Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG SINH THÁI
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Tùng Lâm
Hà Nội , tháng 03 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
Mục I : Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
2.2 Tính chất của mối liên hệ 4 2.3 Ý nghĩa của phương pháp luận 5 Mục II : Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế 6
và bảo vệ môi trường sinh thái
1 Khái quát chung 6
1.2 Môi trường sinh thái 6
2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
3.3 Trong dịch vụ du lịch 11
Tài liệu tham khảo 26
Trang 3MỞ ĐẦU
Hiện nay Việt Nam đang bước vào giai đoạn quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội Bước vào giai đoạn phát triển, trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng trưởng kinh tế luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu Nền kinh
tế phát triển đồng nghĩa với nâng cao chất lượng đời sống của người dân đồng thời khẳng định sự giàu mạnh của một quốc gia Nhưng bên cạnh đó, kinh tế phát triển gây một sức ép không hề nhỏ đến môi trường sinh thái Nhiều doanh nghiệp lớn chỉ để ý đến lợi ích trước mắt mà không hề quan tâm đến sự tổn hại
mà mình gây ra cho thiên nhiên Sự đánh đổi là vô cùng to lớn khi Việt Nam vẫn chưa có một vị trí nhất định trên thị trường kinh tế thế giới, nhưng ô nhiễm đất,
ô nhiễm nguồn nước, không khí liên tục gia tăng đã thể hiện sự sai lầm to lớn về phía các doanh nghiệp đầu tư Nếu cứ tiếp tục tập trung đầu tư vào kinh tế mà không hề quan tâm đến môi trường là chính chúng ta đang tự tay phá hoại đi ngôi nhà của mình Chính vì vậy, cùng với việc phát triển kinh tế, vấn đề bảo vệ môi trường cũng hết sức quan trọng, mang ý nghĩa sống còn Chỉ có tăng trưởng kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường mới đem lại sự phát triển bền vững, lâu dài cho đất nước
Nhận thấy sự quan trọng trong việc ngăn cản ảnh hưởng xấu của phát triển kinh
tế lên môi trường sinh thái, sau một khoảng thời gian học tập, tìm hiểu, em đã
quyết định chọn lựa đề tài: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận
dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái”
Trang 4NỘI DUNG
I PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1 Phép biện chứng là gì?
Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối
liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện
chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất còn biện chứng chủ quan
là sự phản ánh biện chứng biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học
Lịch sử hình thành của phép biện chứng trải qua ba hình thức, ba trình độ cơ
bản: Phép biện chứng chât phác thời cổ đại, Phép biện chứng duy tâm cổ điển
Đức và Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin.
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1 Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ giữa các sự
vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất
là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới Đó là mối liên
hệ giữa: các mặt đối lập, chất và lượng, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, Như vậy, giữa các sự vật hiện tượng của thế
Trang 5giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến những phạm vi nhất định Đồng thời, cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy
2.2 Tính chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú là nhũng tính chất cơ bản của các mối liên hệ
- Tính khách quan của các mối liên hệ
Theo quan điểm của duy vật biện chứng, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thé giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định lấn nhau, tác động lẫn nhau và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào
ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ
đó trong hoạt động thực tiễn của mình
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biết lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với các hẹ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Quan điểm biiện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ
Trang 6được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối những sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là các mối liên hệ bên trong và bên ngoài sự vật, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp…
Quan điểm về tính phong phí, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ dặc thù trong mối sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn
phải xem xét trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử
lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vật, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phản diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ dã chó thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống
trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng
Trang 7nhận thức và tình huống phải giải quyết kahcs nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục những quan điểm chiết trung, ngụy biện
II, MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
1 Khái quát chung về tăng trưởng kinh tế và môi trường sinh thái
1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là "cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm)
1.2, Môi trường sinh thái
Trang 8Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên Thông qua quá trình lao động, con người khai thác, bảo vệ, bồi đắp cho thiên nhiên Cũng qua quá trình đó, con người xã hội dần dần có sự đối lập với
tự nhiên
Hiện nay môi trường sinh thái đang đối mặt với rất nhiều vấn đề xấu như: suy thoái tầng ozon, hiệu ứng nhà kính, sự nóng lên của trái đất, Ở Việt Nam, sự suy thoái của môi trường thể hiện rõ nét qua sự ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất đai nghiêm trọng
Nguyên nhân là do sự kết hợp giữa phát triển của khoa học – kỹ thuật và lạc hậu Ảnh hưởng nặng nề của nếp suy nghĩ, nếp làm của người sản xuất nhỏ và lối sống công nghiệp còn chưa ổn định, chưa hoàn thiện Với các cuộc chiến tranh đô hộ liên tục trong lịch sử, thiên nhiên đã bị tàn phá nặng nề Chưa dừng lại ở đó, ngay trong thời bình, môi trường sinh thái còn bị phá hoại bởi những hoạt động vô ý thức, bởi thái độ tùy tiện vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn thiên nhiên
2 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái có thể coi là cơ sở của hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong
đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người Còn tăng trưởng kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người Vì vậy giữa môi trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ
Trang 9Như chúng ta đã biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy có thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức con người Tuy nhiên sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người, con người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên hoặc xấu đi Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan Môi trường chịu tác động trực tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể thấy môi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệ giữa chúng được thông qua một thực thể đó là con người
Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt động vì tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho lợi ích của con người Nhưng tài nguyên của môi trường không phải là vô hạn Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do môi trường bị suy thoái Lúc
đó con người phải gánh chịu hậu quả do chính con người gây ra Một sản phẩm
do con người tạo ra lại phá huỷ cái mà con người chịu tác động trực tiếp vì con người không thể sống mà không chịu sự tác động của môi trường
Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ môi trường thì không những nó làm cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện mà nó còn làm cải thiện cả môi trường do kinh tế phát triển nhà nước có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo
3 Thực trạng mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
Ở nước ta hiện nay, môi trường đang bị hủy hoại ngày một nghiêm trọng do các chính sách tăng trưởng kinh tế:
3.1 Trong công nghiệp
Trang 10Việt Nam đang bước vào công cuộc đổi mới đất nước, công cuộc này được tiến hành trên toàn diện, trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội như đổi mới tư duy, hệ thống kinh tế, chính sách, thể chế quản lí hành chính… Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế chỉ huy, tập chung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lí của nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Chính sách đổi mới
đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng động, một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ Sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân nhưng mặt khác nó đã ít nhiều bộc lộ những mặt trái của nó
mà nếu không có biện pháp bảo vệ cụ thể thì trong tương lai không xa chúng ta
sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do chính chúng ta gây ra
Theo ước tính hiện nay nước ta có khoảng trên 60.000 công ty và doanh nghiệp
tư nhân, hơn 4.500 hợp tác xã phi nông nghiệp và trên 2 triệu hộ kinh doanh cá thể Cùng với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh đó, hiện nay trên cả nước tổng lượng chất thải rắn ước tính khoảng 49 000 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn công nghiệp chiếm khoảng 27.000tấn/ngày Việc quản lý chặt chẽ chất thải rắn nguy hại đang gặp nhiều khó khăn, không có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất thải độc hại trước khi xử lí, không có nhà máy xử lí chất thải độc Phần lớn chất thải rắn nguy hại này thuần tuý chỉ được chôn chung lẫn lộn với rác thải sinh hoạt hay thậm chí xử lí ngay tại nhà máy gây mối nguy hại rất lớn đối với môi trường sống
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các cơ sở doanh nghiệp thường thải ra một lượng nươc thải khá lớn Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ sở sản xuất
cũ chưa có thiết bị xử lí nước thải Phần lớn các nhà máy xí nghiệp nếu có tiíen hành xử lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nghuồn nước mặt, gây ô nhiễm trầm trọng đối với nhiều dòng sông Trong nhiều trường hợp, nuớc thải ứ đọng lâu ngày còn gây ô nhiễm không khí, mất mỹ quan, lan truyền bệnh dịch và