Mục đích của Đề án Xây dựng Đề án Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh để thực hiện chủtrương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ trong việc phát triển và ứng dụng côngnghệ thông tin, cải cách h
Trang 1***
-ĐỀ ÁN XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ
TỈNH QUẢNG NINH
(Ban hành kèm theo quyết định số /QĐ-UBND ngày tháng 8 năm 2012
của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
Trang 3THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
3 LAN Local Area Network – Mạng cục bộ
4 WAN Wide Area Network – Mạng diện rộng
6 TSLCD Truyền số liệu chuyên dụng
8 GIS Geographical Information System – Hệ thống thông tin bản đồ
9 CBCCVC Cán bộ công chức viên chức
13 CNTT-TT Công nghệ thông tin – truyền thông
15 SOA Service Oriented Architecture – Kiến trúc
Trang 421 LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
22 VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch
24 G2C (Government to Citizen): Mối quan hệ giữa
chính quyền với công dân
25 G2B (Government to Business): Mối quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp
26 G2G (Government to Government): Mối quan hệ giữa các cơ quan chính quyền với nhau
27 G2E (Government to Employee): Mối quan hệ giữa chính quyền với công chức.
MỤC LỤC
Trang 5I Sự cần thiết 6
II Căn cứ pháp lý 7
III Mục đích của Đề án 8
PHẦN II: TÌNH HÌNH, XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN, MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ 9
I Khái niệm Chính phủ điện tử 9
II Xu hướng phát triển chính phủ điện tử 10
III Kinh nghiệm triển khai CPĐT ở một số nước 12
1 Hàn Quốc 12
2 Singapore 13
3 Úc (Australia) 14
IV Tình hình triển khai Chính quyền điện tử tại một số địa phương 15
1 Tình hình ứng dụng CNTT tại các tỉnh/thành phố 15
2 Một số điển hình triển khai Chính quyền điện tử 18
3 Một số vấn đề còn tồn tại và thách thức trong việc triển khai chính quyền điện tử tại điạ phương 19 4 Bài học kinh nghiệm 21
V Mô hình thành phần chính quyền điện tử cấp tỉnh 22
PHẦN III: TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỈNH QUẢNG NINH 24
I Hạ tầng thiết bị, mạng cục bộ tại các đơn vị 24
II Mạng diện rộng trên địa bàn tỉnh 24
III Trung tâm dữ liệu tỉnh 25
IV Phần mềm và CSDL 25
V Cổng thông tin 27
VI Dịch vụ công 28
VII Nhân lực/Đào tạo/Chính sách 28
VIII Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 29
PHẦN IV CƠ HỘI, THÁCH THỨC XÂY DỰNG CQĐT TỈNH QUẢNG NINH 31
I Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 31
II Cơ hội, thách thức triển khai xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh 34
1 Cơ hội, thuận lợi 34
2 Thách thức, khó khăn 36
PHẦN V: XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TỈNH QUẢNG NINH 39
I Quan điểm chủ đạo 39
II Mục tiêu tổng quát 39
III Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2012-2014 39
1 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 39
2 Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ 40
3 Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao 40
4 Đào tạo, tập huấn cho CBCC và hướng dẫn, giới thiệu cho Người dân sử dụng và khai thác tiện ích chính quyền điện tử 41
IV Mô hình tổng thể 41
V Các nhiệm vụ thuộc Đề án 45
1 Xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu 45
2 Hoàn thiện mạng diện rộng đến cấp phường xã 46
3 Bổ sung, nâng cấp trang thiết bị cho CBCC 46
4 Hoàn thiện kênh giao tiếp nội bộ 46
5 Mở rộng các kênh giao tiếp với người dân và doanh nghiệp 46
6 Trang bị kiến trúc phần mềm nền 47
Trang 67 Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nội khối chính quyền, đoàn thể và các cơ quan khối Đảng 47
8 Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao 49
9 Đào tạo nâng cao trình độ cho CBCC về vận hành hệ thống chính quyền điên tử 49
10 Thông tin tuyên truyền đến người dân và doanh nghiệp 50
11 Đào tạo công dân điện tử tương lai 50
12 Cải tiến môi trường chính sách 50
13 Xây dựng các Trung tâm dịch vụ hành chính công 51
VI Lộ trình xây dựng CQĐT tỉnh Quảng Ninh 52
PHẦN VI GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 53
I Khái toán kinh phí đầu tư 53
III Phân kỳ đầu tư 54
III Phương án tài chính 55
PHẦN VII CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN 57
I Tổ chức quản lý 57
II Nguồn nhân lực 57
III Cơ chế, chính sách 57
IV Phân công nhiệm vụ 58
1 Sở Thông tin và Truyền thông 58
2 Sở Kế hoạch và Đầu tư 58
3 Sở Tài chính 58
4 Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh đoàn 58
5 Sở Xây dựng 59
6 Các UBND Huyện/Thị/Thành phố 59
7 Các đơn vị khác thuộc phạm vi triển khai đề án 59
KẾT LUẬN 60
PHỤ LỤC 62
I Danh sách đơn vị thuộc phạm vi triển khai 62
II Danh sách các ứng dụng và CSDL thuộc phạm vi đề án 63
III Danh mục các dịch vụ công trực tuyến thuộc phạm vi Đề án 82
IV Các yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật về phần mềm nền 96
1 Giới thiệu 96
2 Mục tiêu 96
3 Yêu cầu kỹ thuật 96
V Các yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật về trung tâm dữ liệu 98
1 Giới thiệu 98
2 Mục tiêu 98
3 Yêu cầu kỹ thuật 98
4 Quy mô và phạm vi triển khai 100
VI Các yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật về trung tâm giao dịch 101
1 Giới thiệu 101
2 Mục tiêu 102
3 Yêu cầu kỹ thuật 102
4 Quy mô và phạm vi triển khai 103
VII Các yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật về hệ thống mạng 104
1 Giới thiệu 104
2 Mục tiêu 104
3 Yêu cầu kỹ thuật 105
4 Quy mô và phạm vi triển khai 105
Trang 7VIII Các yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật về thiết bị cung cấp 106
1 Giới thiệu 106
2 Mục tiêu 106
3 Yêu cầu kỹ thuật: 107
4 Quy mô và phạm vi triển khai 109
IX Các yêu cầu về đào tạo nâng cao nhận thức và truyền thông 110
1 Giới thiệu 110
2 Mục tiêu 110
3 Yêu cầu 110
4 Quy mô và phạm vi triển khai 111
5 Kế hoạch đào tạo cho cán bộ, công chức 112
X Các hạng mục triển khai của cơ quan khối Đảng 113
Trang 8PHẦN I SỰ CẦN THIẾT VÀ CƠ SỞ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ ÁN
I Sự cần thiết
Trong những năm qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông của tỉnh đã có bước phát triển vượt bậc, góp phần nâng cao hiệu quảtrong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội Hạ tầng CNTT-TT của tỉnhđược chú trọng đầu tư xây dựng, 100% cơ quan nhà nước cấp sở, ngành vàUBND các huyện, thị xã, thành phố được nối mạng TSLCD và kết nối Internet
Ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ các cơ quan nhà nước, cung cấpdịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp luôn được tỉnh quan tâm và pháttriển đồng bộ Các cơ quan nhà nước sử dụng rộng rãi các phần mềm ứng dụngdùng chung và phần mềm chuyên ngành; trên 1.400 dịch vụ công trực tuyếnmức độ 1 và 2 được cung cấp trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, một số dịch
vụ công đã đạt mức độ 3 Đa số các sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố cótrang thông tin điện tử và đang từng bước triển khai hệ thống cung cấp dịch vụcông “một cửa điện tử” Những nỗ lực này đã phát huy hiệu quả, thiết thực trongcông tác lãnh chỉ đạo, chuyên môn hằng ngày tại các cơ quan, đơn vị, nâng caonăng suất, chất lượng công việc, mang nhiều thuận lợi đến cho người dân vàdoanh nghiệp
Các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, hiệp hội,… trên địa bàn tỉnhcũng đã bước đầu triển khai ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng của mình Ngoài việc xây dựng hạ tầng và ứng dụng CNTT, công tác đàotạo và sử dụng nguồn nhân lực CNTT cũng được lãnh đạo tỉnh chú trọng Hiệnnay, nhờ các chính sách thu hút, khuyến khích, nguồn nhân lực CNTT trong cơquan nhà nước, trong các doanh nghiệp và xã hội đã tăng đáng kể cả về sốlượng và chất lượng
Chính phủ các nước trên thế giới hiện nay và trong tương lai đều lấy việcxây dựng và hoàn thiện chính quyền điện tử đề làm hài hòa và thỏa mãn cácyêu cầu phù hợp, chính đáng của người dân làm nguyên tắc lãnh đạo, điềuhành nhằm mục tiêu ổn định chính trị, phát triển kinh tế, phát triển xã hội Bêncạnh đó, người dân cũng đặt ra các yêu cầu ngày càng cao đối với Nhà nước,Chính phủ và các nhà lãnh đạo
Trong phát triển và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chủtrương và định hướng: “Xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân”; xâydựng và hoàn thành “Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và xâydựng “Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Cùng với xu hướng chung của thếgiới, xây dựng chính quyền điện tử Việt Nam là một yêu cầu tất yếu, khâu độtphá trong chỉ đạo, điều hành và phục vụ nhân dân, góp phần quan trọng thànhcông cho các chủ trương định hướng đó
Trang 9Với nhiều tiềm năng, thế mạnh, Quảng Ninh theo định hướng và mục tiêu:
“Cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015” và trongtương lai 10 năm nữa Quảng Ninh sẽ và phải trở thành tỉnh dịch vụ, côngnghiệp, trung tâm du lịch của Việt Nam, của khu vực và thế giới Do đó, chínhquyền điện tử tỉnh Quảng Ninh sẽ là xu hướng tất yếu để chính quyền nâng caochất lượng hoạt động chỉ đạo điều hành, xúc tiến và thu hút đầu tư, phát triểnthương mại, du lịch; nâng cao tính minh bạch, cải tiến môi trường, chính sách;quảng bá và cung cấp thông tin đa dạng, nhanh chóng; chất lượng phục vụ chocác nhà đầu tư, các doanh nghiệp và du khách ở mức độ cao
Với những kết quả đã đạt được, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục thực hiện đề án
“Xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh” nhằm cụ thể hóa định hướng
và lộ trình triển khai ứng dụng và phát triển CNTT, xây dựng mô hình hoànchỉnh về hệ thống chính quyền điện tử cấp tỉnh
Chính quyền điện tử Quảng Ninh được xây dựng, phát triển và duy trì sẽtrở thành một yếu tố quan trọng tác động tích cực đến sự phát triển Kinh tế - Xãhội, An ninh, Quốc phòng của Tỉnh
II Căn cứ pháp lý
Đề án được xây dựng dựa trên khung pháp lý hiện hành và các văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn của Đảng, Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, gồm:
- Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006;
- Luật Giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng vàphát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Nghị quyết số 13-NQ/T.Ư ngày 16/01/2012 của Hội nghị lần thứ 4Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Xây dựng hệ thốngkết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020;
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chínhphủ về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quannhà nước;
- Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hànhChương tình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020;
- Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/06/2012 của Chính phủ về việcban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số13-NQ/T.Ư ngày 16/01/2012 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa XI về Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầngđồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại vào năm 2020;
- Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt chiến lược phát triển công nghệ thông tin và
Trang 10truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm2020;
- Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg ngày 24/11/2006 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020;
- Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chínhphủ Phê duyệt Chương trình quốc gia về Ứng dụng công nghệthông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 -2015;
- Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chínhphủ Phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh vềcông nghệ thông tin và truyền thông;
- Quyết định số 1842/QĐ-UBND ngày 10/6/2011 của UBND tỉnhQuảng Ninh Về việc Phê duyệt Kế hoạch phát triển ứng dụng Côngnghệ thông tin tỉnh Quảng Ninh đến giai đoạn 2011-2015;
- Công văn số 270/BTTTT-ƯDCNTT ngày 06/02/2012 của Bộ Thôngtin và Truyền thông;
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII,nhiệm kỳ 2010 -2015 về tăng cường tiềm lực khoa học và côngnghệ phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng caohiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo; quản lý điều hành
- Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 05/5/2012 của BCH Đảng bộ Tỉnh Vềphát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-
2015, định hướng đến năm 2020;
- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐND ngày 14/07/2006 của hội HĐNDtỉnh về quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh QuảngNinh giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020
- Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 18/10/2011 của HĐND tỉnh vềcác nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015
III Mục đích của Đề án
Xây dựng Đề án Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh để thực hiện chủtrương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ trong việc phát triển và ứng dụng côngnghệ thông tin, cải cách hành chính; Thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị của Tỉnhtrong việc tiến tới nền hành chính minh bạch, hiệu quả, phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, thu hút đầu tư, phục vụ người dân và doanh nghiệp; Làm cơ sở đểxác định mô hình, kiến trúc xây dựng Chính quyền điện tử Tỉnh, xác định các nộidung, hạng mục đầu tư, bố trí và thu hút mọi nguồn lực, lộ trình để xây dựngthành công Chính quyền điện tử và đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh dẫn đầu vềứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
Trang 11PHẦN II: TÌNH HÌNH, XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN, MÔ HÌNH CHÍNH
QUYỀN ĐIỆN TỬ
I Khái niệm Chính phủ điện tử
Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đưa ra định nghĩa “Chính phủ điệntử” Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về chính phủ điện tử,hay nói cách khác, hiện không có một hình thức chính phủ điện tử được ápdụng giống nhau cho các nước Các tổ chức khác nhau đưa ra những địnhnghĩa về Chính phủ điện tử của riêng mình
Trong tài liệu này, chính phủ điện tử được hiểu như hướng dẫn của BộTTTT tại công văn số 270/BTTTT-ƯDCNTT: Chính phủ điện tử là chính phủ ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm tăng hiệu quả hoạt động củacác cơ quan chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn
Việc phát triển Chính phủ điện tử trải qua một số giai đoạn khác nhau Cứqua từng giai đoạn (thực hiện và duy trì) thì tính phức tạp lại tăng thêm, nhưng giátrị mà nó mang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên
Biểu đồ tăng trưởng CPĐT do hãng tư vấn và nghiên cứu Gartner xâydựng, chỉ ra bốn giai đoạn (hay thời kỳ) của quá trình phát triển Chính phủ điệntử
Nguồn: Gartner
Giai đoạn 1: Thông tin Trong giai đoạn đầu, chính phủ điện tử có nghĩa
là hiện diện trên trang web và cung cấp cho công chúng các thông tin (thíchhợp) Giá trị mang lại ở chỗ công chúng có thể tiếp cận được thông tin củachính quyền, các quy trình trở nên minh bạch hơn, qua đó nâng cao chất lượngdịch vụ Với G2G, các cơ quan chính quyền cũng có thể trao đổi thông tin vớinhau bằng các phương tiện điện tử, như Internet, hoặc trong mạng nội bộ
Giai đoạn 2: Tương tác Trong giai đoạn thứ hai, sự tương tác giữa chính
quyền và công dân (G2C và G2B) được thông qua nhiều ứng dụng khác nhau.Người dân có thể hỏi qua thư điện tử, sử dụng các công cụ tra cứu, tải xuốngcác biểu mẫu và tài liệu Các tương tác này giúp tiết kiệm thời gian Thực tế,việc tiếp nhận đơn từ có thể thực hiện trực tuyến 24 giờ trong ngày Thông
Trang 12thường, những động tác này chỉ có thể được thực hiện tại bàn tiếp dân tronggiờ hành chính Về mặt nội bộ (G2G), các tổ chức của chính quyền sử dụngmạng LAN, intranet và thư điện tử để liên lạc và trao đổi dữ liệu Rõ ràng giaiđoạn này chỉ có thể thực hiện được khi đã thực hiện cải cách hành chính (với
cơ chế một cửa điện tử, cơ chế một cửa liên thông điện tử) theo tinh thần Quyếtđịnh số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ
Giai đoạn 3: Giao dịch Với giai đoạn thứ ba, tính phức tạp của công
nghệ có tăng lên, nhưng giá trị của khách hàng (trong G2C và G2B) cũng tăng.Các giao dịch hoàn chỉnh có thể thực hiện mà không cần đi đến cơ quan hànhchính Có thể lấy ví dụ về các dịch vụ trực tuyến như: Đăng ký thuế thu nhập,đăng ký thuế tài sản, gia hạn/cấp mới giấy phép, thị thực và hộ chiếu, biểu quyếtqua mạng Giai đoạn 3 là phức tạp bởi các vấn đề an ninh và cá thể hóa, chẳnghạn như chữ ký số (chữ ký điện tử) là cần thiết để cho phép thực hiện việcchuyển giao các dịch vụ một cách hợp pháp Về khía cạnh doanh nghiệp, chínhphủ điện tử bắt đầu với các ứng dụng mua bán trực tuyến Ở giai đoạn này, cácquy trình nội bộ (G2G) phải được thiết kế lại để cung cấp dịch vụ được tốt.Chính quyền cần những luật và quy chế mới để cho phép thực hiện các giaodịch không sử dụng tài liệu bằng giấy
Giai đoạn 4: Chuyển hóa Giai đoạn thứ tư là khi mọi hệ thống thông tin
được tích hợp hoàn toàn, các dịch vụ điện tử không còn bị giới hạn bởi các ranhgiới hành chính Khi đó công chúng có thể hưởng các dịch vụ G2C và G2B tạimột bàn giao dịch (điểm giao dịch ảo) Ở giai đoạn này, tiết kiệm chi phí, hiệuquả và đáp ứng nhu cầu khách hàng đã đạt được các mức cao nhất có thểđược
II Xu hướng phát triển chính phủ điện tử
Hiện nay, tồn tại nhiều xu hướng phát triển chính phủ điện tử khác nhau.Tuy nhiên, những xu hướng này đều có điểm chung là nâng cao mức độ hàilòng của xã hội, cải tiến hiệu quả và minh bạch hoạt động chính phủ và đảm bảotính công bằng, chuẩn mực trong quản lý nhà nước Năm 2007, tạp chíBusiness Insight có thực hiện một cuộc khảo sát về mục tiêu cụ thể của các giảipháp chính phủ điện tử, kết quả thu được như sau:
Trang 13Một số đặc điểm chính trong xu hướng phát triển chính phủ điện tử có thểđiểm qua như sau:
a) Phát triển chính phủ điện tử lấy người dân làm trọng tâm, rút ngắnkhoảng cách giữa người dân với các cơ quan nhà nước thông qua việc ứngdụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
b) Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào phát triển chính phủ điện tửnhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và huy động năng lực của mỗi người dânvào việc phát triển xã hội đồng thời nâng cao hiệu suất phục vụ của cơ quannhà nước Xã hội hóa hoạt động đầu tư các dự án chính phủ điện tử thông quahợp tác giữa chính phủ và doanh nghiệp
c) Cung cấp nhiều kênh truy cập thông tin và sử dụng thuận tiện dịch vụhướng “chính phủ mọi nơi”, từ trang thông tin điện tử đơn thuần cung cấp thôngtin đến cổng thông tin tích hợp dịch vụ trực tuyến cho phép tương tác hai chiều,cho phép ngoài hình thức Internet, thông tin và dịch vụ công được truy cậpthông qua các kênh như điện thoại, ki-ốt, các trung tâm dịch vụ ứng dụng côngnghệ thiết bị không dây và thiết bị di động
d) Nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua tái cơ cấu và hoàn thiện môhình nghiệp vụ Nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Chính phủ đối với các doanhnghiệp, giảm bớt các thủ tục rườm rà để thu hút đầu tư, tạo môi trường kinhdoanh tốt hơn Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng thông qua việc tăng cườngcác thủ tục trực tuyến trong hoạt động dân sự và chính phủ Tạo ra môi trườngcộng tác điện tử, kết nối chính phủ toàn diện tăng cường tính tích hợp trongcung cấp dịch vụ hành chính công, xây dựng nền tảng đồng nhất về hạ tầngứng dụng, chia sẻ về dữ liệu và các quy trình nghiệp vụ Phát triển rộng rãi sốlượng các dịch vụ ra bên ngoài cho cộng đồng trong khi cố gắng thu gọn và biếncác quy trình nghiệp vụ hỗ trợ phía sau trở nên thông minh hơn
Trang 14e) Ban hành tiêu chuẩn về CNTT thúc đẩy tương tác liên thông, côngnghệ được chuẩn hóa, thông tin được cấu trúc và lưu thống nhất, qua đó hìnhthành một môi trường tích hợp các thành phần dữ liệu, hệ thống và tiến trìnhtrong các cơ quan khác nhau có thể nói chuyện với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, loạitrừ các thành phần trùng lặp.
f) Đầu tư mạnh mẽ vào xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao, cóchính sách đãi ngộ phù hợp, xây dựng hạ tầng viễn thông tiên tiến kết nối đầy
đủ giữa các cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp, cung cấp cácdịch vụ dùng chung cho phép tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và nguồn lực chínhphủ
g) Đảm bảo an toàn thông tin, bảo vệ tính riêng tư và nâng cao độ tin cậydịch vụ Xây dựng những giải pháp có tính pháp lý, giảm thiểu lo ngại về thiếutính minh bạch trong việc sử dụng và trao đổi thông tin cá nhân trên các trangthông tin điện tử, theo dõi và quản lý hoạt động của người sử dụng trên trangthông tin điện tử cũng như lo ngại về thất thoát dữ liệu, tính an toàn thông tintrên môi trường Internet
(Tham khảo nguồn từ website của cục ứng dụng CNTT Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam)
III Kinh nghiệm triển khai CPĐT ở một số nước
Theo kết quả đánh giá khảo sát chính phủ điện tử của Liên Hợp quốcnăm 2012: Hàn Quốc đứng thứ 1, Singapore đứng thứ 10, Úc đứng thứ 12.Phần dưới đây sơ lược các đặc điểm và kinh nghiệm triển khai của các quốc giatrên
1 Hàn Quốc
Hàn Quốc là một thành công điển hình trong xây dựng Chính phủ điện tửtheo mô hình “từ trên xuống” Vai trò của Chính phủ là then chốt trong mô hìnhnày Chính phủ đã thể hiện sự sáng tạo trong phát triển minh bạch và hiệu quảcác dịch vụ công Chính phủ cũng giữ vai trò là “nhà đầu tư” ban đầu, sau đóngười dân sẽ tự phát triển
Hai yếu tố cốt lõi tạo nên thành công của CPĐT của Hàn Quốc chính làviệc xây dựng các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và hạ tầng mạng CNTT tốc
độ cao
CPĐT của Hàn Quốc phát triển theo 3 giai đoạn: tin học hóa đơn giản;hình thành các mạng địa phương; và xây dựng hệ thống mạng liên cơ quan
Từ năm 1987 đến năm 1996, Hàn Quốc đặt mục tiêu xây dựng 6 cơ sở
dữ liệu quốc gia: hồ sơ công dân, đất đai, phương tiện, việc làm, thông quanđiện tử và cơ sở dữ liệu thống kê về kinh tế Các hệ thống cơ sở dữ liệu này
Trang 15được kết nối với các cơ quan quản lý liên quan trên phạm vi toàn quốc và có thểcung cấp dịch vụ trực tuyến cho người dân
Để thúc đẩy việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan công quyền và khaithác hiệu quả các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cần phải xây dựng một hạtầng CNTT tốc độ cao Từ năm 1995 - 2005, Hàn Quốc đã đặt kế hoạch xâydựng 3 hệ thống mạng tốc độ cao: mạng quốc gia tốc độ cao, mạng công cộngtốc độ cao và mạng nghiên cứu tốc độ cao Trong đó, mạng quốc gia tốc độ cao
là yếu tố then chốt với CPĐT của Hàn Quốc Mạng này được xây dựng bằngngân sách chính phủ dành cho các cơ quan công quyền, các viện nghiên cứu vàcác trường học truy cập với mức giá thấp
Hướng tới xây dựng CPĐT phải xây dựng hạ tầng tốt, nâng cao hiệu quả
và tính minh bạch của hệ thống dịch vụ công, và đặc biệt là phải hỗ trợ pháttriển công dân điện tử Kinh nghiệm thực tiễn của Hàn Quốc trong vấn đề này làChính phủ đã chú trọng đào tạo 10 triệu công dân trên tổng dân số 48 triệu dân
sử dụng thông thạo CNTT với mục đích kích thích nhu cầu sử dụng công nghệcao trong công dân
2 Singapore
Singapore bắt đầu nghiên cứu về CPĐT từ khoảng giữa thập niên 1980
và bắt đầu triển khai chương trình này một cách bài bản từ đầu thập niên 1990.Sau 20 năm triển khai, Singapore đã đạt được những kết quả quan trọng vềCPĐT
Cũng giống như ở Việt Nam, ở Singapore vào thời gian đầu triển khai rấtnhiều người nghĩ rằng việc triển khai CPĐT tập trung chính vào việc xây dựngcác cổng điện tử (portal), tự động hóa các quy trình quản lý, cung cấp dịch vụcông trực tuyến 24/7 Vì vậy, khi bắt tay vào triển khai họ lập tức tiến hànhkhảo sát, thu thập thông tin rồi tập trung vào thiết kế, lập trình, trang bị máy mócthiết bị, đào tạo Nhưng thật sự, đó là sự nhầm lẫn vì tựu trung lại đó là cácvấn đề kỹ thuật - một thành phần rất nhỏ, thứ yếu của CPĐT
Ngay sau khi nhận ra sai lầm đó, Chính phủ
Singapore khẳng định, muốn triển khai thành công
CPĐT thì trước tiên phải xác định thật rõ mục tiêu
cần phải đạt được, những việc cần làm, các nguồn
lực cần huy động, kế hoạch và lộ trình thực hiện
rồi đặt tất cả trong một tổng thể chung Nói cách
khác, cần xây dựng tốt kế hoạch tổng thể CPĐT
(e-government masterplan) Kế hoạch tổng thể này chỉ
có thể xây dựng tốt khi dựa trên 5 nguyên tắc sau
đây:
Nguyên tắc 1: CPĐT là cơ chế thực hiện các hoạt động nghiệp vụ của
CP trên nền CNTT-TT (ICT) Điều này có nghĩa là các hoạt động nghiệp vụ củacác cơ quan CP là chủ thể dẫn quá trình tự động hóa dựa trên ICT (business
Trang 16driven, ICT enabled) Nói cụ thể hơn là những quy trình xử lý công việc của các
cơ quan quản lý nhà nước nhằm cung cấp các dịch vụ công đến người dân làđối tượng tin học hóa chủ yếu theo suốt quá trình phát triển của chúng
Nguyên tắc 2: CPĐT chỉ có thể thành công khi mục tiêu và tầm nhìn
chung phải được thống nhất từ cấp cao nhất của quốc gia đến cấp thừa hànhthấp nhất Nói cách khác, nhận thức về CPĐT phải nhất quán, rộng khắp và nhưnhau trong toàn bộ bộ máy (người Singapore gọi nguyên tắc này là nguyên tắc
"đồng hàng – aligned government")
Nguyên tắc 3: Nguyên tắc "đồng hàng" dẫn đến yêu cầu chia sẻ thông tin
và tích hợp các quá trình quản lý giữa các bộ, ngành, các cơ quan của chínhphủ Nói cách khác, CPĐT phải là CP tích hợp (integrated government)
Nguyên tắc 4: Cơ cấu của CP cần được điều hướng đến việc cung cấp
các dịch vụ theo nhu cầu của người dân một cách đơn giản và hiệu quả Ngườidân tiếp xúc với CP thông qua một giao diện đơn giản nhưng đồng thời tiếp xúcđược với nhiều cơ quan và quá trình tham gia phục vụ Nói cách khác, CPĐT là
CP hướng đến người dân, người dân là trung tâm (citizen-centric)
Nguyên tắc 5: CP cần ra được những quyết định kịp thời và hiệu quả
trong mọi tình huống Điều này có thể thực hiện khi tất cả những kinh nghiệm vàtri thức tích tụ trong toàn bộ bộ máy được tổ chức khai thác tốt Nói cách khác,CPĐT là CP dựa trên nền tảng tri thức (knowledge-based)
Tháng 11/2002, Chính phủ Úc giao cho một uỷ ban mới thành lập là Uỷban chiến lược quản lý thông tin (IMSC) với sự hỗ trợ của Uỷ ban CIO lập Chiếnlược phát triển Chính phủ điện tử quốc gia, trong đó đã đề ra một số mục tiêuquan trọng sau:
Đầu tư cho sự phát triển một Chính phủ điện tử hiệu quả là một vấn đềhết sức quan trọng đối Úc Nhưng phải đầu tư như thế nào để đạt kết quảtốt nhất lại càng quan trọng hơn bởi kết quả đầu tư sẽ là nền tảng quantrọng cho Chính phủ trong việc cải thiện hoạt động của Chính phủ, cảithiện quá trình hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ và thông tin Dovậy phải cơ cấu lại bộ máy hành chính nhà nước, áp dụng công nghệ mớitrong quá trình cải cách, phải lập và quản lý dự án đảm bảo đạt được kếtquả toàn diện
Trang 17 Đảm bảo tính thuận tiện khi truy cập thông tin và dịch vụ Chính phủ:
Chính phủ điện tử có thể giúp công dân và doanh nghiệp làm việc vớiChính phủ để giải quyết hàng loạt các vấn đề bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu
mà không cần phải biết là cơ quan nào của Chính phủ đang cung cấpdịch vụ mà họ yêu cầu Người dân không còn phải đứng xếp hàng hànggiờ bên ngoài trụ sở của cơ quan Chính phủ để được gặp các quan chức
có trách nhiệm và sau đó phải chờ đợi điện thoại trả lời yêu cầu của mìnhhàng tuần hay thậm chí hàng tháng
Mặc dù chúng ta luôn nói công nghệ trong thời đại Chính phủ điện tửđóng vai trò rất quan trọng nhưng công nghệ không quyết định loại dịch
vụ mà Chính phủ cung cấp Ngược lại, áp dụng công nghệ để quản lýthông tin và hoạt động kinh doanh mới là phương tiện để làm cho dịch vụcủa Chính phủ đáp ứng được ước muốn và nhu cầu của công dân
Thật không thuận tiện cho các cá nhân và doanh nghiệp khi phải thựchiện nhiều giao dịch riêng lẻ với Chính phủ để đạt được một mục tiêu duynhất Để hạn chế nhược điểm này, Chính phủ Úc sẽ áp dụng biện phápphân các dịch vụ liên quan đến nhau thành từng nhóm, từ đó các dịch vụliên quan đến nhau có thể được thực hiện thông qua một giao dịch duynhất
Chính phủ có thể sử dụng Internet để tăng tính minh bạch trong các hoạtđộng của Chính phủ và tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn với công chúng.Khi mọi người ngày càng quen với việc tìm kiếm thông tin và sử dụng dịch
vụ công trên mạng thì họ lại càng mong chờ một mối liên hệ ở cấp độ caohơn với Chính phủ Điều này lại càng đem lại nhiều lợi ích cho Chính phủkhi mà công chúng ngày càng quan tâm tới hoạt động của Chính phủ.Tính minh bạch và lòng tin của công chúng vào Chính phủ ngày càngđược củng cố khi những ý kiến của công chúng được quan tâm để ý trongquá trình hoạch định chính sách của Chính phủ
IV Tình hình triển khai Chính quyền điện tử tại một số địa phương
1 Tình hình ứng dụng CNTT tại các tỉnh/thành phố
Trong những năm qua, thực hiện Luật Công nghệ thông tin, các nghị định,quyết định, của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông cácđịa phương trên cả nước đã chủ động triển khai các nội dung ứng dụng công
Trang 18nghệ thông tin, tạo tiền đề cho phát triển chính quyền điện tử Kết quả điều tra,khảo sát của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy:
Tỉ lệ trung bình máy tính/cán bộ của các địa phương trên toàn quốc là đạt64.0%, tỉ lệ máy tính kết nối Internet trung bình là 85.9% Số liệu thống kê chothấy vẫn còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn về hạ tầng máy tính và kết nối mạnggiữa các địa phương trên cả nước
Về trang bị máy tính, hiện có 38.1% các tỉnh, thành phố có tỉ lệ máytính/cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) đạt trên 80% (khoảng mỗi người
có 1 máy tính), 39.7% tỉnh thành có tỉ lệ máy tính/CBCCVC trong khoảng từ50%-80% (khoảng 2 người có 1 máy tính), 22.2% tỉnh thành có tỉ lệ máytính/CBCCVC đạt dưới 50%
Về kết nối mạng, hiện có 71.4% tỉnh, thành phố có tỉ lệ máy tính kết nốiInternet trong các cơ quan nhà nước ở mức trên 80%, 25.4% tỉnh thành có tỉ lệmáy tính kết nối ở mức 50%-80%, 3.2% tỉnh thành có tỉ lệ kết nối dưới 60%.Các địa phương đã xây dựng được hệ thống mạng kết nối tới 100% các máytính là Hà Nội, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Hải Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, KiênGiang, Lào Cai, Lâm Đồng, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Bình, Thái Nguyên
Dự án Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhànước được thành lập theo văn bản số 28/CP-CN (ngày 19/02/2004) với mụcđích liên kết mạng nội bộ của các cơ quan Đảng, Nhà nước Dự án đã triển khaixong mặt mạng lõi, thiết lập mới 03 đường kết nối tốc độ 622 Mbps giữa cácTrung tâm vùng (tại Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh), dự phòng bằng luồng tốc
độ 155Mbps Dự án đã đầu tư và triển khai lắp đặt Card điều khiển Router tại tất
cả các tỉnh, thành đảm bảo việc dự phòng 1+1; hoàn thành việc nâng cấp tốc độkết nối từ 2Mbps lên 155Mbps đến 12 tỉnh, thành trọng điểm; nâng cấp các tỉnhcòn lại từ 2Mbps lên 6Mbps Hiện tại, Dự án đã hoàn thành giai đoạn 2 lắp đặtthiết bị cho tất cả các quận, huyện, sở, ban, ngành tại 63 tỉnh, thành phố vớitổng số điểm thực tế là 3476 điểm (dự kiến trong giai đoạn 2 là 3667 điểm)
Tại các địa phương, mạng truyền số liệu chuyên dùng đang là một công
cụ quan trọng để Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND chỉ đạo và nắm bắt thông tin mộtcách nhanh chóng từ các quận, huyện, sở, ban, ngành Sở Thông tin và Truyềnthông các địa phương đã kết hợp với viễn thông các tỉnh, thành phố thực hiệnkhai trương chính thức mạng truyền số liệu chuyên dùng tại địa phương, khẳngđịnh một giai đoạn mới của quá trình tin học hóa hoạt động điều hành của các
cơ quan Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
Về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nướctại địa phương:
Trang 19- Ứng dụng thư điện tử và điều hành công việc qua mạng tại các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương: Tỉ lệ trung bình cán bộ, công chức các tỉnh,thành phố được cấp hộp thư điện tử là 75% Tỉ lệ trung bình cán bộ, công chứcthường xuyên sử dụng thư điện tử cho công việc là 62% Địa phương có tỉ lệcán bộ, công chức được cấp thư điện tử cao nhất là 100%, địa phương có tỉ lệthấp nhất là 20% Một số đơn vị điển hình trong trao đổi nhiều văn bản qua hệthống thư điện tử như: An Giang, Bắc Giang, Thái Nguyên, Yên Bái, Đồng Tháp,Ninh Thuận, Thanh Hóa Về ứng dụng công nghệ thông tin để tin học hóa hoạtđộng chỉ đạo, điều hành công việc trong cơ quan nhà nước tại các tỉnh, thànhphố: 90% các tỉnh, thành phố đã đưa thông tin chỉ đạo, điều hành trên môitrường mạng Internet, trong đó 59% các tỉnh thành đã đưa thông tin chỉ đạo điềuhành trên môi trường mạng Internet đạt mức từ 80% trở lên, mức độ chênh lệnhgiữa các địa phương không đáng kể Tuy nhiên, mức chênh lệch giữa các địaphương về tỉ lệ văn bản được chuyển hoàn toàn trên môi trường mạng và tỉ lệthực hiện các cuộc họp trực tuyến là khá cao Tỉ lệ trung bình văn bản đi/đếnđược chuyển hoàn toàn trên môi trường mạng ở các tỉnh, thành phố đạt 30.5%,địa phương cao nhất đạt mức 100%, địa phương thấp nhất chỉ đạt 0.2% Tỉ lệtrung bình các cuộc họp trực tuyến trên tổng số các cuộc họp diện rộng đượcthực hiện ước khoảng 42.1% (có địa phương đạt mức 100%, có địa phương chỉđạt mức 5%).
- Về cung cấp thông tin trên Trang/Cổng thông tin điện tử của cơ quannhà nước tại địa phương: Hiện nay, việc cung cấp thông tin trên Trang/Cổngthông tin điện tử của các cơ quan nhà nước tại địa phương đã được cải thiện rõrệt, các mục thông tin được cung cấp đầy đủ và được cập nhật kịp thời theođúng quy định Các địa phương đã bắt đầu kiện toàn tổ chức Ban Biên tập choTrang/Cổng thông tin điện tử
- Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại các địa phương: Đến năm 2011,phần lớn các địa phương đã có cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,mức độ 4: Có 43 địa phương đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4với số lượng dịch vụ là 837, trong đó số dịch vụ công mức độ 4 là 8 (TP Hồ ChíMinh 4, TP Đà Nẵng 4), địa phương cung cấp nhiều nhất là các tỉnh An Giang(139 dịch vụ) và TP Đà Nẵng (90 dịch vụ)
Trang 20Biểu đồ tăng trưởng số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 tại
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
2 Một số điển hình triển khai Chính quyền điện tử
Trong số các địa phương triển khai tích cực ứng dụng CNTT có một sốđơn vị đã bước đầu xây dựng và hình thành mô hình chính quyền điện tử cấptỉnh, trước tiên có thể kể tới thành phố Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, và một số tỉnhkhác, các địa phương này đã chủ động xây dựng và phê duyệt mô hình chínhquyền điện tử thống nhất trong toàn tỉnh/thành phố nhằm quy hoạch nhóm cácứng dụng nghiệp vụ cho từng ngành, cũng như nhóm các ứng dụng, dịch vụ kỹthuật cơ bản, dùng chung cho toàn bộ hệ thống chính quyền điện tử, phục vụkết nối liên thông cho các ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhànước trên địa bàn tỉnh/thành phố
Được khởi động từ đầu những năm 2000 và được sự tài trợ của Ngânhàng thế giới cho Dự án Phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông ĐàNẵng, việc xây dựng Chính quyền điện tử Thành phố Đà Nẵng đã có sự pháttriển từng bước, ổn định, có ưu tiên và đạt được những kết quả bước đầu quantrọng so với mô hình Chính phủ điện tử
Về hạ tầng: Thành phố đã đầu tư xây dựng riêng mạng cáp quang đếntận cấp xã (mạng MAN) với 97 điểm kết nối; 100% các cơ quan nhà nước đượcđầu tư thiết bị đầu cuối và kết nối mạng MAN, xây dựng trung tâm tích hợp dữliệu của Thành phố;
Về nguồn nhân lực: Với lợi thế sẵn có của Đà Nẵng là Thành phố trựcthuộc Trung ương, là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của Miền Trung, đa sốdân thành thị (82,37%), dân trí cao, đồng đều, đồng thời Thành phố đã cónhững chính sách ưu việt, phù hợp để thu hút, đãi ngộ đã tạo thuận lợi trongviệc phát triển nguồn nhân lực CNTT-TT: Tại các cơ quan nhà nước: 100% đơn
vị có ít nhất 2 biên chế chuyên trách về CNTT; 100% Lãnh đạo được đào tạo
Trang 21CIO; Trên 95% CBCCVC tác nghiệp trên hệ thống; 100% CBCCVC được đàotạo và đào tạo lại thường xuyên về CNTT.
Về Ứng dụng CNTT: Hệ thống một cửa điện tử được đưa vào áp dụng từngày 03/9/2011 tại 56/56 xã, phường, thị trấn và 07 quận, huyện trên địa bàn;Phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc, hệ thống thư điện tử được triểnkhai đến tất cả các sở, ban, ngành và địa phương
Thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa phương chủ động xây dựng cấu trúcthông tin tổng thể cho hệ thống cổng thông tin điện tử của toàn thành phố, baogồm trang thông điện tử của thành phố và các trang thông tin điện tử của các
sở, ngành và quận, huyện thống nhất, trên cùng một nền tảng công nghệ, tạokhả năng kết nối liên thông giữa cổng thông tin điện tử với các ứng dụng, trướcmắt tập trung vào hệ thống một cửa điện tử của các sở, quận, huyện Nhờ đó,cùng với Đà Nẵng, Lào Cai, hệ thống cổng thông tin điện tử cấp tỉnh dễ dàngduy trì, nâng cấp, mở rộng và nhanh chóng công khai, cung cấp thông tin về tìnhtrạng xử lý, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệptrên phạm vi toàn thành phố
Với quan điểm triển khai đến đâu hiệu quả đến đó", thành phố Hồ ChíMinh đang tiếp tục thí điểm và mở rộng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin
"loang" theo cấu trúc thông tin để hướng tới phục vụ tốt hơn cho người dân vàdoanh nghiệp Bằng cách này, giúp thành phố định hình lộ trình xây dựng từ hạtầng, nguồn nhân lực, cơ chế chính sách và từng bước hoàn thiện hệ thống ứngdụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh cũng là đơn vị tiên phong trong triểnkhai chữ ký số ứng dụng vào hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc đểđảm bảo an toàn, bảo mật trong việc trao đổi văn bản hành chính giữa các cơquan; ứng dụng công nghệ sinh trắc học (nhận dạng vân tay) vào quy trình giảiquyết các thủ tục hành chính
3 Một số vấn đề còn tồn tại và thách thức trong việc triển khai chính quyền điện tử tại điạ phương
đàn trao đổi về xây dựng và phát triển chính quyền điện tử, kết hợp với nhữngvăn bản quy định về cơ chế, chính sách hiện hành cho việc xây dựng và pháttriển hính quyền điện tử của địa phương và dựa trên tình hình, điều kiện thực tế,nhóm nghiên cứu đã tổng hợp một số các vấn đề tồn tại và thách thức đối vớiđịa phương trong việc triển khai chính quyền điện tử như sau:
a) Về cơ chế, chính sách:
Tính đến thời điểm hiện tại mới chỉ có các văn bản chính sách quy định vềứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước được phêduyệt bằng các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong đó bao gồm các
Trang 22quy định cho ứng dụng công nghệ thông tin của cả các cơ quan nhà nước ởTrung ương và địa phương Nội dung mới chỉ tập trung quy định về ứng dụngcông nghệ thông trong hoạt động của cơ quan nhà nước, ở đây có thể đượchiểu là các ứng dụng nội bộ và một số ứng dụng được triển khai để phục vụngười dân và doanh nghiệp Các kế hoạch, chương trình ứng dụng công nghệthông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước mới chỉ dừng lại ở việc đưa ramột số mục tiêu chung cho từng khoảng thời gian hay cho giai đoạn ngắn hạn
mà chưa đưa ra được một chiến lược để phát triển chính quyền điện tử mộtcách lâu dài và bền vững Qua nghiên cứu về chính quyền điện tử của một sốnước trên thế giới cho thấy việc triển khai chính quyền điện tử ở địa phươngkhông chỉ bao gồm việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ của cơ quanchính quyền địa phương mà bao gồm nhiều khía cạnh khác như chính sáchphát triển hạ tầng công nghệ thông tin để sử dụng trong cả cơ quan chính quyền
và công dân hay thậm chí bao gồm cả những chính sách cho thương mại điện
tử của địa phương Như vậy, về mặt cơ chế, chính sách, vẫn cần thiết phải cómột văn bản quy định riêng cho chiến lược phát triển chính quyền điện tử tại địaphương trong đó phải bao hàm toàn bộ các khía cạnh và các lĩnh vực có liênquan để triển khai chính quyền điện tử cho địa phương
Lãnh đạo công nghệ thông tin tại các địa phương còn quá nhiều bất cập,hầu hết được điều chuyển từ ngành khác và chưa có kiến thức, kinh nghiệmquản lý trong lĩnh vực này Hầu hết lãnh đạo của Sở Thông tin và Truyền thông
ở các tỉnh đều gặp rất nhiều khó khăn trong công tác hoạch định chiến lược vàchính sách phát triển công nghệ thông tin tại địa phương Vì vậy hầu hết các dự
án công nghệ thông tin của các sở, ban, ngành đều nhờ vào chuyên môn củacác đơn vị tư vấn bên ngoài Kết quả là rất nhiều dự án được phê duyệt vớingân sách không nhỏ nhưng hiệu quả đạt được rất khiêm tốn hoặc không thểtriển khai được
c) Sự đồng bộ trong việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại địa phương:
Cho đến nay, một số địa phương như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng
và Đồng Nai đã có những thành công bước đầu trong triển khai hệ thống quản
Trang 23lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng nhờ vào việc xây dựng và banhành các quy chế thực hiện gửi nhận văn bản trên mạng giữa các cơ quan quản
lý nhà nước Sự đồng thuận giữa các sở, ban, ngành trong việc thực hiện cácquy trình hành chính điện tử sẽ đảm bảo tính pháp lý và là nền tảng cho việcxây dựng các ứng dụng của chính quyền điện tử tại địa phương
Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin ở một số tỉnh vẫn còn thiếu sựđồng bộ Việc các sở, ban, ngành cùng triển khai các ứng dụng công nghệthông tin nhưng thiếu một quy hoạch chung sẽ dẫn đến việc phát triển vì lợi íchcục bộ và lãng phí Việc phát triển các cơ sở dữ liệu như cơ sở dữ liệu dân cư
do ngành công an quản lý, cơ sở dữ liệu công chức do ngành nội vụ quản lýkhông có tính liên thông và chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu đất đai do ngành tàinguyên môi trường xây dựng đã làm lãng phí khá nhiều ngân sách trong việcthu thập dữ liệu và sự không đồng bộ trên các nền dữ liệu
d) Về đầu tư, phân bổ ngân sách cho ứng dụng công nghệ thông tin tại địa phương
Việc đầu tư ngân sách cho các dự án công nghệ thông tin ở địa phươnghiện nay còn thiếu trọng điểm và chưa xác định ưu tiên Quy trình đăng ký ngânsách cho các dự án công nghệ thông tin đều do các sở, ban, ngành chủ độngđăng ký trước với UBND tỉnh Ngân sách dự án được các địa phương phê duyệthầu hết chỉ dựa trên đề nghị của sở/ngành Hầu hết các địa phương đều trôngchờ hướng dẫn thực hiện các quy hoạch, kiến trúc hạ tầng công nghệ thông tincấp tỉnh từ Bộ Thông tin và Truyền thông
4 Bài học kinh nghiệm
Có thể nói ứng dụng CNTT thành công tại các địa phương trên đều có sựđiều hành trực tiếp của lãnh đạo địa phương và nỗ lực xây dựng, triển khai củacác đơn vị chuyên trách về CNTT Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trìnhứng dụng CNTT của thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh
là những kinh nghiệm quý để các địa phương khác học theo
Một là: Lãnh đạo phải có quyết tâm chính trị và tạo được sự đồng thuậncao, sự phối hợp, tham gia của các cấp, ngành, đơn vị liên quan phải thực sựtích cực
Hai là: Ngay từ đầu, phải tập trung xây dựng mô hình chính quyền điện tửhay cấu trúc thông tin, phải lấy yêu cầu và kết quả cải cách thủ tục hành chínhlàm thước đo mức độ hiệu quả của ứng dụng CNTT, giúp cơ quan nhà nướcnhanh chóng hình thành danh mục, lộ trình đầu tư và cách thức theo dõi, đánhgiá mức độ sẵn sàng về chính quyền, cơ quan điện tử trong việc phục vụ ngườidân, doanh nghiệp
Trang 24Ba là: Đào tạo và phát triển nhân lực CNTT cả về quản lý, triển khai, ứngdụng là khâu quan trọng đảm bảo sự thành công của Chính quyền điện tử.Đồng thời, phải tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức đến toàn thể cán bộ,công chức, doanh nghiệp và người dân.
Bốn là: Phát triển hạ tầng CNTT-TT phải hiện đại và đi trước một bước,
do đó phải quan tâm đến các dự án đầu tư về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng thông tin
và nền tảng phát triển, triển khai ứng dụng, cơ sở dữ liệu
Năm là, Đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT phải có lộ trình thíchhợp và phải huy động được mọi nguồn lực; Triển khai ứng dụng CNTT trongphạm vi nội bộ của cơ quan nhà nước cũng phải tuân thủ nguyên tắc thí điểmtrước, sau đó đánh giá, xem xét và rút kinh nghiệm mở rộng
Sáu là, đối với các dự án đầu tư hệ thống thông tin có phạm vi triển khairộng, quy mô đầu tư lớn, độ phức tạp cao, các chủ đầu tư cần quan tâm: Điềutra, khảo sát tình hình, kinh nghiệm triển khai trong và ngoài nước để học tập,rút kinh nghiệm Tuy nhiên, không vì thế mà không triển khai các hệ thống thôngtin trọng điểm, chưa ở đâu triển khai, có thể lựa chọn cách làm như bài học sốnăm nêu trên Nghiên cứu, đề xuất và trình người có thẩm quyền ban hành các
cơ chế, chính sách liên quan để đảm bảo tính khả thi trong quá trình xây dựng,triển khai và tính hiệu quả khi đưa hệ thống thông tin vào khai thác, sử dụng Đềxuất cơ chế, chính sách này phải thực hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tưcủa dự án
(Trích nguồn từ báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông)
V Mô hình thành phần chính quyền điện tử cấp tỉnh
Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế về một mô hình chính phủ điện tử làmđịnh hướng chung cho các tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương trong pháttriển chính quyền điện tử Ngày 06/02/2012 Bộ Thông tin và Truyền thông banhành hướng dẫn về Mô hình thành phần chính quyền điện tử cấp tỉnh
Mô hình của chính quyền điện tử bao gồm các thành phần chính: Người
sử dụng; Kênh truy cập; Giao diện với người sử dụng; Các dịch vụ công trựctuyến, các ứng dụng nghiệp vụ; Lớp tích hợp; Các dịch vụ dùng chung; Cơ sở
dữ liệu; Cơ sở hạ tầng; Phần quản lý, các nội dung hỗ trợ tất cả các thành phầntrên
Trong đó, những người sử dụng dịch vụ do các cơ quan chính phủ cungcấp gồm người dân, doanh nghiệp, các cán bộ công chức, viên chức nhà nước.Người sử dụng sẽ truy cập thông tin, dịch vụ mà chính phủ cung cấp thông quacác kênh truy cập, như: trang thông tin điện tử/ cổng thông tin điện tử (website/portal), thư điện tử (email), điện thoại (cố định hoặc di động), fax hoặc đến trựctiếp gặp các cơ quan chính phủ
Trang 25Để đảm bảo người sử dụng là trung tâm, giao diện với người sử dụng sẽcung cấp các khả năng liên quan trực tiếp đến quản lý người sử dụng dịch vụ(bên trong và bên ngoài), các nghiệp vụ tương tác với người sử dụng dịch vụ,nằm ở phía ngoài của một nghiệp vụ và là giao diện với nhiều đối tượng sửdụng dịch vụ Đây cũng là thành phần bảo đảm sự thông suốt cho người sửdụng trong việc sử dụng đa kênh truy cập.
Các dịch vụ công trực tuyến, các ứng dụng nghiệp vụ là thành phần cơbản của mô hình, bao gồm: các dịch vụ hành chính công và các dịch vụ kháccủa cơ quan nhà nước cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng; cácứng dụng phục vụ tác nghiệp của các cán bộ công chức, viên chức trong cơquan chính phủ; các ứng dụng cung cấp khả năng hỗ trợ việc quản lý hiệu quả(tài chính, nhân sự, tài sản, tài nguyên số, truyền thông, cộng tác); các ứngdụng liên cơ quan (quản lý văn bản và điều hành); các ứng dụng cho cán bộ(đào tạo từ xa, cung cấp thông tin, quản lý tri thức)
Mô hình chính quyền điện tử cũng yêu cầu cung cấp khả năng tích hợpcác ứng dụng và dịch vụ nói chung, nhằm tạo ra các dịch vụ tích hợp nhưngkhông phá vỡ cấu trúc, gián đoạn hoạt động của các ứng dụng/ dịch vụ đanghoạt động Yêu cầu đó được đảm bảo thông qua lớp tích hợp, tạo cơ sở chonhiều ứng dụng/ dịch vụ khác nhau có thể giao tiếp với nhau một cách thôngsuốt trong một môi trường không thuần nhất về nền tảng phát triển các ứngdụng và dịch vụ
Mô hình được xây dựng còn coi trọng các dịch vụ dùng chung như: dịch
vụ thư mục, dịch vụ định danh, xác thực, phân quyền truy cập Việc triển khaithành công các dịch vụ này sẽ góp phần tránh lãng phí, đầu tư trùng lặp, nângcao khả năng kết nối của các hệ thống khi sử dụng chung các dịch vụ cơ bản
Thành phần cơ sở dữ liệu trong mô hình không tồn tại độc lập mà phục vụcho các chương trình ứng dụng Cơ sở hạ tầng đảm bảo cung cấp phương tiện,nền tảng phục vụ người sử dụng và các ứng dụng, cụ thể là: trang thiết bị ngườidùng cuối (máy tính, thiết bị hỗ trợ cá nhân), hệ thống mạng, nền tảng, máy chủ,
hệ thống an ninh, bảo mật
Phần quản lý, các nội dung hỗ trợ tất cả các thành phần trên là các yếu tố phục
vụ chung, hỗ trợ, tác động, duy trì, bao gồm: Chính sách về an toàn, bảo mật thông tin; Tiêu chuẩn kỹ thuật; Quy định, quy chế; Tổ chức và điều hành; Truyềnthông và đào tạo
Trang 26PHẦN III: TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỈNH QUẢNG NINH
I Hạ tầng thiết bị, mạng cục bộ tại các đơn vị
Hạ tầng thiết bị, mạng LAN tại các đơn vị tỉnh Quảng Ninh đến nay cơ bản
đã đáp ứng được cho việc triển khai các hệ thống thông tin phục vụ hoạt động,chỉ đạo điều hành và cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanhnghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai chính quyền điện tử
- 100% sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các cơ quanđảng cấp tỉnh, cấp huyện có mạng nội bộ LAN kết nối Internet Trong đó 14 đơn
vị được đầu tư nâng cấp trong năm 2010-2011, tỷ lệ máy tính/số lượng cán bộcông chức cần sử dụng máy tính là 92% Như vậy nhu cầu đầu tư nâng cấpmạng LAN vào năm 2012 - 2014 là 10 đơn vị (chiếm 20%), đầu tư thêm khoảng
500 bộ máy tính (phục vụ nhu cầu công việc của CBCC và thay thế những máytính đã cũ, cấu hình thấp)
- Đối với cấp xã, qua khảo sát 125 xã thuộc chương trình nông thôn mớicó: 35/125 xã có mạng LAN, chiếm tỷ lệ 28%, 107/125 xã có Internet 100% cácphường, thị trấn (61 đơn vị) đều có mạng LAN kết nối Internet Tuy nhiên cácmạng LAN này đều đầu tư nhỏ lẻ, chưa đồng bộ, cần nâng cấp Tổng số cókhoảng có khoảng 1.836 bộ máy tính tại 186 xã, phường, thị trấn Như vậy trongthời gian tới cần xây dựng mới 90 mạng LAN cho các xã, nâng cấp mạng LANcho các xã, phường, thị trấn còn lại; đầu tư thêm khoảng 1.000 máy tính choUBND cấp xã (phục vụ nhu cầu công việc của CBCC và thay thế những máytính đã cũ, cấu hình thấp)
- Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến của tỉnh hoạt động ổn định, baogồm 49 điểm kết nối từ Văn phòng UBND tỉnh xuống các huyện, thị xã, thànhphố và xuống đến một số xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, công nghệ sử dụng
SD, thiết bị cấu hình thấp do đó chất lượng phục vụ các cuộc họp chưa cao.Năm 2011 Tỉnh triển khai thêm 23 điểm tại các xã của UBND Thành phố Uông
Bí và UBND huyện Tiên Yên và 01 điểm tại Sở Thông tin và Truyền thông vớichất lượng HD và công nghệ hiện đại, nâng tổng số điểm hội nghị truyền hìnhcủa tỉnh nên 73 Trong thời gian tới để phục vụ công tác chỉ đạo điều hànhnhanh chóng, hiệu quả và chất lượng cao hơn yêu cầu phải nâng cấp 49 điểmcầu đã có, đầu tư thêm khoảng 57 điểm cầu tại các xã, phường, thị trấn, trong
đó trung bình 02 xã (gần nhau về địa lý) sẽ sử dụng chung 1 điểm cầu, nhằmtăng hiệu quả đầu tư, tiết kiệm chi phí
II Mạng diện rộng trên địa bàn tỉnh
Đến nay Tỉnh chưa đầu tư xây dựng hệ thống mạng WAN để kết nối cácđơn vị trong tỉnh Tuy nhiên theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Thông tin và
Trang 27chuyên dùng (TSLCD) của các cơ quan Đảng, nhà nước kết nối liên thông giữacác Sở, ban, ngành, các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan khối đảng tỉnhQuảng Ninh, tổng số 70 điểm được kết nối, trong đó có 58/58 đơn vị thuộcphạm vị của Đề án Chủ trương của Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông
sẽ sử dụng mạng TSLCD để kết nối mạng WAN và được quy định tại Thông tư
số 23/2011/TT-BTTTT ngày 11/8/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông Đốivới cấp xã, mạng TSLCD sẽ triển khai hệ thống cáp quang đến tận trụ sở UBNDtrong giai đoạn 2012-2015, hiện nay hệ thống cáp quang của các doanh nghiệpviễn thông trên địa bàn Tỉnh đã triển khai đến các xã, phường, thị trấn (Trừ cácnơi có địa hình phức tạp, đảo xa Hiện nay còn 4 xã chưa có cáp quang) Nhưvậy trong thời gian tới để triển khai chính quyền điện tử sẽ phải hoàn thiệnmạng WAN của Tỉnh trên cơ sở mạng TSLCD và mạng truyền dẫn hiện có củaTỉnh
III Trung tâm dữ liệu tỉnh
Trung tâm dữ liệu của Tỉnh đã được đầu tư nâng cấp năm 2009 và đặt tạitầng 17 của Trụ sở Liên cơ quan số 2 Hiện nay Trung tâm có: 07 máy chủđược cài đặt các dịch vụ cơ bản, Hệ thống tường lửa; Hệ thống giám sát mạng
và thiết bị mạng; Hệ thống chuyển mạch, chia mạng thành các phân đoạn mạng(VLAN); Hệ thống lưu trữ (SAN); Hệ thống lưu điện (UPS)
Trung tâm dữ liệu tỉnh đã cơ bản đảm bảo cho các thiết bị, các hệ thốngthông tin được cài đặt hoạt động ổn định với quy mô nhỏ Tuy nhiên, với môhình chính quyền điện tử chuẩn bị triển khai thì Trung tâm cần được nâng cấpthành Data Center theo tiêu chuẩn quốc tế, được đặt tại một địa điểm độc lập và
có hệ thống dự phòng để phòng chống các thảm họa nằm riêng
IV Phần mềm và CSDL
Hiện nay tại các tỉnh/thành phố trên cả nước nói chung và tỉnh QuảngNinh nói riêng đều chưa có hệ thống phần mềm tác nghiệp thống nhất Trongnhững năm qua tỉnh Quảng Ninh đã, đang đầu tư xây dựng và đưa vào khaithác sử dụng các hệ thống thông tin chính sau:
- Phần mềm quản lý Văn bản và điều hành: Đến nay đã có 33 Sở, ban,ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố sử dụng phần mềm quản lý vănbản và điều hành Tuy nhiên các phần mềm này chưa hoàn thiện, còn lỗi khi sửdụng, csdl phân tán tại từng đơn vị, một số đơn vị đã cài đặt nhưng không hoặcchưa sử dụng do hạn chế của phần mềm và người sử dụng chưa sẵn sàng Vìvậy, để đồng bộ trong Mô hình chính quyền điện tử, việc lựa chọn và triển khaimột phần mềm thống nhất quản lý văn bản và điều hành với csdl tập trung là hếtsức cần thiết
- Hệ thống thư điện tử: Được đầu tư nâng cấp từ năm 2009 trên côngnghệ Microsoft Exchange Server 2007, đến nay đã có trên 6.000 hộp thư, mỗihộp thư có dung lượng 300Mb và hoạt động tương đối ổn định Tuy nhiên đếnnay, dung lượng máy chủ để lưu trữ chỉ còn 13Gb, hệ thống chưa có phần mềm
Trang 28bảo mật riêng cho từng hòm thư và dung lượng lưu trữ của từng hộp thư là quáthấp Vì vậy, cần thiết phải nâng cấp, mở rộng và tăng cường bảo mật, an ninh,
an toàn cho hệ thống thư điện tử tỉnh
- Hệ thống số hóa văn bản: Đã được đầu tư, phát triển trên côngnghệ NET và CSDL Oracle Hiện nay, Sở Nội vụ đang phối hợp cùng 11 đơn vịtrong Trụ sở Liên cơ quan số 2 để tiến hành số hóa tài liệu Trong thời gian tớicần mở rộng, nâng cấp và sớm đưa hệ thống số hóa văn bản triển khai cho các
sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh phục vụ nhucầu lưu trữ văn bản dưới dạng số hóa
Trong thời gian qua, do các ngành các cấp đang bắt đầu triển khai ứngdụng CNTT, xây dựng các phần mềm tác nghiệp và CSDL và chưa xây dựngcác phần mềm liên thông Theo yêu cầu của Mô hình chính quyền điện tử, trongthời gian tới bắt buộc phải xây dựng phần mềm liên thông, tích hợp các hệthống thông tin, dữ liệu thống nhất thành hệ thống thông tin chung của Tỉnh vàquốc gia Cụ thể sẽ xây dựng mới Hệ thống thông tin chỉ đạo điều hành củaUBND tỉnh trên mạng WAN của Tỉnh triển khai đến các sở, ngành và UBND cáchuyện, thị xã, thành phố phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của UBND Tỉnh
Về các CSDL cấp tỉnh: Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được quantâm đầu tư triển khai làm nền tảng cho các ứng dụng trong quản lý, điều hànhcũng như cung cấp các dịch vụ hành chính công Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đã
và đang triển khai các CSDL sau:
- CSDL Atlas điện tử Quảng Ninh: Xây dựng bộ CSDL nền địa lý phủ trùmtoàn tỉnh Quảng Ninh ở các tỷ lệ khác nhau, tạo ra một CSDL chung thống nhấtphục vụ cho việc phát triển các ứng dụng GIS của các sở, ban, ngành trong tỉnhQuảng Ninh Công nghệ triển khai: Công nghệ GIS của hãng ESRI
- CSDL Doanh nghiệp: Cập nhật, quản lý, lưu trữ, cho phép khai thác cácthông tin về các doanh nghiệp hoạt động, các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh Hệ thống bao gồm: Cổng thông tin doanh nghiệp cung cấp thôngtin được phát triển trên nền Sharepoint Server 2007; Các ứng dụng bao gồm:Cấp chứng nhận đầu tư, Cấp đăng ký kinh doanh được phát triển trên côngnghệ Net và CSDL SQL Server 2008
- CSDL Khoa học và Công nghệ: Xây dựng hệ thống CSDL về quản lýKH&CN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và tin học hóa các công tác chuyên môntại Sở KH&CN nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước vềKH&CN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, phục vụ công tác thống kê KH&CN theoyêu cầu của tỉnh Quảng Ninh và của Bộ KH&CN, bao gồm các lĩnh vực quản lýsau: An toàn bức xạ và Hạt nhân; Các dự án Đầu tư phát triển KH&CN; Quản lýcác Hội thi; Quản lý các Tổ chức hoạt động KH&CN; Quản lý trình độ côngnghệ; Quản lý Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Phát triển trên công nghệ PHP
và CSDL MySQL Dự kiến thời gian hoàn thành: năm 2012
Trang 29- CSDL cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Quảng Ninh: Hệ thống chophép cập nhật, quản lý, lưu trữ, cho phép khai thác quản lý các dữ liệu về cán
bộ, công chức, viên chức tỉnh Quảng Ninh Hệ thống sử dụng phần mềm ứngdụng của Bộ Nội vụ đã phát triển để triển khai
- CSDL Quản lý Nông thôn mới: CSDL phục vụ quản lý chương trình nôngthôn mới bao gồm các dữ liệu của 39 chỉ tiêu, nằm trong 19 tiêu chí theo 5nhóm tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Hệ thống CSDL đượcphát triển trên công nghệ Net và SQL Server 2008
Căn cứ mức độ cần thiết và khả năng triển khai của tỉnh; trong giai đoạn2012-2014 Quảng Ninh sẽ đầu tư xây dựng khoảng 20 ứng dụng nghiệp vụ;thông qua đó sẽ hình thành 1 số CSDL tương ứng:
- CSDL Một cửa điện tử
- CSDL Quản lý văn bản và HSCV
- CSDL Quản lý cấp phép trong lĩnh vực xây dựng
- CSDL Quản lý cấp phép trong lĩnh vực đất đai
- CSDL Quản lý cấp giấy đăng ký hành nghề y, dược
- CSDL Quản lý cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thựcphẩm
- CSDL Quản lý cấp phép tàu thuyền đánh cá
- CSDL Quản lý cấp phép các hoạt động du lịch
- CSDL Quản lý cấp phép lĩnh vực môi trường
- CSDL Quản lý cấp phép các hoạt động văn hóa
- CSDL Quản lý cấp phép các hoạt động truyền thông
- CSDL Quản lý hộ chính sách
- CSDL Quản lý hộ nghèo
Việc phát triển dần các kho dữ liệu dùng chung, các CSDL chuyên ngành
sẽ được phối hợp đồng bộ với các Bộ chuyên ngành, bảo đảm không trùng lặp,đồng thời có khả năng tạo sự kết nối liên thông với tuyến trên khi có yêu cầu
V Cổng thông tin
Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh đã được nâng cấp phiên bản mớitrên nền công nghệ hiện đại của hãng Microsoft (Microsoft Office SharePointServer 2007) và đã đưa vào hoạt động chính thức từ tháng 8/2011 Đến naytổng số Kênh thông tin thành phần là 65 kênh và 13 đường link cho websitescủa các đơn vị và các tổ chức trên địa bàn
Hiện tại Cổng thông tin tổng hợp của tỉnh www.quangninh.gov.vn và cácCổng thông tin thành phần đã cơ bản đáp ứng tốt vai trò cung cấp thông tin
Trang 30Cập nhật thường xuyên các chủ trương, chính sách của tỉnh; các văn bản phápluật, thủ tục hành chính; các ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh được đăng tải kịpthời, góp phần hỗ trợ hoạt động chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo HĐND, UBNDtỉnh, của lãnh đạo các cấp
Trong thời gian tới cổng thông tin điện tử Quảng Ninh tiếp tục được nângcấp và mở rộng để đảm nhiệm thêm 02 chức năng: là cổng giao dịch điện tửcung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp (CitizensSub Portal); đồng thời cũng là cổng tích hợp các ứng dụng nghiệp vụ, là điểmtruy cập duy nhất để CBCC tỉnh tham gia vào hệ thống Chính quyền điện tử củatỉnh (Officers Sub Portal)
VI Dịch vụ công
Trên Cổng thông tin điện tử Tỉnh đã cung cấp 1.457 dịch vụ công mức độ
2 về các thủ tục hành chính của các Sở, ngành, địa phương và 01 dịch vụ côngmức độ 3 Cấp phép xuất bản bản tin của Sở Thông tin và Truyền thông
Hiện nay các đơn vị đang tiến hành xây dựng và triển khai các dịch vụhành chính công mức độ 3 phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn, baogồm: Đăng ký kinh doanh và Cấp phép đầu tư (thuộc dự án CSDL Doanhnghiệp do Sở KHĐT làm chủ đầu tư); Hệ thống QL thông tin khiếu nại tố cáo, dựkiến hoàn thành trong năm 2012 (Thanh tra tỉnh); Các dịch vụ cấp phép của Sở
Y tế, gồm 5 lĩnh vực: Dịch vụ công lĩnh vực khám chữa bệnh; Dịch vụ công yhọc cổ truyền; Dịch vụ công lĩnh vực Y tế dự phòng và môi trường; Dịch vụ cônglĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng; Dịch vụ công lĩnh vực dược
và Mỹ phẩm Dự kiến hoàn thành trong năm 2012
Với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, nềnkinh tế của tỉnh Quảng Ninh vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng khá cao Năm
2011 GDP bình quân đầu người đạt trên 2.200 USD, thu ngân sách Nhà nướcđạt 29.100 tỷ đồng Kinh tế, văn hóa, xã hội toàn tỉnh phát triển; giao tiếp giữangười dân, doanh nghiệp với các cấp Chính quyền ngày càng cao; nhu cầu pháttriển dịch vụ công trực tuyến trong các lĩnh vực nóng và trọng yếu nhằm tạothuận lợi cho người dân và doanh nghiệp là cần thiết hơn bao giờ hết
Do vậy, trong thời gian tới Quảng Ninh nâng cấp khoảng 300 dịch vụ côngtrực tuyến lên mức độ 3 và 4 liên quan đến việc cấp phép qua mạng thuộc 10nhóm lĩnh vực: Kinh doanh, Xây dựng, Đất đai, Y tế, Văn hóa, Du lịch, Thủy sản,Chính sách, Môi trường, Truyền thông (chi tiết theo phụ lục của Đề án)
VII Nhân lực/Đào tạo/Chính sách
Dân số tỉnh Quảng Ninh hiện nay có khoảng 1,2 triệu; trên địa bàn Tỉnh có
01 trường Đại học, 6 trường Cao đẳng trong đó có 4 trường có đào tạo vềCNTT, 3 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 01 Trung tâm Giáo dục thườngxuyên và đào tạo cán bộ Trong đó, có 1 đơn vị đào tạo chính quy có đào tạochuyên ngành CNTT, 10 đơn vị đào tạo phi chính quy về CNTT
Trang 31Tổng số cán bộ chuyên trách về CNTT trong các cơ quan nhà nước: 85cán bộ (Trong đó, 01 cán bộ/01 đơn vị còn lại chủ yếu nguồn nhân lực này tậptrung tại Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tài nguyên và Môi trường, VP.UBND tỉnh, VP UBND tỉnh) Tuy nhiên số lượng này vẫn chưa đảm bảo theoyêu cầu triển khai, vận hành, quản trị các hệ thống thông tin, mặt khác đa số cáccán bộ đều chưa được trang bị, cập nhật cơ bản đầy đủ các kiến thức Do đónhu cầu tăng thêm số cán bộ quản trị cho mỗi đơn vị là 01 người; đào tạo lạicho các cán bộ quản trị
Đến nay, 92% CBCC sử dụng tốt máy tính trong công việc, 57,8%CBCCVC có trình độ tin học văn phòng trình độ A, B, C; 1,16% CBCC có trình
độ CNTT từ đại học trở lên Tuy nhiên tối thiểu 20% cán bộ, công chức cần phảiđược đào tạo lại để có đủ kiến thức, kỹ năng sử dụng các hệ thống thông tin.Như vậy, số lượng cần đào tạo mới khoảng: 640 người, đào tạo lại khoảng1.600 người
VIII Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù đạt được một số kết quả đáng ghi nhận trong việc ứng dụngCNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Quảng Ninh, tuy nhiên vẫncòn một số tồn tại, hạn chế cơ bản như sau:
1 Về nhận thức
Một bộ phận cán bộ, công chức vẫn chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn
về vị trí và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào phát triển kinh tế - xãhội của Tỉnh một cách toàn diện, trong đó cải cách hành chính là lĩnh vực tiêubiểu Do đó, quá trình triển khai còn thiếu đồng bộ, có nơi ứng dụng còn mangtính hình thức, đối phó, cán bộ lãnh đạo chưa thực sự quan tâm đến ứng dụngCNTT
Các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện… tuy cơ bản đãhiểu rõ vai trò vô cùng quan trọng của CNTT-TT nhưng trong triển khai vẫn lúngtúng trong việc lựa chọn phương án đầu tư, bố trí nguồn lực phát triển một cáchhiệu quả, phần lớn vẫn ở trạng thái tự phát, nhỏ lẻ, cần việc gì thì ứng dụngCNTT cho việc đó, chưa tiến hành một cách bài bản, chuyên nghiệp, chủ độngứng dụng CNTT để tiết kiệm chi phí, quảng bá, tăng khả năng quản lý, làm giatăng lợi nhuận…
2 Về thủ tục hành chính
Đề án 30 về cải cách hành chính của Tỉnh đã đang được triển khai giaiđoạn 3 (Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước),nhưng đến nay việc tuyên truyền để tổ chức, công dân biết, tìm hiểu, giao dịchcòn hạn chế; có một số cơ quan, đơn vị vẫn chưa quy định rõ thủ tục hànhchính nào là liên thông, đầu mối tiếp nhận là ở cơ quan nào, tên thủ tục liênthông chưa đồng nhất giữa các cấp hành chính, điều này đã làm trở ngại cho
Trang 32việc triển khai ứng dụng CNTT vào việc cung cấp các dịch vụ công cấp độ 3 trởlên.
4 Về kinh phí đầu tư
Chi phí cho hoạt động CNTT của các cơ quan nhà nước vẫn ở mức thấp,đặc biệt là đối với các huyện, do vậy việc đầu tư ứng dụng CNTT vẫn chưa đápứng được nhu cầu, yêu cầu Đặc biệt là các CSDL nền tảng như dân cư, doanhnghiệp, y tế, giáo dục, lao động - việc làm, CSDL nền GIS, các ứng dụngchuyên ngành mang tính hệ thống, liên thông giữa các cấp, ứng dụng GIS, hệthống mô phỏng phục vụ cho vận trù và tối ưu hóa, chưa đủ kinh phí để pháttriển hoàn thiện
Việc triển khai dịch vụ công mức 4 còn gặp nhiều khó khăn do chưa triểnkhai được hệ thống xác thực điện tử để xác nhận tính chính xác của hồ sơ điện
tử và khó khăn trong việc thực hiện thanh toán qua mạng đối với người dân,doanh nghiệp
5 Về cơ chế chính sách
Chưa có chế độ chính sách riêng đối với cán bộ có trình độ chuyên môn
về lĩnh vực CNTT dẫn đến rất khó để thủ hút nguồn nhân lực chất lượng caovào làm việc trong cơ quan nhà nước; Một số cơ chế chính sách đặc thù quyđịnh sử dụng, vận hành các hệ thống thông tin dùng chung, đặc biệt là việc ứngdụng Hệ thống quản lý văn bản và Điều hành, Một cửa điện tử; các chính sách,quy chế bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động của các cơ quannhà nước theo TCVN ISO/IEC 27001:2009 chưa được triển khai một các triệt đểcũng đã gây những ảnh hưởng không tốt đến tiến trình triển khai các ứng dụngCNTT, vấn đề đảm bảo an ninh an toàn thông tin
Trang 33PHẦN IV CƠ HỘI, THÁCH THỨC XÂY DỰNG CQĐT TỈNH
QUẢNG NINH
I Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
1 Quảng Ninh là tỉnh có vị trí địa chiến lược “có một không hai”, “là đấtnước Việt Nam thu nhỏ”, có cơ hội lớn để phát triển kinh tế tổng hợp, toàn diện,hiện đại và có khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng
Nằm trong khu vực phát triển năng động nhất trong nhiều thập kỷ qua;điểm nút của khu vực hợp tác “hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt - Trung;
là cầu nối quan trọng của ASEAN - Trung Quốc và nằm trong khu vực trungchuyển, giao lưu hàng hóa, khoa học công nghệ lớn giữa Đông Bắc Á - ĐôngNam Á; Quảng Ninh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùngđồng bằng sông Hồng và hợp tác liên vùng, Vinh Bắc Bộ mở rộng Là tỉnh duynhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc với dải bờ biển dài
250 km Tỉnh có 14 huyện, thị xã, thành phố, trong đó có 2 huyện đảo, 3 khukinh tế, là tỉnh duy nhất có 4 thành phố, 1 thị xã trực thuộc và 4 khu kinh tế, tỷ lệ
đô thi hóa cao 55%
2 Quảng Ninh với nhiều cảnh quan nổi trội có một không hai, với trên 600
di tích lịch sử, danh lam, thắng cảnh là cơ hội lớn để phát triển các loại hình dulịch và hướng đến phát triển ngành công nghiệp văn hóa - giải trí Vịnh Hạ Long
- Di sản - Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, Vịnh Bái Tử Long vừa có đảođất, vừa có đảo đá,… cùng các di tích Nhà Trần, Yên Tử, thương cảng VânĐồn, đền Cửa Ông,… là nguồn tài nguyên du lịch nổi trội, đặc sắc, tiêu biểu
3 Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có, nhất là than đá,
đá vôi, đất sét là điều kiện và cơ hội tốt để phát triển trung tâm khai khoáng,trung tâm nhiệt điện, trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng
4 Con người và xã hội Quảng Ninh là nơi hội tụ, giao thoa, sự thống nhấttrong đa dạng của nề văn minh sông Hồng, có truyền thống cách mạng của giaicấp công nhân Vùng Mỏ với di sản tinh thần vô giá kỷ luật và đồng tâm; có chỉ
số phát triển cong người HDI thuộc nhóm cao trong cả nước là điều kiện thuậnlợi xây dựng khối đoàn kết, tạo sức mạnh tổng hợp để vượt qua mọi khó khăn,thách thức; góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào
5 Những thành tựu và hạn chế, yếu kém, tồn tại căn bản
5.1 Thành tựu:
Về kinh tế: Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng GDP trung bình dạttrên 12% GDP bình quân đầu người năm 2011 ước đạt 2.264 USD, cao hơn1,65 lần trung bình của cả nước (1.375 USD) Thu ngân sách năm sau tăng hơnnăm trước, bình quân tăng 35%/năm (năm 2011 là 29.100 tỷ đồng)
Văn hóa xã hội được quan tâm và có bước tiến bộ Đầu tư cho giáo dục,
y tế, văn hóa, xã hội tăng bình quân 35,6%/năm; cho an sinh xã hội tăng bình
Trang 34quân 59%/năm Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,89%; tỷ lệ hộ cận nghèo còn2,94% (Theo tiêu chuẩn mới) Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, hoànthành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; hoàn thành kiên cố hóa trường học vànhà công vụ cho giáo viên Số giường bệnh/vạn dân đạt 41,5 giường (gấp 1,48lần chuẩn của Bộ Y tế) Năm 2011, toàn Tỉnh đạt 8,5 bác sỹ/vạn dân (gấp 1,2lần cả nước); 100% xã, phường cơ sở đạt chuẩn quốc gia về y tế Chỉ số pháttriển con người (HDI) thuộc nhòm phát triển cao, đứng thứ 5 cả nước.
Quốc phòng, an ninh, đối ngoại ổn định, chưa để xảy ra đột xuất, bất ngờ
về an ninh quốc phòng, đối ngoại được tăng cường và phát triển
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng được củng cố, tăngcường và nâng cao hiệu quả Công tác quản lý nhà nước đạt được những tiến
bộ nhất định Cải cách hành chính được quan tâm đẩy mạnh; Đã hoàn thành Đề
án ải cách thủ tục hành chính Hoạt động của Mặt trân tổ quốc và các tổ chứcđoàn thể chính trị nhân dân có đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tập hợp,phát triển
5.2 Hạn chế
Về kinh tế: Cơ cấu kinh tế và phương thức phát triển đang bất hợp lý.Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng, nhất là một số ngành có cơhội nổi trội như dịch vụ thương mại, du lịch; tăng trưởng nóng, phát triển chưabền vững, chủ yếu dựa vào tài nguyên hữu hạn than và đất; Thu nội đại ngànhthan chiếm tỷ trọng lớn, thu ngân sách năm 2011 ngành than chiếm 77% Tỷtrọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội còn yếu và thiếu những công trình mang tính chiến lược (Đườngcao tốc, sân bay, đường sắt, đường thủy nội địa, các trường đại học, cao đẳngnghề, các thiết chế văn hóa); xây dựng hạ tầng biên giới (kè biên giới, đườnggiao thông, điện, nước) còn gặp khó khăn do thiếu vốn và cơ chế huy động vốn.Phát triển công nghiệp và đô thị “nóng” để lại hậu quả môi trường nghiêm trọng
Tỷ trọng công nghiệp Trung ương và địa phương còn bất hợp lý Hạ tầng cơ sởkhoa học và công nghệ còn thiếu, yếu; hàm lượng khoa học công nghệ trongsản xuất chưa cao, xuất khẩu chủ yếu sản phẩm thô Đầu tư còn dàn trải, chỉ sốICOR cao (năm 2011 là 8,25, gần gấp rưỡi so với cả nước)
Về văn hóa, xã hội: Chênh lệch lớn giữa các vùng, miền, nhất là vùngmiền núi, biên giới, biển đảo, vùng dân tộc Năm 2011, gần 50% dân số sốn ởvùng nông thôn, nhưng hiện chỉ đóng góp 5,1% GDP; khoảng cách giàu nghèolớn (khoảng cách giữa 20% người giàu nhất với 20% người nghèo nhất khoảng
8 lần)
Cải cách hành chính chưa đồng bộ, thủ tục hành chính còn rườm rà,trùng chéo Công khai hóa, minh bạch hóa chưa rộng rãi Nhận thức về cải cáchhành chính trong phát triển của mọt bộ phận cán bộ đảng viên còn hạn chế Sức
Trang 35tồn tại Quy trình, lề lối làm việc của cán bộ, công chức còn thủ công, lạc hậu,chưa đáp ứng yêu cầu hiện đại Thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết côngviệc của cán bộ, công chức chưa rõ; phối hợp giữa các cơ quan hành chính cònyếu
Nguồn nhân lực chất lượng cao còn yếu và thiếu Chính sách thu hútnguồn nhân lực chưa đủ mạnh Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn (hiện
có khoảng 50%) Thiếu lao động trình độ cao, công nhân lành nghề Hiện nay,lao động có trình độ: đại học 4,75%, trên đại học 0,04%, cao đẳng 2,58%, trungcấp chuyên nghiệp 6,02%, công nhân kỹ thuật có bằng hoặc chứng chỉ 55,5%
Cán bộ công chức, viên chức cấp tỉnh: Trình độ chuyên môn tiến sĩ vàtương đương có 27 người (chiếm 0,12%), thác sĩ và tương đương có 518 người(chiếm 2,27%), đại học có 7.500 người (chiếm 32,77%), cao đẳng có 6.927người (chiếm 30,27%, trung cấp có 7.072 người (chiếm 30,9%), đào tạo sơ cấp
có 843 người (chiếm 3,7%)
Cán bộ, công chức cấp xã: Cao đẳng, đại học có 1.030 người (chiếm29,66%, trung cấp có 1.531 người (chiếm 44,1%), sơ cấp và chưa qua đào tạo
có 912 người (chiếm 26,26%)
Về hệ thống chính trị: Năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức Đảng
có nơi, có lúc còn nhiều hạn chế, yếu kém Quản lý nhà nước về đất đai, tàinguyên khoáng sản có việc, có thời điểm còn chưa chặt chẽ Thiếu cơ chế đểMặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xãhội
5.3 Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ quan: Tỉnh chưa thật sự quyết liệt trong chỉ đạo và tổchức thực hiện một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Chậm pháthiện tồn tại, vướng mắc và đề xuất tháo gỡ Chưa kiên trì để nhận sự hỗ trợ,giúp đỡ tích cực, có hiệu quả của các cơ quan Trung ương Chưa chủ động,tích cực, sáng tạo trong đề xuất cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, nhất là đầu
tư vào hai khu kinh tế, trông chờ vào nguồn lực Nhà nước là chủ yếu Đào tạo,
sử dụng nguồn nhân lực chưa mang tầm chiến lược Công tác quy hoạch vàquản lý quy hoạch chưa tốt
Nguyên nhân khách quan: Những năm vừa qua kinh tế thế giới khủnghoảng, kinh tế trong nước gặp khó khăn; ưu tiên nguồn lực của nhà nước choQuảng Ninh chưa tương xứng Cơ chế, chính sách được áp dụng trong các khukinh tế chưa có tính cạnh tranh ở cấp quốc gia và cấp quốc tế Chỉ đạo củaTrung ương chưa quyết liệt, trong đó có việc chỉ đạo tháo gỡ giải quyết nhữngvướng mắc về cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế chính sách đặc thù, đột phá
để thu hút nguồn lực từ bên ngoài Không gian phát triển kinh tế - xã hội còn bịgiới hạn bời địa giới hành chính
Trang 36II Cơ hội, thách thức triển khai xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh
1 Cơ hội, thuận lợi
a) Đảng, Nhà nước đã, đang có những chỉ đạo, chính sách, ưu tiên, đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng Chính phủ/Chính quyền điện tử
Ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Côngnghệ thông tin Có thể nói đây là văn bản pháp lý vô cùng quan trọng, cụ thểhóa chủ trương của Đảng đã được nêu ra tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệthông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khoản 1 Điều 5 củaLuật Công nghệ thông tin đã quy định rõ “Ưu tiên ứng dụng và phát triển côngnghệ thông tin trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Triển khai cụ thể các nội dung quy định về ứng dụng công nghệ thông tintrong hoạt động của cơ quan nhà nước, ngày 10/4/2007 Chính phủ đã ban hànhNghị định số 64/2007/NĐ-CP về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt độngcủa cơ quan nhà nước Nội dung Nghị định bao gồm không chỉ các quy định vềứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước mà còn
cả các điều kiện bảo đảm cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quannhà nước bao gồm tổ chức, cơ sở hạ tầng, đầu tư và nhân lực cho ứng dụngcông nghệ thông tin Nghị định cũng đã quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơquan liên quan để tổ chức thực hiện các quy định
Để chỉ đạo, hướng dẫn cho các cơ quan nhà nước lập kế hoạch chi tiếttriển khai ứng dụng công nghệ thông tin, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 43/2008/QĐ-TTg, Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg Phê duyệt Kế hoạch ứngdụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 vàgiai đoạn 2009-2010 Đây là các văn bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúpđịnh hướng cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng kế hoạch ứng dụngcông nghệ thông tin của cơ quan, đảm bảo đồng bộ với những mục tiêu chungcủa cả nước
Năm 2011, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTgngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớmtrở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” và Quyết định số1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 Phê duyệt “Chương trình quốc gia về Ứng dụngcông nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 -2015” nhằm xác định chiến lược, nội dung phát triển CNTT của quốc gia, tăngcường hơn nữa ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước trong giai đoạn tiếptheo
Trang 37Đặc biệt, ngày 16/01/2012 BCH Trung ương Đảng khóa XI đã ban hànhNghị quyết số 13-NQ/T.Ư về Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằmđưa nước ta cơ bản, trong đó xác định rõ: Công nghệ thông tin và Truyền thông
là hạ tầng của hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội, coi thúc đẩy phát triển và ứngdụng CNTT là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu:
“Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công dân, đất đai, nhà ở, doanhnghiệp, làm cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các nguồn lựcphát triển đất nước Đẩy nhanh tiến trình thực hiện thẻ công dân điện tử, Chínhphủ điện tử và cam kết ASEAN điện tử
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, khai thác, vận hành
hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và toàn bộ nền kinh tế Coi thúc đẩyphát triển và ứng dụng công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong
lộ trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong từng ngành, từng lĩnh vực Pháttriển mạnh công nghiệp công nghệ thông tin, thúc đẩy ngành công nghiệp phầnmềm phát triển nhanh, bền vững
Nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và hiệu lực, hiệu quả quản lý hệthống hạ tầng thông tin, nội dung thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hànhcủa Đảng, Nhà nước; đáp ứng yêu cầu cung cấp, trao đổi thông tin của xã hội,thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo đảm antoàn, an ninh thông tin, chủ quyền quốc gia về không gian mạng”
b) Quyết tâm chính trị to lớn của Lãnh đạo, các cấp, các ngành tỉnh Quảng Ninh trong việc xây dựng Chính quyền điện tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải cách hành chính
Sự quyết tâm triển khai xây dựng Chính quyền điện tử phục vụ phát triểnkinh tế - xã hội, cải cách hành chính tỉnh Quảng Ninh đã được thể hiện rõ nét tạicác nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND Tỉnh, cụ thể là Nghị quyết Đại hội Đại biểuĐảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010-2015 về tăng cường tiềmlực khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa,nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo; quản lý điều hành; Nghị quyết số04-NQ/TU ngày 05/5/2012 của BCH Đảng bộ Tỉnh Về phát triển khoa học vàcông nghệ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020;Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 18/10/2011 của HĐND tỉnh về các nhiệm vụ,giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninhgiai đoạn 2010 – 2015; Thông báo số 638-TB/TU ngày 21/5/2012 của Thườngtrực Tỉnh ủy về Đề án “Xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh giai đoạn2012-2014”
Nhằm thực hiện sự quyết tâm đó, Tỉnh đã lấy năm 2012 là năm của quyhoạch và phát triển khoa học công nghệ Hiện nay, Tỉnh đang xây dựng Xâydựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tinh Quảng Ninh đến năm 2020 vàtầm nhìn đến 2030 trên cơ sở thuê tư vấn nước ngoài; xây dựng Đề án phát
Trang 38triển kinh tế - xã hội xanh, bền vững đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninhtrình Bộ Chính trị, với các mục tiêu chính là: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàndiện mà trọng tâm là củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, tư tưởng đột phátrong tư duy phát triển, sáng tạo, hiệu quả trong hành động và tổ chức thựchiện; Xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại vàonăm 2020, là một trong những tỉnh đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa và phát triển kinh tế xanh; Là một trong những đầu tàu kinh tế củaMiền Bắc; Là trung tâm du lịch quốc tế; là một trong ba cực tăng trưởng củavùng đồng bằng Sông Hồng, đồng thời góp phần tích cực cùng cả nước ta cơbản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; Khôngngừng cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là khu vựcvùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Gópphần đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả công tácđối ngoại Trong đó xác định đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng Chínhquyền điện tử là nội dung, giải pháp quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xãhội, đảm bảo quốc phòng, an ninh
c) Chủ động được nguồn ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực xây dựng Chính quyền điện tử
Với nhiều tiềm năng, thế mạnh, sự quyết tâm cao của đảng, chính quyền
và nhân dân, hàng năm thu ngân sách của Quảng Ninh là một trong những đơn
vị đứng đầu, tự bảo đảm về nguồn kinh phí, mặc dù có rất nhiều các hạng mục,nội dung quan trọng, thiết yếu như Y tế, Giáo dục, Tài nguyên Môi trường,…tuynhiên, Tỉnh cũng có sự quan tâm và dành nguồn kinh phí lớn (lớn nhất trong cáctỉnh) cho phát triển khoa học công nghệ, triển khai ứng dụng CNTT Trong Nghịquyết của BCH Đảng bộ Tỉnh về phát triển khoa học công nghệ và các văn bảnkhác, Tỉnh đã ưu tiên bố trí từ 4-5% trên tổng chi ngân sách thường xuyên hàngnăm của Tỉnh cho KHCN, Như vậy hàng năm Tỉnh có thể dành ra từ 150 - 200
tỷ đồng cho nhiệm vụ xây dựng Chính quyền điện tử
Triển khai xây dựng Chính quyền điện tử với mục tiêu chính là phục vụngười dân và doanh nghiệp, cùng với sự đồng thuận, quan tâm, đầu tư và ủng
hộ lớn của xã hội, của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh, việc huy động cácnguồn đầu tư, hỗ trợ của các doanh nghiệp, từ xã hội cho xây dựng Chínhquyền điện tử là khả thi, phù hợp
2 Thách thức, khó khăn
a) Nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng CNTT còn hạn chế
Để triển khai thành công Chính quyền điện tử ngoài nguồn nhân lực đểquản lý, vận hành các hệ thống thông tin trong cơ quan nhà nước thì nguồnnhân lực ứng dụng là rất quan trọng Tỷ lệ sử dụng, khai thác các dịch vụ trựctuyến của người dân, doanh nghiệp nhiều hay không tương ứng với sự thành
Trang 39Nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh nói chung thiếu về số lượng, yếu về chấtlượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạocòn lớn (hiện có khoảng 50%)
Với địa hình trải dài, diện tích rộng (rộng nhất trong các tỉnh đồng bằngSông Hồng), gần 50% là dân số nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo có điềukiện kinh tế, giao thông còn khó khăn Vì vậy, việc tổ chức đào tạo, tuyên truyền,đẩy mạnh ứng dụng CNTT cho người dân là rất lớn
Nguồn nhân lực CNTT trong các cơ quan, đơn vị còn thiếu về số lượng,hạn chế về chất lượng; đặc biệt là thiếu cán bộ lãnh đạo CNTT và cán bộ quản
lý CNTT có chuyên môn cao Nhân lực CNTT làm việc trong các cơ quan nhànước vẫn chưa được hưởng các chế độ đãi ngộ phù hợp
b) Chưa có mô hình Chính quyền điện tử đã triển khai thành công tại các địa phương
Mặc dù một vài tỉnh/thành phố trên cả nước đã triển khai xây dựng Chínhquyền điện tử và đã có một số thành công nhất định, tuy nhiên đó mới chỉ là mộtvài kết quả ban đầu, chưa mang tính tổng thể, mô hình, kiến trúc, cách thứctriển khai vẫn còn đang ở thời kỳ đầu, chưa thể khẳng định thành mô hình hayđiển hình thành công để có thể làm mẫu căn cứ, rút kinh nghiệm trong quá trìnhthực hiện
Trên thế giới cũng đã có nhiều quốc gia triển khai thành công tuy nhiêncác điều kiện, nguồn lực, môi trường, chính sách, phong tục, thói quen,…củacác quốc gia đó có nhiều điểm khác biệt so với Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh
Do đó, mặc dù chúng ta đã nghiên cứu, tìm hiểu các thành công, bài họckinh nghiệm,… của các mô hình triển khai của các nước và các tỉnh nhưng đểtriển khai thành công Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Ninh vẫn là một khó khăn,thách thức lớn
c) Về thủ tục hành chính
Đề án 30 về cải cách hành chính của Tỉnh đã đang được triển khai giaiđoạn 3 (Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước),nhưng đến nay việc cải cách hành chính vẫn chưa thực sự đồng bộ, thủ tụchành chính còn rườm rà, trùng chéo, chưa quy định rõ được sự liên thông thủtục hành chính giữa các cơ quan, đơn vị Sức ỳ của bộ máy hành chính các cấpcòn lớn, việc tuyên truyền để tổ chức, công dân biết, tìm hiểu, giao dịch còn hạnchế Hiện đại hóa nền hành chính đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới vẫn làmột thách thức lớn
d) Thách thức về triển khai Chính quyền điện tử trong 3 năm (Từ
2012 - 2014)
Với khối lượng công việc lớn, trên diện rộng, nhiều cấp việc đảm bảo tiến
độ triển khai trong gần 3 năm (từ năm 2012 đến 2014) là một thách thức lớntrong việc tổ chức, triển khai thực hiện Đề án Mặt khác, các khâu, công đoạn tổ
Trang 40chức, sự phối hợp, phân công của các đơn vị, địa phương trong quá trình tổchức thực hiện nếu có sự không thống nhất, đồng bộ, nhịp nhàng thì tiến độ,triển khai sẽ khó hoàn thành Đồng thời về mặt thủ tục, pháp lý, quy trình trongquá trình tổ chức thực hiện đầu tư các dự án (chủ yếu tại các khâu thẩm định,phê duyệt) sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian theo quy định tại các văn bản quyphạm pháp luật hiện hành.