1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ, SAU ĐẠI HỌC, TIỀM NĂNG, GIỚI HẠN VÀ mâu THUẪN CỦA CHỦ NGHĨA tư BẢN

18 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 267,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một vài thập kỷ trở lại đây, chủ nghĩa tư bản do tận dụng được thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và vai trò điều tiết của nhà nước nên có sự phát triển, biến đổi thích nghi trên nhiều lĩnh vực cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội có sự thoái trào sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ. Do đó, chủ nghĩa tư bản cần phải được xem xét để khẳng định con đường phát triển của thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện nay có còn vị trí, vai trò lịch sử, hay vẫn phải nhường chỗ cho chế độ xã hội tốt đẹp hơn. Điều đó, đòi hỏi phải đánh giá khách quan về chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là vấn đề về tiềm năng, giới hạn và những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đương đại.

Trang 1

TIỀM NĂNG, GIỚI HẠN VÀ MÂU THUẪN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

* * *

Trong một vài thập kỷ trở lại đây, chủ nghĩa tư bản do tận dụng được thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và vai trò điều tiết của nhà nước nên có sự phát triển, biến đổi thích nghi trên nhiều lĩnh vực cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội có sự thoái trào sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ Do đó, chủ nghĩa tư bản cần phải được xem xét để khẳng định con đường phát triển của thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện nay

có còn vị trí, vai trò lịch sử, hay vẫn phải nhường chỗ cho chế độ xã hội tốt đẹp hơn Điều đó, đòi hỏi phải đánh giá khách quan về chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là vấn đề về tiềm năng, giới hạn và những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đương đại

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN MÁCXÍT ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, GIỚI HẠN VÀ MÂU THUẪN CỦA CHỦ NGHĨA

TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

1.1 Lý luận của V.I.Lênin về địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản

V.I.Lênin kế tục C.Mác, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn độc quyền Từ sự phân tích những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã rút ra kết luận: Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn phát triển đặc biệt của chủ nghĩa tư bản Tính chất đặc biệt biểu hiện ở các khía cạnh: Chủ nghĩa

đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyền; Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản ăn bám và thối nát; Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản tất yếu bị diệt vong, bị thay thế bởi một xã hội cao hơn, tiến bộ hơn Các luận điểm đó của V.I.Lênin là cơ sở lý luận để xem xét tiềm năng, giới hạn và mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản hiện đại

* Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyền

Trang 2

- Độc quyền là cơ sở kinh tế của chủ nghĩa đế quốc; là hình thái vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện tích tụ và tập trung tư bản và sản xuất đã đạt đến trình độ cao

- Độc quyền biểu hiện trên các mặt: Độc quyền về thị trường, giá cả, nguồn nguyên liệu,… với mục tiêu thu lợi nhuận độc quyền

- Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, song không phủ định tự do cạnh tranh, mà tồn tại bên cạnh và bên trên tự do cạnh tranh Cạnh tranh trong chủ nghĩa đế quốc vẫn còn và diễn ra hết sức gay gắt, phức tạp

- Độc quyền ra đời làm cho quá trình xã hội hóa sản xuất được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, làm gia tăng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất

* Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản ăn bám, thối nát

- Tính ăn bám của chủ nghĩa tư bản biểu hiện thông qua sự bóc lột giá trị thặng dư không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia thông qua xuất khẩu tư bản

- Sự bành trướng của tư bản tài chính làm cho khối lượng giá trị thặng dư tăng lên tới mức khiến cho một số nhà tư bản không cần quan tâm đến sản xuất, mà bàn giao chức năng đó cho những người “làm thuê cao cấp”, còn bản thân họ thì sử dụng giá trị thặng dư bóc lột đưa vào các ngân hàng để kiếm lời thông qua hưởng lợi tức (xuất hiện tầng lớp thực lợi theo lối cắt phiếu ăn tiền)

- Cùng với hiện tượng trên là xu hướng kìm hãm sự phát triển của khoa học kỹ thuật do độc quyền trên một mức độ nào đó làm mất đi những nguyên nhân kích thích sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

- Trong thời đại tư bản tài chính, sự bóc lột thế giới được đẩy mạnh và đưa lại những lợi nhuận độc quyền cho một nhóm nước giàu nhất, tạo khả năng kinh tế để mua chuộc những “tầng lớp trên” trong giai cấp vô sản và nuôi dưỡng chủ nghĩa cơ hội

* Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản tất yếu bị diệt vong, bị thay thế bởi một chế độ xã hội cao hơn, tiến bộ hơn

Trang 3

- Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản đã thực hiện xã hội hóa sản xuất và quá trình đó đã đạt tới đỉnh cao trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, đặc biệt là trong điều kiện chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước Sự phát triển đó của lực lượng sản xuất đã tạo ra tiền đề vật chất cho chủ nghĩa

xã hội Song cũng chính sự phát triển đó của lực lượng sản xuất đã ngày càng mâu thuẫn gay gắt với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, biểu hiện về mặt giai cấp là mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng là giai cấp vô sản và tư sản không chỉ trong biên giới quốc gia mà còn vượt ra ngoài biên giới quốc gia Đồng thời, mâu thuẫn cơ bản đó được mở rộng làm cho mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản trở nên gay gắt

- Dưới tác động của quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản,

so sánh lực lượng giữa các nước đế quốc thay đổi, mâu thuẫn với hiện thực phân chia thế giới lúc đó, là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh đế quốc để phân chia lại thế giới vốn đã chia xong Điều đó làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, tạo tiền đề thuận lợi cho cách mạng vô sản Sự phát triển không đều về kinh tế dẫn tới sự phát triển không đều về chính trị, tạo ra sự chín muồi không đều trong các nước đế quốc, làm cho cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi trước hết trong một số tít nước tư bản, thậm chí trong một nước tư bản Sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã chứng minh điều đó

Từ quan điểm của V.I Lênin cho thấy rằng, chủ nghĩa tư bản nhất định

bị diệt vong, bị thay thế bằng chế độ xã hội cao hơn hẳn, đó là sự phát triển lịch sử tự nhiên

* Một số quan điểm tư sản đánh giá về chủ nghĩa tư bản:

Nhìn chung các quan điểm tư sản đều có những đánh giá, nhận định phiếm diện, không phản ánh đúng bản chất của chủ nghĩa tư bản

Quan điểm Kinh tế học tư sản cổ điển:

Quan điểm Kinh tế học tư sản cổ điển mà đại diện là Error: Reference source not foundcho rằng, trong quá trình tự tổ chức và cạnh tranh vì lợi

nhuận của các doanh nghiệp tư bản, xã hội sẽ được lợi hơn và xã hội sẽ tiến

Trang 4

nhanh về phía trước hơn là hình thái đặt mục tiêu trực tiếp thoả mãn các

quyền lợi của xã hội lên trên quyền lợi của các doanh nghiệp tư bản tư nhân

Quan điểm Kinh tế họcError: Reference source not found:

Các nhà Kinh tế học Error: Reference source not found(mà đại diện là Error: Reference source not foundMỹ) cổ vũ cho một nền kinh tế Error: Reference source not found toàn phần không bị nhà nước can thiệp cho rằng, chủ nghĩa tư bản là tương lai của nhân loại vì nó phát triển tính năng động của nền kinh tế nói riêng và xã hội nói chung Hình thức kinh tếError: Reference source not found không bị nhà nước can thiệp của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là bộ điều tiết kinh tế tổng hợp vạn năng cho kinh tế thế giới và cùng với các kinh nghiệm phòng tránhError: Reference source not found mà kinh tế

tư bản chủ nghĩa thu nhận được nó sẽ mang một sức sống mới cho tương lai kinh tế nhân loại

Quan điểm Chủ nghĩa tư bản điều tiết:

Các nhà kinh tế học của chủ nghĩa tư bản điều tiết mà đại diện làError: Reference source not found ủng hộ sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế tư

bản chủ nghĩa và cho rằng chủ nghĩa tư bản sẽ mất dần tính ích kỷ và dần sẽ

biến đổi thành nền kinh tếError: Reference source not found với sở hữu dần tập trung vào tay nhà nước hoặc Error: Reference source not foundvới hình thức các công ty cổ phần

Thuyết “Xã hội hậu công nghiệp”:

Thuyết kinh tế tư sản do nhà xã hội học Mĩ Ben (D Bell) đề xướng, cho rằng nền kinh tế Hoa Kì đang chuyển sang “xã hội hậu công nghiệp”, trọng tâm Error: Reference source not foundđã chuyển sang lĩnh vực dịch vụ

- khoa học Các cơ quan khoa học - kĩ thuật và những cá nhân có nhiều tài năng do xã hội đề bạt lên nắm quyền hành ngày càng lớn Thuyết XHHCN phủ định chủ nghĩa tư bản hiện tại, khẳng định một xã hội sau xã hội công nghiệp (xã hội tư bản) văn minh tiến bộ hơn, lấy mục tiêu là động lực chính cho sự phát triển Thuyết “Xã hội hậu công nghiệp” tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, phủ

Trang 5

nhận tính giai cấp của xã hội hiện đại và tính tất yếu của cách mạng xã hội;

về thực chất là phản ánh về mặt lí luận của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Thuyết “Hội tụ”:

Thuyết xã hội học tư sản, cho rằng 2 chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đang phát triển theo những con đường ngày càng xích lại gần nhau

và cuối cùng sẽ hoà nhập vào nhau, hình thành nên một xã hội mới, trong đó kết hợp những tính chất tích cực của chế độ tư bản và của chế độ xã hội chủ nghĩa Những người chủ trương nổi tiếng nhất của thuyết này là Xôrôkin (P.A Sorokin), Gonbrêt (J K Galbraith), Tinbecghen (J Tinbergen) Thuyết này thường chứng minh rằng: Ở các nước phương Tây, nhà nước đang can thiệp vào kinh tế, đang làm cho nền kinh tế trở nên có tổ chức, có xu hướng kế hoạch hoá tập trung, còn ở các nước xã hội chủ nghĩa thì đang mở rộng quan hệ thị trường Các công ty lớn ở các nước phương Tây cũng giống như các liên hiệp sản xuất ở các nước xã hội chủ nghĩa, đều là những hình thức tổ chức sản xuất lớn Các tác giả cho rằng: Trong 4 nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản, xã hội sẽ giữ lại 3 nguyên tắc, đó là chế độ tư hữu, kích thích kinh tế và động cơ lợi nhuận, cơ chế thị trường; bỏ nguyên tắc nhà nước không can thiệp Với chủ nghĩa xã hội, sẽ giữ 3 nguyên tắc: Trình độ bình đẳng cao, kiểm tra công nhân đối với sản xuất, kế hoạch hoá kinh tế; bỏ nguyên tắc sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất Thuyết này thiếu cơ sở khoa học, chỉ nhấn mạnh những nét tương tự

về cấu trúc kinh tế, kĩ thuật, khoa học mà không nói đến sự khác nhau về bản chất giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, đó là sự khác nhau của chế độ

sở hữu đối với tư liệu sản xuất

* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa tư bản hiện đại

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phân tích sâu sắc tình hình thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam có những đánh giá, nhận định đúng đắn, khoa học về chủ nghĩa tư bản hiện đại thể hiện trên một số luận điểm chủ yếu sau:

Chủ nghĩa tư bản hiện đại có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Trang 6

- Trong vòng 20, 30 năm trở lại đây cuộc cách mạng KH-KT hiện đại đã đưa đến một bước phát triển nhảy vọt về chất lượng sản xuất của loài người nói chung, đặc biệt là ở các nước tư bản phát triển

- Về quan hệ sản xuất, biểu hiện quan trọng nhất ở các nước tư bản phát triển là sự ra đời và hoạt động mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia

- Ở các nước tư bản phát triển cũng đang diễn ra sự điều chỉnh quan hệ

sở hữu; có sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của CNTB độc quyền nhà nước với đặc trưng là tư bản nhà nước kết hợp với tư bản độc quyền tư nhân; hình thức các công ty tư bản tư nhân đang chuyển sang hình thức công ty cổ phần do nhiều nhà tư bản cùng bỏ vốn kinh doanh; hiện tượng công nhân tham gia mua cổ phần đã xuất hiện

Do tận dụng được những thành quả của cuộc cách mạng khoa học

-kỹ thuật, giai cấp tư sản ngày nay chủ yếu thực hiện việc bóc lột giá trị thặng dư tương đối do nâng cao năng suất lao động, áp dụng công nghệ hiện đại, kích thích tích cực lao động bằng lợi ích vật chất và tinh thần đối với người lao động

Tuy chủ nghĩa tư bản hiện đại có những đặc điểm như trên, nhưng trước sau, bản chất của của chủ nghĩa tư bản không thay đổi:

1 Mặc dù có sự điều chỉnh về các quan hệ sản xuất xã hội, nhưng CNTB vẫn không giải quyết được mâu thuẫn giữ tính chất xã hội hoá của LLSX ngày càng cao với tính chất tư nhân TBCN về TLSX, vẫn không giải quyết được mâu thuẫn giữa tư bản và lao động

2 Quy luật tuyệt đối của CNTB mà C.Mác đã phát hiện - Quy luật giá trị thặng dư và về mặt xã hội, mục đích sản xuất TBCN suy cho cùng vẫn là ngày càng làm giàu cho giai cấp tư sản, vẫn đang chi phối toàn bộ cơ chế vận hành của chủ nghĩa tư bản hiện đại

3 Sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản về sở hữu, phân phối lợi ích và chính sách xã hội… về khách quan đã đáp ứng một phần đòi hỏi của người lao động, song

về cơ bản sự điều chỉnh đó vẫn không vượt ra khỏi khuôn khổ của một chế độ xã

Trang 7

hội bất công, là sự bảo đảm có tính chất nhất thời sự ổn định chính trị - xã hội của chủ nghĩa tư bản

4 Sự phân cực mạnh mẽ của thế giới tư bản chủ nghĩa, ở cực này là một

số ít các nước tư bản phát triển phồn vinh, còn ở cực kia là hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ngày càng nghèo khổ

5 “Tình trạng môi trường sống trên hành tinh này đang bị phá hoại tới

giới hạn nguy hiểm, mà chế độ tư bản là thủ phạm chính” (Trích trong sách:

“Về một số vấn đề cơ bản trong Văn kiện Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam”

- Nxb Tư tưởng văn hoá, H 1991).

Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam kết luận: “Theo quy luật tiến hóa

của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” (Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG H 2001, tr 65)

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa tư bản hiện đại góp phần bổ sung cơ sở lý luận đánh giá tiềm năng, giới hạn và mâu thuẫn của chủ nghĩa

tư bản hiện đại

1.2 Phương pháp luận mác - xít đánh giá tiềm năng, giới hạn và mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Trong đánh giá tiềm năng, giới hạn và mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản hiện đại phải trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; xem xét cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; xem xét các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học - công nghệ,…của chủ nghĩa tư bản

Phải có cách nhìn nhận mới đối với chủ nghĩa tư bản; không phủ định một cách giản đơn mà đánh giá khách quan những bước phát triển mới của nó trên các mặt, với tư cách là thành tựu của nền văn minh nhân loại, đồng thời như

là những điều kiện quốc tế đối với hoạt động của chúng ta Mặt khác, cần thấy

rõ những mâu thuẫn quy định bản chất của chế độ xã hội đó vẫn không hề thay đổi Chủ nghĩa tư bản cho dù còn tiềm năng phát triển, song đó không phải là giải pháp đúng đắn cho sự phát triển của lịch sử loài người

Trang 8

II TIỀM NĂNG, GIỚI HẠN VÀ MÂU THUẪN CỦA CHỦ NGHĨA

TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

2.1 Những tiềm năng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại

Sự biểu hiện của những tiềm năng:

- Chủ nghĩa tư bản hiện đại xây dựng được một cơ sở vật chất - kỹ thuật dựa trên thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ cao: Điện tử, tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học Nhờ cơ sở vật

chất - kỹ thuật này, tri thức được mở mang và lan truyền nhanh chóng tạo ra sự liên kết giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ; tạo ra một nền kinh tế sử dụng lao động linh hoạt, tổ chức lao động theo hướng phi tập trung hóa, phát triển khu vực dịch vụ, xuất hiện nhiều ngành mới mở ra khả năng giải quyết việc làm Năm

1995, Tây Âu đã cần đến 1 triệu nhân viên lập trình máy tính Đến năm 2000, chỉ riêng Nhật Bản cũng đã cần 1 triệu nhân viên phần mềm máy tính …

- Cơ chế tổ chức quản lý được đổi mới, năng xuất lao động cao hơn hẳn các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển, tạo ra một khối lượng của cải đồ sộ Nhờ cơ chế này, chủ nghĩa tư bản đạt được bước tiến

trong việc kìm giữ những mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở một giới hạn nhất định, nâng cao khả năng thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất, hạn chế sự bùng nổ xã hội Tốc động tăng trưởng của G7: Trung bình trong 10 năm (1981 - 1990) là 2,9%, năm 1998: 2,25, năm 1999: 2,6%, năm 2000: 2,4%; chỉ số tăng năng xuất lao động hàng năm tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên (bình quân giai đoạn 1977 - 1986 mức tăng là 2,8%, năm 1990, 1991 đạt 2%, năm 1993: 2,6%, năm 1994: 5,3%, năm 1995: 5,0%, năm 1996: 4,8%, năm 1997: 5,1%) Chỉ số giá cả hàng hóa, dịch vụ: Dao động trong khoảng 1 - 47% Chỉ

số lạm phát: Ở giới hạn 1 - 4%, năm 1991: 4,5%, năm 1999: 1,2%, năm 2000: 1,7% Xuất nhập khẩu: Tăng ở mức trung bình; các nước G7 trong 10 năm (1981 -1990): 5,3%, năm 1994: 8,7%, năm 2000: 6,2% Toàn bộ các nước tư bản: Dao động từ 1 - 9% (giai đoạn 1981 - 1990), trung bình: 5,3%, năm 1994: 9,7%, năm 1995: 8,9%, năm 2000: 5,9% Nhìn chung, ngoại trừ một số nền kinh tế có sự tác động của khủng hoảng toàn cầu làm tốc độ tăng trưởng

Trang 9

GDP ở trạng thái âm (Mỹ: 0,6%, Canađa: 1,8% vào năm 1991, Nhật bản 0,7%, Pháp 1,5%, Đức 1,2% vào năm 1993) còn lại sự tăng trưởng ở mức bình thường, các chỉ số khác biến đổi ở mức có thể chấp nhận và so với nhiều nước đang phát triển thì các chỉ số đó thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn về kinh tế Đồng thời trong tương lai, ở các nước tư bản phát triển, các chỉ số này có thể còn cao hơn khi cơ sở vật chất - kỹ thuật mới về chất phát huy tác dụng1

Từ những cơ sở trên, có thể khẳng định chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn

còn tiềm năng để phát triển và tiếp tục thích nghi với điều kiện lịch sử mới

Nguyên nhân của việc khai thác được những tiềm năng dưới chủ nghĩa tư bản hiện đại:

Một là, chủ nghĩa tư bản hiện đại chiếm lĩnh được những vị trí then chốt,

áp dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ vào sản xuất, đẩy nhanh năng xuất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, tăng lợi nhuận và trích ra một phần nhỏ mua chuộc một bộ phận giai cấp công nhân, làm dịu mâu thuẫn xã hội

Hai là, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có một bề dày kinh nghiệm quản lý

nền kinh tế thị trường, sử dụng những mặt tích cực do kinh tế thị trường đem lại (động lực lợi ích, năng động, linh hoạt, của các chủ thể, khai thác các nguồn lực,…)

Ba là, vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước tư bản có ý nghĩa cực

kỳ quan trọng, tạm thời làm dịu những mâu thuẫn vốn có trong xã hội tư bản, định hướng cho sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ, không chỉ trong từng quốc gia mà còn có sự phối hợp trên phạm vi quốc tế

Bốn là, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đã tạo cho các nước tư bản khai

thác những nguồn lực rất lớn từ bên ngoài và chủ nghĩa tư bản đã biết khai thác lợi thế này một cách có hiệu quả

Năm là, sự tan vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới có lợi cho chủ

nghĩa tư bản trong việc tập trung hơn vào phát triển kinh tế

2.2 Giới hạn chủ yếu của chủ nghĩa tư bản hiện đại

1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tập b i gi ài gi ảng về chủ nghĩa tư bản, Nxb Chính trị quốc gia, 2002,

tr

Trang 10

Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn là chế độ áp bức bóc lột

- Sự áp bức bóc lột được che đậy dưới nhiều hình thức khác nhau và tinh

vi hơn:

Tỷ suất giá trị thặng dư luôn tăng Dẫn chứng: Ở Mỹ tăng từ 23,7% năm

1977 lên 320% năm 1990, Cộng hòa Liên bang Đức từ 181,47% năm 1950 tăng 260% năm 1977 và 309% năm 1991 và 312% năm 1993

Các hình thức bóc lột cũng luôn thay đổi dựa trên việc áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ:

Với phương thức quản lý mới, các nhà tư bản đã khai thác được trí tụê của người lao động, bóc lột chất xám của đội ngũ trí thức làm công, tỷ suất giá trị thặng dư (m) tăng nhanh, mặc dù thời gian lao động trong tuần giảm Với công nghệ và các phương tiện hiện đại, các nhà tư bản có điều kiện bắt công nhân tăng cường độ lao động để bù đắp giảm thời gian lao động

Sự bóc lột vượt khỏi biên giới quốc gia và phát triển trên phạm vi quốc

tế thông qua nhiều hình thức: Xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi mậu dịch, di tản chất xám Dẫn chứng: Hàng năm các công ty xuyên quốc gia đã thu được số lợi nhuận khổng lồ, chỉ tính riêng một số công ty hàng đầu trong

500 công ty lớn nhất thế giới, lợi nhuận đã lên tới hàng chục tỷ đô la do bóc lột ở các nước đang phát triển

Bóc lột thông qua sự chênh lệch giữ giá cả thị trường và giá trị quốc tế hay giá cả sản xuất quốc tế của hàng hóa có xu hướng ngày càng tăng Thông thường, các công ty độc quyền bán sản phẩm công nghiệp với mức giá tăng từ 15%- 20%, trong khi đó mua hàng hóa nông phẩm ở các nước đang phát triển chỉ với mức tăng từ 2- 3% thông qua cơ chế độc quyền

Các tổ chức độc quyền thực hiện lôi kéo chất xám từ các nước đang phát triển, đó là hình thức bóc lột trong điều kiện mới

Biến nợ nước ngoài thành tư bản đầu tư (các công ty xuyên quốc gia trả

nợ hộ cho nước là con nợ, biến số nợ này thành tư bản đầu tư), các công ty xuyên quốc gia cũng kiếm được những khoản chênh lệch kếch xù

Ngày đăng: 02/03/2017, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w