Tổng quan tình hình nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động thẻ tín dụng tại ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa ngà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THU HƯƠNG
RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC HÌNH v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ VÀ RỦI RO THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động thẻ tín dụng tại ngân hàng thương mại 4
1.2 Cơ sở lý luận về thẻ và rủi ro liên quan tại ngân hàng thương mại 9
1.2.1.Khái niệm về thẻ và lịch sử phát triển thẻ 9
1.2.2.Phân loại thẻ 10
1.2.3.Quy trình sử dụng và thanh toán thẻ 13
1.2.4.Các mảng nghiệp vụ thẻ 16
1.2.5.Rủi ro và Quản lý rủi ro trong hoạt động thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại 19
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 33
2.1 Phương pháp nghiên cứu 33
2.1.1.Phân tích và tổng hợp dữ liệu 33
2.1.2.Phương pháp thống kê, mô tả 34
2.1.3.Phương pháp so sánh 35
2.1.4.Phương pháp điều tra chọn mẫu 35
2.2 Thiết kế nghiên cứu 38
2.2.1.Nguồn dữ liệu 38
2.2.2.Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3: –THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG BIDV 40
Trang 43.1 Giới thiệu chung về BIDV 40
3.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của BIDV 40
3.1.2.Thông tin khái quát 42
3.1.3 Mô hình tổ chức của BIDV 44
3.1.4 Lĩnh vực hoạt động 44
3.2 Hoạt động thẻ tại BIDV 45
3.2.1.Lịch sử phát triển thẻ BIDV 45
3.2.2.Các sản phẩm thẻ BIDV 46
3.3 Rủi ro và công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh và vận hành các nghiệp vụ thẻ 48
3.3.1.Tóm tắt kết quả kinh doanh thẻ BIDV trong giai đoạn 2012-2015 48
3.3.2.Tình hình rủi ro thẻ tín dụng tại BIDV trong giai đoạn 2012-2015 51
3.3.3.Các phương pháp quản lý rủi ro của BIDV đối với dịch vụ thẻ 60
3.4 Đánh giá chất lượng quản lý rủi ro thẻ tín dụng BIDV 66
3.4.1.Kết quả đạt được 66
3.4.2.Hạn chế tồn tại 73
3.4.3.Nguyên nhân của hạn chế 75
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI BIDV 79
4.1 Định hướng phát triển dịch vụ thẻ tại BIDV 79
4.1.1.Tiềm năng phát triển dịch vụ thẻ tại BIDV 79
4.1.2.Mục tiêu phát triển thẻ BIDV trong tương lai 81
4.2 Giải pháp hạn chế rủi ro thẻ tín dụng BIDV 82
4.2.1.Về mặt nghiệp vụ 83
4.2.2.Về mặt kỹ thuật và công nghệ 86
4.2.3.Về mặt quản lý, tổ chức hoạt động nhân sự 87
4.2.4 Về công tác truyền thông, hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ an toàn 89
4.2.4 Hài hòa giữa mục tiêu kinh doanh và sự an toàn của hệ thống thẻ BIDV 91
KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5NHTM Ngân hàng thương mại
NHTTTT Ngân hàng thanh toán thẻ
QLRR Quản lý rủi ro
TCTQT Tổ chức thẻ quốc tế
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT TIẾNG ANH
ATM Automated Teller Machine Máy rút tiền tự động
BIN Bank Identification Number Mã định dạng ngân hàng in trên
mặt trước thẻ EDC Electronic Data Capture Thiết bị đọc thẻ điện tử
ICA Interbank Card Association Hiệp hội thẻ liên ngân hàng
GFIS Global Fraud Information
Service Dịch vụ phát hiện rủi ro toàn cầu
NMAS
National Merchant Alert Service Dịch vụ cảnh báo về đơn vị chấp
nhận thẻ quốc gia PCI DSS Payment Card Indutry Data
Security Standard
Tiêu chuẩn bảo mật dữ liệu cho lĩnh vực thanh toán thẻ
RIS Risk Identification Service Dịch vụ phát hiện rủi ro
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả kinh doanh thẻ BIDV giai đoạn 2012-2015 49Bảng 3.2: Dư nợ thẻ tín dụng BIDV theo dòng sản phẩm tại 31/12/2015 58
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Thị trường thẻ tín dụng quốc tế Việt Nam 31/12/2015 50
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ gian lận giả mạo/ Tổng doanh số thẻ BIDV 52
Biểu đồ 3.3: Lý do tra soát giao dịch thẻ của khách hàng 54
Biểu đồ 3.4: Cách xử lý của khách hàng khi mất thẻ 55
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ nợ xấu theo dòng sản phẩm 59
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ gian lận giả mạo/ Tổng doanh số thẻ BIDV 67
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ gian lận giả mạo/ Tổng doanh số thẻ BIDV 68
Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ gian lận giả mạo/ Tổng doanh số thẻ BIDV 69
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ gian lận giả mạo/ Tổng doanh số thẻ BIDV mảng thanh toán thẻ 2014-2015 70
Biểu đồ 3.10: Giá trị tổn thất trong hoạt động 72
Biểu đồ 3.11: Dư nợ và tỷ lệ nợ xấu thẻ tín dụng BIDV 2012-2015 73
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Quy trình sử dụng thẻ tín dụng 17
Hình 3.1: Lịch sử hình thành và phát triển của BIDV 41
Hình 3.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức BIDV 44
Hình 3.3: Quá trình phát triển sản phẩm thẻ tại BIDV từ 2002-2015 45
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, xã hội và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống thanh toán tại Việt Nam đang từng bước phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hóa dịch vụ ngày càng gia tăng không chỉ trong nước mà còn với quốc tế Năm 2014 số lượng giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia tăng 33% và khối lượng giao dịch cũng tăng 14% so với năm
2013 (Ngân hàng Nhà nước, 2014) Để nắm bắt cơ hội hợp tác, phát triển với thế giới, Việt Nam buộc phải cải cách, hiện đại hóa về nhiều mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi, thanh toán Vì vậy, việc thay thế dần tiền mặt bằng các phương thức thanh toán phi tiền mặt là xu hướng tất yếu Cơ cấu giao dịch tiền mặt trong tổng giá trị của các phương tiện thanh toán từ 20,3% năm 2004 đã tụt xuống 14% năm 2010 và hiện còn khoảng 12% (Đỗ Thị Lan Phương, 2014) Chính phủ cũng
đã phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 với một trong các mục tiêu chính là Phát triển dịch vụ thanh toán thẻ đạt khoảng 200 triệu giao dịch/ năm vào cuối năm 2015, tức là cao gấp bốn lần so với thời điểm cuối năm 2014
Để đạt được mục tiêu trên, Chính phủ và các ngân hàng thương mại đều đang nỗ lực nghiên cứu, đem tới khách hàng các tính năng, sản phẩm thẻ mà đặc biệt là thẻ tín dụng, loại thẻ được khuyến khích sử dụng chủ yếu để thanh toán hàng hóa dịch tại điểm chấp nhận thanh toán thẻ mà không cần dùng tiền mặt Số lượng thẻ tín dụng đã tăng gấp đôi trong vòng hai năm từ kể từ 2012, đạt gần 3.3 triệu thẻ vào năm 2014 Tăng trưởng về số lượng thẻ và giá trị giao dịch thẻ tín dụng, hiển nhiên mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, sự tiện lợi cho người tiêu dùng nhưng mặt khác nó cũng tiềm tàng không ít rủi ro cho tất cả các bên liên quan Theo nghiên cứu của các Tổ chức thẻ quốc tế, tỷ lệ rủi ro gian lận thẻ ở Việt Nam thường cao hơn so với mức trung bình của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và thế giới và được giải thích rằng sự quản lý chặt chẽ về hoạt động
Trang 11thẻ tín dụng của một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Singapore đã khiến tội phạm thẻ chuyển hướng sang các thị trường khác, trong
đó có Việt Nam, nơi có dịch vụ thẻ được coi là đang trong giai đoạn phát triển bùng nổ (VISA, 2012)
Gia nhập thị trường thẻ tại Việt Nam ngay từ giai đoạn đầu, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã có nhiều nỗ lực trong công tác nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ cũng như luôn đặt vấn đề an toàn thẻ lên hàng đầu Doanh số giao dịch thẻ BIDV luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao Thế nhưng đồng thời, rủi ro mà BIDV phải đối mặt cũng tăng không chỉ về số lượng, loại hình rủi ro và các loại tội phạm mà còn cả về mức độ phức tạp của các sự vụ Điều này không chỉ gây tổn thất về tài chính mà còn ảnh hưởng không tốt tới uy tín, hình ảnh của ngân hàng trong mắt khách hàng Do đó, yêu cầu về quản lý rủi
ro trong hoạt động thẻ, đặc biệt là thẻ tín dụng đã trở thành một nội dung cấp thiết đặt ra với Ban lãnh đạo Ngân hàng BIDV Tuy nhiên, cho đến nay cũng chưa có nghiên cứu nào về vấn đề đáng được quan tâm này Chính vì vậy, việc
lựa chọn đề tài “Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – BIDV” có tính thiết thực và cấp
thiết khá cao
2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn hướng tới trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu sau:
Mức độ rủi ro, gian lận trong hoạt động thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam là cao hay thấp so với mặt bằng chung của khu vực và hệ thống ngân hàng trong nước
Trong các loại rủi ro liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng thì loại nào thường xuyên xảy ra tại BIDV
BIDV nên lựa chọn một phương án kinh doanh thẻ như thế nào để vừa đảm bảo thu được lợi nhuận vừa quản lý rủi ro hiệu quả
Trang 123 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro hiệu quả đối với hoạt động thẻ của Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015
5 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp: nghiên cứu định tính, định lượng để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra Dữ liệu và thông tin đa dạng bao gồm sơ cấp và thứ cấp sẽ được thu thập, xử lý và phân tích, từ đó tìm ra các nội dung phục vụ việc đánh giá rủi ro trong hoạt động thẻ tín dụng tại Ngân hàng BIDV và từ đó so sánh với các ngân hàng thương mại khác Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: điều tra chọn mẫu, phỏng vấn trực tiếp…
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thẻ và rủi
ro thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về rủi ro và quản lý rủi ro thẻ tín dụng tại Ngân
hàng BIDV
Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý
rủi ro đối với dịch vụ thẻ tín dụng tại BIDV
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ VÀ RỦI RO THẺ TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Để có được những đánh giá tốt về thực trạng, chương 1 sẽ đem đến cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước đối với các chủ đề liên quan đến luận văn, từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu Qua đó, tác giả chứng minh cách tiếp cận, cơ hội phát triển nghiên cứu sâu hơn đối với đề tài này Sau đó, luận văn sẽ trình bày các vấn đề cơ bản về lý luận thẻ và rủi ro thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại làm cơ sở phân tích cho các chương tiếp theo của luận văn
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động thẻ tín dụng tại ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa ngày càng cao, điều đó cũng đồng nghĩa với việc số lượng và khối lượng giao dịch thanh toán ngày càng lớn Đây chính là động lực giúp cho các hình thức thanh toán trở nên đa dạng và ngày một hoàn thiện hơn Xu hướng thanh toán hiện đại, không dùng tiền mặt ngày một chiếm tỷ trọng lớn, dần dần thay thế cho hình thức thanh toán bằng tiền mặt truyền thống
Trong số các hình thức thanh toán phi tiền mặt, thanh toán thẻ đang dần trở nên phổ biến, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các ngân hàng cũng như các nhà hoạch định chính sách không chỉ trên thế giới mà còn ngay tại Việt Nam Đặc biệt, hoạt động liên quan đến thẻ tín dụng là mối quan tâm lớn vì một mặt đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác lại tiềm tàng nhiều rủi ro (Johnson, 2012)
Cơ sở lý thuyết của thanh toán thẻ tín dụng không quá phức tạp Hầu hết các tổ chức, cá nhân đều có cách hiểu khá tương đồng về thẻ ngân hàng là phương tiện được phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện, điều
Trang 14khoản thỏa thuận; thẻ tín dụng là thẻ ngân hàng cho phép chủ thẻ thực hiện các giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng do Ngân hàng phát hành thẻ cấp
Ngược lại, lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro thẻ có phần rộng hơn với nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau Theo Rose và Hudgins (2010), rủi ro là sự không chắc chắn đối với một sự việc cụ thể Khái niệm này còn được trình bày
cụ thể hơn trong lĩnh vực ngân hàng là “khả năng xảy ra tổn thất làm giảm thu nhập, vốn chủ sở hữu hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh” (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2014) Harish Natarajan (2012) nhận thức được vấn đề rủi ro đó và đã chi tiết hơn trong hệ thống thanh toán, đặc biệt thanh toán thẻ có thể chịu các rủi ro như rủi ro về hệ thống, cơ sở hạ tầng thanh toán, về khung khổ pháp lý, về thanh toán, rủi ro tín dụng và rủi ro từ hoạt động Một loại rủi ro đặc biệt thường xảy ra là rủi ro về giả mạo thẻ Cũng nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động cho vay thẻ tín dụng, các tác giả của cuốn Số tay Thẻ tín dụng của Văn phòng Kiểm soát tiền tệ, Kho Bạc Hoa Kỳ lại nhận thấy có nhiều loại rủi ro liên quan trực tiếp tới hoạt động thẻ tín dụng hơn, đó là rủi ro tín dụng, rủi
ro giao dịch (hoạt động), rủi ro thanh khoản, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro lãi suất và rủi ro về pháp lý
Có thể thấy, rủi ro trong hoạt động thẻ rất đa dạng và bao gồm rất nhiều vấn đề cụ thể Do đó, trên thế giới có hai nhóm nghiên cứu với hai định hướng khác nhau như sau Nhóm thứ nhất nghiên cứu tổng quan về rủi ro của hoạt động thẻ trong khi nhóm thứ hai lựa chọn một loại rủi ro cụ thể để nghiên cứu Khi đó, các sản phẩm nghiên cứu của hai nhóm cũng sẽ có điểm khác biệt Nhóm một sẽ thường xem xét các vấn đề chung, thường sử dụng phương pháp phân tích định tính như nghiên cứu tài liệu và quan sát, phỏng vấn… để đi đến đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thẻ nói chung và trong quản lý rủi ro liên quan đến thẻ và thẻ tín dụng nói riêng
Các nghiên cứu định tính:
Hồ Thị Như Quỳnh, (2007) “Dịch vụ thanh toán thẻ ATM tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” Luận văn đã khái quát các nội dung cơ bản về thẻ và
Trang 15thanh toán thẻ, từ đó có những phân tích đánh giá về dịch vụ thanh toán thẻ tại một ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu của luận văn, dịch vụ thẻ còn khá sơ sài, chưa phát triển và phức tạp như hiện nay
Vũ Hương Giang, (2012) “Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu” Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch
vụ thẻ tại NH TMCP Á Châu nhằm tìm ra những mặt đã đạt được cũng như những mặt hạn chế cần khắc phục Từ đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Á Châu trong bối cảnh nền kinh tế đang trong thời kỳ khó khăn, thị trường sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng bán
lẻ nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng cạnh tranh mạnh mẽ Luận văn có những số liệu tương đối đầy đủ để đưa ra những nội dung phân tích sát đáng tuy nhiên cũng chưa đề cấp đến rủi ro thẻ và sự cản trở của nó tới việc phát triển dịch vụ này tại ngân hàng được lựa chọn nghiên cứu
Hà Thị Anh Đào, (2009) “Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại ngân hàng Công Thương Việt Nam” Luận văn đã nêu được lý thuyết về các loại rủi ro thẻ và lựa chọn cách tiếp cận rủi ro từ các góc độ như góc độ vĩ mô, từ phía ngân hàng thương mại, sau đó phân tích rủi ro đối với từng loại thẻ và đưa ra các nhóm giải pháp để hạn chế những rủi ro đã đè cấp Tuy nhiên, kết cấu như trên khiến nhiều nội dung bị trùng lặp do rủi ro xảy ra với thẻ ghi nợ cũng tương đối giống với thẻ tín dụng Các phân tích chưa cụ thể nên giải pháp đề xuất cũng chỉ dừng lại ở mức độ chung chung
Các nghiên cứu định lƣợng:
Không chỉ dừng lại ở các phân tích định tính, tính đến nay đã có một số nghiên cứu định lượng thông qua việc kiểm tra sự ảnh hưởng của các nhân tố tới rủi ro thẻ, trong đó, rủi ro tín dụng là loại hình thường được lựa chọn để tiền hành kiểm định Các nghiên cứu ở nhóm này thường tìm ra một số yếu tố liên quan đến tín dụng của khách hàng để đưa vào mô hình kiểm định tính ảnh hưởng
Từ đó, tìm ra các yếu tố có sức ảnh hưởng mạnh nhất tới rủi ro chủ thẻ không trả được nợ chi tiêu thẻ cho ngân hàng
Trang 16Nhóm tác giả Shuai Li và cộng sự (2014) lựa chọn phân tích ảnh hưởng từ hành vi của chủ thẻ tới một loại rủi ro đặc trưng trong hoạt động thẻ là rủi ro tín
dụng trong bài nghiên cứu "Research on Simulation of Credit Risk of Credit Card
Based on Multi-Agent" Nhóm tác giả này đã thu thập dữ liệu về số tiền gửi tiết
kiệm của khách hàng, phân nhóm và kiểm định sự ảnh hưởng của nó tới rủi ro tín dụng thẻ xảy ra với ngân hàng tại Trung Quốc là có tồn tại, từ đó đề xuất ngân hàng cần quan tâm tới khâu đánh giá cấp hạn mức tín dụng cho thẻ của khách hàng Ngoài ra, nhóm này cũng đã phân chia các chủ thẻ thành ba nhóm dựa vào thu nhập và việc vay thấu chi của họ để xem xét sự tác động của nhóm nào sẽ ảnh hưởng lớn nhất tới rủi ro tín dụng của ngân hàng Kết quả đạt được là nhóm khách hàng thường xuyên có món vay thấu chi là đối tượng dễ gây ra các khoản rủi ro tín dụng thẻ cho ngân hàng, từ đó, khuyến cáo các Ngân hàng phát hành thẻ cần đặc biệt quan tâm đến nhóm khách hàng này để hạn chế các rủi ro có thể phát sinh
Tương tự như vậy, trong bài phân tích "Analysis on China's Credit Card
Risk Management and Preventive Measures Based on Game Theory ", Lei Sun
(2012) đã nêu ra các loại rủi ro thẻ tín dụng xuất hiện tại Trung Quốc Sau đó, nhóm tiến hành kiểm định và rút ra kết luận rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa hành vi tiêu dùng của khách hàng với rủi ro thẻ tín dụng Do đó, nhóm tác giả đã
đề xuất sáu giải pháp liên quan đến pháp lý, đánh giá khách hàng, xử phạt khách hàng quá hạn… để hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra cho ngân hàng
Rủi ro tín dụng thẻ lại một lần nữa là mối quan tâm của nhóm tác giả Florentin Butaru và cộng sự (2015) khi họ chọn ra sáu ngân hàng thương mại lớn
ở Mỹ, áp dụng các mô hình toán kinh tế để dự đoán nợ quá hạn thẻ tín dụng cũng như đo lường hiệu quả của công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng nói trên trong nghiên cứu mang tên "Risk and Risk Management in the Credit card
industry" Các tác giả này xử lý dữ liệu, xây dựng mô hình không giống nhau,
đóng góp cái nhìn đa chiều về cùng một nội dung mà đang được rất nhiều người quan tâm
Trang 17Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, yêu cầu về thanh toán nhanh chóng, thuận tiện ngày càng trở nên bức thiết để người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ còn nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ dễ dàng quản lý dòng tiền Nhưng song hành với sự phát triển bùng nổ của dịch vụ thẻ nói chung, tính đến tháng cuối năm 2015 đã phát hành 101,94 triệu thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thanh toán thẻ qua 16.937 ATM, và 223.381 EDC/POS, cao hơn 10 lần so với thời điểm năm 2007 thì các ngân hàng
và các nhà quản lý thị trường cũng đang rất quan tâm tới công tác quản lý rủi ro thẻ Gần đây, tội phạm thẻ tại Việt Nam có xu hướng tăng cao về cả số lượng lẫn phương thức phạm tội, ngày càng tinh vi và có tính quốc tế rõ rệt (Trần Văn Hòa, 2011) Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, cũng như nhiều ngân hàng khác, cũng không thể tránh khỏi các nguy cơ này, cũng đã từng trở thành mục tiêu cho kẻ xấu thực hiện ý đồ đánh cắp dữ liệu thẻ và giao dịch thẻ giả trong thời gian gần đây Vấn đề đặt ra ra tại sao tình trạng gian lận thẻ xảy
ra và làm thế nào để hạn chế tối đa các nguy cơ này thì tính đến thời điểm hiện tại cũng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về nội dung đáng được quan tâm trên tại BIDV Nhận thức được vấn đề này ngày càng bức thiết, học viên sẽ tập trung nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, đánh giá nguyên nhân, tìm giải pháp theo một khía cạnh mới mà các luận văn trước đây chưa tìm hiểu, đó là từ thói quen sử dụng thẻ của khách hàng và nội dung khiếu nại đối với các giao dịch
mà chủ thẻ từ chối thanh toán cho ngân hàng Là một cán bộ tại Trung tâm Thẻ BIDV, học viên có nhiều cơ hội để tiếp xúc với các dữ liệu nội bộ cũng như có các mối quan hệ để thực hiện thu thập thông tin từ phỏng vấn cá nhân, điều tra chọn mẫu để đánh giá thực trạng hoạt động thẻ tín dụng tại BIDV nhằm đem lại một cái nhìn tổng thể về rủi ro hoạt động thẻ tín dụng, và đề xuất giải pháp để gia tăng hiệu quả của công tác quản lý rủi ro nhằm hạn chế tối đa các tổn thất có thể xảy ra
Trang 181.2 Cơ sở lý luận về thẻ và rủi ro liên quan tại ngân hàng thương mại 1.2.1 Khái niệm về thẻ và lịch sử phát triển thẻ
1.2.1.1 Khái niệm
Căn cứ "Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ
trợ hoạt động thẻ ngân hàng" ban hành theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN,
thẻ ngân hàng hay còn gọi tắt là thẻ là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận; không bao gồm các loại thẻ do các nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát hành để sử dụng trong việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ cho chính các tổ chức phát hành đó
Theo định nghĩa của Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp Thẻ ngân hàng có thể dùng để thanh toán tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) hoặc thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống máy giao dịch tự động (ATM)
1.2.1.2 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển thẻ
Năm 1946, John Biggins ở Brooklyn (New York) đã sáng tạo ra chiếc thẻ ngân hàng đầu tiên mang tên "Charg-It" Khi khách hàng mua sắm, chi tiêu, hóa đơn sẽ được chuyển đến ngân hàng của Biggins Ngân hàng trả tiền cho người bán hàng và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng Khi đó loại thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng
Năm 1949, một người đàn ông tên Frank McNamara đi ăn tối tại một nhà hàng ở New York Khi thanh toán, Frank nhận ra mình đã quên mang ví Đó là động lực cho ông nghĩ ra một cách thanh toán không dùng tiền mặt Cùng với đối tác Ralph Schneider, ông đã phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận
Trang 19loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống
Đến năm 1966, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970
Năm 1966, hệ thống tín dụng quốc gia được hình thanh và thành lập Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) và sau này chính là MasterCard, trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với VISA Đây là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới Ngoài
ra, còn một số tổ chức thẻ khác như American Express, Diners Club cũng tham gia thị trường thẻ toàn cầu
Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt và phát triển rộng rãi trên toàn thế giới, và trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến ở các nước phát triển, các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực đem lại nhiều lợi nhuận này Thẻ tín dụng dần dần được xem là công cụ văn minh, thuận tiện trong các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
1.2.2 Phân loại thẻ
Thẻ ngân hàng thông thường được thiết kế là một miếng nhựa (plastic) có kích thước tiêu chuẩn (thường là 8,5*5,5 cm) và có một băng từ ở mặt sau lưu trữ thông tin về chủ thẻ, cũng có thể có chíp điện tử để lưu trữ các thông tin, dữ liệu khác Trên chiếc thẻ nhựa thường có tên hoặc logo của tổ chức phát hành thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, số thẻ, logo của tổ chức thẻ quốc tế (như Visa, MasterCard, JCB) hoặc tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước (như Banknetvn) Ngoài ra, trên thẻ còn có một số thông tin hữu ích khác như số điện thoại chăm sóc khách hàng, website của tổ chức phát hành thẻ để chủ thẻ có thể liên hệ trong các trường hợp cần thiết
Thẻ ngân hàng có thể được phân loại như sau:
- Theo phạm vị lãnh thổ sử dụng:
+ Thẻ nội địa được sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá,
Trang 20dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác trong phạm vi quốc gia phát hành thẻ
+ Thẻ quốc tế có thể sử dụng được ở cả trong nước và ở nước ngoài Các
thương hiệu thẻ quốc tế nổi tiếng là VISA, MasterCard, JCB, American Express, UnionPay Đây là một công cụ thanh toán tiện lợi và hiệu quả cho khách hàng khi có nhu cầu thanh toán trong các chuyến công tác, du lịch hoặc phục vụ cho học tập, mua sắm ở nước ngoài hoặc đặt mua hàng trực tuyến
- Theo công nghệ sản xuất thẻ:
+ Thẻ dập nổi (Embossding Card): Là loại thẻ mà bề mặt được khắc nổi
các thông tin cần thiết Nhưng loại thẻ này quá lạc hậu dễ bị làm giả nên ngày
nay không được sử dụng
+ Thẻ băng từ (Magnetic stripe): Được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính
với 1 dải băng từ chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ Thẻ này xuất hiện cách đây khoảng 40 năm gần đây, mang tính lạc hậu dễ bị lợi dụng đánh cắp và khó áp dụng kỹ thuật bằng thiết bị gắn với máy tính Do đó, thẻ băng từ không được sử
dụng rộng rãi
+ Thẻ thông minh (Smart Card): Là công nghệ sản xuất mới nhất, thẻ
thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ “chíp” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chíp” điện tử khác nhau Thông thường, một tấm thẻ thông minh được gắn chíp điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ Cũng có trường hợp thẻ thông minh có cả chíp điện tử và băng từ Thẻ thông minh gắn chíp xử lý dữ liệu có khả năng lưu trữ các thông tin về thẻ, điểm thưởng tích luỹ dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng tích luỹ đồng thời lưu trữ
số liệu về những lần giao dịch tại đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) Tính năng vượt trội này của thẻ thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng
và các trung gian thanh toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng như việc cập nhập thông tin liên quan tới thẻ giờ đây được thực hiện ngay tại ĐVCNT
Trang 21- Theo tính năng về nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ:
+ Thẻ ghi nợ (debit card) là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch
trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn Với loại thẻ này, chủ thẻ cần lưu ý việc quản lý số dư trong tài khoản đảm bảo cao hơn số dư tối thiểu theo quy định của ngân hàng để chắc chắn rằng các giao dịch của mình có thể thực hiện được
Loại thẻ này ban đầu chỉ được biết đến là thẻ rút tiền mặt tại các máy ATM,
vì thế loại thẻ này thường được gọi là "thẻ ATM" Thay vì trước kia, chủ thẻ phải đến quầy giao dịch ngân hàng để rút tiền thì giờ đây chủ thẻ chỉ cần đến máy ATM, thực hiện thao tác đưa thẻ vào máy, nhập mã số bảo mật PIN, nhập số tiền cần rút và nhận tiền Chính vì tiện ích “giao dịch tự động” này mà chủ thẻ có thể thực hiện việc rút tiền mặt vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, ngay cả ngoài giờ làm việc, trong các ngày nghỉ, lễ, tết
Từ chiếc thẻ với tính năng đơn giản là rút tiền mặt, các ngân hàng đã phát triển chiếc thẻ ghi nợ với thêm nhiều tính năng đa dạng hơn như mua hàng hoá tại siêu thị hoặc thanh toán hoá đơn tại các nhà hàng; đặc biệt có thể sử dụng trong thanh toán các giao dịch trực tuyến trên internet (đặt mua vé máy bay, mua hàng trên các trang thương mại điện tử…) với thao tác thực hiện đơn giản, dễ dàng
+ Thẻ trả trước (prepaid card) là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới
Thẻ trả trước bao gồm thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh)
và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh) Điểm khác biệt
cơ bản về tính năng giữa thẻ trả trước vô danh và thẻ trả trước định danh là sau lần nạp tiền lần đầu, thẻ trả trước vô danh sẽ không được nạp thêm tiền và chỉ được sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, số dư trên một thẻ trả trước vô danh không được vượt quá năm triệu đồng Việt Nam theo quy định hiện hành Các loại thẻ trả trước hiện nay chủ yếu sử dụng để thanh toán chi phí mua
Trang 22xăng, dầu, dịch vụ giải trí, dịch vụ giao thông - vận tải và thanh toán trên các website thương mại điện tử
+ Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ
trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ
Thông thường, các khách hàng sẽ có hạn mức thẻ tín dụng khác nhau do hạn mức này được ngân hàng cấp cho chủ thẻ dựa trên cơ sở đánh giá và thẩm định uy tín tín dụng, mức lương hàng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền ký quỹ hay tài sản đảm bảo tại ngân hàng Với đặc điểm là “chi tiêu trước, trả tiền sau”, thẻ tín dụng hỗ trợ đắc lực cho chủ thẻ thực hiện nhanh chóng các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ hay trên các website thương mại điện tử Định kỳ đến một ngày nhất định theo quy định của từng ngân hàng, ngân hàng gửi một bản sao kê, trong đó liệt kê cụ thể các khoản chi tiêu trong tháng trước đó của chủ thẻ tín dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán Chủ thẻ có thể chọn thanh toán toàn bộ số tiền trước thời hạn ghi trong thông báo, khi đó chủ thẻ không phải trả lãi Nếu không, chủ thẻ có thể lựa chọn trả số tiền tối thiểu, phần còn lại có thể trả từ từ và sẽ bị tính lãi theo quy định của ngân hàng Khi toàn bộ
số tiền phát sinh được chủ the thanh toán hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu Đây cũng gọi là tính chất tuần hoàn của thẻ
Các ngân hàng thường phân thẻ tín dụng theo hạng nhằm quản lý đối tượng khách hàng như thẻ chuẩn (standard), thẻ vàng (gold), thẻ bạch kim (platinum)… Chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng có phân hạng càng cao thì được hưởng càng nhiều
ưu đãi và chế độ chăm sóc tận tình hơn
Trong phạm vi bài luận văn này, chúng ta sẽ chỉ bàn luận đến thẻ tín dụng
1.2.3 Quy trình sử dụng và thanh toán thẻ
Để một giao dịch thẻ tín dụng được thực hiện cần sự góp mặt của các chủ thể sau: ngân hàng phát hành thẻ tín dụng (NHPHT), ngân hàng thanh toán thẻ
Trang 23tín dụng (NHTTT), chủ thẻ tín dụng và ĐVCNT Đối vởi thẻ tín dụng quốc tế còn thêm một thành phần nữa là các TCTQT
* Chủ thẻ tín dụng
Chủ thẻ tín dụng (gọi tắt là chủ thẻ) là người sở hữu hợp pháp chiếc thẻ tín dụng, là người được ngân hàng, tổ chức thẻ chấp nhận phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở năng lực tài chính, có khả năng chi trả của người đó hoặc dựa vào sự bảo lãnh của một tổ chức Đó cũng có thể là người được tổ chức ủy quyền sử dụng thẻ
Chủ thẻ được phép dùng chiếc thẻ tín dụng để chi tiêu, thanh toán hoặc rút tiền Mỗi khi thực hiện thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ để mua hàng hoá dịch vụ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ để kiểm tra theo quy trình và tiến hành giao dịch, in biên lai thanh toán Đối với thẻ tín dụng sau một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo quy định của từng NHPHT, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê Sao kê là bản thông báo chi tiết toàn bộ các giao dịch chi tiêu bằng thẻ tín dụng, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán hoặc số tiền thanh toán tối thiểu bắt buộc, các khoản lãi và phí phát sinh và các thông báo liên quan tới việc sử dụng thẻ tín dụng Căn cứ vào thông tin trên sao kê, chủ thẻ sẽ thực hiện thanh toán khoản tín dụng thẻ đã sử dụng cho NHPHT
* Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
NHPHT là đơn vị phát hành thẻ cho chủ thẻ NHPHT chịu trách nhiệm nhận hồ sơ xin phát hành thẻ, xử lý và ra quyết định phát hành thẻ, quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc theo dõi chi tiêu, thanh toán nợ của chủ thẻ
Đối với thẻ tín dụng quốc tế, điều kiện bắt buộc là: NHPHT phải là thành viên chính thức của TCTQT NHPHT phải ký kết với chủ thẻ các điều khoản, điều kiện sử dụng và thanh toán thẻ trên cơ sở pháp luật và những điều khoản chung của các TCTQT
* Ngân hàng thanh toán thẻ tín dụng
Trang 24Đây là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ Nó giữ vai trò là cầu nối giúp chủ thẻ có thể mua sắm hàng hoá, thanh toán tiền dịch vụ tại ĐVCNT đó và giúp ĐVCNT thu tiền của chủ thẻ Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò là NHTTT vừa đóng vai trò là NHPHT
Trong hợp đồng chấp nhận thẻ ký kết với các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ, ĐVCNT, NHTTT cam kết: chấp nhận kết nối các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng, cung cấp các thiết bị cần thiết cho đơn vị để phục vụ cho việc chấp nhận thanh toán thẻ, kèm theo những hướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên cách thức vận hành cùng với dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng đi kèm trong suốt thời gian hoạt động, quản lý và xử lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại những đơn vị này Thông thường NHTTT thu từ các đơn
vị cung ứng dịch vụ hàng hoá có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ một mức phí chiết khấu cho việc xử lý các giao dịch có sử dụng thẻ tại đây
* Đơn vị chấp nhận thẻ
ĐVCNT là các thành phần kinh doanh hàng hoá và dịch vụ ký kết với NHTTT hợp đồng về việc chấp nhận thanh toán thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng Các đơn vị này được trang bị máy móc kỹ thuật để có thể thanh toán, chi tiêu bằng thẻ của các chủ thẻ đến mua hàng hoá dịch vụ của các đơn vị này
NHTTT trước khi ký hợp đồng chấp nhận thẻ với bất kỳ một đơn vị nào đều phải tiến hành đánh giá nhiều mặt về đơn vị đó: ngành nghề kinh doanh, đạo đức kinh doanh, năng lực tài chính Sau khi đã ký kết hợp đồng với NHTTT, ĐVCNT phải thực hiện đúng theo những điều khoản đã được ghi trong hợp đồng ĐVCNT không được thu phí của chủ thẻ Mặc dù phải trả cho NHTTT một tỉ lệ phí chiết khấu theo số tiền của từng giao dịch nhưng lại không được thu phí từ chủ thẻ Tuy nhiên, các ĐVCNT vẫn đăng ký dịch vụ này của ngân hàng bởi việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ sẽ giúp các đơn vị này thu hút được một lượng lớn khách hàng, đặc biệt là khách du lịch quốc tế, góp phần tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 25* Tổ chức thẻ quốc tế
Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và các sản phẩm
đa dạng: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ AmericanExpress, công ty thẻ JCB, công ty thẻ DinersClub, công ty Mondex TCTQT đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức và ngân hàng thành viên trong việc điều chỉnh
và cân đối các lượng tiền thanh toán giữa các ngân hàng thành viên TCTQT không trực tiếp phát hành thẻ hay chấp nhận thanh toán thẻ, các hoạt động này sẽ được thực hiện ở các ngân hàng thành viên của TCTQT
1.2.4 Các mảng nghiệp vụ thẻ
Ngày nay, việc khách hàng cầm được một chiếc thẻ tín dụng trên tay và giao dịch là điều đã trở nên phổ biến nhưng đằng sau một tấm thẻ nhựa đó là cả một dây chuyền sản xuất và vận hành quản lý thẻ của các NHTM cũng như của các TCTQT Tại ngân hàng thương mại, có các nghiệp vụ thẻ cụ thể như sau:
1.2.4.1 Nghiệp vụ phát hành thẻ
Nghiệp vụ phát sinh đầu tiên trong chuỗi nghiệp vụ phục vụ công tác kinh doanh thẻ tín dụng tại ngân hàng là Phát hành thẻ Nghiệp vụ này bao gồm việc triển khai và quản lý toàn bộ quá trình phát hành thẻ tín dụng của khách hàng Đây không chỉ là khâu cung cấp cho khách hàng một chiếc thẻ tín dụng mà đằng sau nó còn là quyết định cấp hạn mức tín dụng cho khách hàng
Trong hoạt động triển khai và phát hành thẻ, ngoài việc hưởng phí phát hành thu được từ chủ thẻ, hàng năm, ngân hàng tiếp tục thu được các khoản phí thường niên (phí duy trì) thẻ Thêm nữa, các ngân hàng còn được hưởng khoản phí trao đổi (interchange fee) do NHTTT chia sẻ từ phí thanh toán thẻ thông qua các TCTQT (tức là NHTTT sẽ chia sẻ một phần phí thu được từ các ĐVNCT cho TCTQT và NHPHT)
Trang 261.2.4.2 Nghiệp vụ thanh toán thẻ
Khi nghiệp vụ phát hành thẻ kết thúc đó là lúc chủ thẻ nhận được chiếc thẻ
và chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chi tiêu, thanh toán hoặc rút tiền Chỉ cần vài chục giây hoặc chưa đến một phút để một giao dịch như trên được thực hiện Tuy nhiên, đằng sau nó là cả một quá trình vận hành khá phức tạp Có thể chia ra làm
2 giai đoạn: chấp nhận thanh toán thẻ tại ĐVCNT và NHTTT thanh toán cho ĐVCNT như hình 1.1 dưới đây
Hình 1.1: Quy trình sử dụng thẻ tín dụng
(Nguồn: https://chargebacks911.com)
Quy trình bắt đầu khi khách hàng có nhu cầu mua bán hàng hóa dịch vụ và dùng thẻ tín dụng để thanh toán tại các ĐVCNT Thu ngân thực hiện quẹt thẻ số tiền giao dịch trên thiết bị POS/EDC, nơi ghi nhận và truyền tải dữ liệu qua cổng thông tin của TCTQT xác thực một số thông tin chung như loại thẻ, NHPHT để tiếp đó chuyển đến NHPHT để xin chuẩn chi cho giao dịch được tiếp tục tiến hành Nếu NHPHT đồng ý chuẩn chi thì sẽ phản hồi lại TCTQT để truyền thông điệp đến NHTTT để chấp nhận giao dịch Khi đó, POS/EDC sẽ in ra hóa đơn để đưa khách hàng ký tên trên đó và kết thúc quá trình mua bán hàng hóa tại ĐVCNT Cuối ngày, NHTTT sẽ tổng kết giao dịch và thanh toán trước cho ĐVCNT cũng như gửi yêu cầu đòi thanh toán đến TCTQT để bù đắp khoản tiền
Trang 27đã ứng trước cho ĐVCNT TCTQT thực hiện thanh quyết toán cho một mặt là NHTTT, mặt khác là yêu cầu NHPHT trả lại số tiền giao dịch và một số loại phí cho TCTQT NHPHT căn cứ vào đó sẽ tăng dư nợ thẻ của khách hàng Đến kỳ thanh toán, NHPHT sẽ liệt kê các khoản chi tiêu trong kỳ của chủ thẻ và gửi sao
kê cho chủ thẻ, đồng thời yêu cầu thanh toán trong thời hạn theo quy định
Trang 281.2.4.3 Nghiệp vụ xử lý khiếu nại thẻ
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng nếu khách hàng vì lý do nào đó không chấp nhận thanh toán một nội dung nào đó trên bản sao kê thì có thể gửi yêu cầu tra soát đến NHPHT và NHPHT sẽ tiến hành nghiệp vụ tra soát như sau:
Trên đây là những bước cơ bản nhất trong việc xử lý khiếu nại một giao dịch thẻ tín dụng mua bán hàng hóa dịch vụ tại ĐVCNT Trên thực tế thì ở mỗi bước sẽ có những vấn đề có thể phát sinh khiến cho vụ việc trở nên phức tạp hơn Tuy nhiên, tất cả những vấn đề này đều phải được giải quyết dựa trên quy định
về thẻ của TCTQT cũng như các quy định về thẻ của quốc gia, của mỗi ngân hàng, tổ chức phát hành và thanh toán Tùy theo từng TCTQT mà việc tiến hành các bước xử lý sẽ khác nhau nếu một trong các bên không đồng ý với trả lời của bên còn lại thì có thể tiếp tục Thương lượng hoặc Khởi kiện ra trong tài là TCTQT để xử lý
1.2.4.4 Nghiệp vụ quản lý rủi ro thẻ
Trong các mảng nghiệp vụ hỗ trợ công tác kinh doanh thẻ tín dụng thì Quản lý rủi ro ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết Nghiệp vụ ngân hàng nói chung và nghiệp vụ thẻ tín dụng nói riêng ngày càng trở nên phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro Liên quan đến thẻ có rủi ro từ lúc khách hàng yêu cầu phát hành thẻ, trong quá trình chiếc thẻ được khách hàng sử dụng tại ATM/ POS hoặc khi thẻ bị thất lạc, mất cắp, tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng, chủ thẻ thanh toán hàng hoá qua thư hoặc điện thoại, rủi ro do nhân viên ĐVCNT thao tác nhiều lần đối với một giao dịch,hoặc do sự sao chép và tạo băng từ giả, rủi ro tín dụng Vì vậy mỗi ngân hàng với vai trò là NHPHT, NHTTT phải tiến hành các bước nghiệp vụ một cách thận trọng, tuyệt đối tuân thủ quy trình phát hành, quản lý và thanh toán thẻ để kiểm soát tối đa rủi ro có thể xảy ra Đồng thời, các ngân hàng cũng cần có phương pháp xử lý rủi ro linh hoạt, nhanh chóng và hiệu quả
1.2.5 Rủi ro và Quản lý rủi ro trong hoạt động thẻ tín dụng của ngân hàng
thương mại
1.2.5.1 Khái niệm và phân loại rủi ro đặc thù trong dịch vụ thẻ
Trang 29Rủi ro là một yếu tố không thể tránh khỏi trong mọi lĩnh vực của đời sống
và ngành Tài chính - Ngân hàng không phải ngoại lệ Hơn thế nữa, "Rủi ro" là cụm từ được nhắc đến ngày càng nhiều trên các diễn đàn kinh tế, trong các nghiên cứu khoa học, hội thảo cũng như trong quy trình, quy định của các tổ chức tài chính Thuật ngữ này cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau như: Theo Frank Knight (1921), thì “rủi ro chỉ là sự không chắc chắn có thể đo lường được” Holton (2004) lại cho rằng rủi ro được tạo nên bởi hai phần, phần thứ nhất
là sự không chắc chắn về kết quả của một sự việc và phần còn lại là kết quả đó sẽ mang lại sự khác biệt gì về lợi ích hay không, nếu không mang lại lợi ích gì khác biệt thì nó cũng không mang lại rủi ro Ông ví dụ về việc rút bóng từ một chiếc hộp có bóng đỏ và bóng đen Chỉ khi việc rút được bóng gắn liên với sự khác biệt
về tiền bạc, giả sử trong đánh bạc, cá cược thì việc bốc bóng này mới có liên quan đến rủi ro chứ nếu chỉ bốc để giải trí, không có tính thắng thua thì cũng chẳng có rủi ro nào xảy ra hết Alain Willet cho rằng “rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến biến cố không mong đợi”, Còn Irving Perfer lại nói “rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất” Nhà kinh tế học người Anh Marilic Hurt Carty lại quan niệm “rủi ro là tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được” Theo đó, từ dữ liệu quá khứ của một doanh nghiệp, chúng ta có thể biết được tần số các biến cố đã từng xảy
ra trong quá khứ và từ đó cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp dự đoán được phân bổ xác suất xuất hiện các biến cố đó trong tương lai Như vậy, các định nghĩa tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống nhất quan điểm rằng rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, thường gây ra thiệt hại và có thể đo lường được
Cụ thể hơn, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, rủi ro được hiểu là khả năng mất mát tài chính của ngân hàng Mọi hoạt động tài chính đều đi kèm với rủi ro, do đó, việc quản lý chặt chẽ các giao dịch, hoạt động trong lĩnh vực này là điều vô cùng cần thiết Nếu không làm tốt công tác quản lý rủi ro thì các ngân hàng sẽ đối mặt với các tổn thất lớn Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, có thể
Trang 30hiểu một cách khái quát, Rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy
ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt
động Với vai trò trung gian trên thị trường tài chính, ngân hàng thực hiện chức
năng “đi vay để cho vay” Vì thế, ngân hàng gánh chịu rủi ro từ cả 2 phía: người
đi vay và người cho vay Tương tự, thì Rủi ro trong hoạt động thẻ là các tổn thất
về vật chất hoặc phi vật chất có liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành và hoạt động thanh toán thẻ Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ hoặc ĐVCNT (Ngân hàng Nhà nước)
Đối với dịch vụ thẻ, ngoài một số rủi ro chung thường gắn với các sản phẩm ngân hàng thì còn một vài loại rủi ro đặc thù khác, chi tiết như sau:
* Giả mạo thẻ
Giả mạo thẻ là một hình thức rủi ro đặc trưng và đa dạng nhất trong hoạt động thẻ, là hành vi lừa đảo nhằm thực hiện các giao dịch thẻ bất hợp pháp gây tổn thất cho ngân hàng kinh doanh thẻ, chủ thẻ và ĐVCNT Hành vi giả mạo có thể phát sinh bất kỳ lúc nào không phân biệt thời gian, địa điểm, cả trong hoạt động phát hành lẫn thanh toán thẻ và gây tổn thất cho ngân hàng Có thể phân nhóm các hình thức giả mạo thẻ như sau:
Giả mạo trong hoạt động phát hành thẻ:
+ Hồ sơ phát hành thẻ giả mạo
+ Thẻ bị lợi dụng/đánh cắp trước thời điểm NHPHT trả thẻ cho chủ thẻ
+ Thẻ bị mất cắp/thất lạc trong quá trình sử dụng
+ Thẻ bị giả mạo
+ Thông tin bề mặt thẻ bị lợi dụng
+ Thông tin chủ thẻ bị lợi dụng
Giả mạo trong hoạt động thanh toán thẻ:
+ ĐVCNT giả mạo, gian lận
Trang 31+ ĐVCNT chấp nhận thẻ giả
+ ĐVCNT giao dịch không hợp lệ
+ ĐVCNT lợi dụng chiếm dụng tiền từ ngân hàng
(Chi tiết tại phụ lục 1)
* Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng: NHPHT chấp thuận mở thẻ tín dụng cho khách hàng nghĩa là đã đồng ý cho khách hàng vay vốn để chi tiêu Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi chủ thẻ không thực hiện thanh toán hoặc không đủ khả năng thanh toán đối với các khoản đã tiêu dùng và chi trả bằng thẻ tín dụng Với đặc điểm của thẻ tín dụng là chi tiêu trước trả tiền sau, tại thời điểm thanh toán hàng hóa dịch vụ của chủ thẻ, ngân hàng phát hành sẽ đứng ra tạm ứng tiền cho chủ thẻ để thanh toán với NHTTT và đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ và sẽ thu từ chủ thẻ sau đó Do
đó, nguy cơ chủ thẻ tiêu quá nhiều, vượt khả năng chi trả sẽ dẫn đến rủi ro cho NHPHT không thu được nợ gốc, phí, lãi phát sinh do nợ quá hạn Tuy hạn mức tín dụng của thẻ tín dụng không lớn như các khoản vay bất động sản, mua ô tô, vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh nhưng số lượng thẻ tín dụng ngày càng tăng, nếu các khoản nợ thẻ tín dụng quá hạn hoặc không thu hồi được thì cũng sẽ góp phần không nhỏ vào tổn thất mất vốn của ngân hàng
* Rủi ro kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là một trong các loại rủi có sự ảnh hưởng và mức độ nguy hiểm lớn đối với hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Lý do là bởi rủi ro kỹ thuật phát sinh khi có sự cố liên quan đến mảng kỹ thuật, công nghệ thông tin phục vụ công tác xử lý dữ liệu, truyền tải thông tin, kết nối giao dịch và bảo mật hệ thống
cơ sở dữ liệu và an ninh thẻ Do tính chất liên tục và trực tuyến 24/24 của dịch vụ thẻ nên bất kỳ một sự cố nào cũng làm ngắt quãng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc giao dịch, đến tính chính xác trong công tác thanh toán, đến uy tín các đơn vi chấp nhận thẻ cũng như quyền lợi của khách hàng Sự cố xảy ra có tác động dây
Trang 32chuyền: khi hệ thống có sự cố nó không chỉ ảnh hưởng đến riêng một khách hàng, đến riêng một ngân hàng hay tổ chức tài chính mà ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thẻ của toàn bộ TCTQT và các khách hàng tham gia hoạt động thẻ Do đó nếu tổn thất xảy ra sẽ rất lớn và khó kiểm soát, chính vì vậy đảm bảo
hệ thống vận hành một cách chính xác, liên tục là yêu cầu hàng đầu đối với các thành viên khi tham gia kinh doanh thẻ
* Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là một phần trong rủi ro tác nghiệp, là cố hữu, gắn liên với hoạt động ngân hàng nhưng lại rất khó lường: là hiện tượng xuất phát từ yếu tố con người, xảy ra khi cán bộ ngân hàng nói chung hay cán bộ trong lĩnh vực thẻ nói riêng có những hành vi bất thường và phi pháp mang chủ ý lừa dối, hay là các hành vi đưa thông tin thiếu chính xác mà người thực hiện đã biết rõ là sai hoặc tin là không đúng, họ cũng biết những hành vi gian lận này có thể đem lại lợi ích bất hợp pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nào đó Trong hoạt đông tác nghiệp hàng ngày, vì nhiều lý do, cán bộ thẻ lợi dụng những hiểu biết của mình
về hệ thống, về tính năng sản phẩm, lợi dụng vị trí công tác, lợi dụng mối quan
hệ của mình trong ngân hàng để tự mình hoặc câu kết với người khác tiến hành các hành vi gian lận, giả mạo gây tổn thất cho ngân hàng Rủi ro có thể xảy ra ở rất nhiều khâu như việc giả mạo chứng từ phát hành thẻ để đạt hạn mức cao hoặc phát hành cho đối tượng không đủ tiêu chuẩn, lợi dụng quyền hạn để truy cập hệ thống dữ liệu lấy cắp các thông tin thẻ của người khác để sử dụng thanh toán mua sắm hàng hoá dịch vụ qua mạng, đánh cắp thẻ mới phát hành để sử dụng hoặc thay đổi các thông số hệ thống, thông tin khách hàng để trục lợi
Các hành vi gian lận này thường được rất khó phát hiện hoặc chỉ phát hiện được sau một khoảng thời gian rất dài khi tổn thất lớn đã xuất hiện bởi các nhân viên ngân hàng rất thông thạo với những quy định, quy trình và hệ thống an ninh của ngân hàng nên họ che giấu rất tài tình Hơn thế nữa, họ thường cấu kết với nhiều người ở nhiều bộ phận chuyên trách, có nhiều kinh nghiệm nên hành động
Trang 33càng tinh vi và che giấu càng tốt
1.2.5.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro trong dịch vụ thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại
Sự phát triển của khoa học công nghệ:
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ra đời trên cơ sở
áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng Khoa học càng phát triển, tính bảo mật của sản phẩm thẻ càng được nâng cao, thẻ càng khó làm giả hơn Tuy nhiên khoa học công nghệ phát triển cũng kéo theo sự xuất hiện của nhiều phương tiện, máy móc, thủ đoạn skimming thẻ hiện đại hơn, tinh
vi hơn Cuộc chiến giữa quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm thẻ mới với quá trình nghiên cứu thủ đoạn ăn cắp làm thẻ giả của các tổ chức tội phạm thẻ là cuộc chiến đấu vô cùng khắc nghiệt, không ngừng nghỉ có tác động rất lớn đến
Trang 34rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng
Nguyên nhân từ phía người sử dụng thẻ:
Đối với các nền kinh tế đang phát triển, tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chính nên giống như các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác, thẻ thanh toán mới chỉ tập trung tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp và giới hạn trong một số tầng lớp dân cư nhất định Và ngay cả trong số đó không phải tất cả các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thẻ đều có sự hiểu biết về thẻ
mà nhiều khi khách hàng sử dụng thẻ, chấp nhận thẻ vì điều kiện bắt buộc Ngay cả bản thân các ngân hàng tham gia vào hoạt động kinh doanh thẻ cũng là
do chịu sức ép về cạnh tranh, ngân hàng khác phát hành thẻ thì mình cũng phải phát hành thẻ Chính những nhận thức sai lầm, chưa chính xác đó nên dẫn đến thái độ thờ ơ, sự quan tâm không đúng mức đến những quy định, những khuyến cáo cần thiết trong quá trình sử dụng thẻ dẫn đến rủi ro, bản thân họ phải gánh chịu tổn thất Chỉ khi mọi người có được nhận thức đầy đủ, chính xác về thẻ và thẻ thanh toán được chấp nhận với tư cách là một phương tiện thanh toán rộng rãi trong nền kinh tế thì mới hạn chế được những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại thị trường trong nước
Nhân tố chủ quan:
Chất lượng công tác thẩm định khách hàng:
Thẩm định khách hàng trong kinh doanh thẻ là việc ngân hàng thẩm định năng lực pháp lý, năng lực tài chính của khách hàng để quyết định đồng ý hay từ chối phát hành thẻ cho khách hàng, làm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ của ngân hàng Như đã khẳng định ở trên, đồng ý phát hành thẻ tín dụng tức là ngân hàng chấp nhận cho khách hàng vay, đồng ý cho một đơn vị làm đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ cũng là ngân hàng đồng ý tạm ứng thanh toán trước cho khách hàng Chất lượng công tác thẩm định đạt hiệu quả cao tức là ngân hàng đã lựa chọn được cho mình những khách hàng tốt, loại bỏ được những khách hàng xấu, hạn chế được rủi ro chủ thẻ không thanh toán nợ cho khách hàng, ĐVCNT lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng
Trang 35 Nhân lực:
Con người là trung tâm của mọi hoạt động, là yếu tố quyết đinh đến sự thành công hay thất bại trong tất cả lĩnh vực trong nền kinh tế Đội ngũ cán bộ thẻ là những người trực tiếp hàng ngày tiếp xúc với hoạt động kinh doanh thẻ, với những hành vi lừa đảo trong lĩnh vực thẻ Kinh nghiệm, ý thức cảnh giác, tuân thủ chặt chẽ các quy định của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ của đội ngũ cán bộ thẻ sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn, hạn chế những rủi ro, những tổn thất cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh Tuy nhiên, là những người trực tiếp làm thẻ, hiểu biết về thẻ nên những giả mạo thẻ do cán bộ thẻ gây ra lại
là những giả mạo tinh vi nhất, khó phát hiện nhất và cũng gây tổn thất lớn cho ngân hàng Chính vì vậy, đạo đức, kinh nghiệm, trình độ của đội ngũ cán bộ thẻ
có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng
Công nghệ trong ngân hàng:
Ngày này khoa học công nghệ đóng vai trò vô cùng to lớn trong hầu hết các hoạt động sản xuất và dịch vụ Đặc biệt đối với thẻ ngân hàng là sản phẩm ra đời trên
sự áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ thì sự ảnh hưởng này càng lớn Công nghệ sản xuất thẻ càng tiến bộ cũng đồng nghĩa với việc công nghệ làm giả thẻ cũng phát triển không kém Một ví dụ dễ thấy là ngày nay không quá khó khăn
để có thể làm ra một chiếc thẻ chỉ với một chiếc máy trị giá có 1.500USD có thể mua được qua mạng internet cùng với phôi thẻ giả Với các thông tin của chủ thẻ mua được cũng với giá rất rẻ, trung bình khoảng 7USD/ thông tin chủ thẻ là tội phạm làm giả thẻ đã có thể có một chiếc thẻ với đầy đủ thông tin để có thể rút tiền tại bất cứ máy ATM nào Chính vì vậy các NHTM phải không ngừng cập nhật công nghệ hiện đại để có thể phát hiện nhanh chóng thẻ giả, cũng như phát triển các công nghệ hiện đại để làm ra các loại thẻ mới như thẻ chíp để tội phạm làm giả thẻ khó lòng có cơ hội phạm tội
Tổ chức công tác quản trị rủi ro:
Trang 36Rủi ro là điều không thể tránh khỏi trong bất cứ hoạt động kinh doanh nào Do
đó, ta phải nhận biết và biết cách hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất Hoạt động kinh doanh thẻ cũng không phải là ngoại lệ, nhận thức được điều này các NHTM cần tổ chức công tác quản trị rủi ro thật hiệu quả để có thể nhận biết và hạn chế rủi ro một cách tốt nhất Công tác quản trị rủi ro sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM Nếu công tác này được tổ chức tốt sẽ giúp cho ngân hàng nhận biết, đo lường tương đối chính xác các loại rủi ro Từ đó đề ra các biện pháp để ngăn ngừa và phòng tránh các rủi ro đó hoặc
có thể có những phương án dự phòng tối ưu để chủ động đối phó với các rủi ro
có thể xảy ra Ngược lại nếu công tác này không được tổ chức tốt sẽ khiến cho ngân hàng luôn trong tình trạng gặp phải những rủi ro không ngờ tới Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thẻ nói riêng mà còn có thể ảnh hưởng đến các hoạt động khác của ngân hàng, gây những tổn thất, thậm chí làm cho ngân hàng đi đến phá sản
1.2.5.3 Một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ
Trong lĩnh vực ngân hàng, công tác đánh giá rủi ro được hỗ trợ thực hiện bởi rất nhiều công cụ đo lường rủi ro khác nhau như các phương pháp thống kê, tính xác suất, tính giá trị biến động như VaR… (Bảo Hiền, 2015) Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh là một trong những hoạt động mang tính đặc thù cao trong ngân hàng,
để kiểm soát được rủi ro gian lận thẻ thì cần quan tâm kiểm soát một số chỉ tiêu như sau:
* Tỷ lệ rủi ro gian lận/tổng doanh số (FSV - Fraud to Sales Volume): là chỉ
tiêu thường xuyên được sử dụng bởi các TCTQT như VISA, MasterCard để so sánh mức độ rủi ro trên thế giới
Trang 37của công thức phía trên đây Nếu như FSV mảng phát hành thẻ dùng tổng doanh
số sử dụng thẻ của ngân hàng/ khu vực phát hành ra thì FSV mảng thanh toán thẻ
sẽ có mẫu số là doanh số chấp nhận thẻ trên thiết bị của ngân hàng/ khu vực đó bất chấp đó là loại thẻ gì, do ngân hàng nào phát hành
* Tỷ lệ nợ xấu: tương tự như những khoản vay tín dụng khác, thẻ tín dụng cũng
phải đối mặt với các nguy cơ khách hàng không trả được nợ gốc hoặc/ và lãi Để đảm bảo an toàn vốn, ngân hàng cũng áp dụng việc phân nhóm nợ và trích lập dự phòng thẻ tín dụng thẻ quy định tín dụng chung như dưới đây
Các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn được coi là nợ xấu Định kỳ hàng năm, hàng quý, ngân hàng sẽ phân tích tình hình chung và đặt kế hoạch về tỷ lệ nợ xấu cần đạt được Cùng với đó là công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng dựa trên rủi ro tín dụng thuần của các khoản vay như sau:
Tuy nhiên, đối với các khoản vay thẻ tín dụng, ngân hàng còn phải có quỹ
xử lý tổn thất, quỹ dự phòng rủi ro tài chính khác để xử lý các trường hợp tổn
Trang 38thất do gian lận thẻ, rủi ro trong tác nghiệp hoặc trong xử lý khiếu nại, thương lượn, thua kiện tra soát giao dịch thẻ…
1.2.5.4 Công tác quản lý rủi ro thẻ tại ngân hàng thương mại
Như đã bàn luận ở phần trên, có thể nhận thấy rủi ro là yếu tố thường trực
và ngày càng cần được quan tâm, xử lý Do đó, công tác quản lý rủi ro trong hệ thống ngân hàng đang dần trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Vậy quản lý rủi ro
và mức độ thu nhập, nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng
Để thực hiện được chính sách quản lý rủi ro ngân hàng thông thường cần
phải thực hiện qua những giai đoạn cơ bản sau:
Thứ nhất, nhận diện các loại rủi ro ngân hàng;
Thứ hai, phân tích rủi ro;
Thứ ba, đánh giá rủi ro;
Thứ tư, cảnh báo và giảm thiểu rủi ro;
Thứ năm, giám sát và kiểm tra;
Thứ sáu, trích lập dự phòng, xử lý tổn thất
Các nguyên tắc và quy trình trên cũng được áp dụng đối với hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng nhưng có thể tóm tắt như sau:
*Nhận diện và phân loại các loại rủi ro: là quá trình xác định liên tục và
có hệ thống các mối hiểm họa, rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng bao gồm việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động của tội phạm
Trang 39thẻ nhằm thống kê được các rủi ro hiện hữu và dự báo được những rủi ro mới
có thể xuất hiện Đây là bước khởi đầu trong nội dung phòng chống rủi ro, là tiền
đề cho mọi hoạt động khác trong công tác QLRR Có sáu công cụ nhận dạng rủi ro: phân tích vận hành, phân tích hiểm họa sơ cấp, phân tích “Nếu – thì”, Xử lý tình huống, Biểu đồ logic, phân tích sự thay đổi
*Phân tích rủi ro: tại bước này, cần xác định được nguyên nhân gây ra
rủi ro, làm cơ sở để đánh giá và tìm ra giải pháp phòng chống rủi ro Theo W.H.Henrich, để tìm ra biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu thì cần phân tích rủi ro, tìm ra các nguyên nhân, tác động đến nguyên nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng ngừa được rủi ro
*Đánh giá, đo lường rủi ro: Sau khi phân tích các rủi ro có thể phải đối
mặt trong hoạt động kinh doanh thẻ, ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá, đo lường định tính hoặc định lượng nhằm xếp hạng theo mức độ nghiêm trọng và tần suất xảy ra để ưu tiên xử lý
*Cảnh báo, giảm thiểu rủi ro, giám sát và kiểm tra: Khi đã có danh
sách, thứ tự ưu tiên xử lý đối với các hình thức rủi ro thẻ, một hệ thống cảnh báo rủi ro sẽ được thiết lập trên hệ thống quản lý thẻ của ngân hàng với những hạn mức rất cụ thể về số tiền giao dịch, số lần giao dịch, loại hàng hóa, dịch vụ ĐVCNT cung cấp Nếu gặp tình huống nghi ngờ rủi ro, hệ thống sẽ gửi các cảnh báo đến thiết bị thanh toán thẻ cũng như tới bộ phận QLRR của ngân hàng
để thực hiện kiểm tra, xác thực lại với chủ thẻ hoặc ĐVCNT và NHPHT để đưa
ra kết luận xử lý ngăn chặn giao dịch hay không Nếu kịp thời tác động sẽ giảm thiểu được phần nào rủi ro Bên cạnh đó, công tác QLRR cũng được giám sát qua công tác hậu kiểm báo cáo cuối ngày về các cảnh báo và tình trạng xử lý các cảnh báo nói trên
Ngoài ra, công tác phòng ngừa rủi ro là một nội dung quan trọng mà ngân hàng hướng đến Ngân hàng có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro từ bên trong và từ bên ngoài:
Trang 40 Biện pháp an ninh nội bộ bao gồm: các biện pháp bảo mật, an ninh phía trong ngân hàng nhằm ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh từ nội bộ bên trong như: kiểm soát hồ sơ phát hành thẻ (chứng thực thông tin khách hàng, thông tin ĐVCNT, chữ ký ), kiểm kê số lượng thẻ phát hành, kiểm soát thẻ lưu hành và thẻ không có giá trị lưu hành để đưa ra những số liệu thực về thẻ từ đó giúp cho việc quản lý được dễ dàng thuận tiện hơn, thực hiện các quy định về hạn chế và bảo mật thông tin
Biện pháp kiểm soát bên ngoài (kiểm soát các hoạt động sử dụng thẻ của chủ thẻ và chấp nhận thanh toán thẻ của ĐVCNT) gồm: các biện pháp kiểm soát phòng ngừa đối với hoạt động thanh toán thẻ tín dụng Biện pháp này được thực hiện với mục đích nhằm đánh giá phân loại những hoạt động có khả năng giả mạo và rủi ro cao, kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của thẻ, chủ thẻ cũng như là các giao dịch của thẻ, cảnh báo những trường hợp rủi ro và đưa ra những khuyến nghị nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất
Hai hoạt động này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ cũng như là cung cấp thông tin qua lại nhanh chóng, chuẩn xác và kịp thời Đây là hoạt động có tính độc lập tương đối nhưng cũng không thể tách rời nhau Trái lại chúng có sự liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau vì mục tiêu chung là ngăn ngừa rủi ro
*Trích lập dự phòng, xử lý tổn thất: Theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước, tất cả các ngân hàng triển khai dịch vụ thẻ, dù là NHPHT hay NHTTT đều phải trích lập dự phòng để bù đắp các rủi ro phát sinh từ nghiệp vụ phát hành, thanh toán thẻ Mức dự phòng, phương pháp trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan
Trên đây là những nội dung lý thuyết cơ bản nhằm cung cấp cái nhìn tổng thể về sản phẩm thẻ nói chung và thẻ tín dụng nói riêng cũng như những rủi ro cơ