Từ khi bước vào công cuộc đổi mới năm 1986, cùng với việc từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng các lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta ngày càng xác định rõ quan điểm mới về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đó là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài học của mấy thập kỷ trước đây, kết hợp với sự nghiên cứu, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của thế giới
Trang 1Chuyờn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức theo định hớng xã hội chủ nghĩa
* * *
I CễNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ KINH TẾ TRI THỨC
1 Cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ
1.1 Quan điểm về cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ trong thời kỳ đổi mới
Từ khi bước vào cụng cuộc đổi mới năm 1986, cựng với việc từng bướcphỏt triển nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, giải phúng cỏclực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta ngày càng xỏc định rừquan điểm mới về cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đất nước Đú là kết quả tổngkết thực tiễn, rỳt ra từ những bài học của mấy thập kỷ trước đõy, kết hợp với sựnghiờn cứu, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của thế giới
Đại hội VI: Nờu quan điểm xõy dựng những tiền đề cần thiết để đẩymạnh cụng nghiệp húa xó hội chủ nghĩa và coi việc thực hiện 3 chương trỡnhmục tiờu: lương thực thực phẩm, hàng tiờu dựng và hàng xuất khẩu là cụ thểhúa nội dung chớnh của cụng nghiệp húa
Hội nghị Trung ương VII khoỏ VII của Đảng (1994) đó chỉ rừ: “Cụngnghiệp hoỏ hiện đại hoỏ là quỏ trỡnh chuyển đổi căn bản, toàn diện cỏc hoạtđộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xó hội từ sử dụng laođộng thủ cụng là chớnh, sang sử dụng một cỏch phổ biến sức lao động, cựngvới cụng nghệ, phương tiện và phương phỏp tiờn tiến, hiện đại, dựa trờn sựphỏt triển của cụng nghiệp và tiến bộ khoa học-cụng nghệ, tạo ra năng suấtlao động xó hội cao” 1
Coi sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ ở nước ta trong thời kỳ đổimới là một cuộc cỏch mạng toàn diện và sõu sắc trờn mọi lĩnh vực của đờisống kinh tế, xó hội, tại Đại hội Đảng VIII (1996), khi thụng qua đường lối
1 ĐCSVN, VK Đảng thời kỳ đổi mới, Về phỏt triển kinh tế - xó hội, Nxb CTQG, H 2005, tr 235
Trang 2đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta nhấn mạnh, mục tiêu củacông nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Xây dựng nước ta thành một nước côngnghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sảnxuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sốngvật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh.” 2
Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, bối cảnh trong nước và quốc tếtiếp tục có những thay đổi mau chóng Báo cáo chính trị tại Đại hội IX, Đảng
ta nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học và công nghệ
sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quátrình phát triển lực lượng sản xuất.” 3
Từ nhận định đó, Đại hội IX của Đảng ta xác định: “Con đường côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa cónhững bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đấtnước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt làcông nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càngnhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học
và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức.” 4
Tại Đại hội X, Đảng chỉ rõ: Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt
và những đột phá lớn Và, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức Coikinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đạihóa” 5
Như vậy: Qua các kỳ Đại hội, tư duy mới của Đảng ta về công nghiệphóa thể hiện là: Chúng ta tiến hành kiểu công nghiệp hóa rút ngắn thời giangắn với phát triển kinh tế tri thức để chuyển từ lao động thủ công sang laođộng sử dụng máy móc trong nền kinh tế công nghiệp hiện đại, có cơ sở vậtchất kỹ thuật cao, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
2 ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr.80.
3 ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.64.
4 SĐD, tr.91.
5 ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.21&28,29.
Trang 3trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ văn minh
1.2 Những đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nộidung, hình thức, qui mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược Nhữngnét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là quá trìnhrộng lớn, phức tạp và toàn diện Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnhvực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, có sự kết hợp giữa bước đi tuần tự vớibước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng với phát triển theochiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng với biến đổi về chất của các tác nhântham gia quá trình Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính baotrùm rất cao, theo đó đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu xa hơn là nước ta trở thành mộtnước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Tiêu chí của một nước công nghiệp: không chỉ đơn thuần xét ở mặt trình
độ trang bị kỹ thuật, công nghệ, phát triển công nghệ mà phải xét tổng hợpnhiều yếu tố mặc dù trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ vẫn là yếu tố hàngđầu, (theo tài liệu nghiên cứu các chuyên đề NQĐH IX):
Lực lượng sản xuất đạt trình độ tương đối hiện đại
Phần lớn lao động thủ công đã được thay thế bằng sử dụng máy móc.Các công nghệ tiến tiến được áp dụng phổ biến
Điện khí hoá được thực hiện trong cả nước
Đại bộ phận lao động đã qua đào tạo
Trình độ nghiên cứu và ứng dụng của khoa học vào sản xuất khá cao.Quan hệ sản xuất được phát triển phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất 6Một số nhà nghiên cứu cho biết mấy tiêu chí có định tính và định lượng
6 QĐNDVN, TCCT, Các chuyên đề nghiên cứu quán triệt NQĐH Đảng lần thứ IX, Nxb QĐND, Hà Nội
2001, tr.77.
Trang 4a Áp dụng công nghệ hiện đại khoảng 60% trở lên; tỷ trọng lao động phinông nghiệp đạt 70-75% trở lên; tỷ trọng lao động có trình độ cao đạt 30% trởlên; áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và quản lýnền kinh tế (100% công sở và doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin).
b Đạt trình độ cao về hội nhập kinh tế quốc tế (độ mở cửa nền kinh tế đạttrên 90%; tốc độ xuất khẩu gấp 2-3 lần tốc độ tăng GDP; hội nhập với thị trườngthế giới về nhiều lĩnh vực; hội nhập với thông lệ quốc tế về các thể chế…)
c Công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP đạt 90% trở lêntrong đó tỷ trọng công nghiệp đạt khoảng 40-45% GDP; tỷ trọng nông nghiệpcòn khoảng 10% trở xuống; tổng đầu tư xã hội /GDP đạt trên dưới 40%; kếtcấu hạ tầng đáp ứng đầy đủ cho phát triển kinh tế và đời sống xã hội
d Mức sống và văn hoá - xã hội: Chỉ số HDI đạt nhóm 30-40 số nướctrên cùng của thế giới; GDP/ người = 4000 USD; tỷ lệ lao động được đào tạođạt trên 70%; hoàn thành phổ cập THCS trên phạm vi cả nước; tuổi thọ bìnhquân 75; nhà ở đô thị đạt trên 20m2/ người; cả nước không có hộ nghèo; hệ sốGINI nhỏ hơn 0,4
Thứ hai: Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng khoa học-công nghệđang diễn ra mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong công nghiệphoá rồi mới tiến hành hiện đại hoá, mà phải tiến hành đồng thời và đồng bộcông nghiệp hoá và hiện đại hoá như một quá trình thống nhất Có thể nhìnnhận quá trình này từ hai mặt thống nhất với nhau: Một mặt, đó là quá trìnhxây dựng nền công nghiệp hiện đại, tức là tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật (lựclượng sản xuất) của nền kinh tế; Mặt khác, đó là quá trình cải cách thể chế và
cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, sangkinh tế thị trường và mở cửa hội nhập Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá
là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trongkhu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nước trongkhu vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới
Như vậy có 2 lý do mà công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa:
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh như vũ bão Một
Trang 5số nước đã từ kinh tế công nghiệp chuyển sang kinh tế tri thức, chúng ta phải tăngcường mở cửa hội nhập, đi tắt đón đầu, phải xây dựng nền công nghiệp lớn hiện đại.Các nước đang phát triển (như Việt Nam) muốn đẩy lùi nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới nên phảitranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, tiếp cận kinh tế trithức để hiện đại hoá những ngành, khâu lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt Thứ ba: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cần và có thểđược“rút ngắn” Việc cần được “rút ngắn” ở đây là đòi hỏi khách quan để đấtnước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, kém phát triển Bên cạnh đó, điều kiệntrong nước và bối cảnh quốc tế tạo điều kiện cho phép nước ta có thể “rútngắn” quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Về cơ bản cách để nước ta cóthể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” bao gồm hai mặt: Mộtmặt, chúng ta có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước đi trước liên tụctrong một thời gian dài để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so vớicác nước đó (thực chất là tăng tốc để đuổi kịp); Mặt khác, có điều kiện lựachọn và áp dụng một phương thức công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho phép rútngắn thời gian (bỏ qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu phát triểntuần tự), để đạt tới một nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn (thực chất làlựa chọn con đường, bước đi và giải pháp CNH để đi nhanh tới hiện đại) Haimặt này không đối lập mà thống nhất với nhau và đang tiếp tục được làm sáng
tỏ hơn con đường đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Thứ tư: Ở nước ta quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá có quan hệchặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế tri thức Trong thời gian qua tại không
ít các diễn đàn và công trình nghiên cứu khoa học, mối quan hệ giữa côngnghiệp hoá, hiện đại hoá với kinh tế tri thức đã từng bước được làm rõ Về đạithể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức, mới có khả năng thayđổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hay nóicách khác, biện chứng của vấn đề là ở chỗ phát triển kinh tế tri thức tạo điềukiện cho việc thực hiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” ởnước ta Ngược lại, việc thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá trình công
Trang 6nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để
đi vào phát triển kinh tế tri thức
1.3 Những thuận lợi và khó khăn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam hiện nay.
Bối cảnh trong nước và quốc tế ngày nay hàm chứa nhiều thuận lợi nhữngcũng đặt ra không ít khó khăn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Việt Nam Những thuận lợi và khó khăn này tồn tại đan xen với nhau, có thểchuyển hoá cho nhau Việc phân định một cách tương đối và nhận thức rõnhững thuận lợi, khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch địnhmục tiêu, nội dung và phương pháp tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoácũng như việc thực hiện các nhiệm vụ trong thực tế Về đại thể, những thuậnlợi và khó khăn được khái quát ở một số nội dung sau:
+ Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ cao liên tục trongnhiều năm, với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp,tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ GDP tăng liên tục 25 năm (Hàn Quốc 23năm; Trung Quốc 31 năm) (1997: 8,15%; 1998: 5,76; 1999: 4,77%; 2000:6.79%; 2001: 6,89%; 2002: 7,08%; 2003: 7,34%; 2004: 7,7%; 2005: 8,43%;2006: 8,17%; 2007: 7,5%; 2008: 6,23%; 2009: 5,2% ) CLB 1 tỷ đô trở lênchúng ta có 9 thành viên: Dầu thô; Dệt may, Giày dép, Thủy sản, Sản phẩm
gỗ, Điện tử máy tính, Gạo, Cao su, Cà phê
+ Thế phát triển mới: Việt Nam thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh
tế, quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN,
Trang 7ASEM, APEC và WTO.
+ Động lực phát triển mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới,mạnh mẽ như cạnh tranh thị trường, sự mở rộng các cơ hội, sức mạnh của tinhthần dân tộc trong cuộc đua tranh phát triển kinh tế
+ Lực lượng, chủ thể phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát triển:Nhà nước, nhân dân, đội ngũ doanh nhân, tri thức, quản trị được nâng cao,các yếu tố bên ngoài vốn, công nghệ - kỹ thuật, thị trường, tri thức trở thànhlực lượng thúc đẩy phát triển quan trọng
- Thứ hai: Chính sách hội nhập của Việt Nam đã tận dụng bước đầunhững ưu thế nổi trội của bối cảnh quốc tế hiện nay: Toàn cầu hoá kinh tế;phát triển kinh tế tri thức; hoà bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển giữacác quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá ở Việt Nam
Trong bối cảnh đó Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệuquả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,bảo vệ môi trường Việc tham gia vào các quá trình liên doanh, liên kết, hợptác song phương và đa phương, hợp tác khu vực và quốc tế của nước ta gópphần phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, thu hút được những nguồnlực dồi dào về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tri thức, kỹ năng của thế giới cho đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bên cạnh đó, việc tham gia toàn cầu hoákinh tế cũng tạo động lực cho việc đẩy mạnh những cải cách trong nước theohướng hiện đại phù hợp với khung khổ chung của quốc tế
- Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn, Việt Nam có thể tận dụngđược những lợi thế của “nước đi sau” Bên cạnh việc thu hút những nguồn lựcvật chất và trí tuệ quan trọng như nêu trên, các nước đi sau như Việt Nam còn
có thể học hỏi kinh nghiệm phong phú về công nghiệp hoá, hiện đại hoá củacác nước đi trước Một lợi thế nữa của nước đi sau là chúng ta dễ chuyển đổi
cơ cấu, vì không lệ thuộc vào những cơ sở vật chất đã có (các phí tổn không
Trang 8phải là quá lớn để thay đổi những cái cần thay đổi) Điều này tạo dễ dàng chochúng ta bắt tay vào phát triển kinh tế theo các định hướng cơ cấu đã lựa chọnbao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.
- Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm ở trung tâm vùngkinh tế năng động Đông Nam Á (Thiên thời địa lợi nhân hoà) Thuận lợi choviệc giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế; nước ta có nguồn tài nguyên thiênnhiên tương đối phong phú để phát triển một số ngành công nghiệp quantrọng Đặc biệt nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu trẻ, năng lực trítuệ con người Việt Nam không thua kém các nước, tiếp thu nhanh các tri thứcmới, dễ đào tạo có khả năng sáng tạo
Các số liệu sau đây chứng minh điều nêu trên:
HDI (chỉ số phát triển con người) Việt Nam 2003 theo công bố 2005 củaUNDP là 0,704-xếp hạng 108/171 (Nhật 11, Lào 133) Theo số liệu mới công
bố HDI Việt Nam xếp thứ 116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ(chắc chắn vượtmục tiêu CP đề ra năm 2010 là 0,75.) trong đó: chỉ số GDP bình quân đầungười của Việt Nam (ngang sức mua-USD) 2.490 (TQ là 5.003; TLan 7.595);chỉ số tuổi thọ bình quân Việt Nam: 0,76; chỉ số giáo dục VNam: 0,82
Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranh quốc tế,đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những ngành, những lĩnh vựchiện đại, có thể theo hướng rút ngắn
Về khó khăn:
- Thứ nhất: Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc,hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, trình độ phát triển lực lượng sản xuấtthấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, lạc hậu và còn nghiêng về hướngnội…là những đặc tính của nền kinh tế nước ta sau 20 năm đổi mới Thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới chỉ đang hình thành, chưađồng bộ và chưa vận hành tốt, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng và chưa
có tính khuyến khích cao Nói một cách ngắn gọn nền kinh tế nước ta đangphát triển, đang chuyển đổi
Thực tế này là khó tranh khỏi đối với một quốc gia đang phát triển, có
Trang 9tính tạm thời và được khắc phụ dần trong quá trình đổi mới, tuy nhiên nóđang là một trở ngại lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trongmôi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay Trong đó thách thức đặt ra là nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
- Thứ hai: Tuy bối cảnh quốc tế thể hiện 3 xu thế nổi trội như đã nêu trênđây, song tình hình thế giới luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp,chứa đựng những yếu tố khó lường Việc tham gia ngày càng sâu rộng vàoquá trình toàn cầu hoá, đặt nền kinh tế Việt nam đang đứng trước những khókhăn do cạnh tranh gay gắt, sự dễ bị tổn thương trước các cú xốc từ bên ngoài
và những ảnh hưởng "mặt trái" khác của toàn cầu hoá kinh tế hiện nay Nếuchúng ta không có chính sách và biện pháp để hạn chế và vượt qua những khókhăn trên thì chúng có thể có những tác động mgang tính phá huỷ ghê gớmkéo lùi tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều năm
- Thứ ba: Là nước tiến hành công nghiệp hoá muộn, Việt Nam gặp phảinhững khó khăn của nước đi sau Khó khăn rõ nét là chúng ta phải ở thế bấtlợi trong cạnh tranh quốc tế do năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, hàmlượng vốn và trí tuệ trong sản phẩm không cao lại thường bị động trong việctuân thủ các luật lệ quốc tế Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá, nước ta phải đối mặt với những vấn đề tài nguyên môi trường,dân số và công ăn việc làm ngày càng gay gắt Mức độ suy kiệt tài nguyênthiên nhiên cùng với sự xuống cấp của môi trường sống là hậu quả của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá trên qui mô toàn cầu, nhưng người gánh chịu lại chủyếu là các nước chậm phát triển, trong đó có nước ta, đó là một khó khănkhông thể lường hết được Nó làm cho chi phí của công nghiệp hoá, hiện đạihoá tăng lên đáng kể, đồng thời làm giảm tính bền vững của quá trình này.Trong khi đó sự gia tăng của dân số của lực lượng lao động nhanh hơn tốc độtăng việc làm Ở nước ta đây là một bài toán chưa có lời giải hữu hiệu
2 Kinh tế tri thức
2.1 Quan niệm về kinh tế tri thức
* Quan niệm trên thế giới về kinh tế tri thức
Trang 10Trên thế giới hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau vềkinh tế tri thức, có thể phân loại một cách tương đối cách hiểu khác nhau vềkinh tế tri thức dựa vào ba cách tiếp cận sau:
a Cách hiểu kinh tế tri thức dựa trên khía cạnh hẹp về tri thức
Có hai cách:
+ Thứ nhất: Hiểu "tri thức" với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức vớikhoa học và công nghệ, hoặc đôi khi còn coi "tri thức" chủ yếu là cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, trong đó 4 công nghệ trụ cột là côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ khônggian vũ trụ Cách hiểu này khá phổ biến ở Mỹ cách đây khoảng 7, 8 năm thấyđược qua các tài liệu của thượng nghị viện Mỹ (2000) Các nước như Ấn Độ,Philippin cũng đã có lúc chấp nhận cách hiểu này
+ Thứ hai: Cách tiếp cận ngành: Tách biệt nền kinh tế quốc dân thànhhai bộ phận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ
Theo quan niệm này khu vực kinh tế tri thức bao gồm các ngành đượcgọi là các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại của OECD) Hai khu vựckinh tế này hoạt động với những cơ chế, qui luật và kết quả khác hẳn nhau.Nền kinh tế tri thức phát triển tới trình độ càng cao khi các ngành kinh tế dựatrên tri thức chiếm phần lớn trong nền ktế Có hai mốc cho thấy nền kinh tế đãchuyển sang giai đoạn kinh tế tri thức:
Một là, Tỷ trọng của khu vực công nghiệp và nông nghiệp lên đến điểm cựcđại và ngày càng giảm đi Điểm mốc này đã xuất hiện ở các nước tiên tiến nhấtcách đây 30 năm Hai là, Tỷ trọng của các ngành dựa trên tri thức >70%(theo phân loại của OECD 1996) Các ngành kinh tế tri thức đóng góp vào GDP
ở Mỹ là 55%, ở Nhật 53%, Canada 51%, Sinhgapo 57,3%
b Cách tiếp cận rộng
Tiếp cận này dựa trên cách hiểu: Tri thức là mọi sự hiểu biết của conngười đối với bản thân và thế giới OECD đã phân ra 4 loại tri thức quantrọng là biết cái gì, biết tại sao, biết như thế nào, biết ai Kinh tế tri thứckhông chỉ có nguồn gốc từ sự tiến bộ vượt bậc của các công nghệ mới mà là
Trang 11kết quả tập hợp của ba nhóm nguyên nhân trực tiếp tác động tương tác lẫnnhau bao gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật; nền kinh tế toàn cầu hoá và cạnhtranh quyết liệt; và các biến đổi văn hoá, chính trị, tư tưởng của chủ nghĩa tưbản hiện đại
Cách này cũng có hai nhánh tiếp cận tương tự nhau:
+ Thứ nhất: Từ khía cạnh lực lượng sản xuất: Kinh tế tri thức là trình độphát triển cao của lực lượng sản xuất Cách hiểu này nhấn mạnh kinh tế trithức chỉ là một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, không liên quantới một hình thái kinh tế - xã hội mới (xem các tài liệu của Đặng Hữu 2001 vàNguyễn Cảnh Hồ, 2000)
+ Thứ hai: Từ khía cạnh sự đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế.Cách quan niệm này diễn giải định nghĩa của OECD đã nêu ở trên theo đúngnghĩa đen của nó, tức là tri thức hay cụ thể hơn là những hoạt động sản xuất,truyền bá và sử dụng tri thức, đã vượt qua vốn và lao động để trở thành nguồnlực chi phối mọi hoạt động tạo ra của cải trong nền kinh tế tri thức Trong đótri thức là một khái niệm rất rộng bao trùm mọi sự hiểu biết của con người
c Cách tiếp cận bao trùm
Theo đó, người ta cho rằng, kinh tế tri thức thực chất là một loại môitrường kinh tế - văn hoá - xã hội mới có những đặc tính phù hợp và tạo điềukiện thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường
đó, tri thức tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào
sự phát triển kinh tế và hàm lượng tri thức được nâng cao trong mọi hoạtđộng kinh tế, văn hoá, xã hội Do vậy cốt lõi của việc phát triển một nền kinh
tế tri thức, không chỉ đơn thuần là phát triển khoa học - công nghệ mà là pháttriển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo thể hiện trong cách nghĩ, cách làmcủa mọi tác nhân kinh tế, xã hội để tạo thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khaithác và sử dụng mọi tri thức, mọi loại hiểu biết của loài người, cũng như xâydựng và phổ biến các năng lực tri thức nội sinh
Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạnphát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tới
Trang 12một giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung Cách tiếp cận này ngàycàng dành được nhiều sự ủng hộ (xem các tài liệu của Ngân hàng thế giới
1998, Bộ Công nghiệp, Giáo dục và Tài nguyên Australia, 1999, 2000)
* Cách tiếp cận của Việt Nam về kinh tế tri thức
Ở Việt nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước vấn đề kinh tế trithức đã được giới các nhà khoa học, những người hoạch định chính sách, cácnhà quản lý đưa bàn luận khá nhiều Kinh tế tri thức được nhìn nhận dướinhiều góc độ khác nhau, với những tầm mức và phạm vi khác nhau
Trong nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, người ta đã bàn đến không ít cácđịnh nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức, tuy nhiên trong các văn bản chínhthức của Đảng và Nhà nước, chưa có văn bản nào nêu ra định nghĩa về kinh tếtri thức Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tinthì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụngtri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nângcao chất lượng cuộc sống" Mặc dù vậy, trong số các định nghĩa về kinh tế trithức được bàn đến ở Việt Nam, dường như có một định nghĩa nổi lên và đượcnhiều người công nhận - là định nghĩa của OECD và APEC nêu ra năm2000,cho rằng: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền
bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra củacải, việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" Như vậy, kinh tế tri thức là lựclượng sản xuất của thế kỷ 21 Kinh tế tri thức là động lực chủ yếu nhất chứkhông phải là chỗ dựa trực tiếp Điều này nhằm tránh tư tưởng cực đoan trướcđây chỉ tập trung phát triển các ngành công nghệ cao dựa nhiều vào tri thức
2.2 Đặc trưng của kinh tế tri thức
Thứ nhất, tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế
Trong kinh tế tri thức, của cải tạo ra dựa vào tri thức nhiều hơn là dựavào tài nguyên thiên nhiên và sức lao động cơ bắp, tuy nhiên vốn và cácnguồn lực khác vẫn là những yếu tố rất cơ bản, không thể xem nhẹ Kinh tế trithức được đặc trưng bởi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triểnmạnh các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức: đó là
Trang 13các ngành công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao, cácngành dịch vụ dựa vào xử lý thông tin, tài chính ngân hàng, giáo dục đào tạo,nghiên cứu phát triển công nghệ và ứng dụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm Dovậy tổng giá trị sản phẩm tăng nhanh, nhưng tổng tiêu hao nhiên liệu, nguyênliệu, vật tư hầu như không tăng mấy;số lượng người lao động trong khu vựcsản xuất hàng hoá có xu hướng ngày càng ít đi, trong khi số người làm việc ởcác văn phòng hiện đại đa chức năng và làm công việc xử lý thông tin chiếm
tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu tổng thể lực lượng lao động xã hội
Chúng ta thấy, trong kinh tế tri thức, con người là vốn quý nhất, sáng tạo
ra tri thức Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới làđộng lực thúc đẩy sản xuất phát triển Công nghệ mới trở thành nhân tố quantrọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng; công nghệ thôngtin được ứng dụng một cách rộng rãi Muốn nâng cao năng suất lao động xãhội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức,phải biết vận dụng, quản lý, truyền bá tri thức mới có thể cạnh tranh và đồngthời đảm bảo phát triển bền vững
Tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, nhưng lại rất khác biệt với cácyếu tố khác của sản xuất (vốn, tài nguyên ) ở những đặc điểm cơ bản:
- Tri thức không bị hao mòn, giá trị của thông tin và tri thức ngày một tăng
- Khi chuyển giao tri thức cho người khác, người sở hữu tri thức vẫn cònnguyên vốn tri thức của mình
- Khi tri thức chuyển giao cho nhiều người thì vốn tri thức được nhân lêngấp bội với chi phí không đáng kể Do đó, khi nền kinh tế dựa chủ yếu vào trithức thì nền kinh tế sẽ là nền kinh tế dồi dào, dư dật
- Mặt khác, tiếp nhận vốn tri thức lại không dễ như tiếp nhận đồng vốn.Việc chuyển giao, tiếp nhận phải thông qua GD-ĐT Do đó GD-ĐT trở thànhngành sản xuất vốn tri thức - ngành sản xuất cơ bản quan trọng nhất trong nềnkinh tế tri thức
- Tri thức, như một tư liệu sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế thị trườnglại do người lao động sở hữu, không tách khỏi người lao động Như vậy, khi
Trang 14nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức thì người lao động là lao động tri thức phải thực sự được làm chủ, hợp tác nhau bình đẳng trong tổ chức kinh doanh,tạo ra và phân phối của cải
Khi tri thức trở thành vốn chủ yếu của sản xuất thì vấn đề quản lý trithức trở thành yếu tố cần thiết nhất Trong nền kinh tế công nghiệp, khâuquan trọng là quản lý năng suất, rồi đến quản lý chất lượng thì ngày naychuyển sang quản lý thông tin và quản lý tri thức Quản lý tri thức là quản lýviệc tạo ra, truyền tải và sử dụng tri thức sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Hai là, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động nhanh và đổi mới nhanh.Trong nền kinh tế công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu làbằng cách tối ưu hoá, tức là hoàn thiện cái đã có để giảm chi phí sản xuất; còntrong kinh tế tri thức thì quyết định năng lực cạnh tranh chủ yếu là sự sáng tạo
ra cái mới có chất lượng cao hơn, thời gian đi tới tiêu dùng nhanh hơn Kinh tếphát triển là do sáng tạo, không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm.Vòng đời công nghệ và vòng đời sản phẩm từ lúc mới nảy sinh phát triển, chínmuồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn; tốc độ đổi mới của các doanh nghiệp
và của toàn bộ nền kinh tế ngày càng nhanh Do đó kinh tế tri thức có tốc độhoạt động rất nhanh Làm việc và kinh doanh theo tốc độ của tư duy Trongkinh tế tri thức, sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của phát triển
Các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới, số doanh nghiệp dựa vào sáng chế,công nghệ mới, sản phẩm mới, nhất là doanh nghiệp khoa học hay doanhnghiệp sáng tạo tăng lên nhanh chóng; số doanh nghiệp không đổi mới bị phásản rất nhiều; số chỗ làm việc cũ mất đi nhiều, nhưng số chỗ làm việc mớiđược tạo ra còn nhiều hơn và tổng số chỗ làm việc không ngừng tăng lên Nhưthế nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có rất nhiều biến động và có cả nhiều rủi
ro Có người gọi kinh tế tri thức là nền “kinh tế rủi ro”, “kinh tế mạo hiểm”(dám chấp nhận mạo nhận đầu tư vào sản phẩm mới, lĩnh vực mới để pháttriển) Kinh tế tri thức không phải chỉ có mầu hồng Tình hình không phải chỉsôi động một chiều có những cơ hội phất lên hiếm có, mà cũng lắm bước thăngtrầm ẩn chứa không ít rủi ro bất trắc Đây không phải là thứ trận địa cứ ào ào
Trang 15xông lên xung phong và chiếm lĩnh được, mà cần có chiến lược thông minh,chuẩn bị kỹ và tổ chức tốt.
Ba là, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất
Nhờ mạng thông tin mà tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọi người;gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau; rút ngắn thời gian, mở rộng khônggian; các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên sôi động, nhanh nhạy, sản xuấtgắn chặt với thị trường; tổ chức quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn, thúc đẩyphát triển dân chủ công khai, minh bạch Mạng thông tin trở thành cơ sở hạtầng quan trọng nhất của nền kinh tế Trong nền kinh tế tri thức, thông tin dồndập, hiệu ứng dây chuyền, hiệu ứng phụ, hiệu ứng cộng năng (như internet)ngày càng tác động mạnh Có xã hội thông tin mới có kinh tế tri thức Nhiềungười gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng, để nhấn mạnh rằng chưa bao giờ thếgiới tràn ngập những tổ chức mạng như bây giờ, cho nên cách nghĩ, cách quản
lý, cách làm việc theo một hệ thống có trên có dưới, tôn ti trật tự theo kiểuphong kiến hay tư bản thời công nghiệp hiện đại cũng đã lỗi thời
Bốn là, Kinh tế tri thức là nền kinh tế học tập (Xã hội học tập là nềntảng của kinh tế tri thức)
Mọi người có điều kiện thuận lợi để học tập suốt đời, không ngừng pháttriển tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển sức sáng tạo, thích nghi với sự pháttriển, thúc đẩy đổi mới Trong thời đại bùng nổ về thông tin, sự phát triển như
vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi con người phảikhông ngừng học tập, cập nhật kiến thức, sáng tạo tri thức mới, công nghệmới, đồng thời phải chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đẩy sựđổi mới Mặt khác con người phải học và tự học suốt đời mới thích ứng linhhoạt với sự biến đổi hết sức mau lẹ của của môi trường và điều kiện làm việcmới Vì vậy, xã hội học tập trở thành một đặc trưng, một yếu tố quan trọngcủa nền kinh tế tri thức
Năm là, kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá
Quá trình phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thứccùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, phát triển thương mại thế
Trang 16giới và quỏ trỡnh toàn cầu hoỏ là những quỏ trỡnh đi liền với nhau, tỏc độngqua lại và thỳc đẩy nhau phỏt triển Sự sản sinh ra, truyền bỏ, sử dụng trithức khụng thể chỉ nằm trong biờn giới quốc gia Kinh tế tri thức ra đời trongđiều kiện nền kinh tế thế giới toàn cầu hoỏ; bất cứ ngành sản xuất, dịch vụnào cũng đều dựa vào nguồn cung ứng từ nhiều nước và được tiờu thụ trờntoàn thế giới Người ta thường gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầuhoỏ nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức, tỏc động đến mọimặt của đời sống xó hội.
Sỏu là, kinh tế tri thức là nền kinh tế phỏt triển bền vững
Thuật ngữ Phỏt triển bền vững do Bà Brundland đưa ra (người Na uylàm việc trong Ủy ban quốc tế về mụi trường và phỏt triển (WCED): kiểu phỏttriển vừa đỏp ứng được nhu cầu của cỏc thế hệ hiện tại, vừa khụng ảnh hưởngđến khả năng mà cỏc thế hệ tương lai đỏp ứng cỏc nhu cầu của mỡnh
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phỏt triển bền vững tại Nam Phicho rằng: Phỏt triển bền vững là quỏ trỡnh phỏt triển cú sự kết hợp chặtchẽ, hợp lý, hài hũa giữa ba mặt phát triển kinh tế phát triển xã hội vàbảo vệ môi trờng
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là: sự tăng trởng kinh tế ổn
định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tìmkiếm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao đợc chất lợng môi trờngsống.7
Trong kinh tế tri thức, cỏc cụng nghệ mới được sử dụng phổ biến, nhất làcỏc cụng nghệ sạch, tiờu hao ớt nguyờn liệu, năng lượng, là cỏi bảo vệ, cảithiện mụi trường, cho nờn kinh tế tri thức ớt gõy hại cho mụi trường, bảo vệđược thiờn nhiờn Nhờ trỡnh độ dõn trớ cao, nhờ sử dụng một cỏch phổ biếncỏc tri thức mới trong mọi hoạt động, từ qui hoạch, chiến lược, kế hoạch đếncỏc hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đời sống hàng ngày, mọingười luụn cú ý thức gỡn giữ, bảo vệ cỏc giỏ trị của thiờn nhiờn, của truyềnthống văn hoỏ, biết kết hợp hài hoà lợi ớch trước mắt và lợi ớch lõu dài, bảo
7 Định hớng chiến lợc phát triển bền vững ở Việt Nam (ban hành kèm theo QĐ 153/2004/QĐTTg của Thủ ớng CP).
Trang 17t-đảm được yêu cầu phát triển bền vững.
2.3 Thực tiễn hành động về phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 2.3.1 Những việc đã làm được
Đánh giá theo những đặc trưng của kinh tế tri thức, trong gần 20 năm đổimới vừa qua, Việt nam đã đạt được những kết quả, thể hiện chủ yếu như sau:
- Thứ nhất tăng trương kinh tế cao liên tục trong nhiều năm, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo chiều hướng tiến bộ
Liên tục trong nhiều năm Việt nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổnđịnh, đạt trung bình khoảng hơn 8% hàng năm trong giai đoạn 1990 - 2000 vàhơn 7% trong giai đoạn từ 2001 đến nay GDP thực tế trên đầu người đạttrung bình hàng năm khoảng 5,9% trong giai đoạn 1990 - 2002 Tăng trưởngcao và ổn định đã có tác động lan toả tích cực đến các khía cạnh của đời sốngkinh tế - xã hội
Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế của nước ta trong nhữngnăm qua đã có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị giatăng cao, trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức ngày càng tăng
Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP đã giảm đều đặn và tỷ trongcông nghiệp, dịch vụ tăng lên tương ứng (bảng1 - Nguồn: Tổng cục thống kê)
Bảng 1: Tỷ träng các ngành trong GDP
Các
ngành/năm 1986 1990 1995 2000 2003 2005 2006 2007 2008Nông,lâm,
ngư nghiệp 38,06 38,74 27,18 24,30 21,80 21,02 20,40 20,0 19,3Côngnghiệp,
xây dựng 28,88 22,67 28,76 36,61 40,00 40,97 41,52 41,8 42,2Dịch vụ 33,06 8,59 44,06 39,09 38,20 38,01 38,08 38,2 38,5
Một số lĩnh vực như công nghiệp th«ng tin, công nghiệp công nghệcao, các lĩnh vực dịch vụ dựa vào sử lý thông tin, tài chính ngân hàng,giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ đã dần dần hình thành
Trang 18và cú bước phỏt triển đỏng kể Những lĩnh vực được chờ đợi này dần trởthành đầu tàu thỳc đẩy đổi mới và phỏt triển của toàn bộ nền kinh tế.- Thứhai: Xõy dựng thể chế kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho sựphỏt triển cỏc thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhõn.
Việt Nam đó đạt được những kết quả quan trọng trong việc xõy dựng
hệ thống phỏp luật kinh tế, cải cỏch tổ chức và hoạt động bộ mỏy nhànước, tăng cường năng lực, tớnh năng động, tinh thần trỏch nhiệm của độingũ, cụng chức, chỳ trọng hỗ trợ cỏc doanh nghiệp mới và tạo cuộc sốngtốt hơn cho người dõn; cơ cấu lao động thay đổi cựng với sự gia tăng từngbước của lực lượng lao động xử lý thụng tin, làm dịch vụ, di chuyển sảnphẩm, làm văn phũng Đõy chớnh là sự thể hiện quan điểm xõy dựng thểchế kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa bảo đảm cho cỏc quan
hệ sản xuất khụng ngừng đổi mới và hoàn thiện (trong đú kinh tế tư nhõnđược xỏc định là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển nền KTNTPđịnh hướng xó hội chủ nghĩa)
Đặc biệt, trong những năm gần đõy, cỏc doanh nghiệp dõn doanh đótham gia vào hầu hết cỏc ngành, cỏc lĩnh vực của nền kinh tế, với tổ chức sảnxuất kinh doanh linh hoạt, nỗ lực cải tiến cụng nghệ, tăng năng suất lao động,thõm nhập thị trường Tỡnh hỡnh đú càng đũi hỏi phỏt triển thị trường hànghoỏ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thịtrường khoa học - cụng nghệ gúp phần làm tăng qui mụ thị trường hoỏ nềnkinh tế nước ta
- Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Cỏc quan hệ kinh tế song phương, đa phương của Việt nam khụng ngừngđược mở rộng thụng qua việc ký kết và tham gia vào cỏc hiệp định và diễnđàn như: ký hiệp định khung với Liờn minh Chõu Âu EU (1992); tham giaKhu vực Thương mại Tự do ASEAN (1994); tham gia Diễn đàn Hợp tỏc Kinh
tế Chõu Á - Thỏi Bỡnh Dương APEC (11/1998); ký hiệp định thương mại ViệtNam - Hoa Kỳ (2000) và chớnh thức gia nhập WTO (2007) Đó là kết quảthực hiện NQ 07 của BCT và Chơng trình hành động thực hiện hội nhập kinh
Trang 19tÕ quèc tÕ cña CP theo Q§ sè 37/2002/Q§ TTg.
Kinh tế VN càng phát triển nhanh khi đất nước đổi mới Sau khi VN gia nhập APEC, khối tiền từ hải ngoại gởi về đã lên đến con số hàng tỷ, hiện nay khoảng 4,5 tỷ Mỹ kim mỗi năm Viễn tượng càng tươi sáng hơn, tổng sản lượng GDP của số người Việt hiện định cư tại ba nước APEC là Mỹ, Úc và Gia Nã Đại là một số tiền khổng lồ Thống kê mới nhất của APEC tiết lộ GDPbình quân của Úc, Gia Nã Đại và Hoa Kỳ tuần tự là 36,016 US$, 39,135 US$
và 44,315 US$ Như vậy, với khoảng 1,5 triệu người Việt ở HK, hơn 150 ngàn ở Úc và 100 ngàn ở Gia Nã Đại, tổng số GDP của họ là 75, 7 tỷ Mỹ kim
so với GDP của cả nước VN hiện nay là 55,3 tỷ Ngoài ra, trong HĐ Paris
1973, HK còn cam kết -theo truyền thống của mình, sẽ giúp VN hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết đất nước thời hậu chiến
Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước
và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triểnsong phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu
tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốcNước ta đang từng bước phát triển một mắt khâu trong mạng lưới sảnxuất - kinh doanh toàn cầu, trong đó có những hoạt động liên quan đến việcsản sinh và truyền bá kinh tế tri thức
- Thứ tư, từng bước hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt cho pháttriển kinh tế tri thức Đó là mạng thông tin viễn thông
Trong những năm qua nhờ những nỗ lực trong thực hiện Chương trìnhquốc gia về công nghệ thông tin từ năm 1995 và chiến lược đẩy mạnh pháttriển lĩnh vực viễn thông, m¹ng th«ng tin ở nước ta đã được mở rộng và pháttriển nhanh chóng, thông tin viễn thông được đánh giá là một trong nhữnglĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất của nền kinh tế nước ta hiện nay.Hiện nay mạng lưới thông tin viễn thông của nền kinh tế đã được tự động hoáhoàn toàn, với 100% các hệ thống chuyển mạch số và truyền dẫn số trải rộngtrên toàn quốc và kết nối với quốc tế
Một loạt các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet đã được tạo lập