1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo trong đổi mới

39 447 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 207 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta. Hơn ba phần tư thế kỷ đã trôi qua từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam vào con đường đấu tranh cách mạng và đã giành được những thắng lợi vĩ đại, có nghĩa lịch sử thời đại. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược cũng như trong tổ chức thực hiện đường lối đó. Độc lập, tự chủ, sáng tạo không chỉ là truyền thống, mà còn là nét nổi bật thuộc về bản lĩnh chính trị của Đảng. Bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo biểu hiện rõ nhất ở những lúc cách mạng gặp khó khăn, trước những bước ngoặt của lịch sử, từ đó tạo ra cao trào cách mạng rộng khắp để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhờ có tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã có đường lối cách mạng đúng đắn, luôn luôn chủ động, sáng tạo để đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp, đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua những khó khăn thử thách và giành được những thành tựu to lớn. Vì vậy, việc nghiên cứu về: “Phát huy quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Trang 1

Đổi mới

1 Độc lập, tự chủ, sáng tạo là đòi hỏi khách quan của cách

mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

2 Quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong hoạch

định đường lối đổi mới

2.1 Độc lập, tự chủ, sáng tạo trong đổi mới từng phần (1979-1986)

2.2 Độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình phát triển đường

lối đổi mới toàn diện (1986-2011)

3 Ý nghĩa lịch sử, hiện thực

MỞ ĐẦU

Trang 2

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt vĩ đại tronglịch sử cách mạng nước ta Hơn ba phần tư thế kỷ đã trôi qua từ khithành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt giai cấp công nhân vàtoàn dân tộc Việt Nam vào con đường đấu tranh cách mạng và đã giànhđược những thắng lợi vĩ đại, có nghĩa lịch sử thời đại

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nêucao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc hoạch định đường lối chiếnlược, sách lược cũng như trong tổ chức thực hiện đường lối đó Độc lập, tựchủ, sáng tạo không chỉ là truyền thống, mà còn là nét nổi bật thuộc về bảnlĩnh chính trị của Đảng Bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo biểu hiện

rõ nhất ở những lúc cách mạng gặp khó khăn, trước những bước ngoặt củalịch sử, từ đó tạo ra cao trào cách mạng rộng khắp để đưa cách mạng ViệtNam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cuộc đấu tranh giànhđộc lập dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhờ có tư duy độc lập tựchủ, sáng tạo, Đảng ta đã có đường lối cách mạng đúng đắn, luôn luôn chủđộng, sáng tạo để đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp, đưa sự nghiệpđổi mới vượt qua những khó khăn thử thách và giành được những thành tựu

to lớn Vì vậy, việc nghiên cứu về: “Phát huy quan điểm độc lập, tự chủ,

sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới” là vấn đề có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

NỘI DUNG

Trang 3

1 Độc lập, tự chủ, sáng tạo là đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, độc lập, tự chủ,sáng tạo là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Một đất nước có vịtrí chiến lược quan trọng trong khu vực và thế giới, luôn là mục tiêu xâm lượccủa các đế chế phong kiến nước ngoài và thực dân đế quốc; vừa luôn phải sốngtrong hoàn cảnh tự nhiên khắc nghiệt điều kiện tự nhiên và vị trí “địa chính trị”đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải thường xuyên nêu cao tính độc lập, tự chủ, sángtạo, đoàn kết kiên cường trong dựng và giữ nước Độc lập, tự chủ, sáng tạo trởthành truyền thống quý báu, thành bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam

Độc lập, tự chủ, sáng tạo không chỉ là truyền thống mà còn là nét nổibật về bản lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt nam Đó là một bài họcxuyên suốt trong lịch sử lãnh đạo và đấu tranh của Đảng ta, một nhân tố bảođảm cho Đảng ta hoàn thành sứ mệnh lịch sử của đội tiên phong lãnh đạocách mạng nước ta Không những vậy quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo còn

là “vũ khí” giúp Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi nàyđến thắng lợi khác vượt qua mọi khó khăn thử thách

Quan điểm Độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Namkhông có nghĩa là sự biệt lập, đóng kín với thế giới bên ngoài, không có nghĩa

là xa rời, từ bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà đó là sựtrung thành và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam

Độc lập, tự chủ, sáng tạo nghĩa là tự mình chủ động, tích cực tìm tòinhằm khám phá phát hiện ra chân lý, đồng thời biết tiếp thu những thành tựu,trí tuệ và kinh nghiệm quý báu của nhân loại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn.Không chịu lệ thuộc, không áp dụng dập khuôn máy móc, giáo điều mô hìnhcủa nước khác, không theo đuôi nước khác hay sự áp đặt của bất kỳ một thếlực bên ngoài nào Điều này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Bất cứ ở

Trang 4

đâu và bất cứ nơi nào, việc áp dụng những nguyên tắc đó cũng phải tuỳ thuộcvào hoàn cảnh lịch sử đương thời”1

Trên cơ sở những nguyên lý của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã kếthừa, bổ sung, phát triển và vận dụng một cách sáng tạo vào tình hình thực tiễnnước Nga, đưa cách mạng tháng Mười Nga đến thắng lợi Qua đó, V.I.Lênincũng chỉ ra cho những người cộng sản rằng: Lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen

là một hệ thống mở cần phải bổ sung, phát triển, vận dụng một cách sát hợp,V.I.Lênin chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như một cái gì đãxong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại chúng ta tin rằng, lý luận đó chỉ đặtnền móng cho môn khoa học mà những người chủ nghĩa xã hội cần phải pháttriển hơn nữa về mọi mặt nếu như họ không muốn lạc hậu về cuộc sống”2.V.I.Lênin nhấn mạnh: “Tất cả các dân tộc đều đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điềukhông tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội khôngphải một cách hoàn toàn giống nhau Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm nước mìnhvào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loạikhác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo

xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”3

Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin là những người sáng lập rahọc thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp vô sản; đồng thời các ông cũngchỉ ra rất rõ ràng là đừng bao giờ coi lý luận của các ông như một “công thứcvận dụng” hay “bất khả xâm phạm”, là “chân lý tuyệt đích”… Trái lại, các ôngluôn đòi hỏi những người cộng sản phải biết vận dụng sáng tạo những nguyên

lý cơ bản đó sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, phù hợp vớitruyền thống văn hoá từng nước, có nghĩa là những người cách mạng phải căn

cứ vào thực tiễn cách mạng của nước mình mà kế thừa, tiếp thu có chọn lọc.Độc lập phải gắn liền với sáng tạo; phải mạnh dạn đổi mới để tiến lên, phải códũng khí nhìn vào sự thật Đó là một nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, đòi hỏi

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.1995, tr.128.

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.232.

3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tr.160.

Trang 5

phải hết sức mềm dẻo, linh hoạt V.I.Lênin đã khẳng định, chúng ta phải:

“Chọn một con đường khác để đi tới đích nếu con đường cũ, trong một thờigian nhất định nào đó, xem ra không thích hợp nữa, không đi theo được nữa”1

Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, Ngườitrực tiếp sáng lập và rèn luyện Đảng ta Với một trái tim đầy nhiệt huyết cáchmạng và nhãn quan chính trị sâu sắc, Người đã tiếp thu truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, kết hợp với tinh hoa văn hóa thế giới, mà chủ nghĩa Mác- Lênin

là nguồn gốc lý luận chủ yếu và thực tiễn hoạt động của bản thân đã xây dựngnên những luận điểm quan trọng thể hiện tinh thần độc, lập tự, sáng tạo củamình Trong khi nhiều nhà cách mạng châu Âu cho rằng, chỉ khi nào cáchmạng ở chính quốc thành công thì sự nghiệp giải phóng dân tộc ở các nướcthuộc địa mới có thể hoàn thành, thì Nguyễn Ái Quốc đã cho rằng, sự nghiệpgiải phóng ở các nước thuộc địa có thể chủ động dựa vào sức mình, Người chỉ

rõ con đường giải phóng dân tộc là phải nêu cao tinh thần tự lực, tự cường,với phương châm “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”2 và “muốn người tagiúp cho thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”3 Đồng thời, Chủ tịch HồChí Minh cũng hết sức phê phán tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài,

Người chỉ rõ: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc

khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”4

Phát huy truyền thống dân tộc, trung thành và vận dụng sáng tạo lý luậnchủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạocách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nêu cao quan điểm độc lập, tự chủ,sáng tạo trong hoạch định chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng, trongphát động phong trào cách mạng… để từ đó tạo nên sức mạnh của toàn dântộc, bất chấp những khó khăn thử thách, bất chấp sự can thiệp, chi phối từ bênngoài, đem lại thắng lợi cho cách mạng Thực tiễn cách mạng cho thấy, hoàn

1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, tr.198.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.2009, tr.554.

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H.2009, tr.393.

4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2009, tr.522.

Trang 6

cảnh luôn thay đổi, nếu Đảng ta không biết sáng tạo, không đổi mới kịp thời,khi đó sẽ không theo kịp với thời cuộc, cách mạng sẽ dậm chân tại chỗ, nhưngsáng tạo mà không có cơ sở khoa học sẽ dẫn đến đi chệch quỹ đạo Do vậy,tính sáng tạo ở đây đòi hỏi phải đúng đắn, khoa học, có vậy mới đưa cáchmạng phát triển đúng hướng Đồng thời, phải nêu cao tinh thần độc lập, tựchủ: độc lập trong tư duy, độc lập trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, không

bị lệ thuộc vào bất cứ thế lực nào, sự can thiệp nào từ bên ngoài, có vậynhững quyết sách đưa ra mới đúng đắn, kịp thời

Thực tiễn quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng cho thấy, trong hơn

80 năm qua, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, để cóđường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng đi đến thắng lợi Sự sáng tạocủa Đảng được thể hiện ngay trong qui luật ra đời của Đảng, đó là sự kết hợpkhông chỉ có chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân (qui luật ra đờichung cho các Đảng Cộng sản) mà còn thêm một yếu tố là phong trào yêunước Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhờ có đường lối độc lập,

tự chủ, sáng tạo, mà Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã có Cương lĩnh, đườnglối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng phát triển theo trào lưu tiến bộ nhấtcủa nhân loại, để cách mạng phát triển đúng hướng từ đó về sau

Trong Cương lĩnh đầu tiên Đảng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn quanđiểm dân tộc và giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và thời đại với những luậnđiểm sáng tạo Trong đó, Cương lĩnh đã gắn cách mạng giải phóng dân tộcvới cách mạng vô sản, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Đây là luận điểmquan trọng nhất, có tính bao trùm, chỉ ra phương hướng cơ bản, và mục tiêuchiến lược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cáchmạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”1 Cương lĩnh của Đảng

đã khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạngthế giới, đồng thời xác định tính chủ động, tích cực của cách mạng Việt Namtrong mối quan hệ với cách mạng thế giới Để thực hiện nhiệm vụ trung tâm

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H.2010, tr.2

Trang 7

chống đế quốc, giải phóng dân tộc, Cương lĩnh chủ trương đoàn kết rộng rãitất cả các giai cấp cách mạng, các lực lượng tiến bộ, các cá nhân yêu nước.Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp,phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình Đảng phải thu phục chođược đại bộ phận dân cày Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức,trung nông, Thanh niên, Tân Việt để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp cònđối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặtphản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”1.Việc tập hợp lực lượng với biên độ rộng lớn nhằm tạo sức mạnh tổng hợp đểlàm cách mạng Đứng vững trên quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đãđưa ra Cương lĩnh, đường lối phù hợp, sát đúng với thực tiễn cách mạng ViệtNam Đảng xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là sau khihoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ sẽ thực hiện cách mạng xã hội chủnghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; xác định hai nhiệm vụchống đế quốc và chống phong kiến của cách mạng dân tộc, dân chủ (trướcđây gọi là cách mạng tư sản dân quyền) có mối quan hệ khăng khít nhưngkhông đồng loạt ngang nhau, nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộcđược đặt lên hàng đầu Sau này, Đảng nêu rõ thêm: nhiệm vụ chống phongkiến phải thực hiện từng bước, phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc Từ đó Đảngphát động được cao trào cách mạng rộng khắp, thu hút, tập hợp được đông đảolực lượng cách mạng, mặc dù phải đương đầu với không ít khó khăn thử thách,song với niềm tin mãnh liệt vào phương hướng mục tiêu đã định, Đảng đã lãnhđạo, xác định mục tiêu đấu tranh phù hợp cho từng giai đoạn, xác định đúngđắn kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, đó là đặt nhiệm vụ đánh đế quốc, giảiphóng dân tộc lên hàng đầu, từ đó đoàn kết, tập hợp được lực lượng cách mạng

to lớn, giành thắng lợi qua các cao trào 1930- 1931; 1936- 1939 và đặc biệt làcao trào 1939- 1945, để đưa cách mạng tháng Tám đến thành công

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.2009, tr.3.

Trang 8

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi Đảng ta mới 15tuổi và ta chỉ có khoảng hơn 5000 đảng viên, đã thể hiện sâu sắc sự lãnh đạosáng suốt, kiên quyết, kịp thời và nhạy cảm về chính trị; đồng thời, thể hiệnnổi bật bản lĩnh chính trị, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta vàChủ tịch Hồ Chí Minh trong xác định mục tiêu, hình thức và phương phápđấu tranh, nhằm phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc với việc chớplấy thời cơ “ngàn năm có một”

Trong những năm 1945-1946, với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị vàtinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo tuyệt vời cùng với trình độ trí tuệ của Đảng

ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem đến thành công với sách lược lợi dụngmâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, từng bước đập tan âm mưu và thủ đoạnthâm độc của chúng, làm tan rã bọn tay sai phản động trong nước Với tinhthần độc lập, tự chủ, sáng tạo Đảng ta đã dựa chắc vào dân, phát huy tinh thầnlàm chủ đất nước của nhân dân, đưa đất nước vượt qua tình thế hiểm nghèo,củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng; triệt để lợi dụng mâu thuẫn nội

bộ kẻ thù, chĩa mũi nhọn của cách mạng vào kẻ thù chính, hoà hoãn với lựclượng có thể hoà hoãn được; góp sức đưa dân tộc ta vượt qua tình thế “ngàncân treo sợi tóc”; đồng thời tranh thủ thời gian tương đối hoà bình để xâydựng lực lượng mọi mặt chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhờ quán triệt tinh thần độc lập,

tự chủ, sáng tạo, Đảng đã đưa ra đường lối đấu tranh đúng đắn: đường lốikháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; vừakháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng lực lượng Cũng nhờ tinh thần độc lập,

tự chủ, sáng tạo mà Đảng ta đã giải quyết đúng đắn các mối quan hệ, vừatranh thủ được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, vừa không phụ thuộc vào sự chỉđạo của họ, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, ở điều kiệnhoàn cảnh nước ta: miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhândân, miền Nam còn nằm trong ách đô hộ của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, vớitinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã đề ra đường lối tiến hành đồng

Trang 9

thời hai chiến lược cách mạng Tuy hai miền thực hiện hai chiến lược cáchmạng khác nhau, song hai chiến lược lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùngthực hiện một mục tiêu chung, giải quyết mối quan hệ hậu phương và tiềntuyến khi cả nước có chiến tranh: vì giải phóng miền Nam phải bảo vệ và xâydựng miền Bắc và để bảo vệ, xây dựng miền Bắc phải đánh thắng giặc Mỹ ởmiền Nam Trong quá trình Đảng đề ra đường lối kháng chiến và thực tiễnlãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống Mỹ cứu nước, chúng ta đã nhậnđược sự giúp đỡ, ủng hộ cả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủnghĩa anh em và bạn bè quốc tế Song trên thực tế, một số nước anh em khônghoàn toàn đồng ý với đường lối chống Mỹ cứu nước của Đảng và nhân dân ta.

Có nước cho rằng ta không nên đồng thời tiến hành cùng một lúc cả hai chiếnlược cách mạng ở hai miền Nam- Bắc mà chỉ nên lãnh đạo một chiến lược cáchmạng hoặc là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hoặc là cách mạng xã hộichủ nghĩa, với tư tưởng “trường kỳ mai phục” Có nước cho rằng chúng takhông nên đối đầu với Mỹ vì cuộc chiến không cân sức giữa ta và Mỹ, khuyên

ta không nên đánh Mỹ “sợ một đốm lửa có thể thiêu cháy cả một cánh rừng”…nhưng Đảng ta vẫn quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ Đảng ta đã sáng tạo rađường lối chiến tranh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp vô địch, đập tanmọi âm mưu và các chiến lược chiến tranh của kẻ thù, giành thắng lợi lịch sửvào mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.Đánh giá nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiếnchống Mĩ cứu nước, Đảng ta chỉ rõ: “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ,cứu nước của nhân dân ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đườnglối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta”1

Như vậy, độc lập, tự chủ, sáng tạo luôn là đòi hỏi khách quan của cáchmạng Việt Nam và là tư tưởng xuyên suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ ChíMinh trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam: Từ độc lập, tự chủ, sángtạo trong tìm con đường cứu nước, đến độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, sáng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 37, Nxb CTQG, H.2004, tr.469

Trang 10

tạo trong lãnh đạo đấu tranh giành và giữ chính quyền; trong kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo đó không chỉdừng lại ở thắng lợi của nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà những giá trị to lớncủa tinh thần đó là ở chỗ nó tiếp tục được toả sáng trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay Đó là sự nghiệp đổi mới tìm tòi conđường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

2 Quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong hoạch định đường lối đổi mới

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta được đánh dấu từbước ngoặt lịch sử của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) Đây

là Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình tiến lên củacách mạng nước ta, là bước ngoặc lịch sử trên con đường xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam Đổi mới là tất yếu khách quan, là yêu cầu bứcthiết của nước ta, đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt đểtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,quốc phòng an ninh Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay

go phức tạp, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và đối với chủ nghĩa xã hội.Đây cũng là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa tiến bộ và lạc hậudiễn ra trên các lĩnh vực trong từng tổ chức và từng con người Trong côngcuộc đổi mới, nhiều vấn đề mới mẻ đặt ra kể cả về lý luận cũng như thựctiễn cần được giải quyết, chúng ta vừa đổi mới, vừa tổng kết, rút kinhnghiệm, từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, từng bước hoàn thiệnđường lối đổi mới, sao cho đi đúng qui luật khách quan, phát triển vữngchắc cho cách mạng Sự nghiệp đổi mới mà Đảng và nhân dân ta tiến hànhlàm biến đổi toàn diện trên đất nước ta, sự nghiệp đó hoàn toàn không cókhuôn mẫu sẵn, lại đang trong quá trình phát triển Do đó, trong công cuộcđổi mới đòi hỏi Đảng ta phải phát huy quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo

để đưa công cuộc đổi mới đi lên, giành thắng lợi

Trang 11

2.1 Độc lập, tự chủ, sáng tạo trong đổi mới từng phần (1979-1986)

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975 cả nước bước vào thời kỳ mới: thời

kỳ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa Đây cũng là thời kỳ Đảng ta tiếp tục phát huy truyềnthống độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối xây dựng và bảo

vệ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước

Khi bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong những nămđầu, Đảng ta do còn những bỡ ngỡ, lúng túng, nên không tránh khỏi nhữngvấp váp, sai lầm: lý luận chưa bắt kịp với tình hình thực tế, sai lầm trong khâu

tổ chức thực hiện vừa tả khuynh, vừa hữu khuynh Đặc biệt, cơ chế quản lýkhông phù hợp, cộng với tư tưởng chủ quan duy ý chí, từ đó làm cho đất nướcrơi vào khủng hoảng kinh tế- xã hội nghiêm trọng Trong thời kỳ này, nềnkinh tế của chúng ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, lại chịu ảnh hưởng nặng nề củachiến tranh Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong chiến tranh cơ bản cóbản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, sẵn sàng hysinh vì nền độc lập tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trình độvăn hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ còn có những hạn chếnhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạnmới Mặt khác, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chỉ phù hợp điều kiện đấtnước có chiến tranh, đến nay không còn phù hợp nữa, trở thành lực cản đốivới sự phát triển của đất nước Trong đường lối lãnh đạo đất nước, Đảng tagộp mục tiêu và biện pháp làm một, mà trong đó lại không có mục tiêu cụ thể.Chính vì vậy, trong quá trình đưa nghị quyết vào cuộc sống lại làm cho đấtnước lâm vào khủng hoảng kinh tế- xã hội, sản xuất trì trệ, năng xuất, chấtlượng hiệu quả thấp, giá cả thị trường tăng, đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn, lòng tin của nhân dân vào Đảng bị giảm sút, nếu kéo dài sẽ dẫn đếnnhững hậu quả hết sức nghiêm trọng

Trước tình hình đó, một lần nữa bản lĩnh chính trị, tinh thần độc lập, tựchủ, sáng tạo của Đảng được phát huy một cách cao độ Đảng ta đã kịp thời

Trang 12

nhận rõ khuyết điểm là đã kéo dài quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,từng bước tìm tòi những biện pháp khắc phục những khuyết điểm ấy Hộinghị Trung ương lần thứ 6 khóa IV (8/1979) là hội nghị quan trọng thể hiện

rõ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, là bước đột phá trên con đường tìmkiếm, tìm tòi đổi mới con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa Hội nghị đã đưa

ra tư tưởng cơ bản quan trọng là “làm cho sản xuất bung ra” nghĩa là phảiphát triển sản xuất, lấy lợi ích kinh tế làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất pháttriển Đảng ta chủ trương sử dụng các thành phần kinh tế ngoài kinh tế quốcdoanh, đây là các thành phần kinh tế mà trước kia ta không chấp nhận; chủtrương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển nền kinh tế tập trung quan liêubao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh, đó là quá trình Đảng tiến hành đổimới từng phần, từng lĩnh vực riêng lẻ Bước đột phá ban đầu đó có ý nghĩahết sức quan trọng, mở ra hướng đi cụ thể, đúng đắn cho cách mạng ViệtNam Nghị quyết Trung ương 6 (8/1979) như “luồng sinh khí tốt lành thổi vàocuộc sống”, xã hội Việt Nam bắt đầu khởi sắc và có những chuyển biến tíchcực Đây cũng là Nghị quyết mang tính đột phá mở ra hướng tiếp cận mới vềchủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phải chấp nhận: nềnkinh tế nhiều thành phần; kinh tế thị trường; quan tâm đến lợi ích người laođộng… Trong thực tiễn Nghị quyết Trung ương 6 đã đi vào cuộc sống với sự

ra đời của hàng trăm xí nghiệp tư nhân, nhất là ở các thành phố lớn và đã giảiquyết được một phần cuộc sống… Tuy nhiên, Nghị quyết Trung ương 6 còn cónhững hạn chế, những giải pháp mà Hội nghị nêu ra chưa đủ sức tháo gỡ khókhăn Sau một thời gian thực hiện lại xuất hiện những khó khăn mới: Sản xuấtbung ra nhưng không đúng hướng; hàng lậu, hàng giả xuất hiện nhiều; giá cảngày càng cao… Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trungương khoá IV (12/1980) đã họp, bàn về phương hướng nhiệm vụ kinh tế- xã hộinăm 1981 Hội nghị nhận định: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 khoá IV (8/1979)

và một số Nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã bước đầu tạo rakhí thế mới cho nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, những khuyết điểm trong quản

Trang 13

lý kinh tế, quản lý xã hội chậm được sửa chữa, nhiều chỉ tiêu kế hoạch đạt thấp,xuất nhập khẩu còn mất cân đối nghiêm trọng Hội nghị chủ trương chuyểnmạnh sang phương thức hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, mở rộng việcthực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp, mởrộng việc trả lương theo sản phẩm khoán.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 và kịp thời phát huy nhữngnhân tố tích cực, khắc phục các nhược điểm, ngày 31/1/1981, Ban Bí thư ra chỉthị số 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đếnnhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉthị 100) Chỉ thị đã tạo ra động lực phát triển mới trong sản xuất nông nghiệp

“Khoán” trong nông nghiệp là một bước phát triển trong tư duy kinh tế nôngnghiệp của Đảng, vì đó là hình thức quản lý, tổ chức kinh doanh có lợi và từ đóquan niệm về hợp tác xã cũng cần phải thay đổi Đây cũng chính là quá trìnhtìm tòi, thử nghiệm thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta

Trong lĩnh vực công nghiệp, ngày 21/1/1981 Hội đồng Bộ trưởng ban hànhQuyết định 25/CP cho phép các xí nghiệp thực hiện kế hoạch ba phần, trong đó cómột kế hoạch xí nghiệp tự ký hợp đồng để đáp ứng nhu cầu của thị trường, lầnđầu tiên cho phép hình thành yếu tố thị trường trong khuôn khổ kế hoạch hoá.Đây là tư duy mới về kinh tế của Đảng với các doanh nghiệp Nhà nước

Trên lĩnh vực lưu thông phân phối, ngày 23/6/1980 Bộ Chính trị ra nghịquyết 26-NQ/TW về cải tiến công tác phân phối lưu thông nhằm khuyến khíchsản xuất phát triển, lưu thông tiền tệ phù hợp và phân phối hợp lý, tạo tiền đềcần thiết, từng bước xoá bỏ chế độ cung cấp tem phiếu

Những cố gắng tìm tòi, những chủ trương chính sách đổi mới của Đảng

ta thời kỳ này có ý nghĩa rất quan trọng, nó đã giải quyết được phần nào vấn

đề nóng bỏng có tính chất tình thế vượt qua những khó khăn thử thách trướcmắt và mở ra một hướng đi đúng đắn trong tư duy đổi mới của Đảng Nhưngtrong quá trình thực hiện đã bộc lộ những hạn chế của chính sách đổi mới đó,điều đó chứng tỏ những chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng thời kỳ này

Trang 14

chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đang đặt ra Những chủ trương, biệnpháp đổi mới thời kỳ này là những giải pháp mang tính tình thế, nhằm tháo gỡnhững khó khăn trước mắt mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng(3/1982) đã đánh giá một cách đúng đắn những thành tựu có ý nghĩa chiếnlược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, đồng thời chỉ ranhững tồn tại, yếu kém, những vấn đề gay gắt phải tháo gỡ: sản xuất chậmphát triển, dân số tăng nhanh, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được nhu cầutiêu dùng xã hội; chênh lệch giữa thu và chi, giữa xuất khẩu và nhập khẩu cònhạn chế… Đại hội chỉ rõ: “Chúng ta chưa thấy hết những khó khăn, phức tạpcủa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nên kinh tế mà sản xuất nhỏ cònphổ biến; thấy chưa hết quy mô của những đảo lộn kinh tế và xã hội sau cuộcchiến tranh lâu dài; thấy chưa hết khó khăn, phức tạp trong việc khắc phụcnhững yếu kém của chúng ta về quản lý kinh tế xã hội; lường chưa hết nhữngdiễn biến có mặt không thuận lợi trong tình hình thế giới Do đó, chúng ta đãquá chủ quan, nóng vội đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô và quá cao vềtốc độ ”1 Đại hội đã đề ra những nội dung chính của công nghiệp hoá xã hộichủ nghĩa là: “Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp làmặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, rasức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành côngnghiệp nặng quan trọng, kết hợp công nghiệp, nông nghiệp, hàng tiêu dùng vàcông nghiệp nặng trong cơ cấu công nông nghiệp hợp lý”2 Đại hội đã bổ sung,phát triển lý luận về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, xác địnhhai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội là: “Một là, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; Hai là, sẵnsàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”3

Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, trải qua một thời gian tìm tòi khảonghiệm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng ta đã thể hiện sự đổi mới

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 43, Nxb CTQG, H.2004, tr.50.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ V, Nxb ST, H.1982, tr.62-63.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 43, Nxb CTQG, H.2004, tr.52.

Trang 15

rõ ràng trong nhận thức: Nhận thức lại về thời kỳ quá độ, sự phân kỳ thời kỳ quá

độ, chặng đường đầu tiên về thời kỳ quá độ; khẳng định nền kinh tế nước ta hiệnnay còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế Trong nhận thức của Đảng về thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế là thực tại kháchquan, nhưng trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, Đảng ta lại mắc phải tư tưởng chủquan nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn chưa được khắc phục

Sau đại hội V, Đảng có 11 Hội nghị Trung ương, nhưng phần lớn cáchội nghị đều tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội Tuy nhiên, đờisống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảngkinh tế- xã hội, thực tế nảy sinh nhiều khó khăn mới tưởng chừng khó có thểvượt qua Đặc biệt, sau Nghị quyết Trung ương 8 khoá V (1985) chúng ta tổchức thực hiện mắc phải những khuyết điểm, làm cho giá cả tăng nhanh, lạmphát ở mức độ khó kiểm soát Hàng loạt nhà máy không có việc làm, côngnhân không có lương, quần chúng một số nơi tỏ ra hoang mang, dao động vềcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội, niềm tin của nhân dân đối với Đảng bị maimột Bên cạnh đó Mỹ tiếp tục bao vây cấm vận, sự giúp đỡ của Liên xô, cácnước Đông Âu giảm nhanh làm cho nền kinh tế nước ta tiếp tục xấu đi Đứngtrước tình hình đó, Đảng đã kịp thời đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đồng

bộ, triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng có trọng tâm,

trọng điểm để từng bước tháo gỡ khó khăn, đưa đất nước thoát khỏi khủnghoảng, vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội

Như vậy, giai đoạn 1979- 1986 là thời kỳ mô hình cũ được mở rộng trong

cả nước, những sai lầm của mô hình ấy là trở lực lớn đối với sự phát triển, đẩycuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội đến mức gay gắt Đây cũng là thời kỳ mà tưduy mới về kinh tế được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn gốc từ thựctiễn và xã hội Việt Nam Chính từ cuộc sống đòi hỏi trí tuệ của toàn Đảng, toàndân phải tư duy phân tích tình hình, làm rõ nguyên nhân và vạch ra các giải pháp

để thay đổi mô hình cũ, từng bước xây dựng mô hình mới Để khắc phục tìnhtrạng khủng hoảng kinh tế- xã hội, không thể đơn giản chỉ thực hiện những cải

Trang 16

cách mang tính giải pháp, mà tất yếu phải đổi mới toàn diện, đồng bộ, mà bắtđầu từ đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế để đi lên một mô hình mới vềxây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong thời đại mới.

2.2 Độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình phát triển đường lối đổi mới toàn diện (1986-2011)

Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới đang không ngừng đổithay dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,chủ nghĩa tư bản hiện đại do khai thác và tận dụng được những thành tựu củacuộc cách mạng đó nên đã và đang tiếp tục phát triển Trong khi đó, chủ nghĩa

xã hội xét trên quy mô quốc tế lại đang chịu những tổn thất và thử thách nặng

nề do nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Ởnước ta, ngay trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, xã hội vẫn chưa rakhỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội từ bên trong, lại đồng thời chịu nhữngảnh hưởng và tác động không thuận lợi do cuộc khủng hoảng từ bên ngoài dộivào Trước tình hình đó, Đảng ta với bản lĩnh chính trị vững vàng, với tư duyđộc lập, tự chủ, sáng tạo, đã nắm bắt đúng tình hình cách mạng thế giới vàtrong nước, kịp thời rút ra những bài học quý qua cải tổ, cải cách để đề rađường lối đổi mới toàn diện đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) với thái độ “nhìn thẳngvào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”1 đã chỉ ra những nguyênnhân, nhược điểm của những khó khăn trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng:

“Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về nhữngchủ trương và những chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chứcthực hiện”2 Từ đó, Đảng ta khẳng định: “Chỉ có đổi mới thấy đúng, thấy hết

sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”3.Đại hội đã xác định những quan điểm chỉ đạo trong sự nghiệp đổi mới, đó là:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, Nxb CTQG, H.2006, tr.346.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.26.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr26-27.

Trang 17

Một là: “Đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là

vấn đề có ý nghĩa sống còn”4 đối với cách mạng Việt Nam lúc này Công cuộcđổi mới do những nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài đòi hỏi, trong đónhững nhân tố bên trong giữ vai trò quyết định, những nhân tố bên ngoài giữvai trò quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới ở nước ta phát triển nhanhhơn, chỉ có đổi mới chúng ta mới phát triển được

Hai là: Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu đã đạt

được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại chính là bổ sung,phát triển, làm phong phú những thành tựu đã đạt được và áp dụng một cáchsáng tạo vào thực tiễn đời sống Đổi mới bao hàm cả nhận thức lại, có sự kếthừa, phát triển những thành tựu, kinh nghiệm trong quá khứ Đây vừa lànhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài mang tính chiến lược trong mọilĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước ta

Ba là: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có hình

thức và cách làm phù hợp, biết lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm Xuấtphát từ tình hình thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Đảng chủ trương lấy đổimới kinh tế làm trọng tâm, lấy ổn định chính trị làm tiền đề Đồng thời vớiđổi mới kinh tế từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệthống chính trị, phát huy ngày càng tốt hơn quyền làm chủ và năng động sángtạo của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.Hai quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, có mối quan hệ mật thiếtvới nhau, làm điều kiện, tiền đề cho nhau phát triển

Trên quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đại hội đã phân tích đặcđiểm tình hình thế giới, trong nước đã hoạch định đường lối đổi mới, bắt đấu

từ đổi mới tư duy lý luận Đại hội VI đã quyết định những nội dung quantrọng trong đường lối đổi mới: Đổi mới cơ cấu kinh tế, thực hiện chính sáchphát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ Đổi

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987, tr.124.

Trang 18

mới cơ chế quản lý, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sanghạch toán kinh doanh, chú trọng sản xuất Đổi mới hoạt động đối ngoạichuyển sang hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài.Trong nhiệm vụ và chính sách đối ngoại của Đảng, nhà nước ta đã hết sức chútrọng đến kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vữnghoà bình ở Đông Dương góp phần giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trênthế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt với ba nước Đông Dương, tăng cườngquan hệ với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa Đổi mớitrên lĩnh vực xây dựng và phát triển Đảng để Đảng phát triển ngang tầm vớinhững nhiệm vụ của giai đoạn mới, đáp ứng được yêu cầu trong việc giải quyếtnhững vấn đề kinh tế- xã hội, trong phong cách lãnh đạo và cả trong việc rènluyện phẩm chất cán bộ, đảng viên Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh vềchính trị, tư tưởng, tổ chức, để từ đó tác động quyết định đến sự phát triển củacách mạng nước ta Đổi mới công tác quốc phòng an ninh, xây dựng lực lượngquân đội mạnh đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đổi mới kinh tế

là nhiệm cơ bản, là nhiệm vụ trung tâm, đổi mới chính trị phải làm đồng thờinhưng phải thận trọng, có bước đi vững chắc Tăng trưởng kinh tế phải đi đôivới công bằng xã hội, phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học, y tế, xây dựngmôi trường sinh thái Coi nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng lãnhđạo của Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị là vấn đề then chốt…

Sau đại hội VI, Đảng tiếp tục cụ thể hoá, bổ sung phát triển đường lốiđổi mới, chỉ đạo từng bước thực hiện đường lối Ngày 15/4/1988, Bộ chính trị

ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, giao quyền sử dụngđất lâu dài cho các hộ nông dân và hình thành đơn vị kinh tế hộ Ngày29/3/1989, Hội nghị Trung ương 6 khoá VI đề ra những chủ trương, chínhsách cụ thể để phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và đề ra 5 nguyêntắc chỉ đạo công cuộc đổi mới Những quyết định quan trọng đó đã thúc đẩykinh tế phát triển, vượt qua thách thức do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng ởcác nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu, bảo đảm công cuộc đổi mới

Trang 19

phát triển đúng hướng Năm 1989, nhờ “khoán 10” mà nông nghiệp có bướcnhảy vọt, không những ta đảm bảo đủ lương thực mà còn có dự trữ và xuấtkhẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới Lạm phát từ 774,4% năm 1986 giảmxuống còn 67,1% năm 1991 Nền kinh tế có những bước chuyển biến tích cực,bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước

Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độlên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và quá trình phát triển đường lối đổi mới củaĐảng, sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức về tư duy đổi mới, nhất là

tư duy kinh tế Từ đổi mới từng phần, riêng lẻ, mười năm (1976- 1986) vừalàm vừa tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm về lý luận, giương cao ngọn cờđộc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, đồng

bộ và triệt để, Đảng đã kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổimới chính trị, lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mớichính trị Đảng ta đã căn cứ vào những điều kiện cụ thể, lựa chọn những bước

đi, hình thức và cách làm phù hợp, từng bước tháo gỡ khó khăn, đưa đất nước

ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, tạo tiền đề cho bước phát triển mới, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Đường lối đó thể hiện rõ quanđiểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, hoàn toàn phù hợp với quy luật, thờiđại và thực tiễn ở Việt Nam Đồng thời nó cũng thể hiện rõ bản lĩnh chính trị,trí tuệ của Đảng, sự phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam Đâychính là căn cứ vững chắc nhất đập tan những luận điệu xuyên tạc cho rằng:Đổi mới ở Việt Nam là sự “sao chép” hay là “theo đuôi” nước ngoài mà trựctiếp là Liên Xô, Trung Quốc; đổi mới ở Việt Nam là sự “ăn may” Hay cóquan điểm cho rằng Việt Nam vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX không

có dấu hiệu khủng hoảng, do vậy không cần phải tiến hành đổi mới Đó lànhững quan điểm sai trái nhằm phủ định hay hạ thấp vai trò lãnh đạo củaĐảng, phủ nhận đường lối đổi mới ở nước ta Đổi mới ở nước ta là kết quảthử nghiệm tìm tòi, đúc kết từ “lòng dân, ý Đảng” Có thể nói qua gần 10 năm

Ngày đăng: 02/03/2017, 19:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 37, Nxb CTQG, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
3.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 43, Nxb CTQG, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
4.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 47, Nxb CTQG, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ V, Nxb ST, H.1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu Toàn quốclần thứ V
Nhà XB: Nxb ST
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H.1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự thật
7. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, H.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb Sự thật
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, Nxb Sự thật, H.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
Nhà XB: Nxb Sự thật
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb CTQG
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb CTQG
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb CTQG
13. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
14. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
15. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
16. Trần Đức Lương, Kiên định đường lối đổi mới ở Việt Nam vững bước tiến vào thế kỷ XXI, Nxb CTQG, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiên định đường lối đổi mới ở Việt Nam vững bước tiếnvào thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb CTQG
17. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
18. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
19. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w