bốn là, phê duyệt quy hoạch cán bộ của cấp dưới theo phân cấp quản lý cán bộ Năm là, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Sáu

là, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh,

trước hết là các tổ chức đảng trực thuộc và những đảng viên là cán bộ thuộc diện

ban thường vụ tỉnh ủy quản lý Bảy là, chuẩn bị báo cáo chính trị, nhân sự và tổ

chức đại hội đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ tới

* Vai trò của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng Thứ nhất, các tỉnh ủy ở ĐBSH bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước được thực hiện, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm QPAN, nâng cao đời sống của nhân dân

Các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, của tỉnh ủy, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, QPAN, tổ chức thực hiện

Các tỉnh uỷ trực tiếp tiếp nhận đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức thực hiện, bảo đảm cho đường lối, nghị quyết chính sách, pháp luật thành hiện thực trên địa bàn tỉnh Các đại hội đảng bộ tỉnh quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp lớn về phát triển kinh tế - xã hội, QPAN Các tỉnh ủy cụ thể hóa, ban hành các nghị quyết của tỉnh ủy và tổ chức thực

Trang 31

hiện để mục tiêu, nhiệm vụ ấy được thực hiện thắng lợi, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân

Thứ hai, các tỉnh ủy ở ĐBSH trực tiếp quyết định lãnh đạo thực hiện các

nghị quyết của Đảng, của tỉnh ủy về xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh

Là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đảng bộ tỉnh các tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng, bảo đảm cho các nghị quyết ấy được thực hiện thắng lợi ở địa phương Đồng thời, các tỉnh ủy xây dựng, ban hành các nghị quyết về xây dựng đảng bộ tỉnh, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, thiếu sót, khen thưởng, động viên kịp thời những tổ chức đảng, cán bộ đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Những hoạt động ấy của tỉnh ủy là nhân tố quyết định xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ

Thứ ba, các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết,

quyết định của Đảng, của tỉnh ủy về xây dựng và hoạt động của các tổ chức trong HTCT từ tỉnh đến cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn

Các tỉnh ủy tiếp nhận và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, xây dựng, ban hành các nghị quyết của tỉnh ủy về xây dựng tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong HTCT, tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh, bảo đảm cho hoạt động của các tổ chức này theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vì sự phát triển toàn diện của tỉnh

Thứ tư, các tỉnh ủy ở ĐBSH cung cấp cho Đảng những kinh nghiệm, cách

làm hiệu quả về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, QPAN, công tác xây dựng Đảng góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo mọi hoạt động trên địa bàn tỉnh, xuất hiện những vấn đề mới, phức tạp, các tỉnh ủy phải xác định chủ trương, giải pháp giải quyết đem lại kết quả, tích lũy được kinh nghiệm, cách làm đem lại hiệu quả Các tỉnh ủy

sẽ cung cấp cho Đảng những kinh nghiệm, giải pháp lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, QPAN, xây dựng Đảng để Đảng nghiên cứu, hoàn thiện chủ trương, chính sách, xây dựng chủ trương, chính sách mới phù hợp thực tiễn để công cuộc đổi mới giành thắng lợi lớn hơn

Trang 32

* Đặc điểm của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng Một là, nhiệm kỳ 2010 - 2015 số lượng tỉnh ủy viên ở chín tỉnh ĐBSH bảo

đảm đúng số lượng theo quy định, tuyệt đại đa số là người địa phương

Trong nhiệm lỳ này ở chín trỉnh có 484 tỉnh uỷ viên Trong đó, 98% tỉnh ủy viên là người sinh ra và lớn lên, trưởng thành ở các tỉnh trong vùng và chủ yếu là người của tỉnh đó Số tỉnh ủy viên là người của tỉnh khác, nhất là ở các tỉnh ngoài vùng ĐBSH chiếm tỷ lệ không đáng kể Điều này rất thuận lợi cho hoạt động lãnh đạo của tỉnh ủy Các tỉnh ủy viên là người địa phương nên nắm chắc mọi điều kiện kinh tế, xã hội, thuận lợi, khó khăn trong phát triển của tỉnh; nắm chắc phong tục, tập quán, văn hóa địa phương, dễ gần gũi, hòa đồng, quy tụ, đoàn kết cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực thi nhiệm vụ Song, cũng dễ e dè, nể nang, cục bộ, xuê xoa trong công việc và đấu tranh với những sai trái, làm việc dễ trọng tình hơn trọng lý [Phụ lục 4]

Hai là, đội ngũ tỉnh ủy viên ở các tỉnh đã được trẻ hóa một bước, cơ cấu giới

tính bảo đảm theo yêu cầu và chỉ đạo của Đảng

Tỉnh ủy viên có tuổi đời từ 35 đến 44 tuổi chiếm 0,4% (21 đồng chí); từ 45 đến 54 chiếm 38,8% (188 đồng chí); từ 55 đến 60 chiếm 54,7%) Số tỉnh ủy viên là

nữ chiếm 13% (56 đồng chí) Ở tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ nhiệm kỳ 2015 - 2020 chiếm trên 10% [Phụ lục 5b] Đội ngũ tỉnh ủy viên đã được trẻ hóa một bước, phần lớn đang ở độ tuổi cống hiến và trưởng thành Với cơ cấu này, các tỉnh ủy có nhiều thuận lợi trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Ba là, trình độ mọi mặt của đội ngũ tỉnh ủy viên vào loại cao so với các vùng

Trang 33

Chất lượng tỉnh ủy viên của các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015 - 2020 so với nhiệm kỳ 2010 - 2015 được nâng lên một bước khá lớn: cơ cấu giới tính khá hợp lý (ở tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc số tỉnh ủy viên là nữ chiếm trên 10% Tuyệt đại đa số tỉnh ủy viên của các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015 - 2020 có trình độ sau đại học [Phụ lục 5b]

Bốn là, các tỉnh ủy hoạt động trong môi trường có đặc điểm kinh tế, chính trị,

văn hóa, xã hội đặc thù của vùng ĐBSH, có nhiều thuận lợi trong hoạt động, nhưng cũng gặp không ít khó khăn thách thức

Thuận lợi cơ bản là, ở các tỉnh kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, trình độ dân trí cao, có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có cơ sở nghiên cứu và chuyển giao khoa học vào sản xuất; chính trị ổn định; an ninh, trật tự được bảo đảm; nhân dân thông minh, cần cù, chịu khó, gắn bó với Đảng, một lòng một dạ

đi theo Đảng đến ấm no, hạnh phúc Tuy nhiên, các tỉnh ủy cũng gặp không ít khó khăn thách thức, nhất là lãnh đạo phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa bỏ tình trạng

dư thừa lao động, phòng chống tệ nạn xã hội, hạn chế sự chi phối của quan hệ huyết thống, truyền thống làng xã trong giải quyết công việc

2.1.2 Công bằng xã hội - khái niệm, nội dung, vai trò và những đặc tính

cơ bản

2.1.2.1 Khái niệm công bằng xã hội

Để có thể đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về khái niệm CBXH, trước hết cần làm rõ khái niệm “xã hội” và "công bằng"

* Khái niệm "xã hội" và "công bằng":

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Theo nghĩa hẹp, xã hội là khái niệm chỉ

một hệ thống xã hội cụ thể, một hình thức nhất định của các quan hệ xã hội, là một

xã hội ở vào trình độ phát triển nhất định trong lịch sử như xã hội nô lệ, phong kiến,

tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa Theo nghĩa này khái niệm xã hội đồng nhất với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội [44, tr.964]

Theo nghĩa rộng, xã hội là "toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con

người đã hình thành trong lịch sử" [44, tr.965] Với cách hiểu này, xã hội được dùng

để chỉ một tập đoàn người được tạo nên bởi những cá nhân và những mối quan hệ

Trang 34

trong tập đoàn đó; xã hội được coi là môi trường hoạt động của con người, từng người hòa nhập và hoạt động trong môi trường đó Với cách hiểu này, thì xã hội, đối lập với cá nhân, con người xã hội là con người sống hoạt động trong cộng đồng đối lập với con người sống và hoạt động đơn độc Theo nghĩa rộng, khái niệm xã hội được dùng để chỉ toàn bộ những cái liên quan đến con người và loài người, phân biệt một cách tương đối với thế giới tự nhiên

Từ điển triết học cho rằng, khái niệm "xã hội" đồng nhất với khái niệm "hình

thái kinh tế - xã hội" Từ điển định nghĩa, "Hình thái kinh tế - xã hội: chế độ kinh tế

và kiến trúc thượng tầng thích ứng với chế độ kinh tế ấy của một xã hội ở vào giai đoạn nhất định trong sự tiến hóa của lịch sử" [56, tr.397] Về điều này, C Mác chỉ

ra rằng:

Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử phát triển nhân loại [8, tr.553]

Từ những dẫn giải trên, có thể hiểu xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ lực xây dựng là xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội XHCN nhưng ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH; những nội hàm cơ bản của

xã hội đó đã được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH

(bổ sung, phát triển năm 2011) xác định:

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ;

có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan

hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tư do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp

Trang 35

quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới [31, tr.70]

Xã hội XHCN nêu trên ở nước ta đang trong quá trình hình thành, phát triển

ở tất cả các nội dung của nó, trong đó có những nội dung đạt kết quả khá cao, cũng

có những nội dung mới chỉ bước đầu hình thành, đang trong quá trình tìm tòi, phát triển cả về lý luận và thực tiễn Để có một xã hội đạt được những nội dung nêu trên phải qua quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ của toàn Đảng, toàn dân, đó cũng là quá trình phấn đấu vì CBXH trên đất nước ta

Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: "công bằng" là không thiên vị mà theo đúng lẽ phải [146, tr.454] Từ điển Bách khoa Việt Nam tiếp cận khái niệm "công bằng" từ góc độ ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền và cho rằng: công bằng là

“1 Khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản chất và quyền con người… khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữa người với người” [44, tr.580]; đồng thời, từ điển chỉ rõ: “Công bằng đòi hỏi

sự tương xứng giữa vai trò của các cá nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của

họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền với nghĩa vụ - không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất công” [44, tr.580]

Từ những dẫn giải nêu trên, luận án quan niệm: Công bằng là một khái niệm

phản ánh xu hướng phát triển của con người, cộng đồng người, thể hiện khát vọng

và mong ước đạt được những lợi ích do xã hội mang lại, tương xứng với lao động

và cống hiến của họ cho xã hội

Ngoài những điểm giống nhau, những con người sống trong xã hội giữa họ luôn có sự khác nhau, thậm chí khác nhau rất lớn về năng lực trí tuệ, thể chất, tâm

lý, tính cách, hoàn cảnh sống nên sự đóng góp, cống hiến của mỗi người cho xã hội không giống nhau, sự hưởng thụ những lợi ích từ xã hội cũng rất khác nhau Có người vì mưu sinh của mình mà xâm hại đến lợi ích của người khác và xã hội; có người tuy lao động, cống hiến nhiều cho xã hội, nhưng không được đền đáp tương

Trang 36

ứng; có người khuyết tật phải chịu thiệt thòi nhiều mặt; có người không cống hiến

gì cho xã hội, nhưng lại được hưởng thụ rất lớn đó là những bất công cần được khắc phục Công bằng - vì vậy - là khát vọng thúc đẩy con người không ngừng vươn lên các nấc thang văn minh trong tiến trình phát triển nhân loại

Công bằng là khái niệm có tính lịch sử - cụ thể và phổ biến Không có khái niệm công bằng phi lịch sử, phi giai cấp và phi chính trị: “Nội dung công bằng thay đổi trong lịch sử, tùy theo hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị của một hình thái kinh

tế - xã hội nhất định Người Hy Lạp cổ đại cho chế độ nô lệ là công bằng; ý thức công bằng của giai cấp tư sản đang lên đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến” [44, tr.580] Nhìn lại xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp đối kháng, nhà nước của giai cấp thống trị xuất hiện, giai cấp thống trị đại diện cho công bằng của

xã hội đó, họ sử dụng nhà nước làm công cụ để điều tiết những bất công xã hội - vốn không thể tránh khỏi trong xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng - để thỏa mãn một phần đòi hỏi công bằng của số đông dân chúng trong xã hội đó Chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất từ khi ra đời đến nay, luôn là một động lực to lớn của phát triển sản xuất xã hội, nhưng nó cũng là nguồn gốc của bóc lột giai cấp, bất công xã hội Do vậy, chừng nào xã hội còn tồn tại chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, còn giai cấp và nhà nước thì còn nguồn gốc của bất công xã hội; CBXH chỉ là công bằng pháp quyền, gắn với một chế độ chính trị - xã hội cụ thể

* Khái niệm công bằng xã hội

Trong xã hội khi nói tới công bằng, phải được hiểu là CBXH, đó là công bằng giữa các tầng lớp, nhóm xã hội và các cá nhân trong xã hội Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:

Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân xuất phát từ khả năng hiện thực của các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Về nguyên tắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu của con người và khả năng hiện thực của xã hội còn chưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi thời đại lại có những đòi hỏi riêng về sự công bằng xã hội [44, tr.580]

Trang 37

Ở phương Đông cổ đại, Khổng Tử (551- 479) và Mặc Tử (480-420 trước Công nguyên) - những nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại - đã sớm bàn

về CBXH Các ông cho rằng, xã hội công bằng là xã hội, ở đó, công bằng được thực hiện và đảm bảo đối với tất cả mọi người, không phân biệt đẳng cấp Quan niệm này, tuy khó thành hiện thực, song có tính nhân văn sâu sắc, phản ánh ước mong của loài người về một xã hội tươi đẹp Ở phương Tây, nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại như Platôn (Platôn) (427-347), Arixtốt (AriStote) (384-322 trước Công nguyên) - các nhà triết học cổ đại Hy Lạp - đã có quan niệm về CBXH, song còn mang nặng tính đẳng cấp Các ông cho rằng, trong xã hội phân chia thành những đẳng cấp, tầng lớp khác nhau, công bằng là sự đối xử ngang nhau, là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội, trong cùng một giai cấp, không thể có công bằng giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau Các ông đã xem xét sự biểu hiện của CBXH trong lĩnh vực phân phối của cải vật chất xã hội trên cơ sở những quy định của xã hội do giai cấp thống trị đưa ra Mỗi người trong xã hội được hưởng thụ của cải xã hội tương xứng với cống hiến của họ trên cơ sở những quy định ấy

Trong thời đại cách mạng tư sản, các nhà tư tưởng tư sản đã đưa ra cách tiếp cận mới và bổ sung những nội hàm mới của khái niệm CBXH G Rútxô (J J Roussesau) đã đưa ra quan điểm và giải pháp đúng đắn, có tính nhân văn về CBXH Ông cho rằng, sở hữu tư nhân là nguyên nhân của phân hoá xã hội thành kẻ giàu và người nghèo Vì vậy, xóa bỏ được sở hữu tư nhân thì mới có thể đạt được công bằng và bình đẳng Giải pháp được ông đưa ra gồm: thiết lập "Khế ước xã hội" để cải biến chính mình; loại bỏ các tính xấu, nhất là lòng tham lam và ích kỷ Tuy còn chung chung, trừu tượng, thoát ly thực tế, nhưng những giải pháp này đã chứa đựng những ý tưởng nhân đạo Xanh Ximông (1760 - 1828), Phăngxoa Mari Sáclơ Phuriê (1772 - 1837), Rôbớt Ôoen (1771 - 1858) là những nhà CNXH không tưởng, đã có đóng góp quan trọng, đưa tư tưởng CBXH của nhân loại tiến lên một bước dài trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản Các ông đã mơ ước về một xã hội lý tưởng và công bằng, một xã hội mọi người đều phải lao động và được hưởng thụ như nhau, không có đặc quyền, đặc lợi

Trang 38

Trong xã hội tư bản hiện đại, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đưa ra những quan niệm mới về CBXH nhằm biện minh cho những bất công trong xã hội

tư bản G.Rauxơ (John Rawls, 1921-2002), nhà triết học người Mỹ, coi công lý như

là sự công bằng Ông cho rằng, một thể chế xã hội được gọi là công bằng, khi thể chế đó là căn cứ để xác định nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp với lợi ích của mỗi cá nhân Thể chế của một xã hội đạt đến giá trị công lý khi chuẩn mực của sự công bằng đảm bảo sự phân chia ngày càng bình đẳng hơn giữa quyền lợi và nghĩa vụ; hoặc ngày càng hạn chế được sự khác biệt về xuất phát điểm của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động hợp tác xã hội Với những luận điểm nêu trên, ở chừng mực nào đó, về thực chất, G Rauxơ đã biện minh cho những bất bình đẳng và sự phân hoá giàu, nghèo trong xã hội tư bản hiện đại

Những người xã hội dân chủ đã luận giải tính ưu việt của xã hội dân chủ phát triển đến trình độ cao ở một số nước Bắc Âu, như Thụy Điển, Đan Mạch Những người này, không đồng tình với các quan điểm và cách tiếp cận khái niệm CBXH nêu trên Họ đã tiếp cận khái niệm CBXH từ tự do cá nhân và quá nhấn mạnh tự do cá nhân trong mối quan hệ với CBXH, coi tự do cá nhân là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Từ đó, họ cho rằng, để phát triển kinh tế phải giảm bớt CBXH, bởi vì, không thể đồng thời vừa có tăng trưởng kinh

tế, vừa có CBXH; chỉ khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định mới có điều kiện để thực hiện CBXH

Những người có quan điểm nêu trên chưa thấy rõ rằng, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện CBXH, song trên thực tế, ở nhiều nơi, kinh tế chưa thực sự phát triển, nhưng CBXH đã được bảo đảm trong khá nhiều lĩnh vực đời sống xã hội Đặc biệt, họ không luận bàn về một điều rất cơ bản là, CBXH được quyết định bởi thể chế của một xã hội, thể chế ấy, lại phụ thuộc vào bản chất của giai cấp cầm quyền Ở các nước tư bản, kể cả các nước tư bản Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giai cấp tư sản không thể có CBXH khi giai cấp tư sản chiếm hữu tư liệu sản xuất và quyết định việc phân phối sản phẩm xã hội

Trang 39

Những cách tiếp cận, quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học, các nhà tư tưởng về CBXH nêu trên, tuy còn phiến diện và chủ quan, chủ yếu do hạn chế về lập trường giai cấp và lợi ích của giai cấp mà họ là người đại diện, song đã cung cấp những điều bổ ích để nghiên cứu, đưa ra khái niệm CBXH

Những nhà sáng lập CNXH khoa học đã đưa ra những tiếp cận mới, đúng đắn và khoa học về CBXH Theo Ph.Ăngghen: “Công bằng của những người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ Công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong kiến, mà nó coi là bất công ” [9, tr.327] Luận điểm này, cho thấy, nếu không gắn chặt CBXH với lợi ích của giai cấp, tầng lớp xã hội và những điều kiện vật chất sinh ra nó, thì không thể có quan niệm đúng đắn về CBXH; CBXH có tính lịch sử, nên khó có thể có một quan niệm chung về CBXH cho mọi thời đại, dân tộc và giai cấp Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta C.Mác viết: "với một công việc ngang nhau và

do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực

tế người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giầu hơn người kia Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền phải là không bình đẳng, chứ

sử tư tưởng nhân loại, CBXH được các nhà sáng lập CNXH khoa học luận giải trên

cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử: CBXH là một phạm trù lịch sử, có tính giai cấp, thay đổi theo các hình thái kinh tế - xã hội và trong từng giai đoạn khác nhau của một hình thái kinh tế - xã hội, CBXH cũng có thể thay đổi; mỗi giai cấp, dân tộc, tầng lớp dân cư cũng có những quan niệm khác nhau về CBXH Không có CBXH thoát ly bản chất nhà nước, pháp luật và các thể chế chính trị - xã hội cụ thể

Trang 40

Hồ Chí Minh đã xem xét CBXH trong mối quan hệ mật thiết với độc lập dân tộc và CNXH Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc” [57, tr.46]; “Chủ nghĩa xã hội là gì? Là mọi người ăn

no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [59, tr.22] Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam thời kỳ quá độ lên CNXH Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, công bằng không có nghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa: "Không có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau" [59, tr.143]; mà phải theo nguyên tắc: “Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng” [60, tr.23] CBXH hiểu theo nghĩa tổng quát nhất, gắn với một hình thái kinh tế - xã hội xác định Nước ta đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH, CBXH gắn với toàn bộ đường lối, chính sách xã hội của Đảng, được thể chế hoá thành Hiến pháp, pháp luật, cùng với tổ chức bộ máy và con người thực thi đường lối, chính sách pháp luật đó nhằm bảo đảm:

Xử lý tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, xóa

bỏ mọi hình thức đặc quyền, đặc lợi mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Ban hành các chính sách nhằm điều tiết các nguồn thu nhập, bảo đảm sự công bằng trong phân phối các sản phẩm xã hội, lương bổng và các phúc lợi xã hội Xây dựng những cơ chế tạo điều kiện cho mỗi thành viên trong xã hội, mỗi người lao động có quyền giám sát, kiểm tra mọi hoạt động kinh tế, xã hội, phân phối sản phẩm và phúc lợi [44, tr.581] Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề CBXH, Đảng ta luôn quan tâm đến CBXH cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Khái niệm CBXH được Đảng ta phát triển, bổ sung những nội hàm phong phú phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH Tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các

chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế” [24, tr.101] Trong Cương lĩnh xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm

Ngày đăng: 03/03/2017, 07:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w