Chính vì vậy việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính về giá, phí và lộ trình tính giá phí dịch vụ công là cần thiết đối với các đơn vị sự nghiệp công lập hướng tới mục tiêu chất lượng công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ -
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THU HƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là công khai và trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thu Hương – Phó trưởng ban kế hoạch tài chính trường đại học Quốc gia Hà nội, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn đến các thầy cô giáo và các chuyên viên trong khoa Tài chính ngân hàng và các Khoa, phòng ban liên quan - trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường, những kiến thức này sẽ là nền tảng cơ bản và góp phần giúp tôi nâng cao nghiệp vụ trong quá trình làm việc của mình
Đồng thời, tôi xin cảm ơn đến các anh chị và các bạn lớp K23-TCNH 2 cùng các bạn đồng khóa đã giúp tôi trau dồi, đổi mới kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ, giúp tôi hoàn thiện bản thân cả trong công việc và cuộc sống
Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy cô, các anh chị và các bạn luôn
có một sức khỏe dồi dào, an bình và thành đạt
Hà Nội, ngày 12 tháng 01năm 2017
Học viên
Đoàn Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ GIÁ, PHÍ DỊCH VỤ CÔNG 5
1.1 Tổng quan đề tài nghiên cứu 5
1.2 Một số vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong tiến trình đổi mới giá, phí dịch vụ công 8
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập 8
1.2.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp 9
1.2.3 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu và yêu cầu quản lý tài chính 9
1.2.4 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 12 1.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, thực hiện có lộ trình xóa bỏ bao cấp qua giá và phí dịch vụ 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 22
1.3.1 Định hướng đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xóa bỏ bao cấp qua giá và phí dịch vụ 22
Trang 61.3.2 Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước có liên quan255
1.3.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy và các hoạt động của đơn vị 26
1.3.4 Bộ máy kế toán tài chính của đơn vị 28
1.4 Kinh nghiệm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập 29
1.4.1 Kinh nghiệm của một số trường đại học thực hiện tự chủ về tài chínhError! Bookmark not defined 1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 355
2.1 Câu hỏi nghiên cứu và câu hỏi quản lý 355
2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 355
2.1.2 Câu hỏi quản lý 355
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 355
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tổng quan đã sử dụng 355
2.2.2 Phương pháp thu thập phân tích số liệu 366
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu về các khoản thu 38
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về các khoản chi 39
2.3.3 Nhóm chỉ tiêu về chênh lệch thu chi tài chính 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI VÀ DU LỊCH HÀ NỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ GIÁ, PHÍ DỊCH VỤ CÔNG 411
3.1 Khái quát về trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 411
3.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 411
Trang 73.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 43
3.2 Thực trạng cơ chế quản lý về tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 46
3.2.1 Sự hình thành cơ chế quản lý chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 46 3.2.2 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 47 3.2.3 Thực trạng công tác quản lý tài sản công 59 3.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính 62
3.3 Đánh giá về cơ chế tự quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 67
3.3.1 Kết quả đạt được 67 3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 744
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
VÀ DU LỊCH HÀ NỘI TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ GIÁ, PHÍ DỊCH VỤ CÔNG 799
4.1 Định hướng phát triển tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch
Hà Nội 799 4.2 Quan điểm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 80 4.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 81
4.3.1 Đổi mới quan điểm về thực hiện quyền quản lý tài chính của Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội 82
Trang 84.3.2 Xây dựng căn cứ để xác định khung học phí của Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội theo lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp
công 833
4.3.3 Phát triển nguồn thu sự nghiệp của trường trên cơ sở thực hiện lộ trình học phí đảm bảo bù đắp đủ chi phí đào tạo 855
4.3.4 Hoàn thiện, bổ sung Quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để thực hiện các định mức chi tiêu đáp ứng nội dung hoạt động chuyên môn của nhà trường 866
4.3.5 Nâng cao quyền tự chủ về tổ chức bộ máy biên chế và thực hiện các nhiệm vụ của trường 866
4.4 Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 877
4.4.1 Kiến nghị với các bộ ngành 888
4.4.2 Kiến nghị với UBND Thành phố Hà Nội 899
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 933
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1 Số liệu thu sự nghiệp giai đoạn 2008-2011 29
2 Bảng 1.2 Dự toán cân đối thu chi thường xuyên giai đoạn
3 Bảng 3.1 Tổng hợp nguồn kinh phí NSNN cấp 51
4 Bảng 3.2 Tổng hợp nguồn thu từ các hoạt động của trường 53
5 Bảng 3.3 Thu nhập bình quân tháng của cán bộ công nhân
6 Bảng 3.4 Tình hình sử dụng kinh phí đảm bảo hoạt động 58
7 Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả thu chi và sử dụng kết quả
8 Bảng 3.6 Chỉ tiêu truyển sinh của trường 64
10 Bảng 3.8 Chỉ tiêu phân bố cán bộ giảng viên và nhân viên
11 Bảng 3.9 Kinh phí dành cho đào tạo cán bộ nhân viên 66
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đảng và Nhà nước ta đã luôn khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu NQTW 8, khoá XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” Trải qua hơn 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam trong đó giáo dục CĐĐH đã đạt được những thành tựu to lớn và tích cực đến
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần quan trọng đưa nước ta nhanh chóng hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóatrở thành nước công nghiệp theo hướng phát triển hiện đại Tuy nhiên, hiện nay một trong những thách thức to lớn đối với giáo dục CĐĐH ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam là nhu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo Bởi vậy để đáp ứng được yêu cầu đó thì nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng để thực hiện sứ mệnh được giao
Với sự phát triển mạnh nền kinh tế tri thức trên thế giới và thực hiện mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp
mà động lực chính là nguồn nhân lực có chất lượng cao, là đội ngũ trí thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững thì buộc các trường CĐĐH công lập ở Việt nam phải nghiên cứu, đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng và hiệu quả
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã ban hành nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế này đã tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động phân bổ nguồn tài chính, theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tăng thu tiết kiệm chi, tạo điều kiện cho đơn vị tự chủ
Trang 12kiểm soát chi tiêu nội bộ Từ đó giúp nhà trường chủ động hơn trong việc tổ chức sắp xếp bộ máy hợp lý, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính hiệu quả để cung cấp chất lượng dịch vụ đào tạo cao, nhằm nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho cán bộ công nhân viên Tuy nhiên cơ chế tự chủ tài chính theo nghị định 43 còn nhiều bất cập và hạn chế trong việc phân bổ kinh phí ngân sách nhà nước, hạch toán chi phí trong giá dịch vụ… dẫn đến nguồn thu của nhà trường còn thấp, thu nhập của cán bộ công nhân viên mặc dù có tăng thêm qua các năm, nhưng thực sự là vẫn thấp, trang thiết bị cơ sở vật chất đã được đầu tư nhưng vẫn còn chưa đồng bộ…Các hạn chế này không chỉ tác động đến việc mở rộng quy mô đào tạo của nhà trường mà còn tác động đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên nhà trường
Để khắc phục những bất cập đó thì nhân tố quan trọng góp phần phục
vụ cho giáo dục CĐĐH là nguồn tài chính Một trong những biện pháp tích cực nhất, hiệu quả nhất là thực hiện đổi mới cơ chế tài chính và trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực giáo dục nhằm giúp các trường nâng cao khả năng cạnh tranh Mặt khác trao quyền
tự chủ cho các trường CĐĐH, nhà nước sẽ giảm dần chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục CĐĐH Như vậy, về mặt tài chính các trường CĐĐH phải chủ động chuyển đổi nguồn thu từ NSNN cấp sang cơ chế nguồn thu đa dạng hơn dựa vào nguồn thu từ học phí cũng như hoạt động dịch vụ khác của nhà trường Chính vì vậy việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính về giá, phí và lộ trình tính giá phí dịch vụ công là cần thiết đối với các đơn vị sự nghiệp công lập hướng tới mục tiêu chất lượng công bằng và hiệu quả phù hợp với điều kiện hiện nay việc khai thác các nguồn lực của nhà trường có ý nghĩa quan trọng quyết định nâng cao năng lực quản lý tài chính trong các trường CĐĐH công lập ở Việt Nam là cần thiết để thực hiện phát triển giáo dục
Trang 13Xuất phát từ thực tế nêu trên, học viên đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch
Hà Nội trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Làm rõ cơ chế quản lý tài chính của các cơ sở giáo dục công lập (bao gồm cả các trường cao đẳng).Phân tích, hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường CĐĐH trong việc huy động các nguồn lực tài chính, sử dụng các nguồn lực tài chính để từ đó đánh giá, phân tích các mặt ưu, nhược điểm của cơ chế hiện hành
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở lý luận, xem xét, tìm hiểu về thực trạng cơ chế quản lý tài chính; phân tích, đánh giá thực trạng thu, chi tại trường, đưa ra các kết luận về ưu điểm, nhược điểm và xác định nguyên nhân dẫn đến các vấn đề còn tồn tại, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường CĐTM & DLHN trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tác giả tập trung khảo sát hoạt động quản lý tài chính tại trường CĐTM &DLHN trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công
- Về thời gian: Khảo sát và phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong 3 năm 2013, 2014 và 2015
- Về nội dung:
+Khảo sát nguồn thu từ ngân sách nhà nước và nguồn thu từ sự nghiệp khác + Khảo sát các nhiệm vụ chi thường xuyên và các khoản chi khác
Trang 144 Dự kiến đóng góp của đề tài:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực GDĐT theo lộ trình đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
- Làm sáng tỏ thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại trường CĐTM & DLHN Đưa ra các ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân dẫn đến các vấn đề còn tồn tại, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường này
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục viết tắt và bảng biểu, bài luận văn bao gồm 4 chương chính:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và những vấn đề chung về cơ chế quản
lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công
Do trình độ lý luận và nhận thức cũng như thời gian còn hạn chế vì vậy bài luận văn không tránh khỏi những sai sót Rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các anh chị, các bạn để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI CƠ CHẾ
QUẢN LÝ GIÁ, PHÍ DỊCH VỤ CÔNG
1.1 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và
là khâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định Có khá nhiều các nguồn tài liệu về các đề tài quản lý tài chính ở các cơ sở giáo dục công như sách báo, internet…Vì vậy có thể nói quản lý tài chính của đề tài là không mới Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung quản lý tài chính theo hướng tự chủ ở các trường CĐĐH như:
- Đề tài: “Xác định chi phí đào tạo tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội theo định hướng tự chủ tài chính” đề tài khoa học của tác giả Đinh Thị Hải Hậu, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, năm 2015 Tác giả đã làm rõ vấn đề tự chủ của các cơ sở quản lý của giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng Trong đó, để tự chủ tài chính, trường phải xác định được chi phí đào tạo để đưa ra mức giá dịch vụ đào tạo phù hợp, tính toán được hiệu quả tài chính, nâng cao chất lượng đào của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội nói riêng
và các trường nghề Cao đẳng nói chung trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó tác giả đã đưa ra các giải pháp xác định chi phí đào tạo tại trường cao đẳng
Du lịch Hà Nội theo định hướng tự chủ trong thời gian tới về: Nâng cao nhận thức của cán bộ, giảng viên, giáo viên về xác định chi phí đào tạo theo định hướng tự chủ tài chính; Xác định chi phí đào tạo theo ngành, hệ đào tạo; Sử dụng chi phí đào tạo là cơ sở xác định mức học phí theo ngành, hệ đào tạo
Trang 16- Đề tài: “ Đánh giá tình hình thực hiện tự chủ tài chính và định hướng đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học công lập giai đoạn 2012 – 2020” của nhóm tư vấn chính sách và nhóm nghiên cứu vụ hành chính sự nghiệp, Bộ Tài chính, năm 2011 Nhóm tác giả đã làm rõ nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục; và nguồn lực NSNN chi thường xuyên đối với giáo dục đại học Nhóm tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập Từ đó đưa ra các giải pháp đổi mới cơ chế tài chính đối với lĩnh vực giáo dục đại học giai đoạn
2012 – 2020 về cân đối ngân sách nhà nước; về tự chủ tài chính đối với cơ sở đào tạo
- Đề tài: “Giải pháp nâng cao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam” luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Xuân, năm 2013 Tác giả đã làm sáng tỏ lý luận về phần thu chi của NSNN gắn với sự nghiệp đào tạo đại học thông qua cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; kinh nghiệm về tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các trường đại học trên thế giới và ở Việt Nam Qua đó phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các cơ sở GDĐH công lập ở Việt Nam để rút ra những tồn tại, hạn chế và đưa ra các giải pháp nâng cao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập về: Hoàn thiện cơ chế chính sách; Hoàn thiện cơ chế quản lý
và sử dụng nguồn lực tài chính; Tạo ra sự bình đẳng về tài chính trong GDĐH
- Đề tài: “Quản lý tài chính theo hướng tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Kinh tế công nghiệp Hà Nội” luận văn thạc sĩ của tác giả Đoàn Thị Hồng Minh, năm 2011 Tác giả đã nghiên cứu một số lý luận chung về các đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công
Trang 17lập nói chung và tại các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nói riêng Từ đó tác giả phân tích những kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn khi thực hiện công tác tự chủ tài chính theo tinh thần Nghị định 43 và Thông tư
71 tại trường Cao đẳng Kinh tế công nghiệp Hà Nội Đưa ra một số giải pháp
về quản lý tài chính tại trường Cao đẳng Kinh tế công nghiệp Hà Nội nhằm tăng cường quản lý tài chính về: Tổ chức bộ máy quản lý tài chính; Nâng cao
ý thức, vai trò chủ động sáng tạo trong công tác quản lý tài chính; Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ
- Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây” luận văn thạc sĩ của tác giả Trương Quốc Đông, năm 2015 Tác giả nghiên cứu những lý luận chung về cơ chế tự chủ tài chính trong các trường CĐĐH công lập và thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây Từ đó phân tích, đánh giá tình hình thực hiện cơ chế
tự chủ tài chính và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây về: Công tác tổ chức cán bộ;
Đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả huy động nguồn tài chính; Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng các nguồn tài chính và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính nội bộ
Các công trình nghiên cứu ở trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh về quản
lý tài chính tại các trường CĐĐH theo hướng tự chủ, tập trung nghiên cứu việc sử dụng các chế độ chính sách liên quan đến quá trình lập và quyết toán ngân sách hàng năm các nguồn kinh phí cuả các trường CĐĐH công lập Các
đề tài chưa có đề tài nào đề cập đến “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý giá, phí dịch vụ công” Việc nghiên cứu thực trạng, phân
tích và đánh giá cơ chế quản lý tài chính giai đoạn 2013- 2015 từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường CĐTM &
Trang 18DLHN là cần thiết
1.2 Một số vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị
sự nghiệp công lập trong tiến trình đổi mới giá, phí dịch vụ công
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
Theo quy định tại Điều 9 Luật Viên chức thì: Đơn vị sự nghiệp công lập
là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nước về một hoạt động bằng nguồn kinh phí nhà nước cấp, cấp trên cấp hoặc bằng các nguồn khác nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao trong từng giai đoạn nhất định
Từ các khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập ở trên ta thấy có nhiều điểm giống nhau Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập rất phong phú,
đa dạng, phức tạp và mang tính phục vụ Vì vậy hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập thường không có thu hoặc có thu nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu, các khoản chi cho các hoạt động chủ yếu được trang trải bằng nguồn kinh phí của nhà nước cấp Do chi tiêu chủ yếu bằng nguồn kinh phí nhà nước cấp nên đơn vị phải lập dự toán thu-chi và việc chi tiêu phải đúng dự toán được duyệt theo các tiêu chuẩn, định mức nhà nước qui định
Để quản lý một cách có hiệu quả các khoản chi tiêu của đơn vị cũng như để chủ động trong công việc chi tiêu, hàng năm các đơn vị sự nghiệp công lập phải lập dự toán cho từng khoản chi cho đơn vị mình và dựa vào dự toán đã được lập và xét duyệt ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho đơn vị, vì vậy đơn
vị sự nghiệp công lập còn được gọi là đơn vị dự toán
Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là đơn vị dự toán hoạt
Trang 19động bằng nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, cấp trên cấp phát hoặc bằng nguồn kinh phí khác (học phí, viện phí, kinh phí được tài trợ,…) để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao trong từng giai đoạn nhất định
Trong thực tế không có một định nghĩa chính xác và giản đơn về đơn vị
sự nghiệp công lập để chúng ta có thể sử dụng trong những hoàn cảnh khác nhau cho các trường học Nhưng về bản chất của đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị được sử dụng kinh phí của nhà nước hoặc được nhà nước cho phép thu phí, lệ phí các nguồn thu sự nghiệp khác để thực hiện nhiệm vụ được giao
1.2.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp
Theo Điều 9 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp được phân loại như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên(gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp(gọi tắt là đơn
vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ(gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định trên, được ổn định trong thời gian 3 năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp
Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét điều chỉnh phân loại lại cho phù hợp
1.2.3 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu và yêu cầu quản lý tài chính
Trang 20* Khái niệm quản lý tài chính, cơ chế quản lý tài chính:
Quản lý tài chính là việc sử dụng các công cụ quản lý tài chính nhằm phản ánh chính xác tình hình tài chính của đơn vị, thông qua đó lập kế hoạch quản lý và sử dụng các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả của đơn
vị.(Nguồn: TLTK số 16)
Quản lý tài chính là các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế của đất
nước.(Nguồn: TLTK số 2)
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tài chính nhưng quan điểm chung nhất là: Quản lý tài chính đòi hỏi các chủ thể quản lý phải lựa chọn, đưa ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động quản lý tài chính của đơn vị Trong thực tế quản
lý tài chính ở các cơ sở giáo dục đào tạo là hướng vào quản lý thu, chi của các quỹ tài chính trong đơn vị, quản lý thu chi các chương trình, dự án đào tạo, quản lý thực hiện dự án ngân sách của nhà trường Nên mục tiêu quản lý tài chính trong các các cơ sở giáo dục đào tạo công lập là phục vụ cho cộng đồng
xã hội là chủ yếu nên quản lý tài chính ở các cơ sở đào tạo công lập là quản lý
sử dụng có hiệu quả, đúng định hướng các nguồn kinh phí NSNN cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật
Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống các hình thức, phương pháp và biện pháp tài chính được sử dụng để tác động vào quá trình vận hành của các quan hệ kinh tế tương ứng nhằm vào các mục tiêu quản lý được xác định
* Đối tượng quản lý tài chính:
Trong đơn vị sự nghiệp, Nhà nước là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là tài chính đơn vị sự nghiệp Tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm các hoạt động
Trang 21và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp Quản lý tài chính bao gồm:
- Quản lý hoạt động thu:
+ Nguồn kinh phí cấp phát từ NSNN để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao
+ Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: gồm các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật, theo chế độ được phép để lại đơn vị
+ Các khoản thu từ nhận viện trợ, biếu tặng, các khoản thu khác không phải nộp ngân sách theo chế độ
+ Các nguồn khác như nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
- Quản lý hoạt động chi:
+ Chi thường xuyên gồm: Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch
vụ thu phí, lệ phí;Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao TSCĐ theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật)
+ Chi không thường xuyên gồm:Chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết
bị, tài sản phục vụ công tác thu phí, nguồn ngân sách nhà nước cấp thực hiện nhiệm vụ không thường xuyên, nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành
- Phân bổ và sử dụng nguồn tài chính: Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), trích lập các như: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; Quỹ khen thưởng; Quỹ phúc lợi và Quỹ dự phòng ổn định thu nhập
* Yêu cầu quản lý tài chính:
Trang 22- Phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả, công khai minh bạch các khoản thu, chi tài chính phân cấp quản lý tài chính rõ ràng, cụ thể giữa các cấp khác nhau
- Sử dụng phương thức quản lý và chất lượng quản lý tài chính hiệu quả, chặt chẽ theo đúng quy định quản lý tài chính hiện hành tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng nhiều hơn trong việc cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu của xã hội
1.2.4 Nội dung cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp được quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006( gọi tắt là Nghị định 43) Theo Nghị định 43, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên(gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp(gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động(gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các đơn vị trong lĩnh vực GD&ĐT nói riêng được xác định dựa trên nguồn kinh phí thu để thực hiện chế độ tự chủ và nguồn kinh phí chi để thực hiện chế độ tự chủ Nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của đơn vị quyết định mức độ và năng lực tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp
Trang 23* Nguồn kinh phí và quyền tự chủ về khoản thu mức thu:
+ Nguồn kinh phí: Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực GDĐT thực hiện công tác tự chủ tài chính dựa trên các nguồn sau:
- Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp
- Các khoản phí, lệ phí được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Các nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật(chủ yếu từ học phí và các khoản phải thu khác từ người học, từ các nguồn tài trợ, viện trợ…)
+ Quyền tự chủ về mức thu:
- Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
- Đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật
* Nội dung chi và tự chủ về chi tiêu kinh phí:
- Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định
- Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định
- Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn
- Chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi phí thuê mướn, chi vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc
Trang 24- Chi hội nghị, công tác phí trong nước, chi các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài
- Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện, vật tư, sửa chữa thường xuyên TSCĐ (ngoài kinh phí mua sắm và sửa chữa TSCĐ có giá trị lớn mà kinh phí được giao không đáp ứng được)
- Các khoản chi có tính chất thường xuyên khác
* Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm:
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi(nếu có), đơn vị được
sử dụng theo trình tự như sau:
+Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
+ Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động
+ Chi khen thưởng cho tập thể và cá nhân có thành tích
+ Chi cho các hoạt động phúc lợi trong cơ quan
+ Chi trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức
+ Chi thêm cho người lao động khi thực hiện tinh giản biên chế
+ Trường hợp xét thấy khả năng kinh phí tiết kiệm không ổn định, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có thể trích một phần số tiết kiệm được để lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập
Thủ trưởng đơn vị căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng tài chính của đơn vị sẽ quyết định mức chi cao hơn hay thấp hơn theo quy định Việc thực hiện chế độ tự chủ quyết định việc sử dụng kinh phí tiết kiệm theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị được xây dựng theo nguyên tắc công khai, dân chủ sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn và được công khai trong toàn cơ quan
Cuối năm kinh phí tiết kiệm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng
Trang 25Nghị định 43 ra đời được xem như một bước khai thông, mở rộng việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập thời gian qua Nghị định 43 đã tạo cơ hội cho các cơ sở GDĐH công lập nâng cao tính tích cực chủ động, năng động, sáng tạo trong quản lý tài chính, sử dụng ngân sách nhà nước được giao tiết kiệm, hiệu quả hơn; phát triển nguồn thu sự nghiệp thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ; huy động được nhiều nguồn vốn để đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị Cùng với việc khai thác các nguồn thu, nhiều cơ sở GDĐH cũng đã xây dựng quy chế chi tiêu nội
bộ, các quy trình quản lý nhằm tiết kiệm chi phí cũng như ngân sách nhà nước Bên cạnh đó thì việc xây dựng chính sách học phí mới trên cơ sở xác định mức trần học phí và hệ số áp dụng từ năm học 2010-2011 theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 đã khắc phục hạn chế về mức học phí quá thấp, không phù hợp với mặt bằng giá cả thời gian qua Chính sách học phí mới dựa trên nguyên tắc chia sẻ giữa chi phí đào tạo giữa nhà nước và người học Học phí đối với cơ sở GDĐH công lập chương trình đại trà được căn cứ vào mức trần học phí quy định và còn tính đến đặc điểm và yêu cầu phát triển từng ngành đạo tạo, hình thức đào tạo, hoàn cảnh học của sinh viên Đối với các cơ sở GDĐH công lập thực hiện thực hiện chương trình chất lượng cao được thu học phí tương xứng để trang trải chi phí đào tạo
Bên cạnh những kết quả đạt được ở trên thì Nghị định 43 vẫn tồn tại những bất cập đó là:
Một là, mức phân bổ ngân sách giáo dục CĐĐH mới chỉ dựa trên yếu
tố đầu vào và dựa trên khả năng ngân sách nhà nước với nguồn thu sự nghiệp của đơn vị; chưa gắn kết giữa việc giao kinh phí ngân sách nhà nước với việc giao khối lượng cụ thể như việc thực hiện phương thức đấu thầu hay đặt hàng
để đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như sử dụng ngân sách nhà
Trang 26nước cho giáo dục CĐĐH hiệu quả hơn
Hai là,cơ chế học phí chưa thể hiện rõ ràng được mức độ chia sẻ giữa
nhà nước và người học
Ba là,quy định khống chế thu nhập tăng thêm đối với cơ sở GDĐH
công lập tự đảm bảo một phần chi phí và đơn vị do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên; sau khi đã trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật đến nay không còn phù hợp, không khuyến khích đơn vị tăng thu, tiết kiệm chi để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức
Bốn là,việc triển khai chủ trương,chính sách xã hội hoá trong hoạt động
đào tạo đại học còn nhiều hạn chế, vướng mắc
Với những bất cập của Nghi định 43 đã đề cập ở trên, trong tiến trình đổi mới hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công, ngày 14 tháng 02 năm 2015 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ra đời thay thế cho Nghị định
43 Mục tiêu của Nghị định này là nhằm đổi mới toàn diện các đơn vị sự nghiệp công lập; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị đồng bộ cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính.Theo đó, đơn vị tự chủ càng cao về tài chính thì được tự chủ cao trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự Nghị định số 16/2015/NĐ-CP sẽ tạo ra bước đột phá so với Nghị định 43 trước đây cụ thể ở các điểm sau:
Về tự chủ về giá, phí: Để khắc phục những hạn chế về vấn đề giá, phí,
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể về giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công lập, danh mục dịch vụ sự nghiệp công; đồng thời phân định dịch vụ sự nghiệp công lập sử dụng kinh phí NSNN và dịch vụ sự nghiệp công lập không sử dụng kinh phí NSNN Theo đó, đối với loại dịch vụ
sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN thì đơn vị được tự xác định
Trang 27giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trường Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN thì Nhà nước ban hành danh mục và định giá Tuy nhiên, Nhà nước cũng quy định lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công để phù hợp với khả năng của NSNN và thu nhập của người dân như sau: Đến năm 2016 sẽ tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp(chưa tính chi phí
quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định); Đến năm 2018 sẽ tính đủ chi phí
tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý(chưa tính chi phí khấu hao tài sản cố định); Đến năm 2020 sẽ tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao TSCĐ.Nghị định số 16/2015/NĐ-CP cũng quy định, căn cứ vào tình hình thực tế, các đơn vị được thực hiện trước lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công Đối với nguồn NSNN cấp cho các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện chủ trương chuyển mạnh sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ, thì đây cũng được coi là nguồn thu của đơn vị để thực hiện tự chủ tài chính
Về tự chủ về tài chính: Nhằm khuyến khích các đơn vị phấn đấu vươn
lên tự chủ tài chính mức cao hơn, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định theo nguyên tắc: Đơn vị tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về quản
lý, sử dụng các kết quả tài chính và ngược lại(đi kèm theo đó là tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự) Tự chủ tài chính có các mức độ sau:
Tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Tự bảo đảm chi thường xuyên;
Tự bảo đảm một phần chi thường xuyên(do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí) và được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên(theo quy định không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp, chẳng hạn các trường tiểu học)
Về tự chủ trong chi đầu tư và chi thường xuyên: Các đơn vị được chủ
động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công lập (kể cả nguồn NSNN đấu thầu, đặt
Trang 28hàng), nguồn thu phí theo quy định được để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên Để tạo điều kiện khuyến khích các đơn vị tự chủ toàn diện về chi thường xuyên và chi đầu tư, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP bổ sung quy định các đơn vị này căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy
mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư Đơn vị sự nghiệp công lập được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền
Về chi tiền lương: Các đơn vị sự nghiệp chi trả tiền lương theo lương
ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn
vị sự nghiệp công lập Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không cấp bổ sung Đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn
vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung(nếu thiếu)
Về trích lập các Quỹ: Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản
chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị được sử dụng để trích lập các quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổ sung thu nhập; quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi.Ngoài ra, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP cũng cho phép các đơn vị được trích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật Mức trích các quỹ căn cứ
Trang 29vào mức độ tự chủ tài chính của đơn vị
Về tự chủ trong giao dịch tài chính: Đơn vị được mở tài khoản tiền
gửi tại ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công lập không sử dụng ngân sách nhà nước Lãi tiền gửi đơn vị được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào quỹ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành, không được bổ sung vào Quỹ bổ sung thu nhập Nghị định số 16/2015/NĐ-
CP cũng quy định, đơn vị sự nghiệp công lập được huy động vốn, vay vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật và phải có phương án tài chính khả thi để hoàn trả vốn vay; chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc huy động vốn, vay vốn Ngoài ra, cho phép đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định
Như vậy trọng tâm thực hiện đổi mới cơ chế tài chính sự nghiệp công lập là xây dựng giá, phí dịch vụ sự nghiệp công theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp nói chung Những đơn vị sự nghiệp công lập đã đủ điều kiện tự chủ thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự có thể chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, được Nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ công theo giá tính
đủ chi phí(có cả chi phí khấu hao tài sản) Trên cơ sở đó, xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách, lộ trình thực hiện thích hợp nhằm đổi mới cơ bản cơ chế tài chính, cơ chế nhân lực, lao động đối với khu vực sự nghiệp, xoá bỏ tận gốc cơ chế “xin-cho” và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập phát triển và nâng cao chất lượng
Trang 301.2.5 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, thực hiện có lộ trình xóa bỏ bao cấp qua giá và phí dịch vụ
Vấn đề tự chủ của các trường học là xu thế tất yếu của thế giới hiện nay, phản ánh xu thế dân chủ hóa trong quản lý của giáo dục nói chung, giáo dục CĐĐH nói riêng Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới khu vực sự nghiệp công lập theo Nghị định 43 đã được triển khai, cũng từng bước thực hiện tự chủ cho các cơ sở GDĐH, trước hết là tự chủ về mặt tài chính.Từ Nghị định
10 đến Nghị định 43, thực tiễn 10 năm qua cho thấy, đẩy mạnh việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục CĐĐH là hoàn toàn đúng đắn góp phần nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công; tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội được lựa chọn, tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng ngày càng cao; thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện.Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị định 43 theo cơ chế tự chủ về mặt tài chính của các trường học công lập ở Việt Nam hiện nay vẫn đang gặp những trở ngại Các đơn vị sự nghiệp chưa được giao quyền tự chủ một cách đầy đủ đặc biệt là tự chủ trong việc xác định các khoản thu, mức thu sự nghiệp, phí, lệ phí…, từ đó hạn chế quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc phát triển mở rộng, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công nhằm thu hút các nguồn lực xã hội, gia tăng nguồn lực tài chính của đơn vị, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động; chưa tạo động lực khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao hơn, giảm dần nhu cầu hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước tiến tới tự đảm bảo toàn bộ chi tiêu từ nguồn thu sự nghiệp của mình
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn, đã đặt ra yêu cầu cần phải cải cách mạnh mẽ hơn khu vực sự nghiệp công lập trong đó có khu vực GDĐH
Cơ chế tự chủ tài chính với những bất cập như: chưa được giao quyền tự chủ một cách đầy đủ, từ đó hạn chế quyền tự chủ thu nên không gia tăng nguồn
Trang 31thu tài chính từ xã hội, giảm dần nhu cầu hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước tiến tới tự đảm bảo toàn bộ chi tiêu từ nguồn thu sự nghiệp của mình Vì vậy, việc đổi mới quản lý khu vực sự nghiệp công lập, nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập, khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công lập vươn lên tự chủ ở mức cao, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước Từ đó nhà nước có thể dành thêm nguồn chăm lo tốt hơn cho các đối tượng chính sách, các đối tượng hộ nghèo, bảo trợ xã hội
Việc sửa đổi Nghị định số 43 để tăng cường tính tự chủ của đơn vị sự nghiệp tạo cho các đơn vị sự nghiệp hạch toán được đầy đủ, toàn diện, vươn lên tự chủ ở mức cao hơn, đồng thời cạnh tranh một cách minh bạch, công bằng với các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, thì vấn đề giá dịch vụ công và
lộ trình điều chỉnh giá là then chốt Đây là vấn đề khó, nhạy cảm, bởi nó có tác động lớn đến đời sống của đại đa số người dân, đặc biệt là đối với giá dịch
vụ GD&ĐT và dịch vụ y tế Vì vậy, để xử lý một phần mâu thuẫn này, cần có những quy định và nguyên tắc: trong quá trình điều chỉnh tính phí, lệ phí sang giá dịch vụ công
Nhà nước cần xây dựng lộ trình cụ thể theo: Thứ nhất, là phân loại đơn
vị sự nghiệp công lập dựa trên mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị cả
về chi thường xuyên và chi đầu tư; Thứ hai, là việc tự chủ trong thực hiện
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy nhân sự và tài chính được quy định tương ứng với từng loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, trên nguyên tắc các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động càng nhiều thì mức tự chủ càng cao để khuyến khích các đơn vị tăng thu, giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước, trong đó có bao cấp tiền lương tăng thêm để dần chuyển sang các loại hình đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư
Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, người nghèo để có thể tiếp cận sử dụng các dịch vụ công khi được chuyển sang giá
Trang 32dịch vụ
Như vậy, xuất phát từ lý luận và thực tiễn đã đặt ra vấn đề phải đổi mới
cơ chế hoạt động tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa thực hiện xóa bỏ bao cấp qua giá và phí dịch vụ Tuy nhiên, cũng như cải cách hành chính nhà nước hay cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, lộ trình, bước đi, mức độ thành công của quá trình này phụ thuộc rất nhiều vào sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, lãnh đạo các Bộ, ngành, chính quyền các địa phương và đặc biệt là phải được sự đồng thuận của xã hội, sự thông cảm, chia sẻ và ủng hộ của các phương tiện thông tin đại chúng
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
1.3.1 Định hướng đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xóa bỏ bao cấp qua giá và phí dịch vụ
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay, tất cả các thành phần kinh tế đều phải tiến hành đổi mới và cải cách để nâng cao năng lực cạnh tranh Không thể nằm ngoài xu thế này, đối với đơn vị sự nghiệp công lập cũng đang trên lộ trình đổi mới toàn diện, hướng đến việc cung cấp dịch vụ công cao hơn có chất lượng cao hơn Chủ trương của Đảng và Nhà nước về
vấn đề này được cụ thể hóa qua các văn bản: Thông báo số 37- TB/TW ngày
26 tháng 5 năm 2011 của Bộ chính trị kết luận về đề án đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số :16/2015/NĐ - CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp cônglập Quan điểm khi xây dựng nghị định 16để tự chủ tài chính, đơn vị sự
nghiệp công lập phải xác định được chi phí đào tạo để đưa ra mức giá dịch vụ đào tạo phù hợp, tính toán được hiệu quả tài chính, nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới
Trang 33Bộ Tài chính cho biết, quan điểm, mục tiêu đổi mới cơ chế của đơn vị
sự nghiệp công lập là nhằm đổi mới toàn diện các đơn vị sự nghiệp công lập; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị đồng bộ
cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính; đơn vị tự chủ cao về tài chính thì được tự chủ cao trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính
Bên cạnh đó, phải phân định rõ các nhóm đơn vị và loại hình dịch vụ
sự nghiệp công lập để có bước đi và lộ trình phù hợp xóa bỏ bao cấp qua giá, từng bước tính đủ chi phí; Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách sử dụng dịch vụ sự nghiệp công lập; đổi mới phương thức chi từ ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp theo phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật
Kết quả đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập phải hướng tới việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công tốt hơn cho các tầng lớp nhân dân và đảm bảo cho các đối tượng chính sách và người nghèo được tiếp cận
và hưởng thụ các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu với chất lượng cao hơn, công bằng hơn
Đồng thời xây dựng lộ trình để xóa bỏ bao cấp qua giá, phí cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; theo hướng giá dịch vụ sự nghiệp công từng bước tính đủ tiền lương, chi thường xuyên theo lộ trình phù hợp với khả năng của NSNN và thu nhập của người dân, tạo điều kiện cơ cấu lại NSNN, thực hiện chính sách cải cách tiền lương Nhà nước; đồng thời tiếp tục hỗ trợ cho các đối tượng chính sách, các đối tượng nghèo sử dụng dịch vụ sự nghiệp công lập Đổi mới phương thức cấp phát kinh phí từ ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo hình thức đặt hàng, đơn giá được cấp có thẩm quyền quy định,
để các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ về chi phí thường xuyên…
Nghị định có một số nội dung mới liên quan tới quy định về tự chủ tài
Trang 34chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đối với tự chủ thu, giá, phí là vấn đề hết sức quan trọng đối với đơn vị sự nghiệp công lập, nhưng lại là nội dung
mà Nghị định 43 chưa giải quyết Để khắc phục, Nghị định số
16/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể về giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công lập, danh mục dịch vụ sự nghiệp công; đồng thời phân định dịch vụ sự nghiệp công lập sử dụng kinh phí NSNN và dịch vụ sự nghiệp công lập không sử dụng kinh phí NSNN như sau:
Một là: Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công lập không sử dụng kinh phí
NSNN: Đơn vị được tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trường
Hai là: Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công lập sử dụng kinh phí
NSNN: Nhà nước ban hành danh mục và định giá; đồng thời quy định lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công lập để phù hợp với khả năng của NSNN và thu nhập của người dân như sau: Đến năm 2016: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp(chưa tính chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định); Đến năm 2018: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý(chưa tính chi phí khấu hao tài sản cố định); Đến năm 2020: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao TSCĐ
Nghị định 16 cũng quy định, căn cứ vào tình hình thực tế, các đơn vị được thực hiện trước lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công lập
Đối với nguồn NSNN cấp cho các đơn vị sự nghiệp, thực hiện chủ trương chuyển mạnh sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ, thì đây cũng được coi là nguồn thu của đơn vị để thực hiện tự chủ tài chính
Bên cạnh đó, nhằm khuyến khích các đơn vị phấn đấu vươn lên tự chủ mức cao hơn, Nghị định 16 quy định theo nguyên tắc: Đơn vị tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về quản lý, sử dụng các kết quả tài chính
và ngược lại(đi kèm theo đó là tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự) Theo đó, mức độ tự chủ tài chính có các mức độ sau: Tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; Tự bảo đảm chi thường xuyên; Tự bảo đảm
Trang 35một phần chi thường xuyên(do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu
đủ chi phí); Được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên(theo quy định không
có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp, chẳng hạn các trường tiểu học)
Một điểm quan trọng ở Nghị định mới là để tạo điều kiện khuyến khích các đơn vị tự chủ toàn diện về chi thường xuyên và chi đầu tư, Nghị định 16
bổ sung quy định các đơn vị này căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư
đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư
Đơn vị sự nghiệp công lập được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền
Chính vì thế, sự ra đời của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP nhằm tăng cường tính tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập sẽ buộc các đơn vị này phải năng động hơn, có cơ chế chi trả lương thỏa đáng để thu hút người tài làm việc, đồng nghĩa với việc tăng tính cạnh tranh giữa các đơn vị Đồng thời cũng là một giải pháp lớn để tăng cường cải cách thủ tục hành chính phục vụ
người dân và doanh nghiệp
1.3.2 Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước có liên quan
- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
- Thông tư số 71/2006/TT- BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ - CP của Chính phủ
Trang 36- Thông báo số 37- TB/TW ngày 26 tháng 5 năm 2011 của Bộ chính trị kết luận về đề án đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công lập
- Nghị định số 55/2012/NĐ - CP ngày 28 tháng 06 năm 2012 quy định
về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập
- Nghị quyết số 77/NQ - CP ngày 24 tháng 10 năm 2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn
2014 – 2017
- Nghị định số16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
1.3.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy và các hoạt động của đơn vị
Đặc điểm tổ chức bộ máy là các hoạt động của đơn vị tác động đến cơ chế quản lý tài chính và chịu tác động ngược lại của cơ chế quản lý tài chính Hoạt động thu, chi tài chính, phân bổ và sử dụng nguồn lực trong từng thời kỳ phụ thuộc vào hoạt động chuyên môn của đơn vị Các yếu tố này sẽ phát triển hoặc hạn chế phụ thuộc vào định hướng hoạt động của bộ máyđơn vị Ngược lại tài chính phải đảm bảo cho bộ máy vận hànhvà các hoạt động khác hiệu quả
Đặc điểm hoạt động của đơn vị quyết định xu hướng tự chủ: Phát triển thu sự nghiệp hay thực hiện nhiệm vụ chính trị được nhà nước giao do đó nhà nước phải cấp ngân sách
Theo quy định hiện nay, cơ chế tự chủ đã cho phép đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập hay sáp nhập, giải thể các tổ chức sự nghiệp trực thuộc để thực hiện hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động cụ thể cho các tổ chức trực thuộc này Những công việc cần bố trí lao động thường xuyên, tuỳ theo mức độ tự chủ về kinh phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp công lập được quyền quyết định biên chế lao động của đơn vị ở các mức độ khác nhau Những đơn vị sự nghiệp công lập đã tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động sẽ được quyền quyết định hoàn toàn về biên
Trang 37chế, hình thức tuyển dụng lao động cho đơn vị mình Những đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động hay do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động, số biên chế lao động tại đơn vị do cơ quan chủ quản trực tiếp quyết định trêncơ sở định mức biên chế hàng năm được giao và
kế hoạch biên chế hàng năm do đơn vị xây dựng Những công việc không cần
bố trí lao động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập được quyền quyết định ký hợp đồng thuê, khoán; ký hợp đồng hợp tác khác với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị
Cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công, năm 2012 Chính phủ
đã có kế hoạch thực hiện việc đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công Theo đó cùng với việc đánh giá kết quả tổ chức, hoạt động của các đơn
vị sự nghiệp công lập, lựa chọn thí điểm một số đơn vị sự nghiệp thuộc các lĩnh vực GD&ĐT, y tế, khoa học công nghệ… thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính theo hướng đặt hàng cung ứng dịch vụ Việc kiện toàn
tổ chức, bộ máy, biên chế nhằm phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm cao nhất, tính tự chủ của mỗi đơn vị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công việc trong quản lý Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Với mục tiêu thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc của đơn vị sự nghiệp công lập chống lãng phí khi sử dụng kinh phí nhà nước cấp Chính vì vậy, cơ chế tự chủ đã tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị sự nghiệp công lập có quyền chủ động hơn về biên chế, quản lý, sử dụng lao động khi hoàn thiện tổ chức bộ máy Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp công lập được làm việc thực sự, được quyền quyết định về nhân sự nói chung Để nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ, các đơn vị được chủ động xây dựng phương án sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, giảm những phòng, ban có chức năng trùng lặp, chồng chéo; xây dựng cơ cấu, chức danh viên chức nhằm
Trang 38nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ lao động; chủ động ký kết các hợp đồng lao động phù hợp với khối lượng công việc và khả năng nguồn tài chính, giảm dần áp lực về biên chế, tháo gỡ cho các đơn vị có nhu cầu lao động lớn nhưng được giao biên chế thấp Từ đó tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập, áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về bộ máy sẽ có thể đưa lại hiệu năng quản lý, đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
1.3.4 Bộ máy kế toán tài chính của đơn vị
Cơ chế quản lý trong mỗi thời kỳ sẽ chi phối đến tổ chức bộ máy quản
lý nói chung, tổ chức bộ máy kế toán nói riêng Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn,
cơ chế này có sự khác nhau; chính vì vậy, tổ chức bộ máy kế toán với tư cách
là một sản phẩm của cơ chế quản lý cũng có sự khác nhau
Tổ chức bộ máy kế toán là sắp xếp, bố trí, phân công việc cho những người làm công việc kế toán trong đơn vị, sao cho bộ máy kế toán phù hợp với quy mô hoạt động và yêu cầu quản lý của đơn vị
Tại các trường cao đẳng công lập, công việc kế toán thường được phân chia thành các bộ phận công tác cụ thể như sau: Bộ phận kế toán vốn bằng tiền, bộ phận kế toán tài sản,vật tư, bộ phận kế toán thanh toán, bộ phận kế toán nguồn kinh phí và các quỹ, bộ phận kế toán các khoản thu, bộ phận kế toán các khoản chi, bộ phận kế toán kết quả và phân phối kết quả tài chính
Nội dung công việc kế toán bao gồm: Lập chứng từ kế toán, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm tra và phân tích số liệu kế toán và lưu trữ tài liệu kế toán Bộ máy kế toán tài chính được xây dựng trên cơ sở khối lượng công tác kế toán Thông thường căn cứ vào quy mô, địa bàn hoạt động, cơ sở
hạ tầng, trình độ quản lý cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bộ máy kế toán mà phân cấp quản lý tài chính trong nội bộ đơn vị sự nghiệp Cơ chế quản lý tài chính quyết định việc tổ chức bộ máy kế toán, chế độ hạch toán kế toán Đồng thời bộ máy này là một công cụ để triển khai các nội dung
Trang 39của cơ chế chính sách liên quan đến tổ chức tài chính Bộ máy này quyết định việc thực hiện cơ chế này thành công hay không
1.4 Kinh nghiệm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính của các đơn
vị sự nghiệp giáo dục công lập
1.4.1 Kinh nghiệm của một số trường đại học thực hiện tự chủ về tài chính
* Kinh nghiệm của Trường Đại học Ngoại Thương:
Từ năm 2005, Trường Đại học Ngoại Thương là một trong 5 trường được
Bộ GD&ĐT giao nhiệm vụ thí điểm thực hiện tự chủ tài chính và bị cắt giảm kinh phí chi thường xuyên Tại thời điểm này, nhà trường cũng đã xây dựng phương án tự chủ với lộ trình 2005 đến 2010 Sau 3 năm từ 2005 đến 2007, Nhà nước đã cắt giảm dần NSNN cấp chi thường xuyên Ngày 26/3/2008, Bộ GD&ĐT đã ra văn bản về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, trong đó nêu rõ việc phân loại cho Trường đại học Ngoại thương thuộc loại đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên Đây thực sự là thách thức lớn với nhà trường, nhất là trong điều kiện khung học phí chưa tăng nhưng mọi chi phí đào tạo đều tăng tại thời điểm đó Trải qua gần 7 năm thực hiện thí điểm tự chủ tài chính và hơn 4 năm thực hiện tự chủ tài chính toàn phần, trường Đại học Ngoại thương đã nỗ lực không ngừng để khắc phục những khó khăn cũng như phát huy được những thuận lợi mà cơ chế tự chủ tài
chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP mang lại
Bảng 1.1 Số liệu thu sự nghiệp giai đoạn 2008-2011
Trang 40Để tồn tại được, nhà trường đã đưa ra các giải pháp để tăng nguồn thu, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí và tính đến hiệu quả của mọi hoạt động như:
đa dạng hóa và chuẩn hóa lại các chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội; tăng cường các chương trình liên kết với nước ngoài, thu hút sinh viên quốc tế; tuyển thêm chỉ tiêu ngoài ngân sách; huy động tài trợ từ doanh nghiệp; thu hút các nguồn tài trợ từ các dự án( tuy nhiên, cũng có một số khoản thu chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng thu của nhà trường là những khoản thu chưa chắc chắn
và thiếu bền vững như: chỉ tiêu ngoài ngân sách, sinh viên quốc tế, tài trợ từ doanh nghiệp); tiết kiệm và nâng cao hiệu quả quản lý(vận dụng, tổ chức sắp xếp lại bộ máy theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, hợp lý hóa quy trình giảng dạy
và làm việc; tính toán, xây dựng lại định mức khoán một số khoản chi cho các đơn vị như tiền điện thoại, văn phòng phẩm, thiết bị…) Nhờ các biện pháp trên mà nhà trường vẫn duy trì được các hoạt động đào tạo và đảm bảo thu
nhập của cán bộ, giảng viên
*Kinh nghiệm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh:
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng nguồn kinh phí tăng cường cơ sở vật chất do NSNN cấp, giảm hơn 50% so với trước khi thực hiện tự chủ và một phần kinh phí từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để đảm bảo các điều kiện dạy và học, từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trong giai đoạn thực hiện tự chủ tài chính, nguồn kinh phí cấp từ NSNN giảm dần và chỉ chiếm khoảng 7% nhu cầu chi thường xuyên Trong hoàn cảnh đó, trường vẫn đảm bảo được cân đối thu, chi, duy trì các hoạt động chi thường xuyên và từng bước triển khai các hoạt động theo chiến lược đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học tại trường Cơ chế
tự chủ đã góp phần tăng cường trách nhiệm của cán bộ, viên chức trong việc đảm bảo cân đối tài chính hàng năm Nguồn thu của trường được tăng cường