Mặc dù các cây họ Na Annonaceae có giá trị kinh tế cao cũng như có các hoạt tính sinh học quý được sử dụng rộng rãi trong dân gian, song việc nghiên cứu về thành phần hoá học của nó chưa
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
Chương 1 5
TỔNG QUAN 5
1.1 Họ Na (Annonaceae) 5
1.2 Chi Giác đế (Goniothalamus ( Blume) Hook f & Thoms) 7
1.2.2 Đặc điểm thực vật của một số loài thuộc chi Goniothalamus (Blume) Hook f & Thoms - giác đế 8
1.3 Hoạt tính sinh học các hợp chất styryl lacton 18
1.4 Cây nghiên cứu 24
Chương 2 30
PHƯƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM 30
2.1 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2 Hoá chất, dụng cụ và thiết bị 31
2.3 Nghiên cứu các hợp chất 31
Chương 3 34
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Phân lập các hợp chất 34
3.2 Xác định cấu trúc hợp chất A 34
3.3 Xác định cấu trúc hợp chất B 47
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 2[7], trong đó có khoảng 3.200 loài cây được sử dụng trong y học dân tộc và
600 loài cây cho tinh dầu [5] Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất quý báu của đất nước có tác dụng lớn đối với đời sống và sức khỏe của con
người
Từ trước đến nay trên thế giới các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người Các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học đựơc dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp dược phẩm làm thuốc chữa bệnh, công nghiệp thực phẩm, hương liệu và mỹ phẩm Thảo dược là nguồn nguyên liệu trực tiếp hoặc là những chất dẫn đường để tìm kiếm các loại biệt dược mới Theo số liệu thống kê cho thấy có khoảng trên 60% các loại thuốc đang được lưu hành hiện nay hoặc đang trong giai đoạn thử nghiệm có nguồn gốc từ các hợp chất thiên nhiên [5]
Họ Na (Annonaceae) là họ lớn nhất của bộ Mộc lan (Magnoliales) Chi điển hình của họ nay là Annona Một số loài được trồng làm cây cảnh, đặc biệt là Polythia longifolia var pendula (lá bó sát thân) Các loại cây thân
gỗ còn dùng làm củi Một số loài có qủa lớn, nhiều thịt ăn được bao gồm các
loài của chi Annona (na, na Nam Mỹ, mãng cầu xiêm) hay chi Asimina (đu
đủ Mỹ) hoặc chi Rollinia [2]
Bên cạnh đó, một số loài như Hoàng lan (Cananga odorata) còn chứa
tinh dầu thơm và được sử dụng trong sản xuất nước hoa hay đồ gia vị Vỏ
Trang 3cây, lá và rễ của một số loài được sử dụng trong y học dân gian chữa bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, bệnh gan, bệnh vàng da do gan, bệnh tiêu chảy Các nghiên cứu dược lý đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn và đặc biệt là khả năng sử dụng trong hóa học trị liệu của một số thành phần hóa học của lá và vỏ cây [21]
Mặc dù các cây họ Na (Annonaceae) có giá trị kinh tế cao cũng như có các hoạt tính sinh học quý được sử dụng rộng rãi trong dân gian, song việc nghiên cứu về thành phần hoá học của nó chưa được tiến hành nhiều ở Việt Nam
Chi Goniothalamus là một trong những chi quan trọng của họ Na
(Annonaceae), với khoảng 80 loài, phân bố rộng rãi ở châu Á và Australia, đặc biệt ở Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào
và Việt Nam Một số loài thuộc chi này dùng để làm thuốc chữa bệnh về cơ, chấn thương, thần kinh toạ, viêm khớp, kháng viêm và khả năng chống khối
u Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: ―Phân lập và xác định cấu trúc một
số hợp chất từ lá cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis Pierre ex &
Gagn.) ở Việt Nam” từ đó góp phần xác định thành phần hoá học của các hợp
chất và tìm ra nguồn nguyên liệu cho ngành hoá dược
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi có các nhiệm vụ:
- Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các
hợp chất từ lá cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis Pierre ex &
Gagn)
- Phân lập và xác định cấu trúc hợp chất từ lá cây giác đế miên
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Họ Na (Annonaceae)
1.1.1 Đặc điểm thực vật và phân bố
Họ Na (Annonaceae) còn được gọi là họ Mãng cầu, là một họ thực vật
có hoa bao gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi hay dây leo Đây là họ lớn nhất
của bộ Mộc lan (Magnoliales), với khoảng 2.300 đến 2.500 loài trong
120-130 chi Chi điển hình của họ nay là Annona (na, mãng cầu xiêm) Họ này
sinh trưởng chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và chỉ có một ít loài sinh
sống ở vùng ôn đới (Asimini) Theo Leboeuf và cộng sự có khoảng 900 loài
ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở Châu Phi và Madagascar, 950 loài ở Châu Á
cứu rất kĩ lưỡng Các nhà khoa học đã xác định cấu tạo hoá học và thử tác dụng sinh học của chúng (về tim mạch, độc tính và các hoạt tính dược lý
Trang 6trọng Các chất không phải alkaloit của họ Na (Annonaceae) bao gồm kauran, lignan, acetogenin, steroit và các hợp chất thơm
1.1.3 Ứng dụng của một số cây thuộc họ Na
Vỏ, lá và rễ được dân gian dùng để chữa bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, tiêu chảy Các nghiên cứu dược lí đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn
và đặc biệt là khả năng sử dụng trong hóa trị liệu của một số thành phần hóa học của lá và vỏ Nghiên cứu bước đầu về khả năng chữa bệnh ung thư ở Việt Nam thì trong đó cũng có một số lượng lớn cây họ Na
*Chi Uvaria là một trong những chi lớn nhất của họ Na, ở Việt Nam có
khoảng 16 loài
- Kỳ hương (Uvaria microcarpa) vỏ dùng làm thuốc chống tiêu hóa
- Bù dẻ trườn (Uvaria microcarpa) Chứa hợp chất tonkinelin có hoạt tính
chống ung thư bạch huyết
*Chi Polyalthia – quần dầu, Việt Nam có 26 loài
- Chùm rụm (Polyalthia intermedia), lá dùng chữa bệnh ho ra máu
- Ngấn chày (Polyalthia thorelie), vỏ dùng chữa đau dạ dày
- Quần đầu vỏ xốp (Polyalthia suberosa), quả dùng để ăn
- Quần đầu bảo chánh (Polyalthiaevecta)cành và lá dùng chữa sốt rét
*Chi desmos – hoa dẻ, ở việt nam có 5 loài
-Dẻ lông đen (Desmoscochinensis) lá uống tăng sự tiết sữa
Trang 7- Hoa dẻ thơm (Desmos chinensis ) nước sắc từ hoa chữa bệnh khó đẻ, rễ
- Dà dà (Fissistigma polyanthoides) chữa tiêu chảy
- Phát lãnh công (Fissistigma pêtloti) Dùng làm thuốc chữa sốt rét
*Chi Annona – Na , mảng cầu : Việt Nam có khoảng 4 loài
- Na (Annona squamosa) Ăn quả chín, hạt độc dùng làm thuốc diệt côn
trùng , lá nghiền nát chữa khối u, ung nhọt
- Mảng cầu xiêm (Annona muricata) Ăn quả chín, lá dùng làm da vị có
tác dụng trấn an, trị cúm, ho, lỵ
- Lê(Annona glaba) Ăn quả chín
*Chi cananga – ngọc Lan , Hoàng Lan : Việt nam có loài:
- Ngọc lan tây (Canangaodorate), hoa khô chữa sốt rét, tinh dầu thơm của gỗ pha nước uống chữa giun, sốt , ghẻ
*Chi Xypopia – giền : ở Việt Nam có các loài:
- Giền đỏ (Xypopiavielana) lá sắc uống chữa đau lưng, tê thấp
- Giền trắng (Xypopia pierei)
*Chi goniothalamus - giác đế : ở Việt Nam có 19 loài
1.2 Chi Giác đế (Goniothalamus ( Blume) Hook f & Thoms)
1.2.1 Đặc điểm thực vật
Chi Goniothalamus có các cây bụi hoặc gỗ nhỏ Hoa lưỡng tính Phân quả ngồi hoặc có cuống ngắn Có khoảng 110 loài, phân bố ở châu Á đến Niu Ghinê, tập trung nhiều ở Đông Nam Á Ở Việt Nam có 19 loài.[3]
Trang 8Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 5 – 7m Mọc rải rác dưới tán rừng ra hoa tháng 4 – 5 mang quả tháng 6 – 7
2) Goniothalamus multiovulatus Ast – giác đế nhiều noãn.[1]
Phân bố: Mới thấy ở Thừa Thiên Huế (Hội Mít), Đà Nẵng ( Tourane)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 8 – 10m, nhánh chữ chi, kịch cơm không lông Lá có phiến to, dài 30 - 40cm, không lông, mặt trên láng, nâu đậm lúc khô, gân phụ 16 - 20 cặp, cuống 1,2cm, to, không lông Hoa cô độc ở trên nách lá, rộng 1cm, có 6 tiền diệp ở đáy, cánh hoa cao 1,5cm, cánh hoa trong nhỏ dính nhau hình tháp, trái chín dài 4,5 – 5,5cm, hạt 2- 4, màu tươi Ra hoa tháng 2 – 4, có quả tháng 5 - 7 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh và rừng
3) Goniothalamus Gabriacianus (Baill) Ast – Oxymitra gabria ciana Baill – Goniothalamus saigonensis Pierre ex Fin & Gagnep - giác Đế Sài Gòn
Phân bố: Quảng Trị (A Lưới, A Đớt), Đà Nẵng (đèo Hải Vân), Quảng Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hoà (Ninh Hoà, Vọng Phu), Ninh Thuận (Cà Ná), Kon Tum (Kon Plong, Tân Lập), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đắc Lắc (Đắc Mil, Nam Hà, Đức Minh), Tây Ninh, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Đồng Nai (Chứa Chan), TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn, Thủ Đức), Bà Rịa Vũng Tàu (Bà Rịa, núi Đính, Côn Đảo), Kiên Giang (Hà Tiên, Thuận Yên) Còn có ở Trung Quốc (Hải Nam), Lào, Campuchia
Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 1 – 4m, nhánh non có long, Lá có nhiều phiến tròn dài, dai dai không lông, dạng lá trà, cuống 5mm Hoa cô độc, trên
Trang 9cọng ngăn, cánh hoá trong nhở hơn cánh hoa ngoài, dính nhau ở trên đỉnh tháp, tiệu nhụy nhiều, bao phấn có vách ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1 noãn, trái xoan dài 11mm, hột 1-2mm Mọc rải rác trong rừng núi đất, ở độ cao 100 – 800m Ra hoa tháng 12 – 5 (năm sau), mang quả từ tháng 6 – 11thứ sinh.[1]
4) Goniothalamus elegans Ast – giác đế thanh lịch
Phân bố: Quảng Bình ( La Mâm)
Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 2 – 4m, nhánh xám đen, lá có phiến hẹp thon, lúc già không lông, gân phụ 10 – 12 cặp, cuống 4 - 6mm Hoa cô độc ở nách lá, cánh hoa trong nhỏ hơn cánh hoa ngoài, chóp dính nhau hình tháp, tiểu nhụy nhiều, bao phấn với nhiều ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1 noãn Mọc rải rác trong rừng thứ sinh Ra hoa tháng 4 – 6 có quả tháng 6 – 7 [1]
5) Goniothalamus expansus Craib – giác đế xoè
Phân bố: Ở Gia Lai (Kon Hà Nừng) Còn lại gặp ở Thái Lan
Dạng sống và sinh thái : bụi nhỏ cao khoảng 3m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh Ra hoa tháng 4 – 7.[1]
6) Goniothalamus donnaiensis Fin & Gagnep – giác đế nhung, giác đế đồng
nai
Phân bố: ở Khánh Hoà (Nha Trang), Kon Tum (Sa Thầy, Mo Ray), Đắc Lắc (Đắc Nông, Phú Quảng, Krông Pắc, Hoà Lễ, Khê Ngọc Điền), Lâm Đồng (Bảo Lộc), Ninh Thuận (Cà Ná), Đồng Nai (Chao Shan)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 5m Nhánh có lông hoe, lá có phiến nón ngược, chóp mũi, đáy từ từ hẹp, có lông ở mặt dưới, hoa ở nách hay nhánh vừa rụng lá, cánh hoa trong nhỏ hơn và dính nhau ở trên, dài 2 – 2,5cm, tiểu nhụy có ngăn ngang ở buồng phấn, tâm bì có lông, noãn 1 – 2 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh, nơi ẩm Ra hoa tháng
4 – 6, có quả tháng 11 – 12.[1]
7) Goniothalamus gracilipes Ban – giác đế cuống dài
Phân bố: Mới thấy ở Đắc Lắc (Đắc Mil, Đức Minh, Thuận An)
Trang 10không lông, gân phụ 12 -13 cặp, cuống 1,5 cm Hoa cô độc ở nách lá rụng, cánh hoa liền mảnh, cánh hoa trong nhỏ hơn, tiểu nhụy nhiều, dài, buồng phấn có ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1-2 noãn Trái thành cụm dày to 5cm, vàng lúc chín, không lông, 2 hạt Loài hiếm, rất đặc trưng bởi có lá dài to và dạng
lá (đường kính 2 – 3cm) Mọc rải rác ở rừng nguyên sinh, nơi ẩm, vùng núi đất, ở độ cao dưới 300m
Đây là loài hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Công dụng: Gỗ phẩm chất trung bình, dùng đóng gỗ gia dụng, làm guốc, làm bao bì.[1]
9) Goniothalamus chartaceus – cây chân kiềng, giác đế giấy
Phân bố: Quảng Ninh (Đầm Hà, Lung Vân), Lạng Sơn (Hữu Lũng, Minh Sơn)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 4 – 6 m, nhánh không lông, lá có phiến thon thon – ngược hẹp, to 11-17x1,7-2,8 cm, dai dai, đáy nhọn, gân phụ 10 -
12 cặp, cuống 5mm Hoa cô độc mọc ở nách lá, hoa - phụ 2, lá đài 9x4 mm, cánh hoa ngoài hẹp, cao 1,8 cm, cánh hoa trong cao 1cm, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều, có lông nâu , mọc rải rác trong rừng thứ sinh Ra hoa tháng 5 –
6, có quả khoảng tháng 7 – 8.[1]
10) Goniothalamus ninhianus Ban – giác đế Lâm Đồng
Phân bố: Mới thấy ở Lâm Đồng ( Lạc Dương: Suối vàng)
Trang 11Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 2m Ra hoa tháng 5 Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh
11) Goniothalamus takhtajani Ban – giác đế Tam Đảo
Phân bố: Mới thấy ở Vĩnh Phúc ( Tam Đảo)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 3m Mọc rải rác ven khe suối trong rừng nguyên sinh ở độ cao 400 – 500m Ra hoa tháng 3 – 4, có quả tháng 5 –
6
Loài này đặc trưng bởi thân 3 – 4 cạnh (Gần như thành cánh), lá gần như không cuống, có gốc phiến hình tim, núm nhụy mang một nhúm lông ở đỉnh Loài này rất hiếm, lại mọc trong rừng ẩm nơi có suối, rất dễ bị tuyệt chủng nếu môi trường sống bị huỷ hoại Loài này đã đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.[1]
12) Goniothalamus chinencis Merr & Chun – giác đế Trung Hoa
Phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang ( Bắc Quang, Đồng Tâm, Quảng Ninh (Ba Mùn) Còn có ở Trung Quốc (Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 2 – 3m Mọc rải rác ở trong rừng nguyên sinh, vùng núi đất Ra hoa tháng 5 – 7, mang quả tháng 8 – 9.[1]
13) Goniothalamus tenuifolius King, 1892 - Gonithalamus Kunstleri King,
1892 – Goniothalamus caudifolius Ridl, 1914 – Giác đế lá mỏng
Phân bố: Kon Tum ( Đắc Glây, Đác môn), còn có ở Malaixia
Dạng sống và sinh thái: Bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 2 – 7m Ra hoa tháng 3 – 6, có quả tháng 5 - 7 Mọc rải rác trong rừng thứ sinh.[1]
14) Goniothalamus touranensis Ast, 1938 - giác đế Đà Nẵng
Phân bố: Đà Nẵng (Đèo Hải Vân, Tourane), Quảng Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hoà (Hòn Tre), Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa), Lầm Đồng (Bảo Lộc, Lộc Tân)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 2 – 5m, nhánh có lông hoe, rồi đen đen
Lá bầu dục dài, dài 20cm, có đuôi dài vài cm, gân phụ rất mịn, 14-15 cặp, cuống 1cm, đen đen Hoa cô độc ở nách lá, cọng ngắn, lá đài cao, cánh hoa trong nhở hơn, đính nhau ở trên thành tháp, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều, 1-
Trang 12cuống 1cm, đen đen Hoa cô độc ở nách lá, cọng ngắn, lá đài cao, cánh hoa trong nhỏ hơn, đính nhau ở trên thành tháp, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều, 1-2 noãn Trái tròn dài, dài 2cm, đầu nhọn, hột 2, màu tươi Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao 100 – 800m.[1]
16) Goniothalamus undulatus Ridl.1920 – Goniothalamus latestigma Fiche,
1927 – giác đế lượn sóng
Phân bố: Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa) Còn có ở Myanma, Thái lan Dạng sống và sinh thái: Bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 5 – 10m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh ở độ cao 200 – 300 Ra hoa tháng 5 - 7 , mang quả tháng 8 – 10.[1]
17) Goniothalamus vietnamensis Ban - bổ béo đen
Phân bố: Mới thấy ở Cao Bằng (Quảng Hoà, Mỹ Hưng), Quảng Ninh (Móng Cái, Pò Hèn), Phú Thọ (Cầu Hai), Hà Tây (Ba Vì, Minh Quang)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 2 – 3 m Mọc rải rác trong rừng thứ sinh ở độ cao 200 – 300 Ra hoa tháng 4 - 6, mang quả tháng 7 – 10.[1]
18) Goniothalamus wightii Hook F & Thoms 1855 – giác đế Ấn Độ
Phân bố: Đà Nẵng (Sơn Trà), Khánh Hoà (Ninh Hoà), Ninh Thuận (Phan Rang, Cà Ná), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đồng Nai ( Núi Chứa Chan, Biên Hoà, Xóm Trường), còn có ở Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia
Dạng sống và sinh thái: Bụi hay gỗ nhỏ, cao 1 – 6 m Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh Ra hoa tháng 5 - 8, mang quả tháng 9 – 12.[1]
Trang 1319) Goniothalamus yunanensis W T Wang, 1954 - giác đế Vân Nam
Phân bố: Lào Cai (Sapa, Sang Ta Van), Sơn La (Mộc Châu, Mường Sang, Chiềng ve) Lạng Sơn (Hữu Lũng, Đồng Tâm), Hoà Bình (Chợ Bờ), Hà Tây (Chùa Hương) Còn có ở Vân Nam – Trung Quốc
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 10 m Mọc rải rác trong rừng vùng núi đất, trên độ cao 350m Ra hoa tháng 4 - 6.[1]
1.2.3 Các nghiên cứu về thành hóa thực vật của Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin & Gagnep – giác đế
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hoá học của một số loài về chi
Goniothalamus ( giác đế), và đã phát hiện được nhiều hợp chất, cụ thể như
Trang 14Chất hydroxyltetrahydrofuran (3) từ cây (goniothalamus donnaiens):
Trang 15Năm 2005, Chatchai Wattanapiromsakul cùng các cộng sự ở Thái Lan
đã tách đƣợc Goniothalamin từ rễ và thân cây Goniothalamus macrophyllus (Blume) Hook và Thomson Goniothalamin (6) cho thấy một cytoxicity hứa
hẹn đối với tế bào ung thƣ ruột kết và đã xác định đƣợc cấu trúc của nó nhƣ sau:[7]
(6)
Ở Anh, năm 1998 Darren J Dixon, Steven V Ley đã phân lập từ lá và
cành của (sesquipedalis goniothalamus) đƣợc chất Goniodiol 1 (7) có cấu trúc
nhƣ sau:
(7)
Chất này có hoạt tính sinh học chọn lọc chống lại sự phát triển của tế bào ung thƣ phổi.[8,11]
Ở Malayxia, Aryanti Abdullah, đã phát hiện trong trái cây của Peel
(Goniothalamus scortechinii) ở Malayxia các chất sau: pinocembrine (8),
altholactone (9), goniofufurone (10), goniotriol (11) và goniopypyrone (12):[10]
Trang 16Ở Brazil các tác giả Patriciade A Amaral, Julien Petrignet, Nicolas Gouault, Taciane Agustini, Françoise Lohézic-Ledévéhat, Alexandre Cariou,
René Grée, Vera L Eifler-Lima, Michèle David đã cùng nhau phát hiện đƣợc các hoạt tính gây độc với tế bào của các chất có trong thân vỏ của cây
arvensis goniothalamus kavain (13), methysticin (14), desmethoxyyangonin
(15), dihydrokavain (16), dihydromethysticin (17) và yangonin (18) [9]
10
11
12
Trang 17Đến năm 2003, Qing Mu, Yi Neng He, cùng các cộng sự đã phân lập
đƣợc 2 chất leiocarpin E 1 (21) iocarpin E 2 (22) từ cây goniothalamus leiocarpus có cấu trúc nhƣ sau:[12]
Trang 18Ở Thái Lan, vào năm 2009 tác giả Pradit Pradupsri, Chatchanok oetchutinat cùng các cộng sự đã phân lập và phát hiện ra hoạt tính chống ung
thƣ của styrylpyrone (23) từ lá và cành của goniothalamus maewongensis
Một số đƣợc phát hiện có cấu trúc nhƣ sau:
(24)
Goniodiol có khả năng bắt giữ các tế bào ung thƣ.[8,11]
1.3 Hoạt tính sinh học các hợp chất styryl lacton
Họ Na (Annonaceae) còn đƣợc gọi là họ Mãng cầu, là họ lớn nhất trong
bộ Mộc lan Thực vật họ Na gồm 120 - 130 chi, với khoảng 2300 – 2500 loài, bao gồm các loại cây thân gỗ, cây bụi và dây leo Rất nhiều loài trong họ Na
đã đƣợc nghiên cứu kỹ lƣỡng về thầnh phần hóa học và thử tác dụng sinh học
21 R = H Leiocarpin E1
22 R = COCH3 iocarpin E2
Trang 19của chúng (về tim mạch, độc tính và các hoạt tính dược lý khác), một số hợp chất có tiềm năng rất lớn trong việc sản xuất thuốc
Kết quả của những nghiên cứu này cho thấy, ngoài các ankaloit các cây
họ Na còn chứa một lượng lớn các chất thuộc nhiều loại khác nhau gọi chung
là non – ankaloit (không phải ankaloit), có nhiều hoạt tính kháng tế bào ung thư và chữa bệnh tim mạch rất quan trọng Các non – ankaloit của họ Na bao gồm kauran, lignan, acetogenin, steroit…
Trong đó có một nhóm chất trao đổi bậc hai được gọi là các hợp chất styryl lacton, chúng được phân lập chủ yếu từ các loài Giác đế
(Goniothalamus) thuộc họ Na Styryl lacton đầu tiên được phân lập trong họ
Na là (R)- Goniothalamin vào năm 1972 từ dịch chiết của một số loài
Goniothalamus
Các nghiên cứu dược lý trước đó đều chứng minh các styryl lacton có thể được sử dụng nhiều để chữa trị các bệnh lây nhiễm (do vi khuẩn và nấm), bệnh sốt vàng da, giun chỉ, sản xuất thuốc chống viêm, thuốc cầm máu, thuốc diệt trùng và thuốc chống u, bướu
Mỗi styryl lacton đều có một vòng , - unsaturated - - lacton trong cấu trúc của chúng, không thể tìm được một cấu trúc tương tự như vậy từ các lớp chất khác Điều này giải thích vì sao chúng là nhóm có nhiều hoạt tính sinh học có giá trị, độ độc tế bào cao và là tác nhân chống ung thư hiệu quả
Thời gian qua, từ các loài Giác đế (Goniothalamus) các nhà khoa học
đã phân lập được nhiều styryl lacton có các hoạt tính sinh học có giá trị mở ra tương lai nhiều triển vọng cho việc nghiên cứu sản xuất các loại thuốc chống
ung thư Kiểm tra hoạt tính sinh học đối với goniothalamin oxide (1), goniodiol (2) và altholacton (3) và goniopypyron (4) được phân lập từ
Goniothalamus griffithu cho thấy cả bốn styryl lacton này đều có tác dụng
độc tế bào
O O
3
O
O H
O H
O
4
Hình 1.1 Cấu trúc của goniothalamin oxide (1), goniodiol (2), althlacton (3)
và goniopypyron (4)
Trang 20Hình 1.2 Cấu trúc của obolacton (5) và obochalcolacton (6)
Dựa vào những đặc trƣng cấu trúc của các hợp chất đã tách đƣợc, các nhà khoa học đã chia styryl lacton làm 6 nhóm, gồm: styryl pyron, furano pyron, furano furon, pyrano pyron, butenolide và heptolide
Styryl pyron Furano pyron Furano furon
Pyrano pyron Butenolide Heptolide
Hình 1.3 Các khung styryl lacton cơ bản đƣợc tách từ chi
Goniothalamus
Trang 211.3.1 Furano pyron
Hợp chất đầu tiên của nhóm này đƣợc phát hiện là altholacton (3), đƣợc
tách ra từ vỏ cây Goniothalamus giganteus và công bố với tên gọi khác là
goniothalenol Altholacton (3) và tất cả các furano pyron khác đều có nguồn
gốc sinh học từ việc chuyển hóa của các styryl pyron Furano pyron là nhóm
có số lƣợng các chất nhiều thứ hai trong các nhóm styryl lacton
O
O O
O O
Ph
O O
Ph
O O
Cũng từ vỏ cây Goniothalamus giganteus, đã phân lập đƣợc hai furano
furon là goniofufuron (12) và 7-epi-goniofufuron (13) Từ kết quả kiểm tra hoạt tính, Fang và cộng sự cho thấy tác dụng độc tế bào của chất (12) chống lại các tế bào ung thƣ phổi, ung thƣ vú và ung thƣ kết tràng với giá trị ED50
< 4g/ml
O
O O
OH
OH
O
O O
Trang 225-deoxy-Từ Goniothalamus giganteus phân lập đƣợc hai butenolide quan trọng
là goniobutenolid-A (16) và goniobutenolid-B (17) Tiến hành kiểm tra hoạt tính sinh học của chất (16), Teixera và cộng sự cho biết nó có độ độc vừa phải đối với các tế bào ung thƣ kết tràng (IC50 = 101,5 M)
OH O
O
OH
OH O
OH O
phân lập từ rễ của Goniothalamus giganteus Cách đây không lâu, các nhà
khoa học đã phân lập đƣợc hai heptolide mới là almuheptolide-A (20) và
almuheptolide-B (21) từ rễ của loài Goniothalamus arvusis
Trang 23O
O H
OH
OH O
OEt
O
OH
OH O
O
OH
OH O
O
OH OEt
2 Hình 1.9 Cấu trúc của etharvendiol (22)
Mặc dù chứa đựng nhiều hoạt tính sinh học có giá trị, đặc biệt là khả năng kìm hãm sự phát triển không kiểm soát của nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau, nhưng hiện nay mới biết được khoảng hơn 90 styryl lacton (bao gồm cả các chất được điều chế bằng phương pháp tổng hợp), và đa phần trong
chúng được phát hiện chủ yếu ở các loài Giác đế (Goniothalamus) Vì vậy
việc mở rộng nghiên cứu trên các loài thực vật khác nhằm phân lập, xác định cấu trúc các styryl lacton với mục đích tìm nguyên liệu cho ngành hóa dược là một nhiệm vụ quan trọng
Trang 24rậm gốc lá tròn và hơi lệch, chóp lá tù, gân bên rất mờ (khó đếm), vấn hợp cách mép 3-4 mm, cuống lá dài 2-3 mm, có lông tơ Hoa ở ngoài nách lá (đối diện với lá), mọc đơn độc ở trên cuống mảnh dài 2-2,5 mm Lá đài hình tam giác dài chừng 2 mm Cánh hoa dày, ở mặt ngoài hơi có lông, những chiếc ngoài hình mác, 4-5 x 2 mm, vách hoa trong hình bầu dục 7-10 x 3-5 mm Nhị dài khoảng 1mm Lá noãn 40-60, dài trên 2 mm, bầu có lông rậm, vòi nhẵn, núm nhuỵ có lông ngắn Noãn 1, đính gốc Đế hoa hơi lồi, có lông rậm Phân quả hình cầu, đường kính cỡ 5-6 mm, không có lông; cuống phân quả mảnh, dài 1 cm; vỏ quả rất mỏng dính với hạt [1], [2]
Sinh học và sinh thái: Cây ra hoa tháng 4 đến tháng 7, có quả tháng
8-12 Mọc rải rác ở ven rừng
Phân bố: mọc ở ven rừng khắp miền rừng núi như Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Kom Tum, Gia Lai, Đồng Nai Còn có ở Trung Quốc, Đài Loan, Lào [1], [2], 3]
Trang 25Hình 1.1: Ảnh cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis)
1.4.2 Thành phần hoá học
Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học của các cây thuộc chi Goniothalamus Năm 2009, Trần Đăng Thạch, Phạm Văn Cường, Đoàn Thị Mai Hương đã tách và phân lập được 10 chất từ lá của cây giác đế miên.Trong khuôn khổ báo nàycác tác giả đã thông báo về việc phân lập được 10 hợp chất từ cặn dịch không chứa ancaloit của lá cây giác đế Tamir Kết quả thử hoạt tính sinh học sơ bộ cho thấy dịch chiết EtOAc của lá cây ức chế 67,5 % dòng tế bào ung thư KB ở nồng độ 1 g/ml Cấu trúc của các chất được xác định là : goniothalamin(25) axit cinnamic , (26) axit p - methoxycinnamic (27)axit-3,4 -đimethoxycinnamic (28)syrngaldehyde (29) vanilline (30) 4- hydroxybenzaldehyde (31) axitprotocatechuic (32) 2,4,6- trimethoxyphenol (33) và 1- hexatriacontanol (34): [5]
Trang 26(27) (28)
5 43
2
6
(29) (30)
CHO
OH
16
2
7 (31) (32)
Trang 27(33) (34)
Năm 2010, Trần Đăng Thạch, Phạm Văn Cường, Đoàn Thị Mai Hương, Trần Văn Hiệu, Nguyễn Văn Hùng, Châu Văn Minh đã công bố về việc phân lập và xác định cấu trúc hóa học của 10 hợp chất từ lá của cây Giác
đế Tamin Trong khuôn khổ báo này tác giả trình bày việc phân lập và xác
định cấu trúc hóa học của 10 ancaloit từ lá cây (goniothalamus tamirensis
Pierre)Cấu trúc của các chất được xác định là N- nornuciferine (35) Norisocorydine (36), Isocorydine (37), 3-hydroxynornucefrine (38), O-methylisopiline (39), Annonaine (40), Roemeroline (41), Glaunine (42) và Liriodenine (43) [6]
Trang 28N O
O
(45)
Ở Đại học Vinh, TS Trần Đình Thắng cùng các cộng sự cũng đã công
bố về việc phân lập và xác định cấu trúc 3 hợp chất từ lá cây Giác đế Miên đó là: aristolactam BII (46), aristolactam BI (47), aristolactam AII (48) [7]
(46) (47) (48)
Năm 2010, Bùi Hữu Tài, Vũ Thị Huyền, Trần Thu Hương, Nguyen Nguyễn Xuân Nhiệm, Eun-MiChoi,, Jeong Ah Kim, Phan Quốc Long, Nguyễn Mạnh Cường, và Young Ho Kim đã công bố về việc phân lập và xác định cấu trúc hóa học của 4 chất là: (+) 8-epi-9- deoxygoniopypyrone (1), 9-
Trang 29deoxygoniopypyrone (2), deoxygoniopypyrone (3), (-) 8-epi-9- deoxygoniopypyrone (4) [11]
O H
H H
H
(3) (4)
Trang 30tươi sau khi lấy về được rửa sạch, để nơi thoáng mát hoặc sấy khô ở 400
C Mẫu được xử lý tiếp bằng phương pháp chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các hợp chất dùng cho nghiên cứu được nêu
Hiện màu: hơi Iot và đèn UV 254 nm
- Các phương pháp kết tinh phân đoạn
2.1.3 Phương pháp khảo sát cấu trúc các hợp chất
Cấu trúc của các hợp chất được khảo sát nhờ sự kết hợp các phương pháp phổ:
- Phổ tử ngoại (UV)
- Phổ khối lượng va chạm electron (EI - MS)
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C-NMR
Trang 313OH), n-butanol (C4H9OH), etylaxetat (CH3COOC2H5), axeton (CH3COCH3), nước cất
2.2.2 Dụng cụ và thiết bị
Nhiệt độ nóng chảy đo trên kính hiển vi Boetius hoặc trên máy Yanaco MP-S3
Phổ tử ngoại UV được ghi trên máy Hitachi UV-3210
Phổ khối lượng EI-MS được ghi trên máy HP 5989 B-MS với năng
lượng bắn phá ở 70 eV
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR được đo trên máy Bruker 500MHz, phổ 13C-NMR, DEPT, HMBC, HSQC và COSY được đo trên máy Bruker 125 MHz
2.3 Nghiên cứu các hợp chất
2.3.1 Phân lập các hợp chất
Mẫu lá cây giác đế miên (Goniothalamus tamirensis) thu hái ở Nghệ
An vào tháng 4/2009, được TS Trần Huy Thái (Viện Sinh Thái và Tài nguyên Sinh vật-Viện Khoa Học và Công nghệ Việt Nam) xác định, tiêu bản được lưu giữ tại khoa Sinh, Trường Đại học Vinh