Chuyên đề này nghiên cứu về hành vi của người tiêu và người sản xuất Hai lương lượng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Toàn bộ nội dung chuyên đề cấp học dưới chưa được nghiên cứu. Thông qua chuyên đề này, học viên cần phân biệt rõ đối tượng, phương pháp và nội dung của kinh tế học với kinh tế chính trị Mác Lênin, ý nghĩa vận dụng của nó trong thực tiễn.
Trang 1LÝ THUYẾT HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ NGƯỜI SẢN XUẤT
* * *
Mô tả chuyên đề:
Chuyên đề này nghiên cứu về hành vi của người tiêu và người sản xuất-Hai lương lượng cơ bản của nền kinh tế thị trường Toàn bộ nội dung chuyên
đề cấp học dưới chưa được nghiên cứu Thông qua chuyên đề này, học viên cần phân biệt rõ đối tượng, phương pháp và nội dung của kinh tế học với kinh
tế chính trị Mác- Lênin, ý nghĩa vận dụng của nó trong thực tiễn
Mục đích:
Giới thiệu những vấn đề cơ bản về kinh tế học hiện đại và lý thuyết lựa chọn giúp cho học viên sau đại học có cơ sở để nghiên cứu các nội dung tiếp sau của môn học Vận dụng kiến thức đã tiếp thu để giải đáp những vấn đề quản lý doanh nghiệp và quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Yêu cầu:
Hiểu được những vấn đề cơ bản của kinh tế học và các bộ phận cấu thành kinh tế học
Phân biệt phương pháp nghiên cứu của kinh tế học với phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Nắm vững bản chất của lý thuyết lựa chọn và những vấn đề kinh tế cơ bản của nền kinh tế Phân tích vai trò của bàn tay vô hình và hữu hình trong nền kinh tế hỗn hợp
4 Bố cục chuyên đề:
A Lí THUYẾT HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
B Lí THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI SẢN XUẤT
Tài liệu tham khảo:
- Kinh tế học vi mô ĐHKTQD HN 1997; hoặc ĐHKTQD Thành phố
Trang 2Hồ Chí Minh 1995.
- Bộ giáo dục & Đào tạo - Kinh tế học vĩ mô - Giáo trình dùng trong các trường đại học, cao đẳng khối kinh tế Nxb Giáo dục, Hà Nội 2002 Chương
1, Đại cương về kinh tế học
- Bộ giáo dục & Đào tạo - Kinh tế học vi mô - Giáo trình dùng trong các trường đại học, cao đẳng khối kinh tế Nxb Giáo dục, Hà Nội 2005 Chương
1, Kinh tế học vi mô và những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp
A LÝ THUYẾT HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
I Lý thuyết về lợi ích
1 Khái niệm
- Tiêu dùng và lợi ích
+ Tiêu dùng là hành vi có ý thức của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu, sở thích về hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó
+ Lợi ích được hiểu là sự như ý, sự hài lòng do tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ mang lại
- Tổng lợi ích và lợi ích cận biên
+ Lợi ích toàn bộ (hay tổng lợi ích) là tổng thể sự hài lòng do toàn bộ
sự tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ mang lại
+ Lợi ích cận biên (MU) phản ánh mức độ hài lòng do tiêu dùng một đơn vị sản phẩm cuối cùng mang lại:
LỢI ÍCH CẬN BIÊN =
2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần
Khái niệm tổng lợi ích và lợi ích cận biên giải thích vì sao người tiêu dùng lại mua một hàng hóa, dịch vụ cũng như vì sao người đó lại thôi mua chúng vào thời điểm nào đó
Quy luật lợi ích cận biên giảm dần được phát biểu như sau: Lợi ích cận biên của một hàng hóa có xu hướng giảm đi khi lượng mặt hàng đó được tiêu
Sự thay đổi về lợi ích
Sự thay đổi về lượng
Trang 3dùng nhiều hơn ở trong một thời kỳ nhất định.
Quy luật lợi ích cận biên giảm dần nói lên khi ta tiêu dùng nhiều hơn một mặt hàng nào đó, tổng lợi ích sẽ tăng lên, tuy nhiên với tốc độ ngày càng chậm Việc tăng chậm này là do lợi ích cận biên (lợi ích tăng thêm do tiêu dùng đơn vị sau cùng của một hàng hóa) giảm đi khi ta tiêu dùng hàng hóa đó
Quy luật trên có thể được minh họa bằng hình vẽ:
(Hình 1 - Tổng lợi ích và lợi ích cận biên)
Hình (1.a): Thể hiện tổng lợi ích quan hệ với mức thay đổi tiêu dùng Cần chú ý rằng lợi ích tiếp tục tăng lên khi tiêu dùng 5 chiếc bánh đầu tiên Nhưng tổng lợi ích tăng với mức gia tăng ngày càng nhỏ Mỗi mức gia tăng tiếp theo của đường tổng lợi ích trong hình (a) lại nhỏ đi một ít
Hình (1 b): Thể hiện sự thay đổi của lợi ích cận biên
3 Lợi ích cận biên và đường cầu
Lợi ích là một khái niệm trừu tượng dùng trong kinh tế học để chỉ cảm giác thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc sự thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà có Người ta không thể đo được lợi ích và lợi ích cận biên bằng các đơn vị vật lý như đơn vị điện tử, trọng lượng hoặc chiều dài…Tuy nhiên, khái niệm lợi ích lại là một công cụ rất hữu ích của các nhà kinh tế dùng để giải thích nhiều hiện tượng kinh tế cũng như hành vi của người tiêu dùng Để giải thích vì sao đường cầu lại nghiêng xuống dưới, chúng ta phải vận dụng khái niệm lợi ích, lợi ích cận biên và quy luật lợi ích cận biên
Lý thuyết kinh tế học vi mô cho rằng, có mối quan hệ qua lại giữa lợi ích cận biên và giá cả Lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao cho hàng hóa, dịch vụ đó và ngược lại
Trang 4Như vậy, có thể dùng giá để đo lợi ích cận biên của việc tiêu dùng một hàng hóa, dịch vụ
Hình 2: Đường cvà thặng dư tiêu dùng của một người tiêu dùng
Nếu so sánh, ta thấy có sự tương tự về dạng của đường cầu và dạng của đường lợi ích cận biên Nó thể hiện một điều là đằng sau đường cầu chứa đựng lợi ích cận biên giảm dần của người tiêu dùng, hay do quy luật lợi ích cận biên giảm dần đã làm cho đường cầu có xu hướng nghiêng xuống dưới
Đến đây ta có MU = D như thể hiện ở hình 2 Nếu các đơn vị tiêu dùng
là rời rạc thì ta sẽ có đường cầu gấp khúc từng đoạn Nếu như các đơn vị tiêu dùng vô cùng nhỏ cũng có ý nghĩa, hay các đơn vị tiêu dùng là liên tục, đường cầu sẽ thể hiện bằng đường liền
4 Thặng dư tiêu dùng
Thặng dư tiêu dùng là khái niệm phản ánh sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một đơn vị hàng hóa, dịch vụ nào đó (MU) với chi phí thực tế để thu được lợi ích đó (MC) Trên hình 2, giá trị trường bằng 1.000 đồng được thể hiện bằng đường ngang MN, nó phản ánh chi phí cận biên của người tiêu dùng
Do sự chi phối của quy luật lợi ích cận biên giảm dần, người tiêu dùng sẽ hưởng được thặng dư tiêu dùng ở các cốc nước trước đó Tổng thặng dư tiêu dùng
đó (được ký hiệu là CS) được thể hiện bằng phần diện tích thẫm mầu ở hình 2
Trên cơ sở hình vẽ 2, chúng ta có thể phân tích và làm rõ thặng dư
Giá và
lợi ích
cận biên
của một
cốc nước
(đồng)
P v MU à MU
7.000 6.000 5.000 4.000 3.000 2.000 1.000 0
CS
Số lượng cốc nước
(Một thời kỳ)
N
E
D = MU
M
Trang 5tiêu dùng của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa cụ thể ở đây là những cốc nước
II Sự lựa chọn của người tiêu dùng
1 Sự ràng buộc về ngân sách
- Khái niệm sự ràng buộc về ngân sách:
Để có thể hiểu sự hạn hẹp về ngân sách có thể giới hạn sự lựa chọn cá nhân như thế nào, chúng ta xem xét một tình huống mà ở đó một khách hàng với một lượng thu nhập cố định đã chi tiêu cho hai loại hàng hóa là thực phẩm
và quần áo Nếu gọi F là số lượng thực phẩm (hàng hóa F) được mua và C là
số lượng quần áo (hàng hóa C) được mua Và ký hiệu giá của hai loại hàng hóa tương ứng đó là PF và PC Khi đó ta có PF.F sẽ là số tiền chi cho thực phẩm
và PC.C là số tiền chi cho quần áo
- Đường ngân sách chỉ ra mọi sự kết hợp của F với C mà tổng số tiền chi bằng với thu nhập Bởi vì chỉ có hai hàng hóa cho nên người khách hàng
đó sẽ chi toàn bộ thu nhập của mình cho thực phẩm và quần áo Kết quả là mọi sự kết hợp giữa túi thực phẩm và quần áo mà người khách đó mua sắm sẽ nằm trên đường ngân sách: PF.F + PC.C = I
Lấy một ví dụ cụ thể: Giả sử khách hàng đó có thu nhập mỗi tuần là 40 đôla, giá thực phẩm là 1 đôla một đơn vị và giá quần áo là 2 đôla một đơn vị Nếu toàn bộ ngân sách khách hàng dành cho quần áo, thì khối lượng nhiều nhất có thể mua được sẽ là 20 đơn vị (với giá 2 đôla một đơn vị) Nếu dành toàn bộ ngân sách để mua thực phẩm thì có thể mua được 40 đơn vị (với giá 1 đôla một đơn vị) Nếu kết hợp, bổ sung mua cả thực phẩm và quần áo thì khách hàng sẽ có sự lựa chọn với những túi hàng khác nhau Thí dụ: nếu mua
5 đơn vị quần áo, thì sẽ còn mua được tiếp 30 đơn vị thực phẩm; nếu mua 10 đơn vị quần áo, thì sẽ càn mua được tiếp 20 đơn vị thực phẩm; nếu mua 15 đơn vị quần áo, thì lúc này ngân sách còn lại chỉ đủ mua 10 đơn vị thực phẩm…
Quần áo
(đơn vị)
Trang 6Hình 3: Đường ngân sách
Đường ngân sách của người tiêu dùng thể hiện các sự kết hợp hàng hóa
có thể mua với thu nhập và giá cả hàng hóa cố định, Đường AE cho thấy ngân sách với một thu nhập 40 đôla, giá của thực phẩm PF = 1 đôla/ một đơn vị và giá của quần áo PC = 2 đôla một đơn vị Độ dốc của đường ngân sách trong trường hợp này là - PF/ PC.
2 Sở thích của người tiêu dùng
Bảng số 1: Các túi hàng thị trường khác nhau
TÚI HÀNG Đơn vị thực phẩm Đơn vị quần áo
Ba giả thiết cơ bản về việc người tiêu dùng ưa thích mặt hàng này hơn mặt hàng khác:
Lý thuyết về thái độ của người tiêu dùng bắt đầu với 3 giả thiết cơ bản
về việc người tiêu dùng ưa thích túi hàng này hơn túi hàng khác Những giả thiết này áp dụng cho hầu hết mọi người trong hầu hết mọi trường hợp
Giả thiết thứ nhất là: Sự ưa thích là hoàn chỉnh, có nghĩa là người tiêu
dùng có thể so sánh và xếp loại tất cả mọi túi hàng Nói một cách khác, đối
5 10
20
15
A
B
C
D
10
5
E
Thực phẩm (đơn vị)
Trang 7với bất cứ hai túi hàng A và B nào, một người tiêu dùng hoặc là thích A hơn
B, hoặc thích B hơn A, hoặc là hài lòng với cả hai Cần lưu ý rằng những sự
ưa thích này không tính đến chi phí
Giả định quan trọng thứ hai là những ưa thích có tính bắc cầu Sự bắc
cầu có nghĩa là một người tiêu dùng ưa chuộng túi hàng A hơn túi hàng B, và
ưa túi hàng B hơn túi hàng C, như vậy, người tiêu dùng này cũng ưa chuộng túi hàng A hơn túi hàng C Giả thiết về sự bắc cầu này bảo đảm rằng sự ưa thích của người tiêu dùng là hợp lý ở cái nghĩa nhất quán
Giả định thứ ba là tất cả mọi hàng hóa đều tốt (nghĩa là đều được mong muốn), do vậy, bỏ qua các chi phí, thì người tiêu dùng luôn luôn mong muốn
có nhiều hàng hơn là ít hàng
Ba giả thiết này tạo thành cơ sở cho mô hình lý thuyết tiêu dùng của chúng ta Các giả thiết này không giải thích sự ưa thích của người tiêu dùng,
mà chỉ mô tả những sự ưa thích đó
3 Các đường bàng quan
Chúng ta có thể biểu diễn qua đồ thị sự ưa thích của một người tiêu dùng bằng cách sử dụng các đường bàng quan
Một đường bàng quan thể hiện tất cả sự kết hợp các túi hàng thị trường
và các túi hàng này tạo nên mức thỏa mãn như nhau cho một người tiêu dùng
Do vậy, người tiêu dùng đó bàng quan với mọi túi hàng hóa thể hiện tại các điểm trên đường biểu diễn
Với ba giả thiết về các sự ưa thích được đề cập ở phần trên, chúng ta biết rằng một người tiêu dùng có thể luôn luôn thể hiện sự ưa thích một túi hàng này hơn túi hàng khác hoặc là bàng quan với cả hai Để xem xét vần đề này dưới hình thức đồ thị, chúng ta giả thiết rằng chỉ có hai loại hàng hóa, thực phẩm F và quần áo C hiện có cho tiêu dùng Trong trường hợp này, các túi hàng hóa thị trường mô tả sự kết hợp giữa thực phẩm và quần áo mà một người có thể muốn tiêu thụ Bảng số 1 đưa ra một số ví dụ về các túi hàng thị trường chứa đựng nhiều khối lượng thực phẩm, quần áo khác nhau
Hình 4: Mô tả sự ưa thích cá nhân
Trang 8Hình 5: Đường bàng quan (Đường U 1 )
B LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI SẢN XUẤT
I Lý thuyết về sản xuất
1 Hàm sản xuất
- Sản xuất là hoạt động của doanh nghiệp Sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả lĩnh vực lưu thông và dịch vụ…
Quần áo
(Đơn vị)
Thực phẩm (đơn vị) 0
30
20
E
D
C
B
F
A
Quần áo
Thực phẩm
A B
C F
E
20
0
U 1
Trang 9- Sản xuất là quá trình các doanh nghiệp chuyển hóa những đầu vào (tổ hợp đầu vào) nhất định - hay còn được gọi là những yếu tố sản xuất - thành những đầu ra (còn gọi là sản phẩm):
+ Tổ hợp đầu vào (các yếu tố sản xuất) được chia thành: lao động (thường được ký hiệu bằng chữ L - Labour); nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng…(thường được ký hiệu bằng chữ K - Capital) + Một tổ hợp đầu vào (các yếu tố sản xuất) nhất định, kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất sẽ tạo ra một lượng sản phẩm nhất định, thường được
ký hiệu là Q
+ Một doanh nghiệp có thể sản xuất ra một loại sản phẩm hoặc có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau
a) Khái niệm
- Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện bằng một hàm sản xuất
* Hàm sản xuất là mối quan hệ giữa sản lượng tối đa (Q) có thể thu được từ một tổ hợp xác định của các yếu tố đầu vào (lao động, vốn…) tương ứng với một trình độ công nghệ nhất định.
+ Hàm sản xuất sử dụng nhiều đầu vào có dạng: Q = f(x1,x2, x3,…, xn) (Trong đó: Q là sản lượng đầu ra; x1,x2, x3,…, xn: là các yếu tố đầu vào) + Hàm sản xuất trên còn có thể viết dưới dạng: Q = f(x).
+ Giả định DN chỉ sử dụng 1 tổ hợp đầu vào với 2 yếu tố sản xuất: K đơn vị vốn và L đơn vị lao động, thì hàm sản xuất có dạng:
Q = f (K, L) Hay Q = A Kα.Lβ
Trong đó: Q là sản lượng đầu ra; K là vốn; L là đơn vị lao động; A là một hằng số tùy thuộc vào những đơn vị đo lường các đầu vào và đầu ra; α và
β là những hằng số cho biết tầm quan trọng tương đối của K và L
Bảng số 2: Mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra
SỐ MÁY
KHÂU MỖI
NGÀY
SỐ LAO ĐỘNG MỖI NGÀY
Trang 101
2
3
0 0 0 0
0 15 20 21
0 34 46 50
0 44 64 79
0 48 72 82
0 50 78 92
0 51 81 99
0 47 80 102
- Biểu trên là một ví dụ đơn giản cho một hàm sản xuất, thể hiện sự phụ thuộc của sản lượng đầu ra (quần áo) vào lượng đầu vào (lao động, máy khâu)
mà doanh nghiệp sử dụng:
+ Không có đầu vào (lao động, máy khâu hoặc cả 2), thì sẽ không có đầu
ra (quần áo)
+ Với một lao động và một máy khâu, DN có thể sản xuất tối đa 15 bộ quần áo/ ngày Với 2 lao động và 2 máy khâu: 46 bộ quần áo/ ngày…(Cần lưu ý rằng: Sản lượng trên chỉ đạt được khi doanh nghiệp tổ chức sản xuất và quản lý tốt)
2 Quy luật năng suất biên giảm dần
- Để sản xuất ra một sản lượng, thông thường các doanh nghiệp phải sử dụng một tổ hợp đầu vào nhất định (bao gồm các yếu tố sản xuất khác nhau) Xét trong ngắn hạn, với giả định trình độ kỹ thuật - công nghệ hiệu quả nhất thì: nếu số lượng một yếu tố sản xuất được gia tăng đều bằng nhau (trong khi các yếu tố khác của tổ hợp đầu vào không đổi) thì tổng sản lượng sẽ gia tăng Tuy nhiên, tới một mức độ nhất định tổng sản lượng tối đa sẽ giảm xuống
- Để nghiên cứu quy luật năng suất biên giảm dần, chúng ta xem xét quá trình sản xuất của một doanh nghiệp với giả định doanh nghiệp sử dụng tổ hợp đầu vào gồm 2 yếu tố (vốn: K và lao động: L), trong đó vốn là cố định, còn lao động là biến đổi
Bảng số 3: Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào (L và K) với sản lượng (Q), năng suất bình quân và năng suất biên (MP)
TỔNG
SỐ LAO
ĐỘNG
Tổng số vốn (K)
Tổng số đầu ra (Q)
Năng suất bình quân (Q/L)
Năng suất biên
(MP)
0
1
10 10
0 10
0
Trang 113
4
5
6
7
8
9
10
10 10 10 10 10 10 10 10 10
30 60 80 95 108 112 112 108 100
15 20 20 19 18 16 14 12 10
10 20 30 20 15 13 4 0 -4 -8
+ Năng suất bình quân: Năng suất bình quân của lao động (APL) là số đầu
ra tính theo một đơn vị đầu vào là lao động và được xác định bằng công thức:
APL= Số đầu ra/ Số lao động đầu vào = Q L
Ví dụ: Trong Biểu 2, nếu ta sử dụng 5 lao động thì sản lượng đầu ra (Q) đạt được là 50 bộ quần áo Do vậy, năng suất bình quân của lao động sẽ là: APL= 10
5
50
(Bộ quần áo) + Năng suất biên của lao động (MPL): Là số đầu ra được sản xuất thêm khi số lao động đầu vào tăng một đơn vị và được xác định bằng công thức: MPL= Số thay đổi đầu ra/ Số thay đổi của lao động = ..Q L
- Mối quan hệ giữa Tổng sản phẩm: Q, Năng suất bình quân của lao động: APL và năng suất biên của lao động: MPL được thể hiện trên
đồ thị 4.1
* Quy luật năng suất biên giảm dần: Năng suất biên (MP) của bất cứ
yếu tố sản xuất nào cũng sẽ bắt đầu giảm xuống tại một điểm nào đó, khi mà ngày càng có nhiều yếu tố đó được sử dụng trong quá trình sản xuất đã có (trong khi các yếu tố sản xuất khác không đổi)
Quy luật năng suất biên giảm dần có ý nghĩa cả với lao động (L), cả đối với vốn (K), nó tiết chế hành vi và quyết định của người sản xuất - kinh doanh trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất, giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận