Trong những năm qua, công ty đã quan tâm đến vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản và đạt được những thành công nhất định như đủ khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tài sản của mình, trích k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THỊ NGỌC
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN GIẢI
PHÁP ĐA PHƯƠNG TIỆN
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯU ANH ĐỨC
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN
Trang 3Hà Nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả đƣa ra trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua những năm tháng học tập chương trình đào tạo sau đại học, Tôi đã được trang bị những kiến thức vô cùng quý báu, làm hành trang bước vào cuộc sống và quá trình công tác Nhân dịp hoàn thành quyển luận văn, tôi xin gửi gắm lời biết ơn chân thành đến quý Thầy, Cô Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian theo học lớp Tài chính ngân hàng 3, niên khóa 2014-2016
Xin cảm ơn chân thành đến TS Lưu Anh Đức đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Ban Lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi để hoàn thành quyển luận văn
Trân trọng!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 3
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 7
1.2.1 Khái niệm, phân loại doanh ngiệp 7
1.2.2 Tài sản trong doanh nghiệp 8
1.3 Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 13
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp 13
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản 15
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản 21
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 28
2.2 Thu thập tài liệu 28
2.3 Xác định câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 29
2.4 Lập thiết kế nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Lập thiết kế nghiên cứu 29
2.4.2 Xác định phương pháp nghiên cứu 29
2.5 Tiến hành nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP ĐA PHƯƠNG TIỆN 33
3.1 Giới thiệu về công ty TNHH giải pháp đa phương tiện 33
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện 33
3.1.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty 35
Trang 63.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh 40
3.2 Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện 47
3.2.1 Thực trạng sử dụng tài sản 47
3.2.2 Thực trạng sử dụng tài sản ngắn hạn 49
3.2.3 Thực trạng sử dụng tài sản dài hạn 53
3.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản 55
3.3.1 Thực trạng hiệu quả sử dụng tổng tài sản 56
3.3.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 57
3.3.3 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn 61
3.4 So sánh với một số công ty trong ngành 63
3.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản 65
3.5.1 Kết quả đạt được 65
3.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 67
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP ĐA PHƯƠNG TIỆN 73
4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện 73
4.1.1 Định hướng phát triển của công ty TNHH giải pháp đa phương tiện trong những năm tiếp theo 73
4.1.2 Mục tiêu phát triển của công ty TNHH Giải pháp đa phương tiện 74
4.1.3 Một số kế hoạch phát triển cụ thể của Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện trong những năm tới 75
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện 77
4.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 77
4.2.2 Giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn 81
4.2.3 Một số giải pháp khác 84
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Doanh thu một số hoạt động chủ yếu của công ty
2 Bảng 3.2 Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Giải pháp đa
3 Bảng 3.3 Cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty TNHH Giải
4 Bảng 3.4 Cơ cấu tài sản dài hạn của công ty TNHH Giải pháp
5 Bảng 3.5 Hệ số hao mòn TSCĐ của Công ty TNHH giải pháp
6 Bảng 3.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
của Công ty TNHH giải pháp Đa phương tiện 51
8 Bảng 3.8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng TSDH tại
công ty TNHH Giải pháp đa phương tiện 56
9 Bảng 3.9
Hiệu quả sử dụng tài sản của một số công ty cùng ngành với công ty TNHH Giải pháp Đa phương tiện trong năm 2015
58
10 Bảng 3.10 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH giải pháp đa
Trang 911 Bảng 3.11 Vốn ngắn hạn ròng tại Công ty TNHH giải pháp đa
12 Bảng 3.12
Kế hoạch và thực hiện các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH Giải pháp đa phương tiện
62
13 Bảng 4.1
Mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty TNHH Giải pháp đa phương tiện (2016-2018)
69
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty 35
2 Hình 3.2 Quy trình kinh doanh của Công ty giải pháp đa
3 Hình 3.3 Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Giải pháp đa
4 Hình 3.4 Tình hình tài sản dài hạn của công ty TNHH Giải
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu, vấn đề sử dụng tài sản trở thành một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý của công ty
Sử dụng tài sản một cách hiệu quả giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và làm tăng giá trị tài sản chủ sở hữu của công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện là một công ty kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo, truyền thông Trong những năm qua, công ty đã quan tâm đến vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản và đạt được những thành công nhất định như đủ khả năng thanh toán các khoản nợ bằng tài sản của mình, trích khấu hao theo đúng quy định, sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả.Trong quá trình phát triển, Công ty đã xây dựng được mối quan hệ tốt với khách hàng trong và ngoài nước, luôn đảm bảo cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất đồng thời chú trọng vào việc đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ để trở thành một trong những công
ty hàng đầu trong lĩnh vực tổ chức và xúc tiến thương mại Nhờ đó, khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của công ty ngày càng được nâng cao Bên cạnh những kết quả đạt được thì việc sử dụng tài sản của công ty vẫn còn nhiều hạn chế Chính vì thế, việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, phân tích những thành công và những tồn tại của công tác sử dụng tài sản, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty trong thời gian tới là vấn đề mang tính cấp thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn: “Hiệu quả sử dụng tài sản tại
Công ty trách nhiệm hữu hạn đa phương tiện” làm đề tài luận văn Thạc sỹ
2 Câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu vậy nên luận văn hướng tới việc tập trung giải quyết các câu hỏi sau:
Hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp là gì?
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp?
Trang 12Đánh giá như thế nào về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH Giải pháp
đa phương tiện?
Có những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH Giải pháp đa phương tiện?
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
b Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện;
Về thời gian: Giai đoạn 2013 – 2015;
Về nội dung: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn chia làm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài
sản của doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn
giải pháp đa phương tiện
Chương 4: Một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp luôn là vấn đề then chốt trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay Phân tích về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp đến nay đã được nghiên cứu rất nhiều
Về góc độ lý thuyết, Mariotti và Glackin Caroline (2012) đã đề cập đến các chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại tài sản trong doanh nghiệp, đồng thời phân tích các điểm mạnh, điểm yếu và giải pháp trong việc sử dụng tài sản của các doanh nghiệp nhỏ Leopold A.Bernstein (2011) nghiên cứu về các nội dung liên quan đến phân tích các loại báo cáo tài chính, trong đó cũng phân tích các chỉ số về hiệu quả sử dụng tài sản, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản Shirley Reed (2015) đã trình bày tầm quan trọng của việc quản lý từng khoản mục tài sản như tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định đồng thời đưa ra các chiến lược quản lý vòng quay tài sản nhằm giảm chi phí vốn Kevin Kaiser và S David Young (2009) đã nêu sáu sai lầm trong quản trị vốn lưu động được đúc rút từ nghiên cứu hoạt động của các công ty và tập đoàn lớn trên thế giới (quản lý bằng báo cáo thu nhập, khen thưởng lực lượng bán hàng chỉ vì tốc độ tăng trưởng đạt được, Áp dụng
hệ số thanh toán nợ hiện tại và hệ số thanh toán nợ nhanh, quá chú trọng đến chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất, lấy đối thủ làm chuẩn, quản lý các khoản phải thu theo các khoản phải trả)
Các tài liệu nghiên cứu về lý thuyết thường thiên về làm rõ khái niệm tài sản
và hiệu quả sử dụng tài sản, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sử dụng tài sản Một số nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng tài sản đối với doanh nghiệp nói riêng, cũng như sự phát triển của cả nền kinh tế Các nghiên cứu sau khi nghiên cứu
lý luận, đều tính toán và đưa ra những bằng chứng xác thực về những đóng góp của hoạt động này đối với các doanh nghiệp Những nghiên cứu định lượng này cung
Trang 14cấp kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp nói chung và cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp đa phương tiện nói riêng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cũng như cung cấp cho các nhà quản lý định hướng trong việc ban hành chính sách liên quan đến sự phát triển, mở rộng của hoạt động sử dụng tài sản
Phân tích thực nghiệm về hoạt động sử dụng tài sản của doanh nghiệp cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu tại Việt Nam và có thể chia thành hai nhóm chính
Nhóm thứ nhất phân tích hiệu quả sử dụng tài sản dựa trên việc khảo sát một nhóm doanh nghiệp tại cùng một thời điểm để đưa ra kết quả Phan Hồng Mai (2012) đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng nói chung, trong đó tập trung làm rõ khái niệm “Quản lý tài sản tại doanh nghiệp” và chi tiết các công việc cần giải quyết, với thời điểm bắt đầu và kết thúc cụ thể Trên cơ sở lý luận đó, bằng các phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng tác giả đã phân tích thực trạng quản lý tài sản tại 104 Công ty cổ phần ngành xây dựng đã niêm yết tại Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2010 qua các chỉ tiêu về quản lý tiền, quản lý các khoản phải thu, quản lý hàng tồn kho và quản lý tài sản cố định Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được là : (i) năng lực thanh toán khá tốt ; (ii) ROA bình quân ngành cao và đặc biệt trong năm 2010 cao hơn các công ty
cổ phần niêm yết của các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng, tài chính và viễn thông Bên cạnh đó là những hạn chế như : (i) kỳ thu tiền bình quân dài ; (ii) khả năng thanh toán có xu hướng giảm thấp ; (iii) hệ số sinh lời tài sản cố định nhỏ ; (iv) ROA có xu hướng giảm Từ đó, tác giả khuyến nghị những giải pháp tăng cường quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành niêm yết như sau :(i) Ứng dụng mô hình Miller – Orr vào quản lý ngân quỹ ; (ii) sử dụng kết hợp phần mềm trong quản
lý và kế toán công nợ, hàng tồn kho và tài sản cố định Lê Xuân Hải (2013) đã khảo sát và tìm hiểu 60 doanh nghiệp trong thời gian từ 2011- 2012 và đưa ra một số giải pháp chính, đó là: (i) Đối với tài sản ngắn hạn: Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, hàng tồn kho ; (ii) Đối với tài sản dài hạn: đầu tư đúng hướng, tăng cường hoạt động bảo trì, bảo dưỡng, nâng cao trách nhiệm của người quản lý… Vương Đức
Trang 15Hoàng Quân (2014) đã khảo sát 100 doanh nghiệp, giai đoạn 2006- 2012 cho thấy
tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) có quan hệ thuận lợi với hệ số nợ (LEV) Tác giả dựa trên hiệu suất kinh doanh, qui mô và tài sản của doanh nghiệp đưa ra kết luận các doanh nghiệp có nội lực tốt thể hiện trên hiệu suất sử dụng tài sản để sinh lời có tỷ lệ nợ thấp hơn Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014)
đã thực hiện nghiên cứu tại 180 công ty trong giai đoạn 2010 đến 2013, cho thấy có
3 nhân tố tác động mạnh đến lợi nhuận của doanh nghiệp đó là: Điều kiện riêng của tài sản, tài sản cố định hữu hình, tính thanh khoản của tài sản Trên cơ sở tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận
Nhóm thứ hai tập trung phân tích hiệu quả sử dụng tài sản tại một doanh nghiệp cụ thể Đào Thị Thu Huyền (2012) tập trung đánh giá thực trạng, phân tích tình hình sử dụng tài sản tại Công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng, doanh nghiệp thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm phần lớn trong nền kinh tế nước ta Nguyễn Văn Phú (2011) đã kết hợp phương pháp nghiên cứu khoa học giữa lý thuyết và thực tiễn, từ đó góp phần phân tích và đánh giá thực trạng, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Y tế Domesco Bùi Văn Luyện (2012) đã nhận thức được vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không chỉ trong lý luận mà cả thực tiễn nên tác giả đã nghiên cứu và phân tích được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Thép và vật tư Hải Phòng Do tình hình thị trường bất động sản đóng băng nên tình hình kinh doanh và đặc biệt là hệ số sinh lợi của tài sản ở các công ty thép là rất thấp, bên cạnh đó công ty Thép và vật tư Hải Phòng còn nhược điểm như bị chiếm dụng công nợ nhiều, công tác đánh giá tài sản ít, chưa theo sát tình hình sản xuất…Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cho công ty Nguyễn Thị Thanh Hằng (2014) đã trình bày các chỉ tiêu
về tình hình tài chính của công ty Xây dựng 123 như các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng thanh toán, sinh lời, dự đoán xu hướng về tình hình biến động tài chính của công ty diễn ra trong những năm tiếp theo Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất các giải pháp nâng cao hơn hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty xây dựng
Trang 16123 nói riêng và các công ty trong ngành xây lắp nói chung Nguyễn Thị Tuyết Nga (2008) xuất phát từ cơ sở lý luận của vốn và cơ cấu vốn trong doanh nghiệp tác giả
đã nghiên cứu thực trạng cơ cấu vốn của Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4
từ năm 2005 đến 2007, chỉ ra những tác động tiêu cực của cơ cấu vốn không hợp lý đối với kết quả kinh doanh của công ty này Từ đó tác giả đã đề xuất giải pháp để đổi mới cơ cấu vốn cho công ty này
Trong những năm qua, có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động sử dụng tài sản của doanh nghiệp nói chung cũng như đề cập đến một số khía cạnh khác nhau trong công cuộc hội nhập kinh tế toàn cầu hóa Những nghiên cứu đó đã tìm tòi, sáng tạo – những bước tiến quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn của phạm vi lĩnh vực mà các công trình nghiên cứu, tập trung chủ yếu là: những vấn đề lý luận chung về tài sản của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng tài sản đối vơi các doanh nghiệp công nghiệp, xây dựng…; Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản và qua đó đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần khác nhau trong nền kinh tế Tuy nhiên đối với lĩnh vực truyền thông, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, một cách có hệ thống vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản của các doanh nghiệp ngành truyền thông nhằm nâng cao thêm một bước hiệu quả
sử dụng tài sản của các doanh nghiệp này trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến chuyển sâu sắc hiện nay Đây chính là động lực thúc đẩy tác giả luận văn tập trung nghiên cứu trong đề tài này
Luận văn này kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, đồng thời tập trung làm nổi bật các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp đa phương tiện Phân tích thực trạng, tìm ra những mặt hạn chế trong quá trình sử dụng tài sản thời gian qua, đặc biệt đi sâu phân tích nguyên nhân dẫn đến những hạn chế ấy, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong Công ty trách nhiệm hữu hạn đa phương tiện trong các năm tới
Trang 171.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, phân loại doanh ngiệp
1.2.1.1 Khái niệm
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp 2014: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
1.2.1.2 Phân loại
Việc phân loại doanh ngiệp nhằm các mục đích khác nhau và được dựa trên các tiêu chí khác nhau Từ góc độ nghiên cứu, việc phân loại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản một cách chính xác
Có nhiều căn cứ để phân loại doanh nghiệp như căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích hoạt động của doanh nghiệp; Phân loại theo cơ cấu nhà đầu tư và phương thức
góp vốn; Phân loại theo tư cách pháp lý của doanh nghiệp
Nếu căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp thì có thể phân loại doanh nghiệp thành:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp
mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ
sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
Trang 18sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi
cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định
1.2.2 Tài sản trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm
Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế: Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, là kết quả của những hoạt động trong quá khứ, mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý
Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam số VAS01: Tài sản là nguồn lực mà doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai của doanh nghiệp
- Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thực hiện trong các trường hợp như:
+ Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng
+ Để bán hoặc trao đổi với các tài sản khác
+ Để thanh toán các khoản nợ phải trả
+ Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp
- Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như tiền, hàng tồn kho, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, … hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế… nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp
Trang 19- Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các loại tài sản không thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính; hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thoả mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế
- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản
Thông thường, khi các khoản chi phí phát sinh sẽ tạo ra tài sản Đối với các khoản chi phí không tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai thì không tạo ra tài sản; hoặc có trường hợp không phát sinh chi phí nhưng vẫn tạo ra tài sản, như nhận vốn góp liên doanh, tài sản được cấp, được biếu tặng
1.2.2.2 Phân loại
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà có nhiều cách thức phân loại tài sản của doanh nghiệp như sau:
Phân loại theo chu kỳ sản xuất: Tài sản cố định và tài sản lưu động;
Phân loại theo đặc tính cấu tạo vật chất: Tài sản hữu hình và tài sản vô hình; Phân loại theo kết cấu: Tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tìm hiểu sâu hơn về cách thức phân loại tài sản theo kết cấu bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đó là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạn
Khái niệm: Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi
và luân chuyển giá trị trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 20Thành phần kết cấu của tài sản ngắn hạn:
Tiền và các khoản tương đương tiền: Là số tiền hiện có thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng (không kỳ hạn), tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền (các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành lượng tiền xác định và không rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo)
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Gồm các khoản đầu tư chứng khoán
ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn khác và các khoản dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Tỷ lệ khoản đầu tư tài chính ngắn hạn phụ thuộc vào từng thời kỳ và quan điểm chỉ đạo sản xuất kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp
Các khoản phải thu ngắn hạn: Được hiểu là số tiền mà doanh nghiệp phải
thu hồi trong thời hạn tối đa 12 tháng Gồm các khoản phải thu của khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ ngắn hạn, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, các khoản phải thu khác, dự phòng các khoản phải thu khó đòi…
Hàng tồn kho: Là tài sản doanh nghiệp mua vào hay sản xuất ra để tiếp tục
chờ xuất dùng cho sản xuất hay chờ để bán trong một thời kỳ nhất định Gồm nhiều loại như: NVL, hàng hóa, thành phẩm…
Tài sản ngắn hạn khác: Gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được
khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu của Nhà nước và tài sản ngắn hạn khác
Tài sản dài hạn
Khái niệm: Tài sản dài hạn là những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Thành phần kết cấu của tài sản dài hạn:
Các khoản phải thu dài hạn: Gồm phải thu dài hạn của khách hàng, vốn kinh
doanh của đơn vị trực thuộc, phải thu dài hạn nội bộ, phải thu dài hạn khác, dự phòng phải thu dài hạn khó đòi
Trang 21Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho
các hoạt động của doanh nghiệp và phải thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ sử dụng tài sản đó
Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy
Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
Có giá trị từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên
Trong quá trình tồn tại và sử dụng , hình thái hiện vật ban đầu của TSCĐ hầu như không thay đổi, nhưng giá trị và giá trị sử dụng bị giảm dần TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp với vai trò là tư liệu lao động chủ yếu
Tài sản cố định theo hình thái biểu hiện gồm: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn
ghi nhận TSCĐ hữu hình (Chuẩn mực kế toán số 03- Tài sản cố định hữu hình, ban hành
và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tài sản cố định vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận
TSCĐ vô hình (Chuẩn mực kế toán số 14- Tài sản cố định vô hình, Ban hành và
công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Căn cứ vào tình hình sử dụng : TSCĐ được chia thành TSCĐ đang sử dụng , TSCĐ chưa sử dụng,̣ TSCĐ ngừng sử dụng vì lý do thời vụ hoặc để sửa chữa lớn và TSCĐ chờ thanh lý, nhượng bán
Bất động sản đầu tư: là những bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà
hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp
Trang 22hàng hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường
Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai
+ Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi phí
giao dịch liên quan khác (Chuẩn mực kế toán số 05- Bất động sản đầu tư, ban hành
theo QĐ số 234/2003/QĐ- BTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tài sản tài chính dài hạn: phản ánh tổng giá trị các khoản đầu tư tài chính
dài hạn tại thời điểm báo cáo như: Đầu tư vào công ty con; Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh; Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn
có kỳ hạn còn lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Tài sản dài hạn khác: gồm Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập
hoãn lại, tài sản dài hạn khác
1.2.2.3 Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều có một phương thức và hình thức kinh doanh khác nhau nhưng mục tiêu của họ vẫn là tạo ra lợi nhuận cho mình Điều đó chỉ đạt được khi tài sản của doanh nghiệp được quản lý và
sử dụng một cách hợp lý Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì vai trò của tài sản vô cùng quan trọng Tài sản bao gồm sức lao động của con người, hệ thống cơ
sở vật chất, công nghệ máy móc, Nếu Công ty không có tài sản hoặc tài sản không
đủ thì không thể kinh doanh thương mại tốt, làm ảnh hưởng đến uy tín và lợi nhuận của Công ty đem lại những ảnh khó khăn cho doanh nghiệp Tài sản được hiểu là yếu tố đầu tiên và không thể thiếu trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để quản lý tài sản đạt hiệu quả thì doanh nghiệp phải hiểu và đánh giá đúng về tài sản, trên cơ sở đó ra các biện pháp quản lý phù hợp với từng loại
Trang 23Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì TSNH thường chiếm một
tỷ lệ khá cao, thường chiếm khoảng 50% - 60% tổng tài sản của doanh nghiệp TSNH giúp doanh nghiệp xoay vòng vốn nhanh hơn và giảm chi phí sử dụng vốn TSNH phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư Nhu cầu dự trữ vật tư ở các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu vốn lưu động cao hay thấp Vật tư được luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh TSNH sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian ở các khâu có hợp lý hay không và mức độ luân chuyển vốn lưu động đã đạt yêu cầu hay chưa Thông qua sự vận động của TSNH để đánh giá tình hình dự trữ tiêu thụ sản phẩm, tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Ngoài ra TSNH còn thể hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp
TSDH tham gia trực tiếp vào chu kỳ sản xuất TSDH chỉ có thể được đem ra thay thế hay sửa chữa lớn khi mà chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc chúng không còn mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp TSDH hay máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất chính là yếu tố để xác định quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Ở góc độ vĩ mô, TSDH là điều kiện tăng năng suất lao động xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân TSDH về mặt cơ sở hạ tầng, cơ sở kỹ thuật đánh giá một nền kinh tế có vững mạnh hay không
TSNH và TSDH được quản lý và sử dụng tốt, điều này sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi thế trên thị trường Một doanh nghiệp được đánh giá là quản
lý tài sản tốt, có hiệu quả khi mà doanh nghiệp biết phân phối tài sản một cách hợp
lý cho các quyết định của mình và qua đó thì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp Yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là họ cần phải có sự quản lý
và sử dụng có hiệu quả tài sản nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và vững mạnh
1.3 Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
Hiệu quả theo nghĩa chung nhất được hiểu là những lợi ích về mặt kinh tế và
xã hội do một hoạt động nào đó mang lại hay nói cách khác hiệu quả gồm hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Trang 24Hiệu quả xã hội là những lợi ích đạt được về mặt xã hội do một hoạt động nào đó đem lại Ví dụ như hiệu quả xã hội của hoạt động thương mại tạo nên đó là việc thoả mãn những nhu cầu vật chất, văn hoá, tinh thần cho xã hội, là sự góp phần cân đối cung cầu, ổn định giá cả và thì trường, là việc mở rộng giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các vùng hoặc các nước hoặc tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Hiệu quả kinh tế (hiệu quả kinh doanh) là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất, hay nói cách khác hiệu quả kinh tế đó là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào hoặc giữa kết quả với chi phí gắn liền với hoạt động kinh doanh nào đó
Chi phí
Hoặc
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả Yếu tố đầu vào
Cách đánh giá này được hầu hết các nhà kinh tế công nhận và được sử dụng rộng rãi trong thực tế Nó cho phép đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời còn so sánh được hiệu quả của các năm hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau
Về mặt lượng, hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao
Về mặt chất, việc đạt hiệu quả cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý đồng thời cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế và đạt được những mục tiêu xã hội.Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng, nó là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
Trang 25Như vậy, ″Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí″
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cần xem xét các chỉ tiêu về hiệu quả của tổng tài sản và các bộ phận cấu thành nên tài sản Căn cứ theo cách phân loại tài sản mà tác giả đã lựa chọn để nghiên cứu trong luận văn, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản gồm: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản, hệ số sinh lợi tổng tài sản, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
1.3.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần, thể hiện năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Trong đó: tổng tài sản bình quân trong kỳ là bình quân số học của tổng tài sản có ở đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ các tài sản vận động nhanh đó là nhân tố đẩy mạnh tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp tức là hiệu quả sử dụng tài sản càng cao và ngược lại Tuy nhiên, muốn có kết luận đầy đủ hơn về mức
độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty thì cần so sánh hiệu suất sử dụng tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành
Hệ số sinh lợi tổng tài sản: Hệ số sinh lợi tổng tài sản phản ánh một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vị lợi nhuận (trước thuế và lãi vay)
Hệ số sinh lời tổng tài sản( ROA) = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Trang 26Chỉ tiêu này đƣợc sử dụng để đo hiệu quả của việc tài trợ cho các nhu cầu về tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu và vốn vay Nếu chỉ tiêu này lớn hơn chi phí nợ thì đầu tƣ bằng nợ có lợi cho doanh nghiệp hơn đầu tƣ bằng vốn chủ sở hữu
1.3.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Tốc độ chu chuyển tài sản ngắn hạn: Là chỉ tiêu phản ánh một cách tổng quát trình độ mọi mặt của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tốc độ chu chuyển tài sản ngắn hạn đƣợc biểu hiện qua hai chỉ tiêu:
Số vòng chu chuyển tài sản ngắn hạn : là chỉ tiêu phản ánh tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ quay đƣợc bao nhiêu vòng
Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ
Số ngày chu chuyển tài sản ngắn hạn: là số ngày cần thiết để tài sản ngắn hạn quay đƣợc một vòng
Doanh thu thuần
Trong đó: TSNH bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắn hạn đầu và cuối kỳ
Hai chỉ tiêu này thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Với một số tài sản ngắn hạn nhất định trong kỳ, nếu doanh nghiệp tăng nhanh vòng quay thì qui mô sản xuất kinh doanh đƣợc mở rộng hoặc tốc độ tăng của tài sản chậm hơn tốc độ tăng của doanh thu, nghĩa là doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả tài sản ngắn hạn hiện có Nhƣ vậy trong một thời gian nhất định tài sản ngắn hạn quay đƣợc càng nhiều vòng thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao
Hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
TSNH bình quân trong kỳ
Trang 27Hệ số sinh lời tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại, và vì vậy chỉ tiêu này càng cao càng tốt
Vòng quay các khoản phải thu: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Các khoản phải thu bình quân
Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp
Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh Tuy chỉ tiêu này càng thấp, càng tốt nhưng khi phân tích ta cần đối chiếu với thời hạn ghi trong hợp đồng kinh tế để thấy được thời gian thu hồi tiền của doanh nghiệp, tình hình chấp hành thanh toán của khác hàng đã đúng chưa
Vòng quay các khoản phải thu trong kỳ
Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho: Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn nên nếu đánh giá tài sản ngắn hạn không thể không xem xét các chỉ tiêu liên quan đến hàng tồn kho Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp là: Hệ số quay vòng hàng tồn kho, số ngày tồn kho trong kỳ
Trang 28Hệ số quay vòng hàng tồn kho: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng quay vòng hàng tồn kho, tương đương với số chu kỳ sản xuất trong năm của doanh nghiệp
Thông qua giá trị này có thể thấy mức độ khai thác (tận dụng) nguyên vật liệu/hàng hóa để tạo nên sản phẩm, thông qua tiêu thụ sản phẩm có được doanh thu
Vòng quay hàng tồn kho
Các chỉ tiêu đánh giá liên quan đến hàng tồn kho còn cho thấy mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp Nếu số ngày tồn kho trong kỳ tăng thì rủi ro về tài chính cũng tăng, đó là do: Hàng tồn kho chậm luân chuyển nên khả năng sinh lời giảm Mặt khác thời gian hàng tồn kho bình quân tăng sẽ làm tăng chi phí bảo quản, tăng chi phí tài chính nếu hàng tồn kho được tài trợ bằng vốn vay, có nghĩa thời hạn hàng tồn kho bình quân tăng sẽ làm giảm khả năng sinh lời, tăng tổn thất tài chính cho doanh nghiệp, tức là rủi ro tài chính tăng và ngược lại
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng chi trả các khoản cần phải thanh toán, bởi vậy các đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp đều quan tâm tới tình hình thanh toán của doanh nghiệp như thế nào và khi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản của một doanh nghiệp cũng cần xem xét một số chỉ tiêu về khả năng thanh toán sau:
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành: Đây là chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán một cách tổng quát các khoản nợ nần của doanh nghiệp, cho biết tại các
Trang 29thời điểm phân tích doanh nghiệp có đủ các tài sản để thanh toán tất cả nợ phải trả không Chỉ tiêu này quan trọng với tổ chức tín dụng khi cho vay các hợp đồng dài hạn Cách xác định chỉ tiêu này như sau:
Tổng tài sản
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành =
Tổng nợ phải thanh toán
Chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện hành của doanh nghiệp và ngược lại Tuy nhiên không phải tài sản nào hiện có cũng sẵn sàng bán để trả nợ và không phải nợ nào đó cũng phải trả ngay
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: Đây là chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán tạm thời nợ ngắn hạn (những khoản nợ có thời hạn dưới 1 năm) bằng tài sản có thể chuyển đổi trong thời gian ngắn (thường dưới 1 năm)
Chỉ tiêu này quan trọng với tổ chức tín dụng khi cho vay các hợp đồng ngắn hạn dưới 1 năm Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tổng nợ ngắn hạn
1.3.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị tài sản dài hạn trong kỳ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
TSDH bình quân trong kỳ
Trang 30Trong đó tài sản dài hạn bình quân trong kỳ đƣợc xác định là bình quân số học của tài sản dài hạn đầu kỳ và cuối kỳ
Hệ số sinh lời tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản dài hạn
sử dụng trong kỳ tạo ra đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp đã lựa chọn đúng tài sản cần thiết và sử dụng hữu ích vào quá trình sản xuất – kinh doanh của đơn vị
TSDH bình quân trong kỳ
Các chỉ tiêu về tài sản cố định: TSCĐ là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản dài hạn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn không thể bỏ qua các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng TSCĐ Cụ thể đó là các chỉ tiêu:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Chỉ tiêu này xác định đƣợc cứ 1 đồng nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Tỷ suất đầu tƣ tài sản cố định: Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tƣ vào TSCĐ trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho thấy trong một đồng giá trị tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng đƣợc đầu tƣ vào TSCĐ Tỷ suất càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp càng chú trọng đầu tƣ vào TSCĐ
Hệ số hao mòn tài sản cố định: Hệ số hao mòn của tài sản cố định thể hiện mức
độ hao mòn của tài sản cố định tại thời điểm đánh giá so với thời điểm đầu tƣ ban đầu
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Số khấu hao lũy kế tại thời điểm đánh giá Nguyên giá TSCĐ tại thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn ->1: Chứng tỏ TSCĐ của doanh nghiệp cũ
Hệ số hao mòn ->0: Chứng tỏ TSCĐ của doanh nghiệp còn mới
Trang 311.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản
Nếu như thông qua phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản có thể chỉ
ra việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tốt hay chưa tốt thì nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản sẽ giúp những đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản khách quan hơn, tìm hiểu nguyên nhân doanh nghiệp sử dụng tài sản hiệu quả hay chưa hiệu quả, từ đó đề ra phương hướng, tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng kém hiệu quả hay duy trì, phát huy những kết quả đạt được
Các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp có thể chia thành hai nhóm là các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan
1.3.3.1 Nhóm các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là những nhân tố do chính bản thân doanh nghiệp, thường gồm các nhân tố:
Tổ chức sản xuất – kinh doanh
Một quy trình sản xuất kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiều quả hoạt động của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp thực hiện chiến lược phù hợp với điều kiện của DN trong từng thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao hơn
Ngoài ra, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong công việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
Năng lực quản lý tài sản
Tài sản của doanh nghiệp trong cùng một thời điểm được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển từ khi mua sắm vật tư dự trữ đến giai đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nếu công tác quản lý không chặt chẽ sẽ làm thất thoát tài sản và ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản Quản lý tài sản của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu trong các nội dung sau:
Trang 32Quản lý tiền mặt: Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là
đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp
Quản lý dự trữ, tồn kho: Hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanh nghiệp, nó như tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra không đồng bộ Hơn nữa, hàng hoá dự trữ, tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ đọng vốn Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Quản lý các khoản phải thu: Các nhà quản lý cần so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm để quyết định có nên cấp tín dụng thương mại không cũng như phải quản lý các khoản tín dụng này như thế nào để đảm bảo thu được hiệu quả cao nhất Nội dung chủ yếu của chính sách quản lý các khoản phải thu bao gồm: Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị, theo dõi các khoản phải thu
Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Doanh nghiệp đánh giá, phân tích
và xem xét trong số các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động nào mang lại lợi ích kinh tế cao nhất, nhằm lựa chọn hướng đầu tư, loại hình đầu tư, quy mô đầu tư, danh mục đầu tư hợp lý nhất và đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý tài sản cố định: Nếu mua nhiều TSCĐ mà không sử dụng hết sẽ gây
ra sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không đủ so với lực lượng lao động thì năng suất sẽ giảm Trên cơ sở một lượng TSCĐ đã mua sắm, một mặt doanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian và hiệu suất của máy, thực hiện an toàn, tiết kiệm
Trang 33trong vận hành máy, cố gắng khấu hao nhanh để sớm đổi mới và áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Điều đó sẽ tạo tiền đề cho doanh nghiệp luôn luôn được đổi mới theo hướng tích cực, hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường, mang tính cạnh tranh cao
Tay nghề của người lao động
Bộ phận người lao động là bộ phận trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Đối với người lao động sản xuất có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong công việc,
có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽ được sử dụng hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu trình độ tay nghề người lao động thấp, không nắm bắt được các thao tác kỹ thuật, ý thức bảo quản máy móc kém sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng lãng phí nguyên vật liệu, giảm tuổi thọ của máy móc làm tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm
Công tác xác định nhu cầu tài sản
Do xác định nhu cầu tài sản thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh Nếu thừa vốn sẽ gây lãng phí còn nếu thiếu vốn thì lại không bảo đảm cho quá trình sản xuất
1.3.3.2 Nhóm các nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là những nhân tố đến từ bên ngoài doanh nghiệp, thường gồm các nhân tố: Môi trường kinh tế, chính trị - pháp luật, khoa học- công nghệ, thị trường và đối thủ cạnh tranh
Môi trường kinh tế
Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh như: chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, hệ thống tài chính - tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các chính sách tài chính – tín dụng của Nhà nước
Trang 34Nền kinh tế nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp
Hệ thống tài chính - tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khoá của chính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất – kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản thực của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền Ngoài ra, chính sách tài chính - tiền tệ cũng tác động lớn đến hoạt động huy động vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thị trường quốc tế Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp
Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp những thuận lợi đồng thời cả những khó khăn Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh tế
Chính trị - pháp luật:
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng Sự can thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như: duy trì sự ổn định kinh
tế, chính trị; định hướng phát triển kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật; phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Khoa học - công nghệ
Khoa học – công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng Sự tiến bộ của khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh Tuy
Trang 35nhiên, tiến bộ khoa học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp
bị hao mòn vô hình nhanh hơn Có những máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát minh đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa hoc – công nghệ là hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp
Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì
sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thị trường tài chính là kênh phân phối vốn từ nơi thừa vốn đến nơi có nhu cầu Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn Thị trường tiền
là thị trường tài chính trong đó các công cụ ngắn hạn được mua bán còn thị trường vốn là thị trường cung cấp vốn trung hạn và dài hạn Như vậy thị trường tài chính
có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, mở rộng quy mô của doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh
Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình – kinh doanh của doanh nghiệp như nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế…Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất, mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp
Lựa chọn dự án đầu tư
Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản Nếu dự án lựa chọn khả thi, phù hợp với điều kiện của thị trường và khả năng doanh nghiệp thì
Trang 36sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ mạnh, từ đó làm tăng vòng quay tài sản và ngược lại nếu sự lựa chọn là không chính xác tài sản sẽ bị ứ đọng và không tạo ra hiệu quả
Để lựa chọn dự án đầu tư tốt thì công tác thẩm định dự án và đặc biệt là thẩm định tài chính dự án có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Nếu công tác thẩm định tài chính dự án được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ với đội ngũ cán bộ thẩm định có trình độ chuyên môn vững vàng thì dự án sẽ được đánh giá một cách chính xác về mức độ cần thiết của dự án đối với doanh nghiệp, quy mô của dự án, chi phí, lợi ích của dự án mang lại và cả những rủi ro có thể gặp phải trong tương lai Điều này giúp cho doanh nghiệp có những quyết định đầu tư đúng đắn góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận làm cho hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hệ số sinh lợi tổng tài sản tăng Ngược lại, công tác thẩm định tài chính dự án không hiệu quả sẽ dẫn đến những quyết định đầu tư sai lầm hoặc doanh nghiệp có thể bỏ qua các cơ hội đầu tư do dự án bị đánh giá sai
Quyết định đầu tư sai lầm sẽ dẫn đến hiệu quả nghiêm trọng Nếu đầu tư quá nhiều, không đúng hướng, hoặc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu đầu tư quá ít không đáp ứng
đủ nhu cầu thị trường, từ đó có thể bị mất thị trường, giảm khả năng cạnh tranh Tất cả các điều này đều dẫn đến tài sản không được khai thác một cách triệt để và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản
Đặc điểm sản xuất kinh doanh
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn
và tài sản dài hạn khác nhau nên doanh lợi của tài sản cũng khác nhau
Doanh nghiệp sản xuất và cung cấp những hàng hóa, dịch vụ khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau nên chính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau Như vậy, đặc điểm sản xuất kinh
Trang 37doanh của doanh nghiệp tác động quan trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, khả năng thanh toán và doanh lợi của tài sản
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp như phương thức hình thành và huy động vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với khoản nợ của doanh nghiệp
Trang 38CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu
Việc xác định vấn đề nghiên cứu có vai trò hết sức quan trọng, quyết định những tài liệu, thông tin và số liệu tác giả nghiên cứu cần thu thập từ đó xác định những mối liên hệ cần phân tích, loại kỹ thuật xử lý dữ liệu thích hợp và hình thức của báo cáo cuối cùng Trong luận văn, vấn đề tác giả lựa chọn là hiệu quả sử dụng tài sản – nhân tố có vai trò rất quan trọng đối với mọi doanh nghiệp Sau khi xác định được vấn đề nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập những tài liệu liên quan phục vụ nghiên cứu
2.2 Thu thập tài liệu
Để làm nền tảng cho nghiên cứu, tác giả đã đọc và tra cứu tài liệu có trước, nguồn tài liệu tác giả sử dụng phục vụ nghiên cứu là:
Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập được từ tài liệu chuyên ngành, sách chuyên khảo,
Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học …
Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập từ các
cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
Các nghiên cứu đã có về vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, …
Sau khi nghiên cứu những tài liệu này, tác giả khái quát hóa, xây dựng tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận cho nghiên cứu về hiệu quả sử dụng tài sản, đồng thời xác định khoảng trống nghiên cứu từ đó lựa chọn đề tài là ″Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện″ Như vậy đối tượng nghiên cứu là Hiệu quả sử dụng tài sản ở Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện và phạm vi nghiên cứu là Hiệu quả sử dụng tài sản ở Công ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp đa phương tiện giai đoạn 2013-2015
Trang 392.3 Xác định câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi mà tác giả đặt ra cho mình trong nghiên cứu là:
Hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp là gì?
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp? Đánh giá như thế nào về sử dụng tài sản tại Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện?
Có những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện?
Giả thiết nghiên cứu mà tác giả đặt ra là: Trong tình hình Việt Nam hội nhập và không ngừng tham gia vào những sân chơi đẳng cấp cao thì cơ hội và thách thức cho Công ty là gì? Những ưu điểm trong sử dụng tài sản của Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện và những giải pháp khắc phục tồn tại trong hiệu quả sử dụng tài sản Công ty có thể áp dụng cho những doanh nghiệp khác cùng loại như thế nào ?
2.4 Lập thiết kế nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Lập thiết kế nghiên cứu
Đây là bước tác giả xác định chi tiết đề cương nghiên cứu mà tác giả sẽ trình
bày trong báo cáo cuối cùng Cụ thể, đề cương nghiên cứu gồm:
Phần mở đầu: nhằm giới thiệu về vấn đề nghiên cứu
Cấu trúc dự kiến của báo cáo cuối cùng bao gồm các chương mục Đây chỉ là
dự kiến và có thể thay đổi trong quá trình thực hiện
Lịch dự kiến: trình bày các bước tiếp theo cần phải thực hiện để hoàn thành nghiên cứu và thời gian cần thiết để thực hiện
Tài liệu tham khảo, bao gồm những tài liệu đã sử dụng để xây dựng đề cương nghiên cứu và những tài liệu sẽ tham khảo tiếp theo trong quá trình nghiên cứu
2.4.2 Xác định phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu có vai trò rất quan trọng Sau khi xác định tên đề tài nghiên cứu và tiến hành nghiên cứu tài liệu, song song cùng lập thiết kế nghiên cứu, tác giả phải xác định phương pháp nghiên cứu cụ thể sẽ sử dụng
Trang 40Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập từ các tài liệu, Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên, của Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện Đây là các thông tin xác thực làm cơ sở và dẫn chứng để luận văn thực hiện các phân tích nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu Cụ thể, Bảng cân đối kế toán các năm 2013 – 2015, phản ánh tổng quát giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định (cuối ngày, cuối quý, cuối năm) Từ đó tác giả sử dụng để phân tích tổng tài sản, nguồn vốn, kết cấu tài sản và nguồn vốn Còn số liệu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tính toán các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về các khoản phải nộp Số liệu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ phản ánh quá trình hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp…
Từ những thông tin thu thập được về tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn và các dữ liệu liên quan của Công ty TNHH giải pháp đa phương tiện Tác giả tiến hành phân tích, xử lý dữ liệu bằng các phương pháp là : phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, phân tích tổng hợp, đánh giá và trình bày các kết quả dưới dạng bảng
2.4.2.1 Phương pháp so sánh
Để nhận thức quá trình và kết quả dưới những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm trong từng thời kỳ, tác giả chia nhỏ quá trình và kết quả thành những bộ phận khác nhau theo yếu tố cấu thành và thời gian phát sinh rồi mới tiến hành so sánh Cụ thể là, theo yếu tố cấu thành tác giả chia tài sản sử dụng thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, trong đó tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn lại được chia nhỏ thành các khoản mục nhỏ hơn như tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, TSCĐ… Việc phân chia theo yếu tố cấu thành giúp nhận thức được nội dung, bản chất, xu hướng và tính chất phát triển của chỉ tiêu Theo thời gian phát sinh quá trình, tác giả chia giai đoạn 2013- 2015 thành 2013-2014, 2014-
2015 để nhận thức được xu hướng, tốc độ phát triển, tính phổ biến của chỉ tiêu nghiên cứu