1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG về VAI TRÒ CỦA NHÀ nước TRONG nền KINH tế

27 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 326,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử tư tưởng kinh tế đã có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Trường phái cổ điển, tiêu biểu là Ađam smith với lý thuyết “bàn tay vô hình” và cổ điển mới đã phủ nhận vai trò của nhà nước; các trường phái kinh tế khác đều đề cao vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử khác nhau, nhận thức khác nhau nên vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng được các trường phái đề cập khác nhau. Dưới đây là vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường của một số trường phái kinh tế tiêu biểu trong lịch sử:

Trang 1

TƯ TƯỞNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

TRONG NỀN KINH TẾ

Trong lịch sử tư tưởng kinh tế đã có nhiều quan điểm khác nhau về vaitrò của Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Trường phái cổ điển, tiêu biểu làAđam smith với lý thuyết “bàn tay vô hình” và cổ điển mới đã phủ nhận vai tròcủa nhà nước; các trường phái kinh tế khác đều đề cao vai trò của nhà nướctrong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử khác nhau, nhậnthức khác nhau nên vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng đượccác trường phái đề cập khác nhau Dưới đây là vai trò của nhà nước trong nềnkinh tế thị trường của một số trường phái kinh tế tiêu biểu trong lịch sử:

1 Quan điểm của J.M.Keynes về vai trò của nhà nước

a Cơ sở để J.M.Keynes đưa ra quan điểm nhà nước phải quản lý vĩ mô nền kinh tế.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản độc quyền ra đời thaythế chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do Dưới sự thống trị của các tổ chức độcquyền làm cho quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng cao, sự bóc lột củabọn tư bản độc quyền ngày càng tăng, quần chúng nhân dân ngày càng nghèokhổ, nạn lạm phát gia tăng Khủng hoảng kinh tế 1920 - 1921, mà đặc biệt làcuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào những năm 1929 – 1933 chứng minh

“Lý thuyết tự do kinh tế” của trường phái cổ điển và cổ điển mới đã trở nên lỗithời không đáp ứng được sự vận động phát triển mới của nền kinh tế tư bản chủnghĩa với trình độ xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất

Lý luận kinh tế chính trị mác-xít đã mang lại sức sống cho chủ nghĩa xãhội song lại là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân chống lại chủ nghĩa

tư bản, nên bọn tư bản độc quyền lo sợ Tất cả những điều đó đòi hỏi sự ra đờimột lý thuyết kinh tế mới có khả năng thích ứng với lợi ích của bọn tư bản độc

Trang 2

quyền Từ đó đã xuất hiện lý thuyết kinh tế chủ nghĩa tư bản có điều tiết, ngườisáng lập ra nó là J.M.Keynes.

b Nội dung của lý thuyết về điều tiết kinh tế của nhà nước

Keynes đã phê phán quan điểm của trường phái cổ điển và cổ điển mới

về cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường Trên cơ sở phântích các yếu tố trong nền kinh tế thị trường như: việc làm, lãi suất, tiết kiệm; xuhướng tiêu dùng giới hạn và mối quan hệ giữa các yếu tố đó, Keynes rút ra kếtluận: cùng với “việc làm” tăng sẽ làm tăng thu nhập, do đó cũng làm tăngtiêu dùng; nhưng sự gia tăng tiêu dùng nói chung chậm hơn sự gia tăng thunhập Nói cách khác, là tiết kiệm có khuynh hướng tăng lên nhanh hơn sovới sự gia tăng tiêu dùng Điều đó làm cho cầu tiêu dùng (cầu hiệu quả) bịgiảm sút tương đối Vì vậy, sẽ nảy sinh tình trạng trì tệ, khủng hoảng kinh

tế và thất nghiệp

Theo Keynes, muốn có cân bằng kinh tế, nhà nước phải can thiệp vàokinh tế, qua đó khuyến khích các khuynh hướng tâm lý của con người nhưkhuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng đầu tư nhằm bảo đảm kích thích đượctổng cầu (bao gồm cả cầu đầu tư và cầu tiêu dùng), thực hiện toàn dụng nhâncông, tạo ra cân đối kinh tế ổn định và bảo đảm tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở

đó, sẽ khắc phục được khủng hoảng, thất nghiệp và tạo nên sự ổn định chính trị

-xã hội

Theo Keynes, để khắc phục tình trạng thiếu hụt cần đầu tư thì nhà nướcphải sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư tư nhân và bản thân nhànước cũng phải tích cực chủ động đầu tư Theo Keynes, đầu tư vào lĩnh vực nàocũng tốt, kể cả các lĩnh vực phi sản xuất và không có lợi cho xã hội như: sản xuấtcác phương tiện chiến tranh, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế, thậmchí Keynes cho rằng chính phủ Anh cứ thuê người đem chôn các két bạc ở cáckhu mỏ hoang rồi lại đào lên cũng là biện pháp tăng cầu, nhằm giải quyết việc

Trang 3

làm, có thêm thu nhập, khắc phục được khủng hoảng và thất nghiệp Từ đó, ôngđưa ra các kiến nghị, cụ thể là:

- Nhà nước cần tăng cường đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội,

y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, du lịch

- Nhà nước phải tăng thêm đơn đặt hàng của mình đối với các sản phẩm

và dịch vụ của các tổ hợp công nghiệp, các hãng lớn về hàng không vũ trụ, xâydựng kết cấu hạ tầng, sản xuất hàng tiêu dùng Keynes cho rằng, đây là biệnpháp chủ động tăng cầu về tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và cầu về sức laođộng nhằm tăng khối lượng việc làm Qua phân tích số nhân đầu tư, Keynes chorằng đầu tư của nhà nước sẽ kích thích đầu tư của tư nhân và do đó hiệu quả đầu

tư của tư bản sẽ tăng

- Nhà nước cần sử dụng hệ thống tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ

để điều tiết nền kinh tế nhằm mục đích kích thích lòng tự tin, tính lạc quan củacác nhà kinh doanh để họ tích cực đầu tư Keynes cho rằng, để làm được việc đóthì nhà nước phải thực hiện trợ cấp về tài chính, tín dụng thông qua ngân sáchnhà nước để bảo đảm sự đầu tư và sự ổn định về lợi nhuận cho tư bản độc quyền.Phải tăng thêm số lượng tiền tệ vào lưu thông để giảm lãi suất cho vay nhằmkích thích các nhà kinh doanh tăng cường vay vốn, mở rộng đầu tư tư bản Đồngthời thực hiện “lạm phát có kiểm soát” để làm tăng giá cả hàng hoá một cách vừaphải, từ đó hiệu quả giới hạn của tư bản sẽ tăng lên, các nhà kinh doanh sẽ thuđược lợi nhuận nhiều hơn Keynes cho rằng, việc thực hiện “lạm phát có kiểmsoát” là biện pháp hữu hiệu để kích thích thị trường mà không gây ra sự nguyhiểm Để bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà nước do tăng đầu tư của nhà nước

và trợ cấp tài chính cần phải in thêm tiền giấy, phát hành công trái và sử dụngcông cụ thuế

- Chính sách thuế: theo Keynes, việc sử dụng công cụ thuế không chỉđơn thuần là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mà còn có tác dụng điều

Trang 4

tiết, kích thích nền kinh tế Vì thế, cần phải tăng thuế đối với người lao động đểđiều tiết bớt một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ, đưa vào ngân sách nhà nước

để mở rộng đầu tư Đối với nhà kinh doanh phải được giảm thuế để nâng caohiệu quả của tư bản, nhằm kích thích các nhà kinh doanh tăng cường đầu tư

Theo Keynes, vai trò điều tiết nền kinh tế của nhà nước nhằm bảo đảmđiều chỉnh được tổng cầu và sự cân bằng của nền kinh tế, không chỉ thể hiện ởviệc điều chỉnh nâng cao cầu đầu tư, mà còn thể hiện ở việc điều chỉnh nâng caocầu tiêu dùng Keynes cho rằng, để nâng cao cầu tiêu dùng cần phải thực hiệncác biện pháp khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với các tầng lớp dân cư Cụthể, đối với người lao động, không phải là tăng lương mà là khuyến khích họ tiêudùng trước thu nhập của họ (thông qua tín dụng tiêu dùng) Đối với tầng lớp giàu

có, nhà nước nên tăng thuế và tăng phí tiêu dùng các sản phẩm cao cấp, sảnphẩm xa xỉ, đồng thời phát triển mạnh các dịch vụ du lịch, dịch vụ vui chơi giảitrí để khuyến khích họ tiêu tiền

Tóm lại: Lý thuyết kinh tế của Keynes đã có những đóng góp nhất

định vào sự phát triển của lịch sử tư tưởng kinh tế nhân loaị Đặc biệt là tưtưởng về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Tuy nhiên, lý thuyết kinh tế của Keynes lại quá đề cao vai trò kinh tếcủa nhà nước, xem nhẹ các quy luật kinh tế khách quan; các biện pháp canthiệt của nhà nước, nhất là chính sách thuế còn bộ lộ nhiều mâu thuẫn, vìkhi đã tăng thuế thu nhập đối với dân cư thì sẽ hạn chế cầu tiêu dùng

Phương pháp phân tích kinh tế của Keynes còn mang nặng tính chủquan, không dựa vào sự vận động của các qui luật kinh tế khách quan để phântích kinh tế, mà chủ yếu dựa vào tâm lý xã hội Keynes đã sai lầm khi giải thíchnguyên nhân của thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế là do các nhân tố tác độnglàm giảm tổng cầu, như tâm lý tiêu dùng của dân chúng, tâm lý tiết kiệm, chínhsách lỗi thời, bảo thủ của nhà nước Đó chỉ là những hiện tượng bề ngoài, còn

Trang 5

bản chất của vấn đề đã được C.Mác khẳng định, là do tính chất sản xuất vô chínhphủ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa gây ra

Sai lầm lớn nhất của Keynes là biện pháp khuyến khích tiêu dùng cánhân, đã kích thích lối sống hưởng thụ, thực dụng Keynes đã coi chiến tranh,coi tăng chi phí quân sự là một trong những biện pháp để mở rộng đầu tư nhằmgiải quyết thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế, bảo đảm cân bằng cung - cầu Sailầm này của Keynes mang tính chất phản động, hiếu chiến, kích thích quân sựhoá nền kinh tế, chạy đua vũ trang, buôn bán vũ khí

Vào những năm cuối của thế kỷ XIX và ba thập kỷ đầu của thế kỷ XX,

lý thuyết kinh tế của Keynes đã ra đời và giữ vị trí thống trị trong hệ thống tưtưởng kinh tế tư sản; nó là cơ sở tiền đề và thể hiện lợi ích của chủ nghĩa tư bảnđộc quyền nhà nước Thời kỳ này, lý thuyết Keynes đã được vận dụng vào điềuchỉnh nền kinh tế ở hầu hết các nước tư bản phát triển và đã mang lại hiệu quảkhông nhỏ Song nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến mức độ nhấtđịnh, thì các giải pháp dựa trên lý thuyết Keynes tỏ ra không còn hiệu quả,không khắc phục được những căn bệnh mới nảy sinh trong nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa như trì trệ và lạm phát Vì thế, các nhà kinh tế học tư sản đã tiếp tục

kế thừa có phê phán, bổ sung và phát triển lý thuyết Keynes và hình thành nêntrường phái Keynes mới Trường phái này gồm ba trào lưu: một là, những ngườiKeynes phái hữu, họ đã lấy lý thuyết Keynes làm cơ sở nền tảng cho lý luận củatrường phái mình; ủng hộ chế độ tư bản độc quyền, ủng hộ thực hiện giải phápkhuyến khích nhà nước chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế để kích thích

sự phát triển kinh tế nhằm giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội của chủnghĩa tư bản Hai là, những người Keynes tự do, cũng theo Keynes bảo vệ lợi íchcủa bọn tư bản độc quyền, nhưng họ không ủng hộ quân sự hoá nền kinh tế, chạyđua vũ trang, họ chống lại chiến tranh và cho rằng chiến tranh không phải là lốithoát cho nền kinh tế Ba là, những người Keynes phái tả, sau này tiếp tục phát

Trang 6

triển thành trường phái sau Keynes Về cơ bản họ vẫn coi lý thuyết Keynes là cơ

sở lý luận của trường phái mình, nhưng họ chống lại độc quyền và ủng hộ lợi íchcủa giai cấp tư sản vừa và nhỏ

Sự kế thừa, bổ sung và phát triển lý thuyết Keynes có thể khái quát như sau:

Một là, phái Keynes mới đã đi sâu nghiên cứu, phát triển những tư tưởng

của Keynes về lý luận như: tiêu dùng, tiết kiệm, lãi suất, tiền công, giá cả, tổngcung, tổng cầu

Họ ủng hộ quan điểm của Keynes về khuynh hướng tiêu dùng giới hạn,nhưng có bổ sung thêm so với Keynes về khuynh hướng tiêu dùng giới hạn ngắn

và dài hạn Họ cho rằng, kinh qua thời gian sẽ dẫn đến một sự gia tăng tiết kiệmcao hơn là sự gia tăng của thu nhập; nhưng ai cũng gia tăng tiêu dùng, thì mộtphần tiết kiệm sẽ trở thành tiêu dùng Tỷ lệ tiết kiệm sẽ không nhất thiết tăngthêm cùng với sự nâng cao của tổng thu nhập Tỷ lệ tiết kiệm ấy độc lập với thunhập tuyệt đối Họ cho rằng tỷ lệ tiết kiệm phụ thuộc vào nhiều nhân tố, nhưngtrong đó có hai nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi tỷ lệ tiết kiệm là tỷ lệlãi suất và quan hệ giữa thu nhập tương lai và thu nhập hiện tại Họ còn đưa thêmyếu tố văn hoá xã hội vào phân tích tâm lý tiêu dùng, và cho rằng tập tục văn hoácũng tác động đến cầu tiêu dùng

Khi xem xét tổng cung, tổng cầu, họ nhất trí là phải dựa trên cơ sở giá

cả, tiền công “cố định”, nhưng không phải như quan niệm của Keynes là tổngcung có một vai trò thụ động trong quan hệ cung - cầu

Hai là, phái Keynes mới đã bổ sung thêm về nguyên nhân chu kỳ kinh

doanh và bổ sung thêm nguyên tắc “gia tốc” cho nguyên lý số nhân đầu tư

Họ đã bổ sung cho việc phân tích nguyên nhân khủng hoảng kinh tế là

do các động lực phát triển kinh tế bị yếu đi, mà các động lực này là do sự tácđộng của các yếu tố bên ngoài như: dân số tăng lên chậm chạp, không còn các

Trang 7

vùng đất “tự do”, tiến bộ kỹ thuật tăng chậm, những cuộc chiến tranh, nhữngcuộc bầu cử Từ đó, họ đưa ra lý thuyết về chu kỳ kinh doanh chính trị.

Họ cho rằng, nếu nhân tố bên ngoài là nguyên nhân của chu kỳ kinhdoanh, của khủng hoảng kinh tế, thì sự “mất dần chi phí” hay “tăng dần tiếtkiệm” là nhân tố bên trong của chu kỳ Từ đó, họ đưa ra nguyên tắc “gia tốc” để

bổ sung cho nguyên lý số nhân đầu tư của Keynes Thực chất, nguyên tắc gia tốc

là lý thuyết về các nhân tố quyết định vấn đề đầu tư Nó phản ánh mối liên hệgiữa tăng sản lượng và tăng đầu tư Theo nguyên tắc đó, để vốn đầu tư tiếp tụctăng lên, thì sản lượng bán ra phải tăng lên liên tục

Ba là, phái Keynes mới tán thành với tư tưởng nhà nước can thiệp vào

kinh tế của Keynes, nhưng phần lớn những người Keynes mới không áp dụngnguyên vẹn lý thuyết Keynes mà có sửa đổi, bổ sung lý thuyết Keynes về vai tròcủa nhà nước và cơ chế thị trường Họ đã giải thích rõ hơn về tầm quan trọng của

cơ chế thị trường và khả năng tự điều chỉnh trong ngắn hạn Đồng thời làm rõthêm vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các công cụ như chính sách tàichính, kế hoạch hoá Họ cho rằng, để bù đắp cho sự thâm hụt ngân sách nhànước thì phải tăng thuế thu nhập, tăng nợ nhà nước, thực hiện “lạm phát có kiểmsoát” Nhưng có người lại nhấn mạnh đến việc tăng thuế thu nhập, và cho rằngmức thuế suất từ 25% - 30% tiền lương chưa phải là giới hạn nộp thuế Một sốngười lại nhấn mạnh biện pháp tăng nợ nhà nước bằng phát hành công trái vàvay nước ngoài, họ cho đó là biện pháp chủ yếu để thu hút vốn cho ngân sáchnhà nước Một số người lại nhấn mạnh việc thực hiện “lạm phát có kiểm soát”,

và cho rằng phải in thêm tiền đưa vào lưu thông để bù đắp chi phí nhà nước.Nhưng đa số những người Keynes mới cho rằng, trong thực tế, việc tăng thuế,tăng lạm phát để tăng chi phí nhà nước sẽ làm giảm cầu có khả năng thanh toáncủa dân cư, nên không phải là những biện pháp để khắc phục khủng hoảng kinhtế

Trang 8

Họ đã phê phán Keynes về tư tưởng dùng lãi suất để điều chỉnh kinh tế.Theo họ, phải sử dụng công cụ kế hoạch hoá để điều chỉnh kinh tế nhằm bảođảm sự thay đổi cơ cấu kinh tế và nhịp độ phát triển của nền kinh tế một cáchthích hợp Họ đã phân biệt kế hoạch hoá “mệnh lệnh” và kế hoạch hoá của “kinh

tế thị trường” Họ phê phán kiểu kế hoạch hoá “mệnh lệnh”, đó là kế hoạch cótính chất pháp lệnh tập trung quan liêu; họ cho đó là kế hoạch hoá của phát xítHít-le và của chủ nghĩa xã hội

Bốn là, khi trào lưu Keynes phái tả tiếp tục được phát triển dưới tên gọi

“những người sau Keynes”, họ đã áp dụng các quan điểm hệ thống kinh tế - xãhội vào nghiên cứu kinh tế Vấn đề trung tâm trong lý thuyết của họ là tăngtrưởng và phân phối, không phải là việc làm như quan niệm của Keynes Họ chorằng, nhịp độ tăng trưởng sản xuất phụ thuộc vào việc phân phối thu nhập quốcdân, phụ thuộc vào mối liên hệ giữa lượng thu nhập và lượng tiết kiệm Theo họ,hướng điều chỉnh của nhà nước là phải nâng cao nhịp độ tăng trưởng kinh tếbằng cách phân phối lại thu nhập quốc dân có lợi cho việc tăng lợi nhuận Họủng hộ tư tưởng phải tăng cường sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước, thực hiệntập trung hoá và xác định các kế hoạch, các chương trình phát triển kinh tế cótính chiến lược dài hạn

2 Quan điểm của chủ nghĩa tự do mới về vai trò của nhà nước

a, Hoàn cảnh xuất hiện lý thuyết về nền kinh kế thị trường xã hội ở Cộng hoà Liên bang Đức

Sau đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế Tây Đức bị tàn phá nghiêmtrọng Chính quyền Quốc xã để lại một hệ thống kinh tế kế hoạch hoàn toàn loại

bỏ cơ chế thị trường, tước bỏ quyền tự do cơ bản về kinh tế Sở hữu tư liệu sảnxuất về hình thức nằm trong tay tư nhân, nhưng chính phủ Quốc xã lại xoá bỏquyền tự do sử dụng của các doanh nghiệp, xoá bỏ cơ chế hình thành giá tự do.Việc khôi phục nền kinh tế Tây Đức sau chiến tranh đặt ra nhu cầu bức thiết tìm

Trang 9

kiếm một mô hình lý thuyết thích hợp áp dụng chủ nghĩa tự do cổ điển hay ápdụng lý thuyết “chủ nghĩa tư bản điều tiết ” của J Keynes đối với nền kinh tế làmột câu hỏi lớn đặt ra lúc bấy giờ ở Tây Đức Nằm trong trào lưu phục hồi chủnghĩa tự do kinh tế, các nhà kinh tế học Tây Đức đã từ chối mô hình kinh tế chỉhuy, nhưng cũng không chấp nhận mô hình chủ nghĩa tự do cổ điển Trong cácquan điểm phục hồi tư tưởng tự do kinh doanh thì đáng chú ý nhất là lý thuyết về

“kinh tế thị trường xã hội ” của Allfred Muller Armack, người đã đề xướng kháiniệm “kinh tế thị trường xã hội ”, ủng hộ chủ nghĩa tự do kinh doanh nhưng cótrật tự

Cơ sở lý luận của “ kinh tế thị trường xã hội ” bắt nguồn từ tư tưởngkinh tế tự do mới của phái Phơ-ran-phuốc Phái này vừa phê phán lối quản lý tậptrung, vừa không tán thành mô hình kinh tế thị trường tự do vô chính phủ củakinh tế học cổ điển Họ chủ trương: Nhà nước có trách nhiệm thiết lập một nềnkinh tế hoạt động tự do nhưng có trật tự, trong đó mỗi người dân đều có phầnđóng góp tích cực của mình

Lý luận “kinh tế thị trường xã hội ” được triển khai bằng cuộc cải cáchtiền tệ năm 1948 cho phép sự tự do hình thành giá cả trên nhiêù thị trường Đồngthời nó được đảm bảo bằng 3 đạo luật quan trọng: “Luật hỗ trợ đầu tư” năm

1952 quy định về việc gây quỹ công nghiệp và thương mại và sử dụng để hỗ trợcác ngành công nghiệp khai mỏ, cung cấp điện, thép; “Luật bãi bỏ các hạn chếthương mại” năm 1957 nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh; “Luật ngoại thương”năm 1961 chính thức hoá việc áp dụng các nguyên lý thị trường vào hoạt độngngoại thương, đưa nền kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức hội nhập vào cơ cấukinh tế quốc tế

b, Những nội dung cơ bản của lý thuyết nền “kinh tế thị trường xã hội”

“Kinh tế thị trường xã hội ” thực chất là kinh tế thị trường tư bảnchủ nghiã có sự điều tiết của nhà nước ở mức độ nhất định với các đặc trưng: sở

Trang 10

hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; bảo đảm cạnh tranh tự do, hoạt động kinh tế tựdo; cố gắng tối đa để cho thị trường điều tiết hoạt động, nhưng lúc cần thiết đểbảo đảm an toàn xã hội và tiến bộ xã hội, nhà nước có thể can thiệp để thiết lập

và bảo vệ trật tự bình thường, giúp cho thị trường hoạt động trôi chảy

Những nội dung cơ bản của lý thuyết “kinh tế thị trường xã hội” đượcthể hiện rõ ở việc xác định những nguyên tắc của “kinh tế thị trường xã hội” sovới các lý thuyết khác; xác định vai trò của cạnh tranh, của yếu tố xã hội và củanhà nước trong mô hình này

- Những nguyên tắc cơ bản của “ kinh tế thị trường xã hội”

Thứ nhất, trong so sánh với các quan điểm kinh tế thị trường tự do của

các trường phái khác, các nhà kinh tế học của “kinh tế thị trường xã hội” chorằng, đây không phải là sự kết hợp giữa nền kinh tế thị trường hoạt động theophương thức cũ (kinh tế thị trường tự do) với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hoạtđộng theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mà (theo cách diễn đạt của MullerArmack) là sự “kết hợp nguyên tắc tự do với nguyên tắc công bằng xã hội trênthị trường” hướng vào mục tiêu: 1 Khuyến khích tối đa sáng kiến cá nhân; 2 Cốgắng tối đa thực hiện công bằng xã hội, xoá bỏ tình trạng nghèo khổ của một bộphận dân cư, hạn chế lạm phát và thất nghiệp Con đường để đạt các mục tiêu đólà: ra sức tăng trưởng kinh tế, cố gắng phân phối công bằng, thực hiện bảo hiểm

xã hội và phúc lợi công cộng Do đó, “kinh tế thị trường xã hội” khác với cái gọi

là “nền kinh tế thị trường tự do” của Mỹ

- Thứ hai, nền “kinh tế thị trường xã hội” biểu hiện qua 6 tiêu chuẩn cụ

Trang 11

quá trình kinh tế, bởi thị trường không giải quyết được vấn đề này

3 Quá trình kinh doanh theo chu kỳ, bảo đảm ổn định kinh tế-xã hội.Nếu để cho thị trường tự do điều tiết thì nền kinh tế sẽ vận động theo chu kỳ,người ta không thể giải quyết được các trường hợp đình trệ, khủng hoảng gâymất ổn định kinh tế- xã hội Vì thế bên cạnh việc kết hợp yếu tố tự do và yếu tố

xã hội, cần phải có những chính sách tăng trưởng kinh tế và chính sách cơ cấu đểthực hiện 2 nguyên tắc chủ yếu là tự do cá nhân và công bằng xã hội

4 Chính sách tăng trưởng phải tạo ra quá trình phát triển liên tục vềkinh tế, tạo ra những kích thích nhằm hiện đại hoá năng lực sản xuất cả ở nhữngdoanh nghiệp nhỏ và vừa

5 Chính sách cơ cấu Khi giải quyết vấn đề dài hạn về điều chỉnh cơcấu do tác động của cơ chế thị trường tự do thì phải thực hiện một chính sách cơcấu thích hợp để có biện pháp uốn nắn những sự phát triển bất lợi về cơ cấu

6 Bảo đảm tính tương hợp của cạnh tranh với tất cả các hành vi củacác chính sách kinh tế đã nêu ở trên Điều đó có nghĩa là mọi biện pháp can thiệpcủa nhà nước bằng các chính sách phải phù hợp với quy luật của thị trường

- Vai trò của cạnh tranh và các chức năng của nó trong “kinh tế thị trường xã hội”.

- Vai trò của cạnh tranh Trong “kinh tế thị trường xã hội”, yếu tố cạnh

tranh được đặc biệt quan tâm, song đó là cạnh tranh có hiệu quả Để cạnh tranh

có hiệu quả không thể thiếu được sự bảo hộ, hỗ trợ của chính phủ Cạnh tranh cóhiệu quả được coi là yếu tố trung tâm và không thể thiếu của “kinh tế thị trường

xã hội ” Nó là yếu tố quyết định diễn biến của thị trường Để duy trì cạnh tranh,phải tôn trọng quyền tự do của các doanh nghiệp

- Chức năng của cạnh tranh Trên cơ sở đề cao vai trò của cạnh tranh,

các nhà sáng lập “ kinh tế thị trường xã hội ” đã cho rằng, cạnh tranh có 8 chức năng sau đây:

Trang 12

1 Sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực sẽ đựơc phân phối đến những nơi có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất Tuy nhiên, chức năng này không phải hoàn mỹ mà vẫn có những sai lệch.

2 Khuyến khích tiến bộ kỹ thuật do những người tham gia cạnh tranhmuốn kiếm lợi nhuận siêu ngạch

3 Phân phối thu nhập Cạnh tranh sẽ cung cấp một sơ đồ phân phốithu nhập lần đầu

4 Thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng Trong cạnh tranh, thịtrường sẽ là thị trường của người mua, họ sẽ là người bỏ phiếu quyết định sảnphẩm nào được tái sản xuất

5 Đảm bảo tính linh hoạt của sự điều chỉnh Cạnh tranh là công cụcho phép duy trì sự di chuyển liên tục các nguồn lực đến nơi sử dụng có hiệu quảnhất Do đó nó sẽ đảm bảo tính linh hoạt của sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế

6 Kiểm soát sức mạnh kinh tế Cạnh tranh có hiệu quả vẫn dẫn tớihình thành các lực lượng độc quyền Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh đượcduy trì thì những vị trí độc quyền chỉ tồn tại trong một thời gian Nếu sức mạnhkinh tế của các tổ chức độc quyền dẫn đến hạn chế cạnh tranh thì phải dùng cácbiện pháp chống độc quyền

7 Kiểm soát sức mạnh chính trị Chấp nhận nguyên tắc tự do cạnhtranh, chính phủ phải hạn chế vai trò hỗ trợ, can thiệp Trước khi hành động,chính phủ phải cân nhắc xem có cần thiết không? Theo nghiã này, cạnh tranhkiểm soát sức mạnh chính trị

8 Bảo đảm quyền tự do lựa chọn và hành động cá nhân Cạnh tranh cóhiệu quả đem lại quyền tự do tối đa cho các doanh nghiệp và cá nhân lựa chọncách hành động ứng xử phù hợp với các quy luật của thị trường và lợi ích củamình

Với 8 chức năng nói trên, cạnh tranh có hiệu quả tạo ra những điều kiện

Trang 13

cho nền “ kinh tế thị trường xã hội ” hoạt động trôi chảy Do đó, cần phải chống lại những nguy cơ đe doạ cạnh tranh

- Những nguy cơ đe doạ cạnh tranh:

1 Từ phía nhà nước Với tư cách là một cơ quan quản lý xã hội, nhà

nước có thể dựa vào sức mạnh hành chính; hoặc với tư cách là bạn hàng trên lĩnhvực thương mại, nhà nước dựa vào thế lực kinh tế là ngân sách nhà nước có thểbóp méo, làm suy yếu cạnh tranh

2 Từ phía tư nhân Các doanh nghiệp có thể dùng các thủ đoạn liên

minh dọc hoặc ngang để khống chế thị trường; hoặc áp dụng các biện pháp phânbiệt đối xử, tẩy chay hàng hoá, cấm vận đối với bạn hàng

Từ đây để bảo vệ cạnh tranh, các nhà sáng lập “kinh tế thị trường xã hội ”đưa ra các yêu cầu bảo vệ cạnh tranh Về nguyên tắc, có thể giao cho tư nhân hoặcnhà nước ở CHLB Đức, trách nhiệm chủ yếu được giao cho chính phủ Chính phủ

sử dụng hai công cụ: xử lý hành chính và xử lý hình sự để bảo vệ cạnh tranh

- Vai trò của yếu tố xã hội

Các nhà sáng lập “kinh tế thị trường xã hội” cho rằng, trong nền kinh tếthị trường tự do, thị trường không giải quyết được các vấn đề xã hội Sự cạnhtranh tự do có đem lại kết quả tối ưu cho các hoạt động kinh tế, nhưng dễ dẫnđến các xung đột xã hội, gây mất ổn định cho quá trình tái sản xuất Trong nền “kinh tế thị trường xã hội ” nguyên tắc tự do phải được kết hợp chặt chẽ vớinguyên tắc công bằng xã hội Do đó, yếu tố xã hội có vai trò rất quan trọng, làmnên sự khác biệt của lý thuyết này trong so sánh với các lý thuyết khác về nềnkinh tế thị trường Yếu tố xã hội mà “kinh tế thị trường xã hội ” muốn biểu đạtlà:

1 Nâng cao mức sống của các nhóm dân cư có mức thu nhập thấp nhất

2 Giúp các thành viên của xã hội chống lại những khó khăn về kinh tế

và xã hội do những rủi ro trong cuộc sống gây nên

Ngày đăng: 02/03/2017, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w