Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta, các tranh chấp kinh tế nảy sinh nhiều với quy mô lớn và tính chất ngày càng phức tạp. Những tranh chấp kinh tế phát sinh đòi hỏi phải được giải quyết thoả đáng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đảm bảo trật tự kinh doanh và kỷ cương xã hội.
Trang 1“Phương hướng hoàn thiện mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta, các tranh chấp kinh tế nảy sinh nhiều với quy mô lớn và tính chất ngày càng phức tạp Những tranh chấp kinh tế phát sinh đòi hỏi phải được giải quyết thoả đáng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đảm bảo trật tự kinh doanh và kỷ cương xã hội
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới thì hiện nay tranh chấp kinh tế được giải quyết theo hai hình thức chủ yếu bằng con đường toà án hoặc thông qua các tổ chức trọng tài
Ở nước ta kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá IX đã thông qua luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân trong đó đã quy định việc thành lập Toà án kinh tế nằm trong hệ thống toà án nhân dân Việc thành lập toà án kinh tế ở nước ta nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của việc giải quyết tranh chấp kinh tế trong nền kinh tế thị trường Đây là một mô hình mới trong hệ thống cơ quan tài phán ở Việt Nam, các vấn đề về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của toàn án kinh tế được nhiều người quan tâm và nghiên cứu nhằm mục đích góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng con đường toà án
Vấn đề “Phương hướng hoàn thiện mô hình giải quyết tranh chấp kinh
tế tại toà án trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” nghiên cứu tập trung vào những vấn đề như: khái niệm tranh chấp kinh tế, các mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế; phương hướng hoàn thiện mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án
Trang 21 Khái niệm tranh chấp kinh tế và các mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế.
1.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp kinh tế
1.1.1 Khái niệm.
Sự hình thành nền kinh tế thị trường (KTTT) ở nước ta trong những năm cuối của thế kỷ XX được diễn ra trong bối cảnh có sự phát triển theo chiều rộng và chiều sâu của các quan hệ kinh tế với một tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy để nhằm tiến tới khẳng định nó là một bộ phận không thể thiếu được của thị trường thế giới Tranh chấp trong kinh tế nói chung và trong kinh doanh nói riêng với tính cách là hệ quả tất yếu của quá trình này cũng trở lên phong phú hơn về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất
và quy mô Bởi vậy, yêu cầu phải áp dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, bảo đảm nguyên tắc pháp chế
Giữa hai khái niệm tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh doanh là những khái niệm có nội hàm rộng hẹp khác nhau, cho dù chúng đều được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột lợi ích về quyền
và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quá trình kinh tế
Hiện nay, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, tôi cũng đồng ý với các ý kiến khác cho rằng: Tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến
về một sự kiện pháp lý, là sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp-kinh tế:
Mỗi loại tranh chấp đều mang những đặc điểm riêng, phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ pháp luật vào chủ thể của các mối quan hệ đó cũng như lợi ích mà mối quan hệ đó tác động đến
Trang 3Tranh chấp kinh tế, dù là tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh, tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, giữa các thành viên công ty với nhau hay bất cứ tranh chấp kinh tế nào khác đều có những điểm chung sau:
Thứ nhất: Các bên tranh chấp là pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh
doanh, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được pháp luật thừa nhận quyền kinh doanh Tính đa dạng của chủ thể, của các chủ sở hữu quyết định tính phức tạp, đa dạng và quyết liệt của tranh chấp ?
Thứ hai: Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh với hoạt
động phong phú, đa dạng và các chu trình khép kín, với những mối liên hệ hữu cơ, phụ thuộc lẫn nhau, chỉ một vi phạm, một trục trặc ở khâu nào đó dễ dàng gây những phản ứng dây chuyền
Thứ ba: Tranh chấp kinh tế thường có giá trị lớn, nhiều trường hợp
-giá trị vụ tranh chấp có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn, tồn tại; phát triển hoặc phá sản một doanh nghiệp - có thể gây ra hậu quả xã hội lớn
Cuối cùng, tuy các chủ thể kinh doanh có những bất đồng mâu thuẫn
về quyền lợi song họ biết giữ gìn tốt các mối quan hệ, thiết lập uy tín của mình và các bạn hàng và muốn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị vi phạm
1.2 Các mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế
1.2.1 Giải quyết tranh chấp kinh tế tại trọng tài
Trong kinh doanh nói riêng và trong dân sự nói chung nguyên tắc tự định đoạt của các chủ thể luôn luôn được pháp luật bảo vệ Các tranh chấp kinh tế phát sinh thì sự thương lượng, hoà giải giữa các chủ thể được pháp luật khuyến khích thực hiện và ngay bản thân những chủ thể tham gia quan
hệ cũng mong muốn có thể giải quyết với nhau nhanh chóng, thuận lợi, không ảnh hưởng tới uy tín của nhau, vì thế mà các tổ chức trọng tài phi chính phủ ra đời để giải quyết các tranh chấp kinh tế ngày nay trở lên phổ biến và phù hợp với thực tế khách quan
Trang 4Lý do cơ bản là việc giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài có những ưu điểm mà các hình thức khác không có được Cụ thể là: trong tố tụng trọng tài các bên tham gia được bảo đảm tối đa về quyền tự do định đoạt về nhiều phương diện như lưa chọn trọng tài viên, địa điểm, thủ tục phương thức giải quyết tranh chấp Mặt khác, hình thức trọng tài thường nhanh gọn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, tránh được sự lãng phí về mặt thời gian và đảm bảo tính bí mật trong kinh doanh
Ở một số nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì mô hình trọng tài kinh tế phi chính phủ rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, nói chung các trung tâm trọng tài thương mại và quốc tế ở các nước được tổ chức dưới hai hình thức chủ yếu:
- Cả trung tâm trọng tài bên cạnh phòng thương mại: Thuỵ Điển, Trung Quốc, Thái Lan)
- Các trung tâm trọng tài thương mại được tổ chức dưới dạng các công
ty (theo Luật công ty) hoặc các hiệp hội: ví dụ ở Singapore có trung tâm trọng tài quốc tế Singapore hoặc ở Autralia có Trung tâm trọng tài thương mại Autralia (ACICA)
Ngoài ra, ở hầu khắp các nước ngoài các tnmg tâm trọng tài thường trực có đội ngũ trọng tài viên và quy tắc tố tụng trọng tài riêng còn tồn tại hình thức trọng tài vụ việc (adhoc) - chỉ thành lập khi có yêu cầu, không có quy tắc tố tụng riêng và tự giải thể khi giải quyết xong vụ việc
Ở Việt Nam, theo Quyết định số 204/QĐ - TTG ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ thì Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) được thành lập trên cơ sở sáp nhập Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam với tính chất là một tồ chức trọng tài phi chính phủ nằm bên cạnh Phòng thương mại
và công nghiệp Việt Nam
Việc hình thành tổ chức trọng tài phi chính phủ chẳng những là đòi hỏi khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đời sống kinh tế mà còn
Trang 5làm cho hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta phù hợp với thông
lệ quốc tế giảm một phần gánh nặng giải quyết tranh chấp kinh tế'rong khi việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án vẫn đang ở trong tình trạng cần hoàn thiện Chính vì vậy mà nó còn là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế cải thiện môi trường đầu tư từng bước hoàn thiện khung pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường
1.2.2 Giải quyết tranh chấp kinh tế tại Toà án.
* Sơ lược lịch sử tài phán kinh tê ở Việt Nam.
Để hiểu rõ hơn thực trạng của tổ chức và hoạt động của hệ thống toà kinh tế, chúng ta cần xem xét thiết chế này theo phương diện lịch sử Một điều không thể phủ nhận rằng, sự xuất hiện và hoạt động của Tòa kinh tế là bước phát triển và thay đổi về chất của hệ thống tài phán truyền thống ở Việt Nam
Nhìn lại lịch sử phát triển.của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
tế ở nước ta, chúng ta có thể thấy một số giai đoạn đáng chú ý sau:
Thời kỳ 1945 - 1956: Pháp luật Việt Nam 'chưa có sự phân biệt giữa
tranh chấp kinh tế và các loại tranh chấp tài sản khác, vì vậy chưa có một cơ chế chuyên biệt về mặt pháp lý để điều chỉnh
Thời kỳ 1956 - 1960: Với Điều lệ tạm thời số 735 - TTG về hợp đồng
kinh doanh do Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 10/4/1956 thì ở Việt Nam mới có sự phân biệt giữa tranh chấp trong kinh doanh và các loại tranh chấp tài sản khác việc giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 20 của Bản điều lệ này như sau:
+ Nếu là tranh chấp giữa tư doanh với nhau, giữa tư doanh với quốc doanh hay hợp tác xã thì đưa ra cơ quan đăng ký hay thị thực hợp đồng để giải quyết
+ Nếu xét thấy cần truy tố trước Toà án Nhân đần; cơ quan đăng ký sẽ đứng ra khởi tố trước Toà án Nhân dân sở tại
Trang 6+ Nếu tranh chấp giữa các tổ chức hợp tác xã hay tổ chức quốc doanh với nhau thì đưa lên cơ quan cấp trên giải quyết
Việc đăng ký và thị thực được quy định tại Điều 8 như sau:
“ Trong thời hạn 05 ngày sau khi ký kết giữa tư doanh với nhau, giữa
tư doanh với quốc doanh hay hợp tác xã phải đem đăng ký tại cơ quan công thương tỉnh thành phố hay Uỷ ban hành chính huyện (được uỷ nhiệm) ở nơi hai bên ký kết hợp đồng
Nhưng hợp đồng nhỏ ký kết giữa quốc doanh, hợp tác xã với tập thể nông dân thì phải được uỷ ban hành chính xã thi thực
Như vậy, các cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tiên ở việt Nam gồm
có cơ quan công thương tỉnh, thành phố, Uỷ ban hành chính huyện, uỷ ban hành chính xã, cơ quan cấp trên của tổ chức hợp tác xã, cơ quan cấp trên của
tổ chức quốc doanh và toà án nhân dân
Thời kỳ 1960 - 1994: Việc xây dựng nền kinh tế theo cơ chế tập trung
- kế hoạch hoá trong giai đoạn này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của một cơ quan giải quyết tranh chấp thuộc hệ thống cơ quan hành pháp là trọng tài kinh tế nhà nước Với một loạt các văn bản pháp luật được ban hành như:
Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960; Nghị định số 94/NĐ - CP ngày 10/6/1965; Nghị định số 75/CP ngày 14/4/1975; Nghị định số 24/HĐBT ngày 01/81/1984 và đặc biệt là Pháp lệnh trọng tài kinh tế ngày 10/01/1990, Trọng tài kinh tế nhà nước đã được tổ chức thành một hệ thống nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp Trọng tài kinh tế được tổ chức ở ba cấp là Trung ương tỉnh và cấp huyện
Bên cạnh sự tồn tại của trọng tài kinh tế nhà nước, thực tiễn hoạt động kinh tế của Việt Nam từ những năm 1960 đã đòi hỏi phải thành lập các tổ chức trọng tài phi chính phủ để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh tế quốc tế Xuất phát từ yêu cầu này "Hội đồng trọng tài ngoại thương” đã được thành lập theo Nghị định số 59/NĐ - CP ngày 30/4/1963 và
Trang 7"Hội đồng trọng tài hàng hải" được thành lập theo Nghị định 153/NĐ - CP ngày 05/10/1964
Từ năm 1964 đến nay: Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang
nền kinh tế thị trường đang chứng kiến sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế, chế độ sở hữu khác nhau trong các hoạt động kinh doanh và điều này đã dẫn đến sự thay đổi về hình thức và nội dung của các tranh chấp trong kinh doanh Sự thay đổi đó đòi hỏi phải đổi mới phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế Chính vì lẽ đó, ngày 28/12/1993 tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
tổ chức Toà án nhân dân Theo đó, Toà kinh tế với tư cách là một toà chuyên trách trong hệ thống Toà án nhân dân được thành lập có chức năng xét xử các tranh chấp kinh tế và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 01/7/1 994 Đây cũng là ngày hệ thống trọng tài kinh tế Nhà nước chấm dút sự hiện diện của mình trong đời sống kinh tế của Việt Nam
Cùng với sự xuất hiện của Tòa kinh tế, một số trung tâm trọng tài kinh
tế phi chính phủ cũng ra đời và là một phần quan trọng trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại Việt Nam
* Sự cần thiết phải hành lập Tòa kinh tế
Với tư cách là cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế nảy sinh các quan hệ kinh tế mà nội dung chính là thực hiện các quyền và nghĩa vụ các bên tham gia Trên thực
tế không phải lúc nào các bên cũng thực hiện nghiêm chỉnh những nghĩa vụ phát sinh
Vì vậy tranh chấp kinh tế xảy ra là một điều khó tránh khỏi Nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thông qua pháp luật từn những giải pháp hữu liệu để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh Tuy nhiên, việc xây dựng một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế không phụ thuộc vào ý chí các bên hay bản thân nhà nước mà phải phù hợp với các điều kiện kinh tế
xã hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Trang 8Ở Việt Nam, khi chuyển đổi rờ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đặt ra yêu cầu khách quan là phải đổi mới hệ thống tư pháp và các cơ quan tài phán nói chung trong đó có việc thay đổi cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
Khi nền kinh tế thị trường hình thành và phát triển thì các quan hệ kinh tế không chỉ là những quan hệ hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch, cũng như quan hệ lãnh đạo hoạt động sản xuất kinh doanh có sự thay đổi căn bản Việc xác lập các hợp đồng có tính kế hoạch trực tiếp giữa các doanh nghiệp đã được thay thế bằng những hợp đồng mang tính chủ động thoả thuận giữa các bên Hơn nữa trong cơ chế mới nhiều loại hình doanh nghiệp mới dựa trên nhiều hình thức sở hữu khác nhau như: doanh nghiệp nhà nước, công ty, hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, tự do kinh doanh theo pháp luật tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình, do đó tranh chấp xảy ra không còn là những mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ doanh nghiệp Nhà nước mà là tranh chấp giữa các chủ sở hữu khác nhau Các tranh chấp về kinh tế ngày càng có nhiều loại và ngày càng trở lên phức tạp hơn Việc giải quyết tranh chấp này không thể giao cho Trọng tài kinh tế với tư cách là cơ quan quản lý hành chính nhà nước mà phải giao cho cơ quan tư pháp giải quyết để có tính độc lập với các cơ quan quản lý nhà nước
Mặt khác, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần các tranh chấp không chỉ bó hẹp trong các tranh chấp về hợp đồng kinh tế Trên cơ sở thực hiện các quy định pháp luật mới như Luật công ty, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản….thực tế hoạt động kinh doanh đã phát sinh các tranh chấp mới nhưng trọng tài kinh tế nhà nước không có thẩm quyền giải quyết như tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty, giữa các thành viên công ty với nhau, tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, quảng cáo, phá sản Việc giải quyết các tranh chấp này về nguyên tắc phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền định đoạt của các bên Các bên có thể
Trang 9lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, không nhất thiết yêu cầu nhà nước giải quyết Nhưng khi tranh chấp đã được các bên yêu cầu nhà nước giải quyết thì phải do một cơ quan tư pháp đảm nhiệm giải quyết theo trình tự thủ tục bắt buộc để đảm bảo sự bình đẳng của các bên trước pháp luật
Giải quyết tranh chấp kinh tế về mặt bản chất là tố tụng tư pháp Vì vậy nên giao cho hệ thống cơ quan tư pháp tiến hành Chính vì vậy mà Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 4 khoá IX để thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của "Luật tổ chức Toà án nhân dân" với nội dung chính là thành lập Tòa kinh tế ở Việt Nam - với tư cách là một toà chuyên trách thuộc Toà án nhân dân
2 Phương hướng hoàn thiện mô hình qiải quyết tranh chấp kinh
tế tại Toà án.
2.1.Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế
Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo mang tính chất hướng dẫn đối với việc giải quyết các tranh chấp kinh tế tại một số cơ quan toà án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Toà án kinh tế với tư cách là một bộ phận của Toà án nhân dân trong hoạt động của mình phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án nhân dân nói chung được quy định trong Hiến pháp năm 1992 và trong Luật tổ chức Toà án nhân dân Bên cạnh đó, với tư cách là một Toà án chuyên trách độc lập trong hệ thống Toà án nhân dân thì trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, Toà kinh tế còn phải tuân thủ các nguyên tắc đặc trưng riêng như:
* Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt.
Nguyên tắc này được quy định tại điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự Có thể nói đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong tố tụng nhằm đảo bảo quyền tự do kinh doanh, tự do thoả thuận theo pháp luật, nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh doanh hợp pháp của chủ thể kinh doanh
Trang 10Khi có tranh chấp xảy ra Toà án chỉ đứng ra giải quyết khi có yêu cầu Nhà nước không tự đưa các tranh chấp kinh tế ra toà để phán quyết Có yêu cầu Toà án giải quyết hay không là quyền của các chủ thể kinh doanh Việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án chỉ là một biện pháp trong khi đó các bên
có thể lựa chọn hoặc thương lượng, hoà giải bằng con đường trọng tài hoặc
là từ bỏ quyền lợi Quyền tự định đoạt còn được thể hiện ở chỗ trong quá trình toà án giải quyết các bên vẫn có quyền hoà giải, quyền rút đơn khởi kiện, quyền thay đổi nội dung đơn khởi kiện, có thể uỷ quyền cho người khác hoặc nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình
* Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng.
Nguyên tắc này được quy định tại điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự Nó là
sự cụ thể hoá điều 52 Hiến pháp năm 1992 “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”
Quyền này được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật Việc cụ thể hoá này có ý nghĩa rất quan trọng trong tố tụng kinh tế bởi nó thể hiện các chủ thể kinh doanh không phân biệt hình thức sở hữu: nhà nước, tập thể, cá nhân khi tham gia giải quyết các vụ án kinh tế tại toà án đều có quyền bình đẳng như nhau
* Nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu
thập chứng cứ.
Nguyên tắc này được quy định trong điều 6, điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án khi giải quyết tranh chấp kinh tế không có nghĩa vụ phải điều tra vụ việc mà chỉ căn cứ vao các chứng cứ mà đương sự đưa ra Các đưong
sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh các chứng cứ Toà án không xét hỏi như tố tụng hình sự Các bên có quyền và nghĩa vụ trình bày những gì mà họ cho là cần thiết, Toà án chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ khi thấy cần thiết để rõ thêm yêu cầu của các bên giải quyết để giải quyết vụ kiện được chính xác
* Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng.