Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong điều kiện kinh tế hiện nay, doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt với nhiều rủi ro, rủi ro được coi như một bộ phận tất yếu, không thể tách rời
Trang 2CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1
Chuyên ngành: Quản trị Công nghệ và Phát triển doanh nghiệp
Mã số: Chuyên ngành thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ TIẾN LONG
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Quản trị kinh doanh , Trường Đại học
Kinh tế - ĐHQG Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Tiến Long -
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy - những người đã luôn tận
tâm dạy bảo, động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được những chỉ bảo và góp ý
quý báu của các thầy, cô trong và ngoài trường, tác giả cũng xin chân thành cảm
ơn những chỉ bảo và góp ý quý báu đó của quý thầy, cô
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả cán bộ, thầy cô giáo trong
Trường Trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội, Phòng Sau Đại học, Khoa
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả cán bộ, thầy cô
giáo và đồng nghiệp tại Công ty Truyền tải Điện 1, cũng như bạn bè và gia đình
đã động viên tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 16 tháng 1 năm 2017
Tác giả
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Quang Hòa
Trang 55
MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt 7
Danh mục các bảng 8
Danh mục các hình vẽ 9
Danh mục các biểu đồ 10
MỞ ĐẦU 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO 15
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 15
1.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro 19
1.2.1 Rủi ro 20
1.2.2 Quản trị rủi ro 24
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp 33
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Quy trình nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG VẬN HÀNH CÁC THIẾT BỊ TẠI TRẠM BIẾN ÁP THUỘC CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1 GIAI ĐOẠN 2010-2015 40
3.1 Khái quát về Công ty Truyền tải điện 1 40
3.1.1 Quá trình hình thành và đặc điểm sản xuất kinh doanh 40
3.1.2 Quy mô các trạm biến áp 41
3.2 Thực trạng quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc Công ty Truyền tải điện 1 giai đoạn 2010-2015 46
3.2.1 Thực trạng hoạt động nhận diện, kiểm soát rủi ro 46
3.2.2 Thực trạng hoạt động đánh giá, khắc phục rủi ro 54
Trang 66
3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm
biến áp thuộc Công ty Truyền tải điện 1 56
3.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc Công ty Truyền tải điện 1 61
3.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 61
3.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 67
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG VẬN HÀNH CÁC THIẾT BỊ TẠI TRẠM BIẾN ÁP THUỘC CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1 74
4.1 Mục tiêu của Công ty Truyền tải điện 1 trong giai đoạn 2016-2020 74
4.1.1 Dự báo tình hình 74
4.1.2 Mục tiêu và các chỉ tiêu cụ thể 74
4.2 Giải pháp để tăng cường QTRR ở Công ty Truyền tải điện 1 78
4.2.1 Giải pháp về vấn đề nhân sự 78
4.2.2 Giải pháp kỹ thuật 81
4.2.3 Nhóm giải pháp về vận hành, đầu tư, xây dựng 83
4.2.4 Các giải pháp dự báo, đề phòng rủi ro 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 94
Trang 77
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Ký hiệu viết tắt Nguyên nghĩa
2 EVNNPT : Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Trang 88
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Số lƣợng các trạm biến áp do Công ty Truyền
tải điện 1 quản lý trong giai đoạn 2010-2015
41
2 Bảng 3.2 Số lƣợng các Truyền tải điện thuộc PTC1 tính
đến năm 2015
42
3 Bảng 3.3 Số lƣợng các MBA và máy kháng điện do
PTC1 quản lý trong giai đoạn 2010-2015
43
4 Bảng 3.4 Các sự cố trong vận hành các thiết bị tại trạm
biến áp thuộc PTC1 giai đoạn 2010-2015
61
5 Bảng 3.5 Thời gian bình quân xử lý sự cố trong vận
hành các thiết bị tại các trạm biến áp thuộc PTC1
63
6 Bảng 3.6 Các nguyên nhân gây ra sự cố trong vận hành
các thiết bị tại các trạm biến áp thuộc PTC1 giai đoạn 2010-2015
70
7 Bảng 3.7 Tình hình quá tải MBA tại các trạm biến áp
thuộc PTC1 trong các năm 2011, 2013, 2015
71
8 Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu về nâng cao hiệu quả vận
hành hệ thống điện của PTC1 giai đoạn
2016-2020
75
9 Bảng 4.2 Các chỉ tiêu về tổn thất điện năng truyền tải
của PTC1 trong giai đoạn 2016-2020
76
Trang 99
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Mô hình để liên kết các giai đoạn khác
nhau trong QTRR
31
Trang 1010
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng dung lượng MBA do PTC1
quản lý trong giai đoạn 2010-2015
45
2 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu lao động phân theo trình độ của
PTC1 năm 2015
57
3 Biểu đồ 3.3 Điện năng truyền tải được giao và điện
năng truyền tải thực hiện của PTC1 giai
đoạn 2010-2015
64
4 Biểu đồ 3.4 Tổn thất lưới 220 trong quá trình truyền
tải điện của PTC1 trong giai đoạn
2010-2015
69
Trang 1111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt với nhiều rủi ro, rủi ro được coi như một bộ phận tất yếu, không thể tách rời của các hoạt động kinh doanh nên rất cần phải tiến hành QTRR QTRR là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của doanh nghiệp để đối phó với các rủi ro
có thể xảy ra cho doanh nghiệp; nó có vai trò hạn chế, xử lý các tổn thất (hậu quả) để nhanh chóng phục hồi, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh Đồng thời, QTRR sẽ giảm thiểu, triệt tiêu nguyên nhân gây rủi ro, tạo dựng môi trường an toàn cho doanh nghiệp để tạo nguồn lực cho các chương trình giảm thiểu rủi ro và thiệt hại Do đó, QTRR trở thành nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu
Trong lĩnh vực truyền tải điện, khi yêu cầu đảm bảo cung cấp điện liên tục, yêu cầu về chất lượng điện năng ngày càng cao và lưới điện ngày càng phức tạp thì yêu cầu về đảm bảo vận hành an toàn và liên tục cho các thiết bị trong đó càng cao Lĩnh vực truyền tải điện thuộc PTC1 là một lĩnh vực thường xuyên phải đối phó với sự cố, hư hỏng các các thiết bị, đặc biệt là sự
cố làm gián đoạn cung cấp điện, do vậy QTRR trong vận hành các thiết bị tại các trạm biến áp đóng vai trò rất quan trọng đối với PTC1 Nếu nhận dạng đúng, kịp thời rủi ro sẽ đo lường, đánh giá và thực hiện các biện pháp xử lý rủi ro hiệu quả Vì vậy, QTRR trong lĩnh vực truyền tải điện là một yêu cầu thiết yếu của Công ty
Mặc dù từ trước đến nay PTC1 đã và đang áp dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế rủi ro nhưng hàng năm vẫn xảy ra các sự cố hư hỏng các thiết
bị ngoài khả năng kiểm soát gây ảnh hưởng đến cung cấp điện cho các phụ tải
và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội đất nước Chính vì thế, để đối phó
Trang 1212
với các rủi ro có thể xảy ra, hạn chế, xử lý các tổn thất (hậu quả) để nhanh chóng phục hồi, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh và tạo dựng môi trường an toàn cho doanh nghiệp để tạo nguồn lực cho các chương trình giảm thiểu rủi ro và thiệt hại là yêu cầu cấp bách của PTC1
Từ yêu cầu bức thiết trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc Công ty Truyền tải điện 1” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
Luận văn đi sâu vào trả lời hai câu hỏi lớn:
- Câu hỏi thứ nhất: Công tác Quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 thực hiện như thế nào?
- Câu hỏi thứ hai: Cần có những giải pháp gì để công tác QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 hiệu quả hơn?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn được những giải pháp nhằm tăng cường công tác QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 từ nay tới 2020
b Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận cơ bản về QTRR
- Phân tích, đánh giá thực trạng QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 trong giai đoạn 2010 - 2015, đồng thời chỉ ra những
ưu điểm và hạn chế cũng như làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế đó
Trang 1313
- Đưa ra những kiến nghị và đề xuất những giải pháp để nâng cao hoạt động QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 được hiệu quả hơn trong thời gian từ nay tới 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các công tác QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1
4 Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa lý luận về QTRR, nhất là QTRR trong
vận hành các thiết bị tại các trạm biến áp Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hơn phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu về QTRR ở một doanh nghiệp
- Về mặt thực tiễn: Việc phân tích thực trạng hoạt động QTRR trong vận
hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 một cách khách quan là căn cứ tin cậy để đưa ra các giải pháp giúp hoạt động QTRR trong vận hành các thiết
bị tại trạm biến áp thuộc Công ty được hiệu quả hơn trong tương lai; và những giải pháp này được sắp xếp một cách logic và có tính hệ thống là tư liệu quan
Trang 1414
trọng để người quản lý khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong hoạt động QTRR của doanh nghiệp và đưa ra các chính sách phù hợp
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn có 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro
Chương 2: Phương pháp và quy trình nghiên cứu
Chương 3: Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong vận hành các thiết
bị tại trạm biến áp thuộc Công ty Truyền tải điện 1 giai đoạn 2010-2015 Chương 4: Giải pháp nâng cao công tác quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc Công ty Truyền tải điện 1
Trang 1515
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
* Trên thế giới
Mặc dù khái niệm về rủi ro đã được đề cập đến từ rất lâu, nhưng theo Terje Aven (2016) đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro là một lĩnh vực khoa học trẻ, được phát triển mạnh mẽ trong khoảng 30-40 năm trở lại đây Đến nay, QTRR đã trở thành một lĩnh vực được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt quan tâm với sự xuất hiện nhiều phương pháp phân tích mới tinh vi và hiệu quả hơn; đồng thời vấn đề này cũng được sử dụng rộng rãi hơn trong việc xem xét các vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường ở Mỹ, Châu Âu cũng như các quốc gia Châu Á khác [25] Có thể chia các nghiên cứu về QTRR thành 2 hướng như sau:
- Hướng thứ nhất là nghiên cứu lý thuyết về QTRR: các tác giả đi sâu vào những vấn đề lí luận chung về QTRR, về khái niệm, các khuôn khổ, các nguyên tắc, phương pháp phân tích và đánh giá rủi ro,… Các nghiên cứu của
T Aven (2013), K.M Thompson và nnk (2005), ISO (2009a), đi sâu vào phân tích khái niệm rủi ro và các vấn đề liên quan,…[27, 28, 29] Đặc biệt là Hiệp hội phân tích rủi ro (viết tắc là SRA) đã đưa ra một thuật ngữ mới về QTRR Có thể có các quan điểm khác nhau về QTRR dưới nhiều góc độ nghiên cứu nhưng đều bao hàm các khái niệm xác suất, dễ bị tổn thương, mạnh mẽ và khả năng và phải đáp ứng một số tiêu chí cơ bản như là hợp lý,
rõ ràng, dễ hiểu, chính xác,…[29]
Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào các nguyên tắc và chiến lược quản lý rủi ro Một công trình tiên phong được thực hiện bởi Klinke và Renn (2002), đã cung cấp một phân loại mới của các loại
Trang 1616
rủi ro và chiến lược quản lý [30] Sau đó, Renn (2008) và SRA (2015b) đã nghiên cứu về ba chiến lược chính thường được sử dụng để quản lý rủi ro: chiến lược cảnh báo, chiến lực phòng ngừa và chiến lược suy luận Các tác giả cho rằng chiến lược cảnh báo nhấn mạnh các tính năng như ngăn chặn, phát triển các sản phẩm thay thế, yếu tố an toàn, khả năng dự phòng trong việc thiết kế các thiết bị an toàn, cũng như tăng cường hệ thống miễn dịch, đa dạng hóa các phương tiện để tiếp cận mục đích giống hệt hoặc tương tự, thiết
kế hệ thống với phản ứng linh hoạt lựa chọn và cải thiện điều kiện cho việc quản lý tình trạng khẩn cấp và thích ứng với hệ thống [26, 31] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Hollnagel (2004) và Leveson (2004, 2011) quan tâm đến phương pháp đánh giá rủi ro như đánh giá rủi ro truyền thống dựa trên chuỗi nhân quả và phân tích sự kiện, báo cáo thất bại và đánh giá rủi ro, tính toán xác suất dựa trên dữ liệu lịch sử [32, 33]
- Hướng thứ 2 là nghiên cứu QTRR ứng dụng vào các hoạt động cụ thể: các công trình nghiên cứu QTRR ứng dụng ngày càng phong phú về số lượng
và đa dạng về lĩnh vực nghiên cứu, tập trung vào QTRR cụ thể cho từng khu vực, từng quốc gia, từng ngành kinh tế,… Renn (2008) khẳng định việc nghiên cứu QTRR là việc làm cần thiết để đối phó với sự bất ổn và phức tạp của thế giới hiện nay [26] Chính vì thế, các công trình nghiên cứu về QTRR trong các lĩnh vực cụ thể rất phát triển ở Mỹ, Châu Âu và ngay cả các quốc gia châu Á Đáng chú ý có nghiên cứu của Kil-Young Jung, Myung-Sub Roh (2016) về QTRR của việc triển khai công nghệ mới trong các nhà máy điện hạt nhân đang nhận được sự quan tâm Với mục đích nâng cấp và thay thế các
hệ thống hiện tại của nhà máy điện hạt nhân (NPP) với công nghệ mới và hiệu suất cao hơn do các vấn đề lỗi thời [24],…
Như vậy, số lượng các nghiên cứu về QTRR xuất hiện ngày càng nhiều,
cho thấy QTRR luôn là một hướng quan trọng của trong quá trình phát triển
Trang 1717
kinh tế, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay ở tất cả các quốc gia hiện nay Đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro được thành lập như là một lĩnh vực khoa học
và có những đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ ra quyết định trong thực
tế Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: để QTRR trở thành cơ sở tin cậy trong việc đưa ra các giải quyết các vấn đề thực tiễn, cần thiết phải đi sâu vào phân tích thực trạng kiểm soát cũng như đánh giá, dự phòng rủi ro Luận điểm này được vận dụng vào luận văn khi nghiên cứu QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1
* Tại Việt Nam
Ở nước ta, QTRR cũng đã được đặt ra khoảng 20 năm nay, tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn rất phong phú
- Về các nghiên cứu mang tính lý luận phải đề cập đến công trình của Ngô Quang Huân, Nguyễn Thị Quy và nnk (2008), Đặng Đức Thành (2016), Nguyễn Quang Thu (2008), Đỗ Hoàng Toàn 2010),…[9, 14, 15, 19, 20] Những nghiên cứu này đã cung cấp các kiến thức cơ bản như rủi ro, QTRR - khái niệm, chức năng, nguyên tắc, các phương pháp và công cụ quản lý rủi ro trong doanh nghiệp một cách có hệ thống Đây chính là nguồn tư liệu quý giá
để giúp tác giả định hướng khung nội dung của luận văn
- Các nghiên cứu về QTRR được thực hiện ở các lĩnh vực, các ngành cụ thể được đề cập trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2012), Nguyễn Thị Thu Hằng (2013), Nguyễn Thị Thu Phương (2012), Lương Thị Phương Thảo (2013),… quan tâm đến QTRR trong lĩnh vực ngân hàng [13,
16, 22]; Nghiên cứu của Nguyễn Liên Hương (2004) đề cập đến vấn đề rủi ro
và các biện pháp QTRR trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng [10]; Kiều Văn Minh (2011) đi sâu vào phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng truyền tải điện tại PTC1 [11],
Trang 1818
Võ Sỹ Nam (2015) chú trọng đến QTRR dự án đường dây 500KV tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia,… [12] Các nghiên cứu này đi từ việc phân tích làm rõ các khái niệm liên quan, phân tích thực trạng QTRR của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp giải quyết hợp lý Tác giả cũng vận dụng hướng nghiên cứu này vào luận văn của mình
Nhận xét: Qua việc tổng luận các nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến
hướng nghiên cứu của đề tài cho thấy: Ở nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tác giả đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro, QTRR Trong luận văn của mình, tác giả đã kế thừa và vận dụng các quan niệm này khi nghiên cứu QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 Các nghiên cứu QTRR ứng dụng hiện nay đang chú trọng nhiều đến các vấn đề thực tiễn
ở từng lĩnh vực, từng ngành cụ thể (ví dụ như nghiên cứu QTRR trong hoạt động của các ngân hàng, trong hoạt động ngoại thương,…) để đưa ra giải
pháp phát triển phù hợp Nhiều nghiên cứu ngày càng đi sâu vào phân tích rủi
ro trong hoạt động ngân hàng, xây dựng để nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn Đề tài luận văn đã vận dụng những luận điểm này vào việc phân tích
thực trạng và xây dựng giải pháp để QTRR hiệu quả trong vận hành các thiết
bị tại trạm biến áp thuộc PTC1 Tóm lại, các công trình liên quan đến hướng nghiên cứu là những tài liệu tham khảo chính của luận văn, việc tổng quan giúp định hướng cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu phù hợp với các nội dung cần nghiên cứu trong luận văn
* Tại công ty truyền tải Điện 1
Các nghiên cứu về PTC1 chủ yếu tập trung vào nguồn nhân lực như: Hướng nghiên cứu về đào tạo và nâng cao nguồn nhân lực có công trình của Trần Mạnh Duy (2008), Nguyễn Sỹ Thắng (2013) đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực trong PTC1 [8, 17]; Nghiên cứu của Hồ
Trang 1919
Ngọc Toản (2013) chú trọng đến việc đánh giá sự hài lòng đối với công việc của người lao động tại PTC1 [21]; Hay nghiên cứu của Kiều Văn Minh (2011) lại quan tâm đến việc nâng cao chất lượng truyền tải điện tại PTC1 [11]
Riêng đối với nghiên cứu của tác giả Võ Sỹ Nam về QTRR tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, tuy nhiên đối tượng nghiên cứu ở đây là QTRR dự án đường dây 500kV chứ không đề cập đến QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp [12] Do vậy, đây cũng sẽ là một tư liệu quan trọng để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu của mình
Tóm lại: Qua phân tích những tài liệu đã nghiên cứu về PTC1 trên nhiều
khía cạnh liên quan, có thể rút ra nhận xét sau: Những nghiên cứu về PTC1 rất có giá trị về thực tiễn, chính là hệ thống tư liệu rất quan trọng để tác giả hình thành hướng tiếp cận phù hợp cho đề tài Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở lĩnh vực nhân lực, quản lý dự án, nâng cao chất lượng truyền
tải điện… mà chưa có công trình nào nghiên cứu QTRR trong vận hành các
thiết bị tại trạm biến áp thuộc PTC1, để làm cơ sở tin cậy để đưa ra các giải
pháp QTRR hiệu quả Chính vì vậy, đối với PTC1 rất cần những công trình nghiên cứu về QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp để đưa ra các giải pháp phù hợp cho doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu cần thiết cho định hướng tổ chức quản lý hợp lý, hiệu quả tại Công ty Truyền tải điện 1
1.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro
1.2.1 Rủi ro
1.2.1.1 Những vấn đề cơ bản về rủi ro
- Quan niệm: Trong cuô ̣c sống hàng ngày , trong lao đô ̣ng s ản xuất kinh
doanh có nh ững sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra không thể báo trước được
Trang 2020
với một cá nhân hoặc tổ chức, những tình huống bất ngờ như vậy go ̣i là rủi ro Khi nói đ ến rủi ro người ta thường nghĩ đ ến điều không tốt lành ho ặc mô ̣t thiê ̣t ha ̣i, tổn thất nào đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến
do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Như vậy, rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được Mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi tình huống rủi
ro bất chợt xảy đến khác nhau thì người ta đặt rủi ro trong các sự kiê ̣n khác nhau, chính điều này ta ̣o nên sự đa da ̣ng và cách hi ểu rất khác nhau về rủi ro Cũng chính sự khác nhau từ trong tư duy và quan niê ̣m nên cách đ ể đề phòng
và dự phòng trước rủi ro cũng rất khác nhau
Tuy khó tìm được mô ̣t đ ịnh nghĩa rủi ro hoàn h ảo song có th ể biết được rằng rủi ro thường có hai đ ặc tính sau: Thứ nhất là biên đô ̣ r ủi ro, là sự thiê ̣t hại từ rủi ro gây ra ở mức nào Thứ hai là tần suất xuất hiê ̣n của rủi ro là nhiều hay ít
Rủi ro là các trạng thái bất thường gây ra tổn thất cho người bị rủi ro và
những người có liên quan Như vậy, rủi ro trong doanh nghiệp là các trạng
thái bất thường gây ra tổn thất cho doanh nghiệp, và những cá nhân, tổ chức
có liên quan Khi phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như vậy trong quá trình
kinh doanh, doanh nghiệp nên nhận thức rủi ro là thách thức chứ không phải
là vật cản, doanh nghiệp nhờ chấp nhận rủi ro có thể tự kiểm soát tương lai của mình vững chắc hơn Đồng thời, rủi ro phải được coi như một bộ phận tất nhiên và không thể tách rời của các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp An toàn không phải là tình trạng hoàn toàn yên tâm mà phải giảm bớt rủi ro đến mức doanh nghiệp chấp nhận được [20]
Có nhiều cách phân loại rủi ro khác nhau Phân loại theo nguyên nhân gây ra tác động có rủi ro nội tại và rủi ro môi trường; theo kết quả thu nhận
Trang 21con người, thông tin,…[20]
- Các nguyên nhân gây ra rủi ro
Có rất nhiều loa ̣i r ủi ro và do r ất nhiều các nguyên nhân khác nhau gây
ra Đỗ Hoàng Toàn (2010) đã chia ra các nguyên nhân cụ thể như sau: rủi ro
do môi trường tự nhiên như rủi ro do lũ l ụt, đô ̣ng đất, khô ha ̣n, gây thiê ̣t ha ̣i lớn v ề của cải, vật chất và tính ma ̣ng con ngư ời; có nh ững rủi ro do môi trường kinh tế - xã hội , chính tr ị gây ra như la ̣m phát , thất nghiê ̣p , khủng hoảng kinh tế, chiến tranh làm ảnh hưởng lớn đến hoa ̣t đô ̣ng c ủa con người;
có những rủi ro do bản thân hoa ̣t đô ̣ng c ủa con người gây ra như rủi ro do tai nạn hoặc rủi ro thua lỗ do trình đô ̣ qu ản lý, trình độ kinh doanh y ếu kém; có những kỹ thuật la ̣c h ậu dẫn đến hậu quả làm năng suất lao đô ̣ng th ấp, giá thành sản phẩm cao hoặc có những rủi ro do tiến bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuật như rủi
ro hao mòn vô hình quá lớn , không kịp thu hồi vốn đầu tư trong trang thiết bị máy móc thiết bị và tài sản cố định, các rủi ro này thường xuất hiê ̣n trong lĩnh vực sản xuất đặc biê ̣t là lĩnh vực sản xuất xây dựng Hầu hết các rủi ro xảy ra
đều nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người [20]
1.2.1.1 Rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp
a Một số khái niệm
Máy biến áp: Là một thiết bị điện từ tĩnh, làm việc trên nguyên lý cảm
ứng điện từ, dùng để biến đổi điện áp của hệ thống dòng điện xoay chiều mà vẫn giữ nguyên tần số [23]
Trang 2222
Máy kháng điện: Kháng điện là một cuộn dây điện cảm có điện kháng
không đổi (không có lõi thép L>>R), dùng để hạn chế dòng ngắn mạch đồng thời duy trì một trị số điện áp ở mức nhất định khi có sự cố ngắn mạch xảy ra [23]
Trạm biến áp: Là một công trình dùng để chuyển đổi điện năng từ cấp
điện áp này sang cấp điện áp khác, đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống cung cấp điện [23]
b Những nguyên nhân gây rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp
- Nguyên nhân chủ quan:
Rủi ro do công tác lắp đặt thiết bị ban đầu, công tác bảo trì, bảo dưỡng thiết bị không tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình của nhà sản xuất dẫn đến việc các thiết bị hoạt động không đúng công suất thiết kế, kém hiệu quả, sẽ thường xảy ra hư hỏng và gây sự cố
Rủi ro do các thiết bị vận hành vượt quá khả năng cho phép: tốc độ phát triển kinh tế nhanh đi đôi với tốc độ tăng trưởng của các phụ tải tăng, có những thời điểm tăng bất thường khiến cho các thiết bị bị vận hành quá tải dẫn đến tuổi thọ các thiết bị giảm xuống cũng như dễ gặp các sự cố hư hỏng Rủi ro do không xử lý triệt để ngay các khiếm khuyết đã được phát hiện làm ảnh hưởng tình trạng làm việc bình thường của thiết bị dẫn đến các sự cố xảy ra
Rủi ro do lựa chọn các thiết bị không đúng với thực tế vận hành: Các công ty tư vấn thiết kế tính toán lựa chọn các thông số kỹ thuật của các thiết
bị không đúng với thực tế và không đúng với nhu cầu phát triển của lưới điện dẫn đến khi đưa thiết bị vào vận hành vô hình dung đã không thể đáp ứng đủ yêu cầu của kỹ thuật và gây sự cố đáng tiếc Công tác mua sắm vật tư thiết bị
Trang 2323
có sự chuẩn bị không tốt dẫn đến tình trạng mua sắm các thiết bị không đảm bảo chất lượng vận hành lâu dài
Rủi ro do trình độ kỹ thuật của người lao động chưa được trang bị đầy
đủ, ý thức kỷ luật chưa cao dẫn đến chất lượng nghiệm thu thiết bị phục vụ quá trình mua sắm hoặc lắp đặt không đảm bảo chất lượng
- Nguyên nhân khách quan:
Rủi ro do khiếm khuyết bên trong của thiết bị: Trong quá trình sản xuất
có một số thiết bị bị lỗi, kém chất lượng do đó khi vận hành sẽ gây ra sự cố Rủi ro do ảnh hưởng từ các sự cố từ các thiết bị khác trên lưới điện: Trong quá trình vận hành trên lưới điện, cùng lúc có sự hoạt động của nhiều thiết bị khác nhau Do đó, khi các thiết bị khác gặp sự cố thì ngay lập tức ảnh hưởng trực tiếp đến MBA và các kháng điện, gây hư hỏng bên trong các thiết
Rủi ro do ảnh hưởng của thiên tai: Với sự thay đổi bất thường của khí hậu thì trong 5 năm gần đây (2011- 2015), Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết cực đoan, nhất là bão, lốc xoáy, lũ lụt, sét… Những sự thay đổi này ảnh hưởng rất lớn đến việc vận hành an toàn các thiết bị tại các trạm biến
áp
Do hạn chế từ các luật đấu thầu, mua sắm hay từ các nguồn vốn tài trợ dẫn đến mua sắm hàng hóa vẫn còn hạn chế về mặt chất lượng
Trang 24b Các nội dung cơ bản về công tác quản trị rủi ro
* Hoạt động nhận diện rủi ro
- Các yếu tố nhận diện và phân tích rủi ro: Nhận diện rủi ro là quá trình
xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro và bất định của tổ chức Các hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa và nguy cơ rủi ro Các yếu tố nhận diện rủi ro bao
gồm [14, 19, 20]:
Độ tin cậy: Nghiên cứu về rủi ro nhằm ha ̣n chế các tác ha ̣i c ủa rủi ro và
nâng cao đô ̣ tin c ậy của đối tượng c ủa quản lý Đảm bảo đô ̣ tin c ậy của hê ̣ thống sản xuất, thiết bị, máy móc hay mô ̣t hê ̣ thống quản lý vận hành dự án là
mô ̣t vấn đề quan tro ̣ng Giải quyết vấn đề này sẽ cho phép giảm tổn thất do ngừng thi công triển khai xây dựng, hoặc sản xuất, hoặc giảm chi phí thay thế, chi phí tài chính ph ục vụ cho viê ̣c duy trì hoa ̣t đô ̣ng , chi phí sửa chữa, giảm ngừng viê ̣c tron g thời gian sử dụng khai thác Thiết bị công nghê ̣ có đô ̣ tin cậy thấp sẽ đe doa ̣ s ự an toàn lao đô ̣ng và đôi khi c ả mạng sống con ngư ời, đưa đến những hậu quả không lường hết được v ề mặt kinh tế Chú ý đ ến đô ̣ tin cậy là th ể hiê ̣n trình đô ̣ qu ản lý ở mức phát triển cao Để tăng đô ̣ tin c ậy cần: Hợp tác ch ặt chẽ giữa người sử dụng, khai thác và ngư ời thiết kế, sản
Trang 2525
xuất các thiết bị hay hê ̣ thống qu ản lý; Phân tích các nguyên nhân ch ủ yếu, các da ̣ng hư hỏng, các rủi ro tổn thất có thể xảy ra và hậu quả của chúng; Phổ biến phương pháp thiết kế tin cậy đối với hê ̣ thống qu ản lý bộ máy và hê ̣ thống sản xuất Cải thiê ̣n đô ̣ tin c ậy sẽ đi liền với viê ̣c tăng chi phí thi ết kế, chi phí sản xuất đồng thời giảm chi phí sử dụng, khai thác
Vấn đề an toàn: Trong sản xuất kinh doanh , có thể hiểu an toàn là kh ả
năng đảm bảo xảy ra rủi ro, tổn thất ở mức chấp nhận được và đ ảm bảo thực hiê ̣n các mục tiêu đã đề ra với xác suất đã cho An toàn được biểu hiê ̣n thông qua các chỉ tiêu : xác suất an toàn và đô ̣ an toàn Độ an toàn là khái niệm đ ể chỉ mức đô ̣ đảm bảo an toàn, không xảy ra rủi ro, tổn thất trong sản xuất kinh doanh hoặc trong các công tác khác Trong công tác quản lý có các khái niê ̣m
đô ̣ an toàn và k ỹ thuật, độ an toàn v ề tài chính, đô ̣ an toàn ch ất lượng, đô ̣ an toàn vô giá thành , đô ̣ an toàn và th ời gian thực hiê ̣n, đô ̣ an toàn có liên quan đến môi trường, Viê ̣c thu thập đủ thông tin về QTRR giúp bảo đảm đánh giá
từ giai đoa ̣n lập kế hoạch đến khi vận hành khai thác được hiê ̣u quả
- Phương pháp nhận diện và kiểm soát rủi ro
Phương pháp báo cáo tài chính: Bằng việc phân tích các khoản mục của
bảng cân đối kế toán hoặc báo cáo sản xuất, theo dõi chứng từ,…các nhà QTRR có thể nhận dạng được các rủi ro Nhà quản trị phải xác định các loại rủi ro tiềm năng được liệt kê trong các báo cáo tài chính cho từng tổ chức cá biệt Nhà QTRR giống như một thanh tra, để làm tốt công việc cần phải hiểu các tỷ số tài chính, các nguồn thông tin khác về tài chính hoặc các chứng từ hợp pháp của tổ chức
Phương pháp lưu đồ: trước hết, xây dựng một hay một dãy các lưu đồ
trình bày tất cả các hoạt động của tổ chức, bắt đầu từ khâu nguyên vật liệu, nguồn năng lượng, tất cả các đầu vào khác nơi người cung cấp và kết thúc với
Trang 2626
thành phẩm trong tay người tiêu dùng Kế đó, một bảng liệt kê tất cả các tổn thất tiềm năng có thể xảy ra thông qua các bảng câu hỏi được thiết kế nhằm nhắc nhà QTRR các tổn thất có thể có; thu thập thông tin diễn ra các mức độ doanh nghiệp gặp phải các tổn thất tiềm năng đó; đúc kết một chương trình bảo hiểm gồm giá cả, các tổn thất phải chi trả Bảng liệt kê có thể bao gồm: các tài sản có thể và các rủi ro có thể Như vậy, dựa vào quy trình hoạt động của cả hệ thống máy móc đến con người để nhận diện các mối quan hệ trong suốt quá trình, đề phòng các nguy cơ rủi ro, đào tạo tập huấn về từng công đoạn phân việc
Phương pháp thanh tra hiện trường: Bằng những quan sát và nhận xét
thực tế về tổng thể bốtrí mặt bằng, về các hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến những rủi ro hiện hữu, nhà QTRR có thể nhận dạng được những nguy cơ rủi ro đối với doanh nghiệp
Phương pháp hợp tác với các phòng chức năng khác trong tổ chức:
Thường xuyên kết nối với các cán bộ quản lý và nhân viên của các bộ phận nghiệp vụ khác trong công ty để nắm bắt được đầy đủ các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, phải tham khảo, đọc các báo cáo bằng văn bản của các bộ phận nghiệp vụ theo hệ thống báo cáo thường xuyên giúp nhà quản trị có thể nắm được những thông tin cần thiết
Phương pháp thông qua tư vấn: Thông qua tư vấn, nhà QTRR có thể
nắm bắt thêm được những thông tin cần thiết về mối hiểm họa và nguy cơ rủi
ro đối với tổ chức từ nguồn tin bên ngoài
Phương pháp phân tích hợp đồng: Các hợp đồng kinh tế luôn bị vi phạm
dẫn đến rủi ro pháp lý và rủi ro khác phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng Để tránh rủi ro các hợp đồng phải nghiên cứu kỹ từng điều khoản Rủi
ro trong ký kết hợp đồng có thể là: Rủi ro chủ thể, rủi ro từ ngôn từ, rủi ro từ
Trang 2727
nội dung ký kết, rủi ro pháp lý; Rủi ro trong thực hiện hợp đồng có thể là rủi
ro về thời gian giao hàng, rủi ro trong vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho, rủi ro trong nghiệm thu hàng hóa
Phương pháp nghiên cứu các số liệu thống kê : Số liệu thống kê cho
phép chúng ta đánh giá xu hướng phát triển của các tổn thất mà doanh nghiệp phải đối mặt Số liệu thống kê cho phép chúng ta nghiên cứu, phân tích một
số vấn đề như: nguyên nhân, thời điểm, vị trí xảy ra sự cố, người bị nạn và một số các yếu tố nguy hiểm khác có thể ảnh hưởng đến bản chất của tai nạn
* Hoạt động dự báo, đề phòng rủi ro
- Các công cụ QTRR: Các công cụ sử dụng trong QTRR cho doanh
nghiệp là các phương tiện hữu hình hoặc vô hình được chủ doanh nghiệp sử dụng để đạt được mục đích QTRR đặt ra Các công cụ sử dụng trong QTRR
có nhiều loại tùy thuộc vào khả năng thực tế của doanh nghiệp Theo Đỗ Hoàng Toàn (2010), các công cụ sử dụng trong QTRR doanh nghiệpbao gồm:
tư duy hệ thống khoa học, kỹ năng dự báo, kỹ năng ra quyết định trong môi trường xác định, vốn dự trữ, kỹ năng điều tra xã hội, kinh nghiệm của người
đi trước [20] Cụ thể :
- Kỹ năng dự báo: đây là công cụ được sử dụng chủ yếu trong quá trình
QTRR của doanh nghiệp Nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có các cán bộ chuyên trách được đào tạo (có nghiệp vụ, có kỹ năng, có các phần mềm máy tính chuyên dụng,…) để dự báo những điểm, những khâu, những giai đoạn nóng
có thể gây ra rủi ro cho doanh nghiệp Trong đó phổ biến là công cụ các hàm
dự báo quen thuộc (hàm tuyến tính, quy luật vòng đời sản phẩm, quy luật cung - cầu - giá cả, quy luật đường cong sản phẩm xa xỉ,…)
- Kỹ năng ra quyết định: đây là công cụ đòi hỏi việc ra quyết định trong
các điều kiện thực tế, người ra quyết định phải tìm đúng phương án tối ưu
Trang 2828
Điều này đồng nghĩa với việc giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp Kỹ năng ra quyết định trong môi trường xác định bao gồm hàng loạt các mô hình toán học định lượng, bán định lượng thường dùng (mô hình bàoi toán quy hoạch tuyến tính, PERT, chọn phương án đầu tư, điểm hòa vốn, SWOT,…)
Vốn dự trữ khi xảy ra rủi ro: đây cũng là công cụ không thể thiếu để xử
lý rủi ro trong doanh nghiệp Điều dễ thấy doanh nghiệp có dự trữ vốn lớn thì việc xử lý rủi ro khá đơn giản và nhanh chóng; nhưng đồng vốn dự trữ là đồng vốn chết, không đem lại hiệu quả gì nếu không xảy ra rủi ro
Kỹ năng điều tra xã hội: đây là công cụ QTRR khá hiệu quả Thông qua
các đợt điều tra, các phiếu điều tra, các câu hỏi điều tra, doanh nghiệp có thể phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn xảy ra rủi ro mà nếu chỉ tính riêng doanh nghiệp tự nghĩ, sẽ dễ chủ quan, sai sót
Kinh nghiệm của người đi trước: đây là kỹ năng chuyên biệt của những
người có khả năng đặc biệt được tổng kết và lưu truyền cho các thế hệ sau
- Các phương pháp QTRR: Phương pháp QTRR là tổng thể các cách
thức có thể đem lại kết quả tốt nhất trong QTRR [14, 19, 20] Cụ thể:
Phương pháp dự báo rủi ro: Là phương pháp QTRR chủ yếu được sử dụng
cho các chủ doanh nghiệp, bằng việc phân tích, dự báo trước các loại rủi ro, khủng hoảng có thể xảy ra cho doanh nghiệp của mình để phân loại, xử lý thỏa đáng Biết sự việc sẽ xảy ra như thế nào đã là một cách khá tốt để khống chế sự
việc, việc dự báo rủi ro càng chuẩn xác thì việc QTRR càng có hiệu quả cao
Phương pháp khử bỏ rủi ro: Đây là nguyên tác đòi hỏi chủ doanh nghiệp
phải loại bỏ từ gốc các yếu tố nhiều có thể gây ra rủi ro cho doanh nghiệp bằng cách chuẩn hóa các thao tác và trình tự thực hiện mọi công việc phải làm để tạo
ra sản phẩm cho mọi bộ phận, mọi cá nhân bằng các Bảng kê công việc, các chuẩn mực, các định mức thực hiện; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát,
Trang 29Phương pháp bồi hoàn rủi ro: Là phương pháp để xử lý rủi ro khủng hoảng
doanh nghiệp phải sử dụng một quỹ dự trữ đủ lớn để giải quyết các rủi ro xảy ra
ở từng khâu lúc tương ứng Phương pháp bồi hoàn rủi ro trong lý thuyết hệ thống được gọi với tên là phương pháp dự trữ Phương pháp này cũng là một phương pháp tốt để xử lý rủi ro cho doanh nghiệp Vấn đề là doanh nghiệp có đủ nguồn lực để làm quỹ dự phòng hay không? Thông thường quỹ dự phòng của doanh nghiệp phải để dự trữ cho doanh nghiệp hoạt động bình ổn trong 3 tháng (1/4
năm) cho dù doanh nghiệp có xảy ra bất cứ rủi ro nào
Phương pháp san sẻ rủi ro: Là phương pháp QTRR dùng cho doanh
nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp dự báo một loạt rủi ro có thể xảy ra với xác suất xuất hiện khá lớn thì tiến hành mua bảo hiểm cho các đối tượng có thể xảy ra rủi ro ở các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, để chia sẻ bớt thiệt hại nếu rủi ro xảy ra Trong trường hợp rủi ro được mua bảo hiểm mà không xảy ra thì doanh nghiệp cũng xác định được rõ mức thiệt hại mà mình dự định trước nên sẽ không rơi vào tình thế quá khó khăn Còn nếu xảy ra rủi ro thì đã được
doanh nghiệp bảo hiểm bù đắp
Phương pháp bỏ qua rủi ro: Là phương pháp QTRR sử dụng cho doanh
nghiệp, bằng cách tập trung vào mục tiêu chính: tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh lớn, chiếm lĩnh thị phần tốt nhất (dựa trên công nghệ hiện đại, tổ chức sản xuất, quản lý kinh doanh tốt), nhờ đó doanh số và lợi nhuận tăng nhanh, bền vững Nếu có xảy ra rủi ro thì kết quả sản xuất kinh doanh đủ sức bù đắp, do đó,
việc rủi ro không cần phải quan tâm
Trang 3030
Phương pháp chuyển đổi rủi ro: Là phương pháp xử lý rủi ro của doanh
nghiệp khi rủi ro xảy ra gây hậu quả to lớn, không còn khả năng duy trì quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều; buộc phải cân nhắc, tính toán sâu săc toàn diện để có giải pháp đổi mới toàn diện theo các phương hướng khác nhau như: Thu hẹp sản xuất (rút gọn quy mô, dẫn bớt lao động, tập trung vào một số mặt hàng có sức cạnh tranh lớn); Sản xuất cầm chừng và đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, du nhập thêm thiết bị, công nghệ, dây chuyền sản xuất mới; Giải thể doanh nghiệp xây dựng một doanh nghiệp mới; Kết hợp với các doanh
nghiệp khác
Phương pháp vượt qua tốc độ rủi ro: Là phương pháp QTRR của doanh
nghiệp bằng việc thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh doanh mau lẹ để nhanh chóng thu được kết quả và nhanh chóng chuyển đổi sang các hoạt động mới Đây là phương pháp “đánh nhanh thắng nhanh” Việc đánh nhanh rút nhanh đòi hỏi sự linh hoạt trong kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc chuyển đổi mặt hàng và mẫu mã, bao bì sản phẩm, công nghệ sản xuất để sản phẩm luôn có
sức cạnh tranh lớn,…
1.2.2.2 Nội dung quản trị rủi ro trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp
Qua việc nghiên cứu khái niệm về QTRR nói chung cho thấy: QTRR
trong vận hành các thiết bị tại các trạm biến áp là: sự tác động có chủ đích,
có tổ chức của PTC1 để đối phó với các rủi ro hoặc khủng hoảng có thể xảy
ra trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp nhằm mục đích vận hành an toàn và liên tục lưới truyền tải điện Quốc gia
- Quy trình QTRR bao gồm:
Để ra quyết định QTRR phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Hansson
& Aven (2014) chia thành 5 giai đoạn khác nhau để ra quyết đinh quản trị (hình 1.1)
Trang 3131
Hình 1.1: Mô hình để liên kết các giai đoạn khác nhau trong QTRR
(Nguồn: Hansson & Aven, 2014, [25])
Giai đoạn đầu tiên chính là giai đoạn thu thập, phân tích dữ liệu, thông tin
để cung cấp những “chứng cứ” ban đầu, tạo ra cơ sở thực tế để QTRR Bước tiếp theo là sử dụng các kiến thức cơ sở của QTRR để đánh giá và phân tích rủi ro Giai đoạn này được thực hiện bởi các chuyên gia khoa học Trên cơ sở kết quả đánh giá, các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp xem xét các quyết định quản trị Họ cần phải kết hợp các thông tin rủi ro mà họ đã nhận được thông tin từ các nguồn khác và về các chủ đề khác Nó có thể bao gồm những cân nhắc chính sách liên quan đến rủi ro và an toàn mà không được bao gồm trong việc xem xét chuyên gia [19]
Tham khảo các mô hình QTRR rủi ro [14, 20, 25], luận văn đưa ra mô hình QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp như sau (hình 1.2):
Trang 32+ Tần suất xảy ra các sự cố trong vận hành các thiết bị tại trạm: Tần suất xảy ra các sự cố được thể hiện số lần xảy ra sự cố trong một trạm biến áp, hoặc trên 1 MBA, 1 Kháng điện hoặc trong một thời điểm cụ thể trong năm tần suất xảy ra các sự cố là tiêu chí thể thiện rõ nhất hiệu quả của quản trị rủi trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp Bởi nếu quá trình nhận dạng, đo lường, đánh giá một cách đầy đủ, chính xác và việc thực hiện các biện pháp kiểm soát, giảm thiểu rủi ro một cách có chủ đích, có hiệu quả thì chắc chắn tần suất xảy ra sự cố trên một MBA, Kháng điện hay trên toàn bộ các MBA, Kháng điện sẽ giảm đến mức thấp nhất
+ Thời gian sự cố diễn ra và thời gian khắc phục sự cố: được tính theo thời gian trung bình mà các sự cố diễn ra và khoảng thời gian sự cố đó được khắc phục Thời gian ít hay nhiều phản ánh được mức độ nghiêm trọng cũng như thiệt hại của sự cố đó gây ra; đồng thời phản ánh khả năng ứng phó, xử lý
sự cố của doanh nghiệp nhanh hay chậm
+ Hậu quả sự cố trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp: Trên thực
tế, rủi ro là điều khó tránh khỏi, và mặc dù đã tiến hành QTRR một cách nghiêm túc nhưng cũng khó có thể kiểm soát mức độ rủi ro đến 100% Chính
vì thế, cũng có lúc xảy ra sự cố, tuy nhiên khi sự cố xảy ra, do được xác định,
Trang 3333
nhận diện từ trước, được kiểm soát chặt chẽ thì hậu quả sự cố sẽ thấp hơn rất nhiều so với trước (thậm chí là thấp nhất có thể)
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản trị rủi ro
Trên cơ sở nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QTRR nói chung cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả QTRR trong vận hành các thiết bị tại trạm biến áp bao gồm: yếu tố con người, yếu tố tự nhiên và yếu tố
kỹ thuật
a Yếu tố con người
- Trình độ và đạo đức nghề nghiệp của người lao động : Trình độ và đạo
đức nghề nghiệp của người lao động có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả QTRR, bởi vì: nếu người lao động, đặc biệt là người vận hành trực tiếp thiết bị có có trình độ chuyên môn thấp, không phù hợp và không có tinh thần trách nhiệm,
sự nghiêm túc trong công việc sẽ rất dễ dẫn đến không hiểu hết, hoặc không thực hiện đúng các quy trình, các quy định để kiểm soát rủi ro Do đó khi thực hiện thống kê, báo cáo sẽ có những kết quả không chính xác và sai lệch với
thực tế dẫn đến thông tin đầu vào cho bộ phận quản lý xử lý sai
- Tầm nhìn của người lãnh đạo, quản lý : Tầm nhìn của người lãnh đạo,
quản lý rất quan trong, quyết định hiệu quả QTRR nói chung hay QTRR các thiết bị tại các trạm biến áp nói riêng Nếu người lãnh đạo chưa nhận thức hết tầm quan trọng của QTRR trong vận hành các thiết bị trong trạm biến áp thì hiệu quả của QTRR không cao Nhất là việc áp dụng QTRR đòi hỏi nhà quản
lý phải luôn cập nhập thông tin, có tầm nhìn trong tương lai cho nên nhiều khi
gây ra tâm lý e ngại áp dụng
- Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro của công ty: Hiện nay hầu hết các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa có bộ phận làm nhiệm vụ xây dựng hay thực hiện các nhiệm vụ cho các quản trị khác nên để thực hiện công việc
Trang 3434
QTRR là phải có sự thay đổi mới để thích ứng Việc thay đổi trong quản trị của doanh nghiệp là một vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp nhà nước do các doanh nghiệp này thông thường là trì trệ, ngại thay đổi nên nó cũng sẽ là
những bước cản hiệu quả QTRR
b Yếu tố tự nhiên
Sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu cũng là một bài toán cho các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu cần phải xem xét một cách nghiêm túc Đặc biệt, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu Trong 5 năm qua (2010 - 2015), Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều của các hiện tượng thời tiết cực đoan, như là bão, lốc xoáy, giông sét,… Vì nó làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc vận hành an toàn các thiết bị trên hệ thống điện
c Yếu tố kỹ thuật
Việt Nam đang là đất nước phát triển nên kỹ thuật và công nghệ đang được thay đổi hàng ngày Sự thay đổi liên tục của các công nghệ trên thế giới cũng sẽ là thử thách không nhỏ trong vấn đề kiểm soát kỹ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước Để QTRR có hiệu quả thì các công nhân, cán bộ kỹ thuật phải nắm bắt và hiểu rõ về công nghệ,
kỹ thuật của các thiết bị thì khi đó mới tạo được hệ thống giám sát, kiểm soát
sự vận hành an toàn của các thiết bị
Tóm tắt chương I
QTRR là một hướng nghiên cứu có tính ứng dụng cao và đang ngày càng được nhiều nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam quan tâm Đặc biệt, những nghiên cứu về Công ty truyền tải điện 1 mới chỉ dừng lại ở đánh giá nguồn nhân lực mà chưa có công trình nào phân tích về QTRR trong vận hành
Trang 3535
các thiết bị tại trạm biến áp Do đó, công trình QTRR trong vận hành các thiết
bị tại các trạm biến áp của luận văn tại PTC1 có đủ cơ sở khoa học để triển khai
Từ tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan, luận văn đã xác định các khái niệm cơ bản về rủi ro, QTRR, các hoạt động QTRR (hoạt động nhận diện rủi ro, hoạt động kiểm soát rủi ro, hoạt động dự báo, đề phòng rủi ro,…
Từ đó, luận văn xác lập các nội dung QTRR trong vận hành các thiết bị tại các trạm biến áp để làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở các chương sau
Trang 36Hình 2.1: Các bước nghiên cứu
(Nguồn: tác giả đề xuất)
Trang 3737
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Sau khi xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập các tài liệu khái quát về các rủi ro đối với các thiết bị tại các trạm biến
áp Các tài liệu thu thập từ các nguồn như: các tài liệu lưu trữ, các số liệu khảo sát, phân tích thực địa, từ nguồn điều tra, phỏng vấn người lao động trực tiếp hoặc cán bộ quản lý tại các Trạm biến áp, các nghiên cứu, báo cáo về hoạt động của các thiết bị tại các trạm biến áp, báo cáo hoạt động kinh doanh hàng năm của PTC1,…
Do được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên cần chuẩn hóa các tài liệu, số liệu để có được dữ liệu nền nhất quán để sử dụng trong luận văn Các
dữ liệu sau khi thu thập được tiến hành phân tích, phân loại và sắp xếp theo nội dung đề cương đã vạch sẵn và kiểm tra tính đầy đủ, cập nhật của các nguồn tài liệu Sau khi chuẩn hóa và phân tích tài liệu, tác giả tiến hành đánh giá sơ bộ về nguồn tài liệu, dữ liệu sẵn có, ghi chú các điểm nghi vấn (nếu có), các điểm cần bổ sung thêm, cập nhật các số liệu mới, sắp xếp dữ liệu theo nội dung đã định sẵn
Đặc biệt, dựa trên nguồn dữ liệu sẵn có, tác giả cũng đưa ra các nhận định sơ bộ về đối tượng nghiên cứu, đưa ra một số kết quả ban đầu Trên cơ
sở mục đích, nhiệm vụ đặt ra và thực tế của nguồn tài liệu sẵn có để xác định được các tuyến thực tế phù hợp (phải đi qua các trạm biến áp có vai trò quan trọng của Công ty hoặc các trạm biến áp thường xảy ra sự cố, hoặc các trạm biến áp chưa có số liệu cụ thể) để tiến hành khảo sát, thu thập thêm dữ liệu hoặc đối chiếu, kiểm tra tính chính xác của tài liệu lưu trữ sẵn có
Trang 3838
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Trên cơ sở dữ liệu sơ bộ về các điểm nghiên cứu, tác giả đã vạch ra các tuyến khảo sát và quá trình khảo sát được thực hiện thành 3 đợt:
+ Trạm biến áp 500kV Thường Tín tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 20/8/2016 đến ngày 21/8/2016
+ Trạm biến áp 220kV Sóc Sơn tiến hành trong khoảng thời gian từ 23/8/2016 đến ngày 24/8/2016
+ Trạm biến áp 220kV Sơn La tiến hành trong khoảng thời gian từ 11/10/2016 đến ngày 14/10/2016
Trong quá trình thực địa, cùng với việc kiểm tra tính chính xác của dữ liệu thu thập được trước đó, tác giả còn tiến hành thu thập các thông tin của những người trực tiếp làm việc và người quản lý tại Trạm
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Trong luận văn, tác giả đã lựa chọn phương pháp thu thập thông tin từ những người trực tiếp làm việc tại các Trạm biến áp cũng như những nhà quản lý có liên quan thông qua bảng hỏi Các bảng khảo sát được thiết kế với
10 câu hỏi (đính kèm trong phụ lục) để thu thập thông tin nhiều chiều phục vụ các nô ̣i dung nghiên c ứu Theo đó các câu hỏi này hướng tới nhóm đối tượng
là những người tham gia quản lý trực tiếp và người vận hành tại các Trạm biến áp Sau khi hoàn thành nội dung bảng hỏi, tác giả phỏng vấn trực tiếp (trong quá trình thực địa) hoặc gửi email cho các cá nhân để thu nhận thêm thông tin Kết quả thu nhận được xử lý, tổng hợp, là căn cứ để đối chiếu, so sánh với các tài liệu liên quan, cũng như tham khảo để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn
Trang 3939
Cụ thể, trong quá trình thực hiê ̣n đề tài, tác giả tham khảo ý kiến của 100 người (trong đó có 44 trực chính, 44 trực phụ và 12 người lãnh đạo có kinh nghiê ̣m đã tr ực tiếp làm việc tại các trạm biến áp) Viê ̣c lấy ý ki ến theo quy tắc không ghi danh ta ̣o đi ều kiê ̣n thu ận lợi hơn đ ể lấy được ý ki ến thật của những người tham gia trực tiếp vận hành và làm qu ản lý Việc sử dụng phương pháp này giúp tác giả tiết kiệm được thời gian, chi phí và nâng cao độ tin cậy của việc đưa ra các giải pháp thích hợp
Tóm tắt chương II
Từ yêu cầu nghiên cứu, luận văn đã xác định 03 phương pháp nghiên cứu (gồm: Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu; Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa; Phương pháp phỏng vấn) Các phương pháp được
sử dụng đan xen, phù hợp với quy trình nghiên cứu đã đề xuất trong hình 2.1
để giải quyết mục tiêu và các nhiệm vụ đặt ra
Trang 4040
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG VẬN HÀNH CÁC THIẾT BỊ TẠI TRẠM BIẾN ÁP THUỘC
CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN 1 GIAI ĐOẠN 2010-2015
3.1 Khái quát về Công ty Truyền tải điện 1
3.1.1 Quá trình hình thành và đặc điểm sản xuất kinh doanh
PTC1 là doanh nghiệp nhà nước, thành viên trực thuộc Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, được thành lập ngày 01/05/1981 Lúc mới thành lập, Công ty có tên gọi là Sở Truyền tải điện miền Bắc (trực thuộc Công ty Điện lực miền Bắc), sau khi tách khỏi Công ty Điện lực 1 ngày 25/3/1995, đổi tên thành Công ty Truyền tải điện 1 (trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam) Đến ngày 01/7/2008, PTC1 trở thành thành viên của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Lĩnh vực hoạt động chính của PTC1 là: Quản lý vận hành an toàn, ổn định lưới truyền tải điện trên địa bàn 27/28 tỉnh thành miền Bắc từ đèo Ngang trở ra toàn bộ miền Bắc; Sửa chữa, trung đại tu các công trình lưới điện; Đầu
tư xây dựng và cải tạo nâng cấp lưới truyền tải điện; Tư vấn đầu tư xây dựng, quản lý dự án và tư vấn giám sát thi công các công trình lưới điện; Thí nghiệm, hiệu chỉnh các thiết bị; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý vận hành, sửa chữa lưới điện và Kinh doanh các dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin
Công ty quản lý, vận hành hệ thống lưới điện truyền tải trên địa bàn các tỉnh, thành phía Bắc - là nơi tập trung nhiều nhà máy thủy điện và nhiệt điện công suất lớn như: Thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu; Nhiệt điện Quảng Ninh, Mông Dương, Năm 2015, sản lượng điện truyền tải của Công ty trên giao diện Bắc - Trung là 8,879 tỷ kWh, chiếm 36% sản lượng điện truyền tải trên toàn tuyến 500 kV Bắc - Nam Trong năm 2015, PTC1 đã hoàn thành các