1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ SAU đại HỌC, MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH KINH tế VĨ mô TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG

20 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 263 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề này nghiên cứu những nội dung cơ bản về mục tiêu và các chính sách kinh tế vĩ mô. Toàn bộ nội dung chuyên đề cấp học dưới chưa được nghiên cứu. Thông qua chuyên đề này, người học cần nắm vững những nội dung hết sức cơ bản của chuyên đề, làm cơ sở để nhận thức và vận dụng những vấn đề có tính nguyên tắc trong các hoạt động quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.

Trang 1

MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

* * *

1 Mô tả chuyên đề:

Chuyên đề này nghiên cứu những nội dung cơ bản về mục tiêu và các chính sách kinh tế vĩ mô Toàn bộ nội dung chuyên đề cấp học dưới chưa được nghiên cứu Thông qua chuyên đề này, người học cần nắm vững những nội dung hết sức cơ bản của chuyên đề, làm cơ sở để nhận thức và vận dụng những vấn đề có tính nguyên tắc trong các hoạt động quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

2 Mục đích:

Giới thiệu những vấn đề cơ bản về mục tiêu và chính sách kinh tế vĩ mô, giúp học viên sau đại học có cơ sở để nắm đầy đủ các nội dung của kinh tế học

vĩ mô Trên cơ sở đó, có thể vận dụng kiến thức đã tiếp thu để giải đáp những vấn đề quản lý doanh nghiệp và quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

3 Yêu cầu:

Hiểu được những vấn đề cơ bản về mục tiêu và chính sách kinh tế vĩ mô

Ý nghĩa vận dụng chúng trong nền kinh tế thị trường nói chung và kinh

tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Cần nắm vững nội dung cơ bản của chuyên đề, so sánh nó với kinh tế chính trị, làm sâu sắc hơn những nội dung kiến thức chuyên ngành

4 Bố cục chuyên đề

I Mục tiêu kinh tế vĩ mô

II Các chính sách kinh tế vĩ mô

I MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ

1.1 Một số vấn đề chung về mục tiêu KT vĩ mô

Thành tựu KT vĩ mô của một nước thường được đánh giá theo ba dấu

Trang 2

hiệu chủ yếu: ổn định, tăng trưởng và công bằng XH.

- Sự ổn đinh KT là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề KT cấp bách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kì ngắn hạn

- Tăng trưởng KT đòi hỏi giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn của cả

hệ thống KT vĩ mô: Đầu vào, đầu ra và hộp đen KT vĩ mô

- Công bằng trong phân phối thụ nhập vừa là vấn đề KT vừa là vấn đề XH

Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng XH, các chính sách KT vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể là: sản lượng, việc làm, ổn định giá cả, kinh tế đối ngoại

1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu

1.2.1 Cân bằng xuất khẩu, nhập khẩu

Đây cũng là một trong những mục tiêu mà sự điều tiết của CP: cần hướng tới trong lĩnh vực KT đối ngoại, nhằm cân bằng cán cân thanh toán Mục tiêu hướng tới là phấn đấu sao cho xuất khẩu và nhập khẩu, xét theo giá trị kim ngạch phải cân bằng cán cân thanh toán qtế để không có nợ nước ngoài

Nếu giá trị kim ngạch XK> giá trị kim ngạch NK, gọi là xuất siêu Nếu

ngược lại, gọi là nhập siêu

Nếu xuất siêu thì nước xuất siêu sẽ là chủ nợ Còn nếu nhập siêu thì nước nhập siêu sẽ thành con nợ Thông thường, các CP: đều mong muốn duy trì thăng bằng hoặc xuất siêu một chút Còn nếu phải nhập siêu trong một thời gian nào đó thì cũng chỉ nhập siêu tối thiểu, chủ yếu là TLSX để phục vụ CNH, HĐH, do quy mô đầu tư đòi hỏi rất lớn mà việc SX ra SP để XK phải

có thời gian nên thường xảy ra tình trạng nhập siêu Điều đáng chú ý là nhập siêu giá trị hàng hoá thuộc loại TLSX không đáng ngại bằng nhập siêu giá trị hàng hoá tiêu dùng Ngày nay người ta đưa ra nhiều cách tính giới hạn nhập siêu an toàn Một trong số đó là tính tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu; theo đó,

sẽ là an toàn nếu tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu lớn hơn hoặc bằng - 25%

- Xuất khẩu (EX) được tính là tổng giá trị HH XK cùng với thu nhập từ tài sản ở nước ngoài (thuộc quyền sở hữu của nước XK) XK phản ánh nhu cầu của người nước ngoài về hàng hoá và dịch vụ của nước XK; nó tạo công

ăn việc làm cho LĐ trong nước

Trang 3

- NK (IM) được tính là tổng giá trị hàng hoá NK cùng với thu nhập của người nước ngoài ở trên đất nước NK

NK phản ánh nhu cầu của trong nước đối với hàng hoá của nước ngoài;

nó tạo ra công ăn việc làm cho LĐ nước ngoài

- Nếu đem tổng giá trị xuất khẩu trừ đi tổng giá trị nhập khẩu ta được một đại lượng gọi là xuất khẩu ròng, kí hiệu là NX

NX = EX - IM

Ở đây NX > 0  Đó là xuất siêu; NX < 0  Đó là nhập siêu.

1.2.2 Ổn định tỉ giá hối đoái

- Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền một nước này so với đồng tiền của một nước khác Thông thường người ta ngầm hiểu “Tỷ giá hối đoái” là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ Thí dụ: 15.291,00 VNĐ mua được 1 USD trong thời gian giữa tháng 8 năm 2002 Người ta thường biểu diễn tỷ giá hối đoái theo cả 2 cách Thí dụ về tỷ giá giữa đồng tiền Việt nam và Đôla Mỹ: VNĐ/ USD hoặc USD/VNĐ

- Trong thực tế có 2 loại tỷ giá hối đoái cơ bản:

+ Tỷ giá hối đoái cố định: là tỷ giá được (NHTW) mỗi nước quy định

gắn với một đồng tiền nhất định mà mọi việc mua, bán đồng tiền đó đều được tính theo tỷ giá này Một trong những hệ thống tỷ giá hối đoái cố định được người ta nói đến nhiều là hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods (1944-1971) được hình thành tại hội nghị đa quốc gia nhóm họp ở Bretton Woods, New Hamphise (Mỹ) Tiền của các nước tham gia hệ thống này được cố định theo đồng Đôla Mỹ và các NHTW của các nước tham gia có trách nhiệm duy trì các tỷ giá hối đoái của họ bằng việc mua và bán Đôla trên thị trường ngoại tệ

Hệ thống này bị xoá bỏ vào tháng 8.1971 khi các nước tham gia hệ thống không thể đảm bảo được rằng những đồng Đôla cũng có thể chuyển đổi được thành vàng

+ Hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt (thả nổi) Đó là các hệ thống tỷ giá

hối đoái được xác định hoàn toàn bởi các lực lượng cung và cầu của thị trường ngoại hối, không có sự can thiệp nào của Chính phủ Tuy nhiên, do tính bất thường và những tác động mặt trái của KTTT tự do làm cho hệ thống

tỷ giá hối đoái thả nổi lên, xuống thất thường, gây khó khăn lớn cho sự phát

Trang 4

triển ổn định của các nền KT

+ Kết hợp 2 hệ thống tỷ giá hối đoái cơ bản nêu trên, hình thành hệ thống tỷ giá linh hoạt có quản lý Đó là hệ thống mà tỷ giá hối đoái được biến

đổi phù hợp với các điều kiện của thị trường, nhưng Chính phủ vẫn can thiệp

để ngăn không cho nó vận động ra ngoài các giới hạn nhất định Đi theo hướng này, từ năm 1989 nhà nước ta đã bắt đầu áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có kiểm soát; đồng thời t/xuyên điều chỉnh cho phù hợp với tỷ giá trên thị trường tự do

- Mục tiêu của Chính phủ: là duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái chứ k0 phải là cố định tỷ giá hối đoái (KS) Sự cần thiết phải duy trì sự ổn định của tỷ

giá hối đoái vì mọi sự biến động xa ra ngoài giới hạn cần thiết của nó đều đem bất lợi cho tình hình XK hay NK của một quốc gia, do đó ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng cán cân thương mại nói riêng, cán cân thanh toán nói chung Trong khi đó, bất cứ quốc gia nào cũng đều vừa tiến hành XK, vừa NK

Nếu dùng phương pháp trực tiếp để chỉ tỷ giá hối đoái thì tỷ giá hối đoái tăng hay giảm ngược chiều với giá trị đồng nội tệ Theo đó:

+ Nếu tỷ giá hối đoái giảm so với thực tế, đồng nghĩa với việc lên giá đồng tiền nội địa, làm cho giá hàng XK trở nên “tương đối đắt” trên thị trường TG, làm giảm sức cạnh tranh, do đó hạn chế XK; ngược lại, khuyến khích tình trạng NK

+ Nếu tỷ giá hối đoái tăng cao so với thực tế lại đồng nghĩa với việc giảm giá đồng nội tệ Nghĩa là để mua một đơn vị ngoại tệ như cũ, phải bỏ ra

số lượng đồng nội tệ nhiều hơn Tình hình này làm cho giá hàng XK trở nên

“tương đối rẻ” trên thị trường TG, tăng sức ctranh và khuyến khích XK; hạn chế nhập khẩu

Như vậy, tỷ giá hối đoái là một biến số quan trọng tác động đến sự cân bằng của cán cân thương mại và cán cân thanh toán, do đó tác động đến sản lượng, việc làm cũng như sự cân bằng của nền KT nói chung

Để ổn định tỷ giá, điều quan trọng vẫn phải là duy trì sự tăng trưởng ổn định và liên tục của SX trong nước, giữ được giá trị đồng nội tệ, đồng thời phải có dự trữ ngoại tệ mạnh để lúc cần thiết nhà nước có thể can thiệp vào thị trường nhằm duy trì tỷ giá ổn định Mặt khác, CP: phải thường xuyên điều

Trang 5

chỉnh tỷ giá cho sát với tỷ giá thực tế trên thị trường, tránh để có khoảng cách lớn giữa tỷ giá kiểm soát và tỷ giá trên thị trường

1.2.3 Ổn định mức giá chung, kiềm chế lạm phát

- Lạm phát là hiện tượng phổ biến của nền KTTT Biểu hiện của nó là mức giá chung của nền KT tăng lên Trường hợp ngược lại gọi là thiểu phát

- Mục tiêu của KTVM là kiểm soát được lạm phát ở mức thấp

- Người ta phân loại lạm phát theo nhiều tiêu chí khác nhau:

+ Phân loại theo mức độ tỷ lệ, người ta có lạm phát vừa phải, chấp nhận được với tỷ lệ lạm phát < 10% (gọi là l/phát một con số); l/phát phi mã với tỷ lệ lạm phát > = 10% và < hoặc bằng 200%; siêu l/phát với mức lạm phát > 200% + Phân loại theo mức độ tác động của lạm phát, người ta thấy có 2 loại là lạm phát ỳ (thấy được ) và lạm phát bất thường (không dự kiến được) Đặc trưng của lạm phát ỳ là loại lạm phát vừa phải; giá cả tăng một cách đều đặn trong thời gian dài và mọi HĐ KT đều phải điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát đã tính được trước đó Ngược lại lạm phát bất thường sẽ gây nhiều tác hại cho

SX và đ/sống do người ta không thể dự kiến trước được mức độ lạm phát

- Nguyên nhân lạm phát đến từ nhiều lý do, mà suy cho cùng là do số lượng tiền giấy phát hành trong lưu thông > số lượng tiền cần thiết cho lưu thông Ngoài ra KT học đưa ra hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến lạm phát là

do cầu kéo và chi phí đẩy

- Lạm phát tác động mạnh mẽ đến các HĐ SX và đời sống:

+ Phân phối lại một cách không hợp lý thu nhập, của cải trong XH, đặc biệt là gây khó khăn cho đ/sống của người làm công, ăn lương

+ Làm biến dạng cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế

+ Nếu siêu lạm phát kéo dài có thể gây ra sự bùng nổ XH, dẫn đến sự đổ

vỡ của CP: do không đủ năng lực điều tiết nền KT

- Để xác định chỉ số lạm phát, người ta dựa vào chỉ số giá tiêu dùng: CPI (consumption price index), đó là chỉ số giá đo lường chi phí để mua 1

số loại hàng hoá, DV được ấn định, đại diện cho sự mua hàng người tiêu dùng ở thành thị

Ở VN, từ 1.1.1998, theo quyết định của Thủ tướng CP, nước ta cũng

sử dụng cách tính chỉ số giá tiêu dùng CPI để xác định mức độ lạm phát

Trang 6

của nền KT Theo đó, CPI được tính trên 296 mặt hàng, chia thành 10 nhóm tiêu dùng: cấp I, 34 nhóm tiêu dùng cấp II, 86 nhóm tiêu dùng cấp III Giá năm 1995 lấy làm gốc để so sánh Hàng tháng, chỉ số CPI được công bố với 4 chỉ tiêu: so với năm 1995, so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước, so với tháng 12 năm trước

Từ chỉ số giá TD: mỗi thời kỳ, tính ra tỷ lệ lạm phát theo công thức sau: CPI t _ CPI t-1

Tỷ lệ lạm phát của năm t = ––––––– x 100

so với năm (t-1) CPI t-1

1.2.4 Giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp:

Việc làm và lạm phát trong nền KTTT là hai vấn đề được toàn XH đặc biệt quan tâm Khi không có việc làm thì người LĐ trở thành người thất nghiệp Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi nền KTTT

- Khi thất nghiệp ở mức cao, SX sút kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm sút Khó khăn KT sẽ tràn sang lĩnh vực

XH Nhiều hiện tượng tiêu cực sẽ phát triển Đó là tác hại của thất nghiệp

- Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp Dưới đây là một khái

niệm được nhiều nhà KT tán đồng Theo đó, thất nghiệp là những người đang

ở trong độ tuổi LĐ, có khả năng LĐ mà hiện chưa có việc làm, dù đang mong muốn và cố gắng kiếm việc làm.

- Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ % số người thất nghiệp so với tổng số người trong độ tuổi LĐ Tỷ lệ thất nghiệp là một tiêu chí phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia

- Thất nghiệp là 1 hiện tượng phức tạp, có nhiều cách phân loại thất nghiệp:

+ Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp, người ta chia thành thất nghiệp

tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp do thiếu cầu Loại thứ nhất xảy ra

khi có một số người LĐ đang trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc những người mới bước vào thị trường LĐ đang tìm kiếm việc làm hay đang chờ đợi việc làm Loại thứ hai xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu các loại LĐ: ngành nghề, khu vực, Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu KT và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường LĐ: đào tạo lại, môi giới Loại thứ ba xảy ra khi

Trang 7

mức cầu chung về LĐ giảm xuống mà nguồn gốc chính là sự suy giảm AD Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ, gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ KD

+ Phân loại theo hành vi thất nghiệp, người ta chia thành 2 loại: thất

nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện Thất nghiệp tự nguyện là

bộ phận LĐ k0 có việc làm do công việc và tiền lương k0 đáp ứng nguyện

vọng của họ Thất nghiệp không tự nguyện là một bộ phận của lực lượng LĐ

không có việc làm do sự suy thoái của tổng cầu mặc dù họ mong muốn làm ở mức lương hiện hành

- Ngoài ra người ta còn đưa ra một khái niệm mới là tỷ lệ thất nghiệp

tự nhiên dựa trên cơ sở xem xét sự cân bằng của thị trường LĐ Đó là tỷ lệ

thất nghiệp khi thị trường LĐ đạt được sự cân bằng Tại đó thất nghiệp chỉ bao gồm những người LĐ không muốn đi làm do mức tiền lương không như mong muốn Đó chính là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất mà XH có thể chấp nhận được mà không đi kèm lạm phát cao Người ta gọi đó là tình

trạng toàn dụng nhân công.

- Mục tiêu của Chính phủ: là phải tạo nhiều công ăn việc làm, hạ thấp tỷ

lệ thất nghiệp và duy trì ở mức thất nghiệp tự nhiên, hoặc ở mức kiểm soát được Ở nước ta, theo Ban chỉ đạo điều tra LĐ và việc làm quốc gia thì mức

tỷ lệ thất nghiệp dưới 5% được coi là kiểm soát được

Để thực hiện mục tiêu này, cần phải thực hiện nhiều chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ SX, dạy nghề, đào tạo và đào tạo lại LĐ

1.2.5 Tăng trưởng kinh tế

- Mục tiêu của CP: là duy trì tốc độ tăng trưởng KT cao và vững chắc, đạt mức sản lượng thực tế cao Có nhiều tiêu chí để đo lường tốc độ tăng trưởng KT Hiện nay các nước đi theo mô hình KTTT đều dựa vào các chỉ tiêu đo lường sản lượng quốc gia là: tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

- (GNP) là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và

DV cuối cùng mà một quốc gia SX ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) bằng các yếu tố SX của mình (Căn cứ yếu tố sở hữu)

Trang 8

Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là thuận lợi vì thông qua giá cả thị trường có thể cộng giá trị của các loại hàng hoá, dịch vụ có hình thức và nội dung vật chất khác nhau Tuy nhiên, giá cả lại là một thước đo co dãn Do vậy

để khắc phục, người ta thường sử dụng cặp khái niệm GNP danh nghĩa và GNP thực tế

n

GNP =  qi pi (Trong đó q i là sản lượng và p i là giá hàng thứ i, với i =1  n )

i=1

+ GNP danh nghĩa là GNP tính theo giá hiện hành (Ký hiệu: GNPn) + GNP thực tế đo lường tổng sản phẩm quốc dân theo giá cố định ở một thời kỳ lấy làm gốc (Ký hiệu: GNPr)

Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế được dùng cho các mục tiêu phân tích khác nhau Khi muốn nghiên cứu: mối quan hệ tài chính người ta thường dùng GNP danh nghĩa; còn khi phân tích tốc độ tăng trưởng KT người ta lại dùng GNP thực tế

- (GDP) là tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được SX ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) không kể ai là chủ sở hữu của các ytố SX đó (Căn cứ yếu tố địa lí)

GDP không bao gồm kết quả HĐ của công dân nước sở tại tiến hành ở nước ngoài, song lại tính cả kết quả của công dân nước ngoài SX tại nước đó Giữa GNP và GDP có mối quan hệ với nhau, theo đó:

GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài

hay GDP = GNP - Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài

(Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài chính là phần chênh lệch giữa thu nhập của công dân nước đó ở nước ngoài gửi về với thu nhập của công dân nước ngoài ở nước đó gửi về nước họ)

- Để tính tốc độ tăng trưởng kinh tế, người ta dựa vào công thức sau đây:

GNPrt - GNPrt-1

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế GNP = –––––– x 100

thời gian t so với thời gian t-1 GNPrt-1

- Chỉ tiêu GNP và GDP là những thước đo về thành tựu KT của một đất

Trang 9

nước Người ta thường dùng chỉ tiêu này và chỉ tiêu GNP/người, GDP/người

để so sánh quy mô SX của các nước Tuy nhiên những thước đo này cũng có nhiều khuyết tật, vì chúng không phân biệt những SX tốt và xấu, đánh đồng việc SX phục vụ nâng cao đời sống: với SX vũ khí, các loại hàng hoá gây ô nhiễm môi trường Do vậy, từ những năm 80 của thế kỷ XX người ta đưa ra một loạt chỉ tiêu khác để đo lường thành tựu KT của các nước, thí dụ như: + Phúc lợi kinh tế ròng (NEW)

NEW = GNP + Thu nhập không báo + giá trị của việc - Thiệt hại do cáo, không trao đổi hưởng thụ thời hoạt động KT

trên thị trường gian nhàn rỗi gây ra + Chỉ số phát triển nhân lực (HDI) HDI dựa vào 3 biến số: tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn, GDP bình quân trên đầu người

+ GDP, GNP tính theo sức mua tương đương (PPP)

1.2.6 Công bằng xã hội

Cân bằng ngân sách cũng được xem là một mục tiêu qlý KTVM, gắn liền với việc cân bằng cán cân thanh toán Việc thâm thủng ngân sách lớn sẽ dẫn đến việc chính phủ phải quyết định phát hành và đưa vào kênh lưu thông tiền tệ quá nhiều tiền giấy Hệ quả sẽ ảnh hưởng xấu đến sự ổn định KTVM

Vì thế vấn đề thăng bằng ngân sách lành mạnh có tầm quan trọng đặc biệt, việc quyết định duy trì mức bội chi ngân sách thường do quốc hội quyết định Trong nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước, vấn đề công bằng XH được coi là một mục tiêu quan trọng bởi bản thân cơ chế thị trường thường

tự phát dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, nảy sinh sự mất công bằng mà không thể tự giải quyết Do đó, cần phải có sự can thiệp của Nhà nước Ngay

cả ở những nước Tư bản phát triển hiện nay cũng phải đặt vấn đề giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng KT và công bằng XH, song khác về nguyên tắc và bản chất đối với các nước XHCN

* Mối quan hệ giữa một số mục tiêu:

- Những mục tiêu nói trên thể hiện một trạng thái lý tưởng, trong đó sản lượng đạt mức sản lượng tiềm năng, lạm phát thấp, thất nghiệp ở mức

tự nhiên, cán cân thanh toán cân bằng, tỷ giá hối đoái ổn định Trong thực

tế, các chính sách KTVM chỉ có thể tối thiểu hoá các sai lệch so với trạng

Trang 10

thái lý tưởng.

- Các mục tiêu thường bổ sung cho nhau, trong chừng mực hướng vào việc đảm bảo tăng trưởng sản lượng của nền KT Song trong một số trường hợp có thể xuất hiện những xung đột, mâu thuẫn cục bộ mà các nhà KT thường khái quát thành mô hình “tứ giác huyền ảo”; ở đó có ba cặp quan hệ: + Tăng trưởng và thất nghiệp quan hệ với nhau theo xu hướng: tăng trưởng cao thì thất nghiệp giảm và ngược lại, thời kỳ nào mà tăng trưởng giảm thì thất nghiệp tăng Người ta đã định lượng được mối quan hệ này theo định luật Ocun; theo đó, khi tăng trưởng 2% thì thất nghiệp giảm 1% và ngược lại

+ Tăng trưởng và lạm phát cũng có qhệ với nhau theo xu hướng: thời kỳ tăng trưởng cao liên tục thường kéo theo lạm phát tăng và kiềm chế lạm phát thì lại làm giảm tốc độ tăng trưởng, do Chính phủ: áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ

+ Giữa lạm phát và thất nghiệp cũng có quan hệ trong ngắn hạn Theo đó, thời kỳ lạm phát cao, thất nghiệp thường thấp và ngược lại, kiềm chế lạm phát lại kéo theo thất nghiệp tăng cao, do áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, hạn chế đầu tư

II MỘT SỐ CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ CHỦ YẾU

2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô và những đặc trưng

2.1.1 Chính sách kinh tế vĩ mô và cách phân loại

Nền KTTT thường xuyên có những yếu tố tác động đến AD và AS tạo nên những biến động KT như: lạm phát, thất nghiệp, suy thoái và khủng hoảng KT Do đó, nhiệm vụ của Nhà nước là phải sử dụng các chính sách

và công cụ KT vĩ mô để đưa nền KT trở lại trạng thái ổn định và phát triển bên vững

- Có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách KT vĩ mô, song có thể hiểu

một cách khái quát: Chính sách KT vĩ mô là một hệ thống các giải pháp KT được thể chế hoá thông qua các công cụ KT như tài chính, tiền tệ, thu nhập, giá cả…

để tác động vào quá trình vận động của nền KT nhằm hướng vào các mục tiêu KT

vĩ mô xác định.

- Có thể phân loại chính sách KT vĩ mô theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:

Ngày đăng: 02/03/2017, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w