TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC BÙI THỊ TRÀ MY MỘT SÓ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH CỘNG TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ TRONG MÔN TOÁN LỚP 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
BÙI THỊ TRÀ MY
MỘT SÓ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ
HỌC SINH CỘNG TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ
TRONG MÔN TOÁN LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học ThS Lê Thu Phương
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thày, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình tìm tòi và nghiên cứu đề tài Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Lê Thu Phương, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong khi thực hiện đề tài, do thời gian và năng lực có hạn nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày 25 tháng 4 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Trà My
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng em, đồng thời có sự hướng dẫn, giúp đỡ của Thạc sĩ Lê Thu Phương và tham khảo qua các tài liệu có liên quan
Em xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng vói kết quả của các tác giả khác
Xuân Hòa, ngày 25 tháng 4 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Trà My
Trang 4MỤC LỤC
MỞ Đ Ầ U 1
1 Lí do chọn đề tà i 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứ u 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc khóa luân 4•
CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VIỆC ĐÈ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH CỘNG TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ TRONG MÔN TOÁN LỚP 5 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Đặc điểm học sinh lóp 5 5
1.1.2 Vai trò của môn Toán ữong quá trình dạy học 6
1.1.3 Vài nét về dạy học cộng tác 7
1.1.4 Quy trình một giờ lên lớp theo phương pháp cộng tác nhóm 9
1.2 Cơ sở thưc tiễn 12
1.2.1 Thực trạng vận dụng phương pháp dạy học cộng tác nhóm trong môn Toán ở trường Tiểu học hiện nay 12
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng 14
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH CỘNG TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ TRONG MÔN TOÁN LỚP 5 17
2.1 Khái quát nội dung chương trình sách giáo khoa Toán 5 17
2.2 Một số định hướng xây dựng các biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lớp 5 19
2.3 Đề xuất các biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lóp 5 19
2.3.1 Bồi dưỡng cho giáo viên các kỹ năng dạy học cộng tác cần thiết trong môn Toán 20
Trang 52.3.2 Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm việc nhóm 25
2.4 Những điều cần lưu ý khi tỗ chức cho học sinh làm việc theo nhóm có hiệu quả 29
2.5 Minh họa việc sử dụng phương pháp dạy học cộng tác nhóm trong phần hình thành kiến thức mổi của một số tiết dạy điển hình 31
CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG THựC H ÀNH 41
3.1 Muc đích thưc nghiêm 41
3.2 Nội dung thực nghiệm 41
3.3 Tổ chức thực nghiệm 41
3.4 Kết quả thực nghiệm 44
3.4.1 v ề định tính 44
3.4.2 v ề định lượng 44
Trang 6DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, khi đất nước ta đang ừên đà phát triển, để sản xuất ra hàng hóa có chất lượng, cạnh tranh trên thị trường thì càn phải có lực lượng lao động không chỉ có kiến thức, có trình độ tay nghề cao, có lương tâm nghề nghiệp mà còn phải có kĩ năng hợp tác, ứng phó, xử lý tình huống, nhạy bén trong công việc Điều đó chỉ có được khi lực lượng lao động được đào tạo, rèn luyện bài bản từ khi còn bé Muốn tạo ra một lớp người lao động
‘Vừa hồng vừa chuyên” như vậy thì ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, nhất là nhà trường Tiểu học, học sinh phải được giáo dục theo hướng tích cực, năng động, sáng tạo, chủ động nắm bắt kiến thức Để đáp ứng yêu cầu đó, một trong những phương pháp dạy học tích cực hiện nay đang được các nước trên thế giới áp dụng có hiệu quả đó là dạy học cộng tác nhóm (DHCTN).Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc cộng tác theo nhóm là càn thiết hơn bao giờ hết Đơn giản là vì không ai hoàn hảo, làm việc theo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”
Nhìn ra thế giới, UNESCO đã xác định bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là: “Học để biết - Học để làm - Học để tự khẳng định mình - Học để
Trang 8chung sống” Như vậy, mục tiêu giáo dục của thế giới cho thấy rõ giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức mà còn hình thảnh cho người học những kỹ năng, thái độ để sau khi hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông, họ có thể sống và làm việc trong xã hội luôn luôn thay đổi Dạy học cộng tác theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học tích cực theo xu hướng dạy học không truyền thống, góp phần thực hiện định hướng đổi mới PPDH ở nước ta Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chính thức tham gia Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) và đang triển khai dự án
mô hình trường học mới (VNEN), DHCTN càng phát huy thế mạnh trong việc đáp ứng cho học sinh tiêu chuẩn các nhóm năng lực nhằm hội nhập theo thang đánh giá của PISA cũng như yêu cầu của VNEN
DHCTN còn được gọi bằng những tên khác nhau như: dạy học cộng tác, dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ Trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và họp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và bảo vệ trước toàn lớp
DHCTN nâng cao tính tương tác giữa các thảnh viên trong nhóm, đây là yếu tố cơ bản của hoạt động nhóm Nó có những tác động tích cực đến người học như: tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú mới; kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, nguồn lực và cách giải quyết vấn đề; tăng cường các kĩ năng biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức diễn đạt như lòi nói, ánh mắt cử chỉ, Ngoài ra, nó còn khích lệ các thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau.Hiện nay, ở nước ta đã có một số đề tài nghiên cứu về dạy học cộng tác nhóm Tuy nhiên, các đề tài đều chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu cách
tổ chức dạy học cộng tác nhóm, mà chưa có đề tài nào đề cập đến việc làm thế nào để giúp học sinh cộng tác nhóm một cách có hiệu quả trong môn Toán lớp 5 ở trường Tiểu học
Trang 9Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp
giúp đỡ học sình cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lớp 5 ” để làm
khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiền cứu
Nghiên cứu các biện pháp giúp đỡ học sinh lớp 5 cộng tác nhóm có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực học tập của học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về phương pháp dạy học cộng tác nhổm và các biện pháp nhằm giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả
4 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu quá trình dạy học cộng tác nhóm của giáo viên và học sinh trong môn Toán lớp 5 ở trường Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu về quá trình dạy học cộng tác nhóm trong môn Toán ở trường Tiểu học
- Đề ra một số biện pháp giúp học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lớp 5
- ứng dụng thực hành
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: đọc các tài liệu, sách báo, tạp chí giáo dục, đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo có liên quan đến nội dung đề tài
- Thu thập thông tin và phân tích dữ liệu: tìm và chọn lọc các thông tin có nội dung liên quan đến đề tài
- Phương pháp quan sát: theo dõi quá trình dạy - học của giáo viên và học sinh
Trang 10- Nghiên cứu thực tế:
+ Dự giờ các giờ Toán có sử dụng phương pháp dạy học cộng tác nhóm, tiếp thu ý kiến kinh nghiệm của giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Toán ở trường Tiểu học
+ Đối chiếu với các tiết học không sử dụng phương pháp cộng tác nhóm
7 Cấu trúc khóa luân
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đề xuất các biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lớp 5
Chương 2: Một số biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lớp 5
Chương 3: ứ ng dụng thực hành
Trang 11CHƯƠNG 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÈ XUẤT
CÁC BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH CỘNG TÁC NHÓM CÓ
HIỆU QUẢ TRONG MÔN TOÁN LỚP 5 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc điểm học sinh lớp 5
• Đặc điểm tư duy
Học sinh có khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh
• Đặc điểm ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết Mặt khác, nhờ vào khả năng ngôn ngữ, ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ở HS lớp 5, ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đàu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Trong giai đoạn này, trẻ đã có khả năng tự học,
tự đọc, tự nhận thức được thế giói xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
• Đặc điểm trí nhớ
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường, ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý, tình cảm, lòng hứng thú của các em
Trang 121.1.2 Vai trò của môn Toán trong quá trình dạy học
Cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đàu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở trường Tiểu học, môn Toán là một bộ môn có vị trí quan trọng trong chương trình ở nhà trường Tiểu học vì:
Các kiến thức kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đòi sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở trung học
Giúp học sinh nhận biết được các mối quan hệ về số lượng, về hình dạng, không gian của thế giới hiện thực, giúp học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống
Góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp luận, phương pháp giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo Đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù; cẩn thận; có ý chí vượt khó; làm việc có kế hoạch, nề nếp, tác phong khoa học
Trang 131.1.3 Vài nét về dạy học cộng tác
1.1.3.1 Khái niệm cộng tác và dạy học cộng tác
Khái niệm “Cộng tác” được hiểu là “Quá trình trao đổi, trợ giúp, phối họp giữa một nhóm người nhằm đạt được một mục tiêu xác định” Việc cộng tác đã được con người thực hiện từ rất lâu và đây chính là cơ sở cho sự phát triển và hình thành nên xã hội loài người, giúp con ngưòi phát triển từ giai đoạn bầy đàn sang giai đoạn xã hội Hoạt động cộng tác của con người được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: cộng tác trong công việc; cộng tác trong việc truyền đạt tri thức,
“Học theo hình thức cộng tác” là một thuật ngữ chung chỉ những cách tiếp cận đào tạo khác nhau liên quan đến việc sử dụng trí tuệ chung giữa các học sinh với nhau hoặc giữa các học sinh với giáo viên Mục đích của chúng
là nhằm tăng cường khả năng tiếp thu tri thức, khả năng vận dụng và áp dụng tri thức vào thực tế ừên cơ sở có sự hợp tác của nhiều thành viên Thông thường, các học sinh làm việc theo nhóm hai người hoặc nhiều hơn để cùng nhau nghiên cứu, giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra
Học theo hình thức cộng tác là việc học yêu cầu HS không những tập trung vào các bài giảng của giáo viên ở trên lớp, mà còn phải thảo luận và tương tác tích cực với nhau Trong một môi trường như vậy, giáo viên không chỉ đóng vai trò là người nắm tri thức để truyền đạt mà còn phải đóng vai ừò
là một người thiết kế quá trình, xây dựng môi trường tiếp thu tri thức cho người học
1.1.3.2 Đặc điểm của việc học cộng tác
Mặc dù việc học cộng tác được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú khác nhau nhưng đều có những đặc trưng cơ bản sau:
- Quá trình học trở thành một quá trình xây dựng tri thức cá nhân một cách tích cực Để học được những kiến thức, khái niệm hoặc kỹ năng mới, học sinh cần phải tích cực làm việc với những kiến thức đó theo nhiều cách
Trang 14khác nhau với mục đích rõ ràng Học sinh cần kết hợp giữa việc tiếp thu các kiến thức mói từ tài liệu vói những kiến thức đã biết để có thể chủ động tiếp thu và vận dụng các tri thức mới trên cơ sở những hiểu biết đã có của bản thân.
- Môi trường học tập cộng tác có tính kích thích cao việc nhận thức Các nghiên cứu về giáo dục đã chỉ ra rằng, việc học tập thường bị ảnh hưởng bỏi hoàn cảnh và các hoạt động trong hoàn cảnh đó (Brown, Collins và Duguid, 1989) Trong môi trường học cộng tác, các hoạt động thường đưa học sinh vào những nhiệm vụ hoặc câu hỏi mang tính thách thức Học sinh không chỉ đơn giản là nghe giảng, rồi sau đó ừả lòi những câu hỏi mang tính kiểm tra lại những thông tin từ bài giảng, mà giờ đây phải chủ động thực hành luôn những điều đã và đang được học nhằm giải quyết những vấn đề mà giáo viên đưa ra Môi trường học tập này sẽ thôi thúc học sinh thực hành, phát triển kỹ năng tranh luận và tự giải quyết vấn đề
- Trong hình thức học cộng tác, đối tượng người học rất đa dạng Đó là
sự đa dạng về kiến thức, kinh nghiệm, phong cách học và mục tiêu học tập
Sự đa dạng này làm cho việc cộng tác trở nên có hiệu quả, mỗi người học đều
có thể đóng góp kinh nghiệm và kiến thức của bản thân vào việc giải quyết công việc chung của cả nhổm
- Việc học cộng tác ưở thành hoạt động mang tính xã hội: "Học cộng tác
có đặc điểm là tạo ra môi trường cho phép học sinh nói, trao đổi với nhau và việc học được thực hiện ngay trong quá trình trao đổi, nói chuyện đó" (Golub, 1988) Việc học tập trao đổi không chỉ bó hẹp trong phạm vi một nhóm học sinh của một lóp mà còn có thể mở rộng ra với nhiều người tham gia Việc cùng nhau khám phá, trao đổi, phản hồi thông tin giúp học sinh có được sự hiểu biết tốt hơn và sẽ mang lại những kiến thức mới mẻ cho tất cả
Trang 151.1.3.3 Mục tiêu của dạy học cộng tác
- Mục tiêu đầu tiên của học cộng tác là nó tạo ra được mối liên kết về mặt xã hội và tri thức giữa những người học với nhau và với môi trường học tập [Astin, 1985; Bonwell và Eison, 1991; Kuh, 1990; Nhóm nghiên cứu điều kiện học tập tốt trong bậc trung học, 1984] Mối liên kết này sẽ là cơ sở cho việc tăng cường khả năng trao đổi nhằm nâng cao khả năng tiếp thu và vận dụng tri thức của mỗi thành viên
- Bên cạnh đó, với đặc điểm đa dạng về người học, quá trình học cộng tác phải đạt được mục tiêu là sự họp tác và khả năng làm việc theo nhóm của mỗi cá nhân người học Việc xây dựng được sự đồng thuận chung trong nhóm
sẽ là tiền đề cho sự thành công trong hoạt động của nhóm
- Ngoài ra, dạy học cộng tác còn nhằm tạo ra tính trách nhiệm công dân Quá trình học cộng tác phải tạo ra thói quen tham gia và chịu trách nhiệm đối với cộng đồng của mỗi người học Quá trình này cũng khuyến khích học sinh đóng góp tiếng nói tích cực của mình vào việc hình thành các khái niệm, các giá trị và biết lắng nghe mọi người Đối thoại, tranh luận và tìm kiếm sự đồng thuận là những yếu tố chính của học cộng tác cũng như của cuộc sống
1.1.4 Quy trình một giờ lên lớp theo phưomg pháp cộng tác nhóm
Trong DHCTN, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS bao gồm các bước như sau:
1.4.1.1 Hoạt động của GV
Bước 1: Thành lập nhóm và giao nhiệm vụ học tập cho học sinh
GV tổ chức các nhóm HTCT Khi thành lập nhóm, GV cần xác định rõ kiểu nhóm, số lượng các thành viên trong nhóm; phân công vị trí của các nhóm trong không gian lớp học; yêu cầu cử nhóm trưởng để điều khiển hoạt động và thư ký để tổng họp ý kiến thảo luận
GV giao nhiệm vụ cho nhóm Ở khâu này, GV cần lưu ý nhiệm vụ phải sát với trình độ của từng nhóm, giải thích rõ ràng, ngắn gọn các vấn đề
Trang 16nhóm cần giải quyết và các mục tiêu cần đạt được, đồng thòi quy định thòi gian cho hoạt động nhóm.
GV hướng dẫn nhóm giải quyết nhiệm vụ bằng cách cung cấp các phưomg tiện, tài liệu học tập và hướng dẫn cách sử dụng, hoặc gọi ý những giải pháp và phưomg hướng giải quyết vấn đề, gợi ý cho HS các kiến thức và
kỹ năng cần huy động và vận dụng Ngoài ra, GV có thể giúp đỡ nhóm phân công nhiệm vụ cho từng thành viên
Bước 2: Hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu
Trong DHCTN, GV giữ vai trò là người hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc giải quyết các tình huống học tập
Bước 3: Tổ chức thảo luận nhóm
Ở bước này GV tiến hành theo trình tự
- Định hướng thảo luận nhóm:
+ Xác định mục tiêu, nội dung thảo luận nhóm, xác định những nhiệm
vụ, những vấn đề chính cần làm sáng tỏ;
+ Hướng dẫn cho nhóm những biện pháp tăng cường sự hợp tác và nâng cao trách nhiệm cá nhân trong quá trình học tập, thảo luận
- Điều khiển hoạt động của nhóm:
+ Kích thích hoạt động của nhóm bằng cách đưa ra những tình huống
đủ để kích thích tư duy của học sinh; khuyến khích sự tham gia tích cực của mọi thành viên; động viện những thành viên rụt rè, khéo léo ngăn chặn những học sinh không có ý thức hoạt động nhóm Khuyến khích học sinh đưa ra nhiều giải pháp và cách giải quyết cho cùng một vấn đề;
+ Khai thác nội dung thảo luận nhóm;
+ Điều chỉnh hoạt động của nhóm HTCT: hướng hoạt động của nhóm vào đúng trọng tâm vấn đề cần thảo luận; nêu câu hỏi phụ hoặc các tình huống phụ khi hoạt động của nhóm bế tắc;
Trang 17+ Thúc đẩy hoạt động của nhóm HTCT đi tới mục tiêu, theo dõi và thông báo thời gian, yêu cầu thống nhất kết quả thảo luận.
Bước 4: Tổ chức thảo luận lớp
Tổng kết báo cáo của từng nhóm để phát hiện sự khác biệt, những mâu thuẫn giữa các nhóm, phát hiện những chi tiết mà nhóm có thể bỏ quên hoặc không làm
Yêu cầu đại diện các nhóm trình bày hoặc chỉ định một học sinh bất kỳ trong nhổm trình bày những kết quả nghiên cứu và cách xử lý tình huống của nhóm mình, những vấn đề mà nhóm chưa giải quyết được, nguyên nhân của nó
Yêu cầu các nhóm bổ sung và hoàn thiện: cách giải quyết, xử lý tình huống; kết quả xử lý tình huống
Nhấn mạnh những khác biệt, mâu thuẫn giữa các nhóm để các nhóm trao đổi; yêu cầu học sinh bảo vệ cách giải quyết vấn đề và các kết quả nghiên cứu của nhóm mình, phản bác lại những ý kiến của nhóm khác
Bước 5: Kết luận và đánh giá kết quả nhóm HTCT
Trong thảo luận, có những vấn đề rất khó phân biệt đúng sai, lúc này
GV có vai trò là trọng tài khoa học GV phải đưa ra kết luận có tính khoa học
về cách xử lý tình huống
1.1.4.2 Hoạt động của học sinh
Bước 1: Gia nhập nhóm và tiếp cận nhiệm vụ học tập
Trong giờ học theo DHCTN thì mỗi cá nhân, nhóm HS sẽ tồn tại trong một nhóm nhất định và giữ một vai trò, nhiệm vụ nhất định mà nhóm giao cho
Vì vậy, ở bước này, hoạt động của HS được tiến hành như sau: tìm về nhóm của mình theo sự phân công; tiếp nhận nhiệm vụ từ GV; tiếp nhận nhiệm vụ từ nhóm
Bước 2: Cá nhân tự nghiên cứu
Trang 18Dưới sự hướng dẫn của GV, HS sẽ tự giác nghiên cứu SGK, tài liệu và bằng vốn kiến thức của mình để xử lý tình huống mà GV đưa ra.
Bước 3: Cộng tác với bạn trong nhóm HTCT
Trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trước nhóm
Ghi lại các ý kiến của bạn theo cách hiểu của mình
Đưa ra nhận xét của mình đối với phương án của bạn đưa ra
Các thành viên trong nhóm thống nhất để đi đến kết quả chung
Bước 4: Cộng tác với các bạn trong lớp
Việc làm này để giải quyết các tình huống của nhóm đã được sửa và bổ sung chỉnh lý Tuy nhiên, giữa các nhóm vẫn có thể có sự khác biệt Vì vậy, các nhóm cần có sự thảo luận để thống nhất ý kiến
Bước 5: Kiểm tra và đánh giá kết quả
Sau khi đã tiến hành thảo luận trong lóp, GV đưa ra những phân tích, đánh giá và kết luận Căn cứ vào đó, HS tự đánh giá, tự điều chỉnh kết quả nghiên cứu của mình
xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc về DHCTN
- Kết quả thu được như sau:
Trang 19HS trao đổi, thảo luận, giúp đỡ nhau để hoàn
thành nhiệm vụ học tập dưới sự tương tác của
GV
4
HS liên kết và phối hợp hoạt động với nhau
để thực hiện nhiệm vụ học tập chung của
nhóm
5 Một HS khá, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ,
Số liệu ở bảng 1 cho thấy, các GV có nhận thức tương đối đúng về bản chất của DHCT số GV có quan niệm DHCT đơn giản chỉ là xếp chỗ cho HS ngồi cạnh nhau trong một không gian, hoặc một HS khá sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ có trách nhiệm giúp đỡ người khác rất ít và hàu như không có Tuy nhiên, các quan niệm của GV cũng chỉ dừng lại ở quan điểm truyền thống DHCT là sự trao đổi, thảo luận và giúp đỡ lẫn nhau giữa các HS trong một nhóm Điều này là đúng nhưng chưa đủ theo lí luận dạy học hiện đại, DHCT phải tạo ra sự phụ thuộc tích cực buộc HS phải có sự liên kết và phối họp hoạt động để thực hiện nhiệm vụ chung trên cơ sở tổ chức chủ động của mỗi thành viên Số GV trường tiểu học có quan niệm như vậy còn tương đối ít
Bên cạnh đó, nói về hiệu quả DHCTN mang lại, các GV ở trường Tiểu học cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau Các quan điểm đó được thể hiện qua bảng sau:
Trang 20Bảng 2: Nhận thức của G V vế ý nghĩa và tầm quan trọng của D H CTN
TT DH CTN tạo điều kiện hình thành và phát
triển những phẩm chất nào của HS?
Số lượng Tỉ lệ(% )
1 Tự giác, tích cực và chủ động trong học tập 14 51,9
5 Tự chủ và năng động trong các hoạt động xã
Cũng qua tìm hiểu thực tế ở các trường Tiểu học, chúng tôi thấy hầu hết các GV vẫn chỉ sử dụng hình thức dạy học cả lớp và dạy cá nhân, các dạng nhóm hầu như được quan tâm rất ít Phần lớn GV không thường xuyên
tổ chức DHCTN, họ chỉ sử dụng PPDH này vào những tiết hội giảng hoặc sinh hoạt chuyên môn theo cụm
v ề phía học sinh, qua thời gian theo dõi quá trình học sinh cộng tác
nhóm trong một số tiết học, chúng tôi nhận thấy học sinh đã biết cách làm việc, trao đổi thảo luận với nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ học tập Tuy nhiên, hiệu quả học sinh đạt được chưa cao: nhiều HS vẫn còn có tư tưởng ỷ lại vào các thành viên khác trong nhóm; việc hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu là
do HS khá giỏi trong nhóm thực hiện (thường là nhóm trưởng); các em chưa tập trung thực sự vào việc học tập mà sử dụng thời gian làm việc nhóm để nói chuyện hay làm việc riêng,
1.2.2 Nguyên nhân của thực trạng
- Việc giáo viên không thường xuyên sử dụng hình thức DHCTN hoặc
có sử dụng nhưng hiệu quả mang lại chưa cao, nguyên nhân chủ yếu là do:
Trang 21+ Một lớp học đông khiến GV khó điều khiển và quản lý lớp tốt;
+ Việc tổ chức hoạt động nhóm mất nhiều thời gian trong khi thời lượng tiết học chỉ có 35 phút;
+ GV cho rằng khi thảo luận nhóm, HS thường phải di chuyển và ngồi trực diện Cách bố trí bàn học cố định ở các trường Tiểu học hiện nay (bàn có hai học sinh) làm cho việc thảo luận nhóm diễn ra không thuận lọi
+ Một nguyên nhân quan trọng nữa là GV chưa có nhiều kỹ năng tổ chức dạy học Nhiều GV có suy nghĩ tổ chức DHCTN là hình thức ghép các
em lại, bầu ra nhóm trưởng, thư ký, đưa ra một tình huống toán học, cho HS thảo luận rồi gọi các em trình bày, làm như vậy coi như tiến trình dạy học đã hoàn thành
- v ề phía học sinh, việc cộng tác nhóm còn chưa đạt hiệu quả cao chủ
yếu là do:
+ Các em chưa được hướng dẫn kỹ càng về các kỹ năng hoạt động nhóm: các em chưa xác định cụ thể được vai trò, nhiệm vụ của mình trong nhóm; chưa biết cách phân chia công việc cho công bằng; chưa biết cách lắng nghe ý kiến của các bạn và bảo vệ ý kiến của mình,
+ Một số học sinh chưa tích cực trong khi hoạt động nhóm, còn ỷ lại vào các thành viên khác nhưng không được GV phát hiện kịp thời và nhắc nhở
Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khách quan khác dẫn đến việc dạy học cộng tác nhóm chưa đạt hiệu quả cao như: cơ sở vật chất; phương tiện dạy học không đáp ứng,
Trang 22Kết luận chương 1
Dạy học cộng tác trong nhóm đã được các nhà giáo dục trên thế giới cũng như Việt Nam chú ý và nghiên cứu ngay từ thế kỷ XVIII Đó là một PPDH tích cực và mang tính xã hội cao phù họp với quy luật vận động và phát triển của thế giới cũng như sự phát triển tâm sinh lý của học sinh Tiểu học Ở Việt Nam, lứa tuổi học sinh lớp 5, các em đã biết cách hợp tác vói nhau trong công việc, do đó áp dụng phương pháp dạy học cộng tác nhóm là
vô cùng càn thiết Đặc biệt là trong môn Toán, nó giúp các em tự tìm tòi, phát hiện ra tri thức nhờ đó kiến thức được khắc sâu hơn Tuy nhiên, do năng lực tiếp thu và đổi mới PPDH của GV còn hạn chế, HS chưa được định hướng rõ
về cách thức làm việc nhóm, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nên việc cộng tác nhóm của HS chưa thực sự mang lại hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu giảng dạy và học tập
Trang 23CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP ĐỠ HỌC SINH CỘNG TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ TRONG MÔN TOÁN LỚP 5 2.1 Khái quát nội dung chương trình sách giáo khoa Toán 5
(5 tiếưtuần X 35 tuần = 175 tiết)
và đo đại lượng hình học có lòi văn
1 Ôn tập và bổ 1 Ôn tập: Bảng đơn vị 1 Giới thiệu về 1 Giải toánsung về phân số: đo độ dài, bảng đơn vị các hình: hình liên quan
- Khái niệm, tính đo khối lượng tam giác; hình đến tỉ lệ.chất cơ bản của 2 Đơn vị đo diện tích: thang; hình 2 Giải các
- Cách so sánh hai (dam2); héc-tô-mét tròn; biểu đồ tỉ số phầnphân số; vuông (hm2); mi-li-mét hình quạt; hình trăm
- Các phép toán vuông (mm2); bảng đơn hộp chữ nhật;
cộng, trừ, nhân, vị đo diện tích hình lập
chia hai phân số; 3 Đơn vị đo thể tích: phương; hình
- Giới thiệu khái Xăng-ti-mét khối (cm3); trụ; hình cầu
niệm phân số thập Đề-xi-mét khối (dm3); 2 Tính diện
phân, hỗn số Mét khối (m3) tích: hình tam
2 Giới thiệu về số 4 Bảng đơn vị đo thời giác; hình
thập phân và các gian, vận tốc, quãng thang; hình
phép tính với số đường tròn Tính diện
Trang 243 Làm quen vói khái niệm thể tích của một hình Tính thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương.
Hình thức DHCTN có thể sử dụng khá rộng rãi trong các dạng bài học của chương trình môn Toán nói chung và Toán 5 nói riêng, chẳng hạn:
- Phù họp với các dạng bài học như so sánh hai số thập phân, các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) với số thập phân,
- Rất hiệu quả khi dạy các bài về yếu tố hình học: diện tích hình tam giác, diện tích hình thang,
Trang 25- Hoặc sử dụng trong một phần của bài dạy như: củng cố kiến thức, dạy học bài mói hoặc thực hành luyện tập,
Khi dạy các bài này, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm, cùng trao đổi, thảo luận và rút ra kiến thức của bài Nhờ đó, học sinh có thể hiểu bài, nắm được bài tốt hơn, việc ghi nhớ kiến thức cũng trở nên sâu sắc hơn so với việc tiếp thu kiến thức một cách bị động từ phía giáo viên
2.2 Một sổ định hướng xây dựng các biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lóp 5
Qua nghiên cứu lý luận dạy học cộng tác nhóm và phân tích những nguyên nhân khiến việc cộng tác nhóm trong môn Toán ở một số trường Tiểu học chưa đạt hiệu quả cao, chúng tôi đề ra những định hướng xây dựng các biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lớp 5 như sau:
Định hướng 1: Cung cấp cho giáo viên những hiểu biết đúng đẳn và đầy đủ về dạy học cộng tác; bồi dưỡng, trau dồi những kỹ năng dạy học cộng tác cần thiết.
Định hướng 2: Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm việc nhóm Định hướng 3: Dạy học cộng tác nhóm nên được lồng ghép với trò chơi ịhoặc mang yếu tố vui chơi) trong học tập các kiến thức, kỹ năng Toán học Định hướng 4: Đảm bảo phối hợp một cách hợp lý dạy học cộng tác và các phương pháp dạy học khác.
2.3 Đề xuất các biện pháp giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lóp 5
Dựa trên các định hướng vừa nêu, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm giúp đỡ học sinh cộng tác nhóm có hiệu quả trong môn Toán lóp 5 như sau:
Trang 262.3.1 Bồi dưỡng cho giáo viên các kỹ năng dạy học cộng tác cần thiết trong môn Toán
- Kỹ năng xác định mục tiêu bài học theo mô hình DHCTN
Tìm hiểu mục tiêu của môn học, xác định vị trí của bài học trong chương trình và kế hoạch dạy học Xác định mục tiêu môn học sẽ giúp cho
GV không bị chệch hướng, đồng thòi phù hợp với hoàn cảnh thực tế Khi xác định mục tiêu bài học, GV sẽ có cái nhìn tổng thể để lựa chọn các tri thức cần dạy, xác định mối liên hệ giữa các kiến thức đã học và những kiến thức cần dạy, tạo ra những tình huống học tập hợp lý, phát huy sự sáng tạo độc lập suy nghĩ của học sinh GV cần lưu ý lựa chọn lượng kiến thức phù họp để HS có thể cộng tác nhóm với nhau, cùng giải quyết nhiệm vụ, không nên chọn những nội dung quá dễ mà cá nhân HS có thể tự giải quyết được
Với vai trò là người hướng dẫn, GV cần có những hiểu hiết về đặc điểm
và trình độ, khả năng tiếp thu kiến thức, kĩ năng của HS, từng nhóm học tập Điều này rất cần thiết, giúp cho GV xác định khối lượng tri thức người học cần được tiếp thu, khả năng họp tác trong học tập, đồng thời giúp GV lựa chọn các phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học thích họp
- Kỹ năng thiết kế nội dung bài học theo mô hình DHCTN
+ Phân tích nội dung bài học, xác định những tư tưởng chính của bài học
và phân chia bài học thành những đơn vị tri thức độc lập
+ Xây dựng cấu trúc nội dung của bài học Yêu cầu GV cần đạt là xác định rõ các tri thức chính và tri thức phụ trong bài học Tìm ra mối liên hệ giữa các đơn vị tri thức theo một trình tự họp lí về cấu trúc bài học
+ Xây dựng tình huống DH Trong DHCTN, tình huống dạy học thể hiện dưới dạng tình huống có vấn đề
Xác định trình độ và năng lực nhận thức của HS để xây dựng tình huống phù họp vói khả năng HTCT Thiết kế vật cản, mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết nằm trong tình huống có vấn đề là những mâu thuẫn về
Trang 27nhận thức Khi thiết kế vật cản cần quan tâm đến mức độ từ thấp đến cao, giúp cho tư duy học sinh có thể thích ứng vói cách giải quyết vấn đề GV thiết
kế vật cản nên biết rõ những khó khăn mà học sinh phải vượt qua
- Kỹ năng phổi hợp PPDH CTN với các PPDH tích cực khác
GV cần kết hợp DHCTN với nhiều PPDH khác một cách khéo léo, nhuần nhuyễn Một tiết học diễn ra trong 35 phút cần có sự kết hợp của nhiều PPDH, trong đó có PPDH chủ yếu và PPDH phụ trợ Vì mỗi pp đều có ưu, nhược điểm khác nhau, việc kết hợp giữa các PPDH nhằm phát huy ưu điểm
và hạn chế nhược điểm của nhau Mặt khác, trong tiết học nếu chỉ cứng nhắc
sử dụng duy nhất một PPDH sẽ dẫn đến nhàm chán, HS không tập trung, từ
đó sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập
DHCTN có thể kết hợp với nhiều PPDH như: PP vấn đáp; pp phát hiện
và giải quyết vấn đề; pp học tập tình huống,
- Kỹ năng thiết kể phương tiện dạy học theo mô hình DHCTN
Trong DHCTN, việc sử dụng phương tiện dạy học có vai trò quan trọng Thực tiễn cho thấy, khi DHCTN, các GV cho rằng một trong những khó khăn lớn nhất của việc tổ chức DHCTN là thời gian bị hạn chế trong một tiết học Để đạt được hiệu quả DH trong một thời gian ngắn càn sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học như: máy tính; máy chiếu; tranh vẽ; giấy khổ lớn, Mặt khác, việc sử dụng các phần mềm dạy học sẽ giúp HS dễ dàng trực giác
để công nhận kiến thức mà GV không tốn nhiều thòi gian giải thích