1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ SAU ĐẠI HỌC LÍ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG dư VÀ sự vận DỤNG VÀO xây DỰNG nền KINH tế TRONG THỜI KỲ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA XÃ hội

12 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 238,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói tới chủ nghĩa Mác nói chung, học thuyết kinh tế Mác nói riêng, trước hết phải nói đến học thuyết giá trị thặng dư. Bởi vì, giá trị thặng dư là phạm trù trung tâm, lý luận gia strị thặng dư là viên đá tảng trong học thuyết kinh tế Mác và học thuyết kinh tế của C.Mác là nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Mác.

Trang 1

Chuyên đề

LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀ SỰ VẬN DỤNG

VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

* * *

Phần I:

Lý luận giá trị thặng dư trong Học thuyết kinh tế Mác và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận tư tưởng xung quanh phạm trù bóc lột gía trị thặng dư

Hoàn cảnh ra đời của kinh tế học mác-xít nói chung, học thuyết giá trị thặng dư nói chung

Nói tới chủ nghĩa Mác nói chung, học thuyết kinh tế Mác nói riêng, trước hết phải nói đến học thuyết giá trị thặng dư Bởi vì, giá trị thặng dư là phạm trù trung tâm, lý luận gia strị thặng dư là viên đá tảng trong học thuyết kinh tế Mác và học thuyết kinh tế của C.Mác là nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Mác

Những năm 40 của thế kỷ 19, CNTB xác định địa vị thống trị - làm cho

cơ cấu giai cấp xã hội thay đổi cơ bản Trong xã hội tư bản lúc đó có hai giai cấp cơ bản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Hai giai cấp này có địa vị và lợi ích kinh tế đối lập nhau Vì vậy, họ luôn đấu tranh với nhau để giành hoặc giữ những lợi ích của giai cấp mình.(đấu tranh công nhân dệt Lyon, Phong trào hiến chương ơ Anh 30 - 40/TK19)

Để cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản từ đấu tranh tự phát - chuyển thành tự giác, từ đấu tranh kinh tế - đấu tranh chính trị,

từ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm - xoá bỏ áp bức bất công, cần có lý luận cách mạng và khoa học dẫn đường Chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu

CN Mác ra đời trên cơ sở kế thừa có phê phán Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị cổ điển Anh, CNXH không tưởng Pháp

Trang 2

CN Mác gồm 3 bộ phận: Triết học, Kinh tế học chính trị, CNXH khoa học Ktinh tế học macxit ra đời trên cơ sở luận chứng về măt kinh tế tính chất quá độ lịch sử của CNTB và thắng lợi tất yếu của cách mạng XHCN

Học thuyết kinh tế Mác do C Mác (1818 1883) và Ph.Ăngghen (1820 -1895) sáng lập và được V.I.Lênin (1870 - 1924) bảo vệ và phát triển vào cuối TK19, đầu TK20 khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản

1.1 Phạm trù giá trị thặng dư và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận tư tưởng liên quan đến lý luận giá trị thặng dư

- Trên cơ sở hoàn bị lý luận giá trị lao động, C Mác xây dựng lý luận giá trị thặng dư Trong học thuyết kinh tế của C.Mác, phạm trù giá trị thặng dư là phạm trù trung tâm, lý luận giá trị thặng dư là viên đá tảng Bộ Tư bản được C.Mác được trình bày trong 4 quyển với hai nội dung cơ bản là Học thuyết giá trị và Học thuyết giá trị thặng dư

Trên cơ sở hoàn bị Học thuyết giá trị - lao động, C.Mác phát kiến ra Học thuyết giá trị thặng dư Học thuyết giá trị thặng dư theo nghĩa rộng và đầy đủ nhất gồm: sự ra đời và phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; điều kiện và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư; các hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư; lý luận giá trị thặng dư trong lịch sử các học thuyết kinh tế Bộ tư bản là công trình khoa học kinh tế đồ sộ; nội dung, phương pháp nghiên cứu

và kết cấu chung - cũng như từng vấn đề được đề cập trong tác phẩm, đều có tính khoa học và tính cách mạng rất cao Vì vậy, khi nghiên cứu Bộ tư bản cần phải vận dụng lý thuyết hệ thống (nghiên cứu các nội dung theo một kết

cấu lôgic) để luận giải và nhận thức những vấn đề cơ bản của tác phẩm

1 Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư (học thuyết giá trị thặng dư theo nghĩa hẹp) trình bày từ phần 2 đến phần 5, gồm 13 chương.

Mở đầu phần lý luận giá trị thặng dư: Phần thứ hai, quyển 1: Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, C.Mác nêu công thức chung của tư bản và chỉ ra mâu thuẫn trong công thức chung đó; trình bày điều kiện của sản xuất tư bản chủ nghĩa(sự chuyển hoá tiền thành tư bản, sức lao động trở thành hàng hoá);

Trang 3

từ mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản: T - H - T’ , C.Mác phân tích điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa- người lao động được tự do về thân thể, người lao động không có tư liệu sản xuất buộc phải bán sức lao động cho người khác Theo C.Mác, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Luận giải quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, C.Mác đã chứng minh rằng, trong quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động (quá trình người công nhân làm việc trong các xí nghiệp tư bản) giá trị hàng hóa sức lao động không mất đi mà nó còn tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn, phần lớn hơn đó bị nhà tư bản chiếm đoạt - giá trị thặng dư

Phân tích vai trò của các bộ phận tư bản khác nhau trong quá trình tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, C.Mác đã phân chia tư bản thành tư bản bất biến, tư bản khả biến Tư bản bất biến là bộ phận tư bản dùng để mua các tư liệu sản xuất(nhà xưởng, máy móc, nguyên, nhiên vật liệu ) Gọi là tư bản bất biến vì giá trị của nó không thay đổi mà chỉ chuyển dần vào sản phẩm mới thông qua lao động cụ thể của người công nhân Tư bản khả biến là bộ phận tư bản dùng để mua hàng hóa sức lao động Sau mỗi quá trình sản xuất hàng hóa cho nhà tư bản, bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo ra một lượng gía trị mới không những đủ bù đắp lại giá trị hàng hóa sức lao động - ngang bằng tiền lương nhà tư bản trả cho công nhân, mà còn một phần dôi ra nhà tư bản chiếm đoạt - giá trị thặng

dư hay giá trị thặng ra

Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến nhằm chỉ

ra vai trò của những bộ phận tư bản khác nhau trong quá trình tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Đây cũng là một trong những đóng góp to lớn của C.Mác cho Khoa kinh tế chính trị - điều mà tất cả các nhà kinh tế trước đó chưa ai làm được

Phân tích quy mô, trình độ và phương thức bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê, C.Mác đã sử dụng các phạm trù: tỉ suất và khối lượng giá trị

Trang 4

thặng dư; giá trị thăng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng

dư siêu ngạch Trong phân tích giá trị thặng dư tương đối, C.Mác có bổ sung

về mặt lịch sử - ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp, đó là giai đoạn hiệp tác giản đơn; giai đoạn hiệp tác có phân công(công trường thủ công); giai đoạn máy móc đại công nghiệp

Vị trí và ý nghĩa của lý luận giá trị thặng dư trong học thuyết kinh tế của C.Mác

Phạm trù giá trị thặng dư là phạm trù trung tâm; lý luận giá trị thặng dư

là viên đá tảng trong học thuyết kinh tế Mác- như V.I.Lênin đã đánh giá Lý

luận giá trị thặng dư của C.Mác đã vạch trần bí mật của nền sản xuất tư bản

chủ nghĩa, bác bỏ những luận điểm tư sản: “người có công, kẻ có của”, “Tự

do - bình đẳng - bác ái”

Phạm trù giá trị thặng dư phản ánh bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đó là sản xuất giá trị thặng dư Nhà tư bản bóc lột lao động làm thuê là bóc lột giá trị thặng dư Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản (quy luật kinh tế tuyệt đối) của chủ nghĩa tư bản

Nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư còn có thể rút ra được những vấn

đề có ý nghĩa về mặt kinh tế Đó là việc phân chia vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh; vấn đề thị trường sức lao động; xác định định mức lao động;

phân chia giá trị gia tăng trong sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường

2 Lý luận tiền công trình bày trong phần 6, quyển 1, gồm 4 chương.

Khi nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, C.Mác đã khẳng định chính lao động của người công nhân làm thuê đã làm tăng giá trị cho tư bản Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sức lao động là hàng hóa Cũng như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có giá trị và giá trị sử dụng Lý luận tiền công trong Học thuyết kinh tế của C.Mác đã chỉ ra sự chuyển hóa của giá trị sức lao động hay giá cả sức lao động , thành tiền công Nội dung lý luận tiền công trong học thuyết kinh tế Mác:

Sử dụng phương pháp phản chứng, C.Mác khẳng định tiền công dưới

chủ nghĩa tư bản là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là

Trang 5

giá cả hàng hoá sức lao động; dưới chủ nghĩa tư bản, tiền công nhà tư bản trả

cho công nhân dưới hai hình thức: tiền công tinh theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm Trong lý luận tiền công, C.Mác còn đề cập và luận giải tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế Trong điều kiện cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, tiền công thực tế của người công nhân có xu hướng giảm xuống

Lý luận tiền công trong học thuyết kinh tế Mác chỉ rõ mối quan hệ giữa

tư bản với lao động làm thuê Nó là phần giá trị mới do công nhân tạo ra mà nhà tư bản lấy trả lại cho người công nhân Nhìn bên ngoài nó dường như là hợp lý, là công bằng, ứng tư bản kinh doanh thì có lợi nhuận, có lao động thì

có tiền công đó là “người có công, kẻ có của” Lí luận tiền công dưới chủ nghĩa tư bản là sự bổ sung, hoàn thiện lí luận giá trị thặng dư trong học thuyết kinh tế của C.Mác Ngoài ý nghĩa chính trị xã hội, lí luận tiền công còn có ý nghĩa về mặt kinh tế nếu gạt bỏ tính chất tư bản chủ nghĩa thì tiền công phản ánh các mối quan hệ xã hội giữa người lao động và người sử dụng lao động Tiền công phải dảm bảo tái sản xuất sức lao động; tiền công phải là động lực

để người lao động làm việc với năng suất chất lượng và hiệu quả cao nhất

3 Lý luận tích luỹ và tích luỹ nguyên thuỷ tư bản được trình bày trong

phần 7 và 8 với 12 chương

Sử dụng phương pháp trừu tượng hoá, C.Mác phân tích tích luỹ tư bản

về mặt định tính Khi nghiên cứu tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng

tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã rút ra những kết luận quan trọng đó là nguồn gốc của tư bản khả biến(biểu hiện dưới hình thái tiền lương mà nhà tư bản trả cho người công nhân làm thuê; công nhân ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nhà

tư bản; thực chất của tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư và nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư; tư bản tích lũy ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ tư bản ứng trước Động lực khách quan của tích luỹ là tăng thêm lượng tư bản ứng trước, thực hiện tái sản xuất mở rộng(cả chiều rộng và chiều sâu) điều đó cũng có nghĩa là tăng cường quy mô

và trình độ bóc lột lao động làm thuê

Trang 6

Về mặt định lượng, C.Mác đã đề cập và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích luỹ tư bản Đó là trình độ bóc lột giá trị thặng dư; năng suất lao động; đại lượng tư bản ứng trước; chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng do tiến bộ của kỹ thuật

Nghiên cứu tích lũy tư bản, C.Mác đã phát hiện quy luật chung của tích luỹ tư bản, đó là: quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản; là quá trình cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên Đặc biệt tích luỹ tư bản chính là quá trình tích luỹ sự giàu có về nhà tư bản và giai cấp tư sản; tích luỹ

sự nghèo khổ, bần cùng về lao động làm thuê và giai cấp vô sản Trong lý luận tích lũy tư bản, C.Mác đã chứng minh sự bần cùng hóa của giai cấp vô sản được biểu hiện dưới 2 hình thức: bần cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối

Khi nghiên cứu quá trình tích lũy tư bản, C.Mác đã đi sâu phân tích “Cái gọi là tích lũy ban đầu” Phần thứ bẩy- Chương 24(tr.995 – 1060 tập 23) Tích

lũy ban đầu hay tích lũy nguyên thủy để đẩy nhanh sự ra đời của phương thức

sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác cho rằng: trước chủ nghĩa tư bản đã có một

sự tích lũy “ban đầu”- một tích lũy không phải là kết quả của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà là điểm xuất phát của chúng(Sđd tr.995)

Lý luận tích luỹ tư bản có vị trí quan trọng trong Học thuyết kinh tế Mác Bởi vì, tích lũy để tái sản xuất mở rộng là quy luật tất yếu của mọi nền sản xuất, nhưng trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tích lũy tái sản xuất mở rộng đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô, trình độ bóc lột lao động làm thuê Lý luận tích lũy giúp người đọc nhận rõ hơn quy luật phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy luật tích lũy tư bản cũng bị chi phối bởi quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản - quy luật giá trị thặng dư

Dưới góc độ kinh tế, để thực hiện tích lũy tái sản xuất mở rộng, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng, vấn đề tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, vấn đề khâu hao tài sản cố định đề

Trang 7

đổi mới công nghệ Đây là những vấn đề có tính quy luật chung cho các nền kinh tế thị trường

Phần II Vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong học thuyết kinh tế Mác vào xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước

2.1 Những vấn đề có ý nghĩa về phương pháp luận khi vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ

Có 3 nội dung:

Thứ nhất, Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật về lịch sử khi đánh giá

về CNTB: Khách quan - toàn diện - lịch sử - phát triển.

Bản chất của nền SXTBCN: là nền sản xuất hàng hoá lớn hiện đại

CNTB ra đời thay thế phương thức SX phong kiến cát cứ lạc hậu, là bước tiến lớn của nhân loại (chúng ta đau khổ về CNTB nhưng càng đau khổ hơn khi không có nó; trong gần hai 200 năm tồn tại CNTB đã tạo ra được một khối lượng của cải bằng tất cả những gì nhân loại đã tạo ra trước đó … V.I.Lênin: đánh giá về vai trò lịch sử của CNTB có thể khái quát: Sx mang tính chất xã hội và XH hoá sản xuất)

Vì là sản xuất hàng hoá lớn hiện đại nên những vấn đề liên quan đến

HH, thị trường, các quy luật của kinh tế HH, kinh tế thị trường phải nhận thức(từ SX HH giản đơn đến SX hàng hoá lớn; từ kinh tế thị trường sơ khai đến nền kinh tế thị trường hiện đại; từ những nền kinh tế thị trường quốc gia, khu vực đến nền kinh tế thị trường có tính toàn cầu…

Từ những đánh giá nền kinh tế TBCN, thái độ, cách nhìn nhận về các nhà tư bản và giai cấp tư sản như thế nào?

Khẳng định: Dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX nên quan hệ

xã hội trong quá trình SX ra hàng hoá; Tư bản bóc lột lao động làm thuê; Giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô sản; Bóc lột TBCN là bóc lột giá trị thặng dư -một kiểu bóc lột rất tinh vi tàn bạo; Bóc lột tư bản chủ nghĩa là khách quan hay chủ quan? Nó là khách quan! Vì sao?

Trang 8

Đã là nhà tư bản phải bóc lột nếu không sẽ bị đẩy xuống hàng ngũ những người làm thuê(cơ sở kinh tế xã hội đẻ ra bóc lột) Trong lời bạt viết cho lần xuất bản lần đầu quyển 1 bằng tiếng Đức, C.Mác: “Xin nói thêm vài lời ”

Thứ hai, trong quá trình vận dụng lý luận giá trị thặng dư đứng trên quan điểm giá trị lao động để giải quyết các quá trình kinh tế.

Vấn đề này có liên quan các lý thuyết kinh tế tư sản hiện đại: chủ nghĩa trọng cung - trọng cầu; bàn tay vô hình, bàn tay hữu hình; nền kinh tế hỗn hợp

Có điều, khi thế giới rơi vào khủng hoảng (2008 - nay) các chính khách phương Tây và các học giả tư sản mới nhớ lại và tìm đến Tư bản luận của C.Mác để xem Ông đã nói những gì và nói như thế nào vế tái SX, tính chu kì của nền kinh tế, về khủng hoảng, thất nghiệp, về những hậu quả KT - XH mà phương thức SXTBCN đã tạo ra và loài người phải gánh chịu

“Lao động tạo ra giá trị” luận đề này hoàn toàn đúng trên cả phương diện khoa học và thực tiễn

Thứ ba, phải bám sát đối tượng nghiên cứu của kinh tế học macxít và lý luận giá trị thặng dư.

Những quy luật kinh tế chi phối sự vận động của nền kinh tế TBCN trước hết là những quy luật của kinh tế HH, kinh tế thị trường (thanh toán trả tiền ngay không tình không nghĩa) xét về mặt kinh tế; xét về mặt xã hội?

Cơ chế vận hành của những quy luật kinh tế gắn với thực tiễn kinh tế

-xã hội, quy luật khách quan, các quy luật kinh tế, các quy luật -xã hội nên

nó chỉ phát sinh và phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người Con người là chủ thể của mọi quá trình kinh tế đồng thời cũng là sản phẩm của các quá trình đó Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu và vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần chống máy móc, giáo điều, tuyệt đối hóa nền KT TBCN,

ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản; đồng thời cũng chống tư tưởng cực đoan muốn phủ định sách chơn thành tựu của CNTB, tuyệt đối hóa những khó khăn, mâu thuẫn của CNTB

2.2 Những nội dung vận dụng

Trang 9

2.2.1 Những vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sx lớn:

Khi nghiên cứu ba giai đoạn ,C.Mác khái quát đó là quá trình: Xã hội hóa SX, là quá trình tăng năng suất lao động xã hội, là quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất tương ứng

Từ những vấn đề có tính quy luật đó, cụ thể hóa những nội dung lý luận giá trị thặng dư có thề vận dụng

2.2.2 Những nội dung vận dụng

Thứ nhất, vốn để CNH, HĐH và xây dựng cơ sở vật chất cho nền kinh

tế Dươí góc đọ kinh tế, để thực hiện tích luỹ tái sản xuất, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng, vấn đề tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, vấn đề khâu hao tài sản cố định đề đổi mới công nghệ Đây là những vấn đề có tính quy luật chung cho các nền kinh tế thị trường

Trong SX TBCN, tiền với tư cách là tiền và tiền với tư cách là tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường: tiền với chức năng lưu thông, tiền với vai trò là vốn sinh lời ta cần quan tâm giải quyết:

+ Huy động vốn (qua kênh tín dụng và tích lũy vốn của doanh nghiệp và hộ gia đình); tích tụ và tập trung; phân chia tích lũy và tiêu dùng phần giá trị gia tăng trong các doanh nghiệp, hộ gia đình vào các nhiệm vụ kinh tế?

+ Phân bổ các nguồn vốn từng bước hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả

+ Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn cho phát triển kinh tế, hiện đại hoá cơ

sở vật chất của nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực - phát huy yếu tố con người trong

nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh:

+ Thị trường sức lao động: tái sản xuất sức lao động theo chiều rộng, theo chiều sâu; đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực

+ Vấn đề tiền lương: tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế; lạm phát; đời sống vật chất và đời sống tinh thần ca người lao động

Trang 10

+ Phân công lao động xã hội, phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa trong từng doanh nghiệp

+ Xác định định mức lao động; phân phối thu nhập (dưới CNTB: người làm nhiều hưởng ít, kẻ không làm hưởng nhiều; trong thời kỳ quá độ lên CNXH, áp dụng nhiều hình thức phân phối; tiền lương, tiền công, tái sản xuất sức lao động theo nguyên tắc phân phối công bằng

Thứ ba, ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất kinh

doanh và đời sống Vai trò của khoa học kỹ thuật: làm tăng năng suất lao động; tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh (giảm sự hao mòn hữu hình và

vô hình )

Thứ tư, gắn SX với lưu thông, phát triển các loại thị trường

+ Vì theo quan điểm kinh tế chính trị học macxit, lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư Nhưng không có lưu thông thì không thực hiện được giá trị hàng hoá và như vậy nhà tư bản không có giá trị thặng dư Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, lưu thông gồm cả quá trình tái sản xuất Do

đó, trong nền kinh tế thị trường cần quan tâm:

+ Xây dựng và ngày càng phát triển mạnh mẽ các loại thị trường: thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, thị trường sức lao động, thị trường khoa học và công nghệ

+ Cần nhận thức và vận dụng đúng các quy luật của kinh tế thị trường (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu ) vào sản xuất, lưu thông

Phát triển thị trường trong nước gắn kết với thị trường thế giới

Thứ năm, những cân đối lớn và vai trò của nhà nước trong điều tiết nền

kinh tế thị trường

+ Tái sản xuất và tính chu kì của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cho chúng

ta những nhận thức về tính tự phát của kinh tế thị trường

+ Những quyết sách của nhà nước và các quyết định của doanh nghiêp trong thời kỳ khủng hoảng, hậu khủng hoảng?

+ Tái cơ cầu nền kinh tế thời hậu khủng hoảng

+ Nhà nước với tư cách là một chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Ngày đăng: 02/03/2017, 22:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w