1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

Nghiên cứu hiệu quả của các hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp đối với sinh viên năm thứ nhất đại học công nghệ thông tin và truyền thông ĐHTN

51 530 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 355,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu vai trò của từ vựng trong việc tiếp thu một ngoại ngữ và so sánh giữa các hoạt động dạy học truyền thống và các hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp trong lớp học, thông qua nghiên cứu bán thử nghiệm để đánh giá hiệu quả của một số hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp đối với sinh viên năm thứ nhất Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Câu hỏi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Thiết kế đề tài 4

PHẦN II: NGHIÊN CỨU CHÍNH 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU 6

1.1 Giới thiệu chung 6

1.2 Từ vựng trong dạy và học tiếng Anh 6

1.2.1 Định nghĩa và phân loại Từ 6

1.2.2 Định nghĩa và phân loại từ vựng 6

1.2.3 Tầm quan trọng của từ vựng 7

1.2.4 Vai trò của từ vựng đối với các kỹ năng ngôn ngữ 8

1.2.4.1 Trong giao tiếp 8

1.2.4.2 Đối với các kỹ năng khác 8

1.3 Việc dạy từ vựng 9

1.3.1 Vai trò của việc dạy từ vựng 9

1.3.2 Cái gì cần được dạy khi dạy từ vựng? 9

1.3.3 Phương pháp và cách tiến hành dạy từ vựng ở đại học 10

1.3.4 Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp 11

1.3.4.1 Giới thiệu và định nghĩa về phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp 11

1.3.4.2 Các đặc điểm cơ bản của đường hướng giao tiếp 12

1.3.4.3 Vai trò của giáo viên trong việc dạy học theo hướng giao tiếp: 12

1.3.4.4 Thách thức đối với việc áp dụng dạy học theo hướng giao tiếp ở Việt Nam .13

1.3.4.5 Một vài lưu ý khi áp dụng việc dạy từ vựng theo hướng giao tiếp một cách hiệu quả .13

Trang 2

1.3.4.6 Đặc trưng của các hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp thúc đẩy việc học

từ vựng .13

1.4 Kết luận 14

CHƯƠNG 2 15

PHƯƠNG PHÁP BÁN THỰC NGHIỆM 15

2.1 Giới thiệu 15

2.2 Bối cảnh nghiên cứu 15

2.2.1 Vài nét về ĐH CNTT&TT 15

2.2.2 Đội ngũ giảng viên tiếng Anh 16

2.2.3 Sinh viên năm thứ nhất không chuyên tiếng Anh .16

2.2.4 Giáo trình 17

2.2.4.1 Thiết kế các bài từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge -Elementary 17

2.2.4.2 Các bài học từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge - Elementary 17

2.2.5 Mục tiêu việc dạy tiếng Anh tổng quát tại Đại học CNTT&TT 18

2.3 Một số hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp trong đề tài .18

2.3.1 Trò chơi 18

2.3.2 Giới thiệu nghĩa của từ bằng dịch nghĩa 19

2.3.3 Liên hệ nghĩa từ mới với những từ đã biết 19

2.3.4 Tương phản và đối lập 19

2.3.5 Giáo cụ trực quan 19

2.3.6 Sử dụng cách diễn đạt qua khuôn mặt và ngôn ngữ cơ thể 20

2.4 Phương pháp bán thực nghiệm 20

2.4.1 Bố cục 20

2.4.1.1 Đối tượng 20

2.4.1.2 Giáo viên 20

2.4.1.3 Công cụ đánh giá chính: Pre-test và post-tests 21

2.4.1.4 Các công cụ đánh giá bổ xung 21

2.4.1.4.1 Ghi chép từ dự giờ 21

2.4.1.4.2 Phiếu tự đánh giá của giáo viên 21

2.4.2 Giai đoạn hiện thực hóa 21

2.4.2.1 Bài Pre-test 21

Trang 3

2.4.2.2 Tiến trình dạy từ vựng 23

2.4.2.2.1 Một số dạng bài tập và hoạt động điển hình cho việc giới thiệu, thực hành và ôn tập từ vựng 23

2.4.3 Kết luận về quá trình thực hiện phương pháp bán thực nghiệm 26

CHƯƠNG 3 27

PHÂN TÍCH SỐ LIỆU, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 27

3.1 Diễn giải kết quả nghiên cứu 27

3.1.1 Thăm lớp dự giờ 27 3.1.2 Giáo viên tự đánh giá 28

3.1.3 Kết quả bài post-test 28

PHẦN III: KẾT LUẬN 34

1 Tóm tắt đề tài 34

2 Những gợi ý 35

2.1 Đối với giáo viên 35

2.1.1 Vai trò của giáo viên 35

2.1.2 Việc kết hợp dạy từ vựng với các kỹ năng .35

2.1.3 Giáo viên nên rèn tính độc lập cho sinh viên 36

2.1.4 Giáo viên nên kết hợp các phương pháp dạy từ vựng khác nhau 36

2.1.5 Lựa chọn trò chơi và các hoạt động một cách hiệu quả 36

2.2 Rules for students Nguyên tắc đối với sinh viên 36

3 Hạn chế của đề tài 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

APPENDICES 39

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐH CNTT&TT: Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

EFL: English as Foreign Language

Trang 4

ESP: English for Specific Purpose

M.A: Master

MC: Master of Ceremonies

TPR: Total Physical Response

VNU: Viet Nam National University

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Pages

Bảng 1: Thiết kế từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge -Elementary 17

Trang 5

Bảng 2: Kết quả các bài post-tests 29 Bảng 3: phân loại sinh viên qua post-tests 31

Trang 6

LIST OF CHARTS

Pages

Chart 1: Dưới trung bình 31

Chart 2: Trung bình 31

Chart 3: Khá 32

Chart 4: Giỏi 32

Trang 7

Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu sử dụng tiếng Anh đang tănglên nhanh chóng trong vài thập kỷ trở lại đây Thực tế thì, với chính sách mở cửa vàmột nền chính trị ổn định, Việt Nam hiện thu hút được ngày càng nhiều các nhà đầu

tư nước ngoài và du khách đến để kinh doanh và nghỉ ngơi Và hiển nhiên thì tiếngAnh là sự lựa chọn hàng đầu đối với hầu hết người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ.Điều này phản ánh số lượng đông đảo các trung tâm, câu lạc bộ, trường học, Đại họcdạy tiếng Anh…cả của Việt Nam và nước ngoài Tuy nhiên thực trạng dạy và họctiếng Anh ở Việt Nam vẫn chưa phải là một bức tranh tươi sáng thậm trí tại cáctrường Đại học, cao đẳng…Một trong những nguyên nhân chính đó là sự kém hiệuquả trong phương pháp giảng dạy và lối tư duy sai lầm đối với tiếng Anh Hãy lấyviệc dạy từ vựng làm ví dụ Mảng phương pháp giảng dạy này đã bị xem nhẹ và saonhãng trong một thời gian dài, trong khi chúng ta đều biết rằng từ vựng là phươngtiện kết nối bốn kỹ năng nghe, nói đọc viết Nếu không có từ vựng chúng ta khôngthể truyền đạt chính xác những gì chúng ta muốn nói đến người nghe Là công cụgiao tiếp được sử dụng trên toàn thế giới, việc sử dụng tiếng Anh đòi hỏi người nóiphải biết nhiều từ vựng Theo các nhà ngôn ngữ học, trong giao tiếp thì từ vựng quantrọng hơn ngữ pháp Tuy nhiên nó vẫn chưa có được một vị trí xứng đáng trong lớp

học “Phần lớn thời gian dạy học được dành cho việc giải thích và đưa ra định nghĩa Bảng đen thường được tô kín bởi một lượng lớn các mục từ vựng, và sinh viên sưu tầm nhiều trang từ vựng mà họ hiếm khi có cơ hội được luyện tập” (Ruth Gairns

& Stuart Redman 1986)

Tại trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền Thông – Đại học Tháinguyên – một trung tâm đào tạo các cử nhân, kỹ sư các ngành: công nghệ thông tin

Trang 8

và điện tử viễn thông, tự động hóa, truyền thông đa phương tiện…thực trạng dạy vàhọc từ vựng cũng không khác là mấy so với bức tranh chung của việc dạy từ vựngtrên toàn quốc Sinh viên của trường thường cảm thấy buồn tẻ trong các giờ học từvựng bởi họ không thay đổi thói quen học như: viết từ vựng lên tờ giấy, cố gắng họcthuộc lòng hoặc học qua cách giải thích của giáo viên Bên cạnh đó, sinh viên sau khi

ra trường có nhu cầu đọc và giao tiếp bằng tiếng Anh rất lớn Để làm được điều này,

họ phải có được một lượng từ vựng nhất định và hơn nữa thì, họ phải biết cách sửdụng đúng trong từng ngữ cảnh cụ thể Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng, để nắm chắctiếng Anh, bên cạnh chiến lược học hợp lý của sinh viên thì vai trò và phương phápgiảng dạy của giáo viên cũng rất quan trọng Vậy bằng cách nào để dạy từ vựng mộtcách hiệu quả?

Trong những năm gần đây, dạy học theo đường hướng giao tiếp được áp dụngtại việt nam và nó cho thấy sự hiệu quả trong dạy và học ngôn ngữ “dạy học theohướng giao tiếp là một xu hướng giúp sinh viên thêm năng động trong các tình huốngthực của cuộc sống nó khuyến khích sinh viên luyện tập ngôn ngữ mà họ học đượcbằng những cách có ý nghĩa” (Nguyen Thi Thu Van & Khuat Thi Thu Nga, 2003 )

Từ những điều này, câu hỏi "Liệu các hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp trên lớp học hiệu quả hơn những hoạt động truyền thống?" đã đến với tâm trí của

tôi và làm tôi nhớ lại những tiết dạy mà đồng nghiệp của tôi đã áp dụng các hoạtđộng dạy từ vựng mang tính giao tiếp Vào thời điểm đó, nhiều hoạt động giao tiếpđược áp dụng, trong đó liên quan đến cả lớp và thu hút sự chú ý của rất nhiều sinhviên "Tại sao chúng ta không áp dụng các hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp đểdạy từ vựng? Nó có hiệu quả cho sinh viên của tất cả các cấp độ không? Tuy vậy, chỉ

có một vài tiết học trên có phản ánh chính xác hiệu quả của các hoạt động dạy họctheo hướng giao tiếp?" Những suy nghĩ, lo lắng cộng với thực tế giảng dạy và học tập

từ vựng đã thúc đẩy tôi thực hiện nghiên cứu bán thực nghiệm "Nghiên cứu hiệu quả của các hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp đối với sinh viên năm thứ nhất - Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông”

2 Mục tiêu của nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu vai trò của từ vựng trong việc tiếp thu một ngoạingữ và so sánh giữa các hoạt động dạy học truyền thống và các hoạt động dạy học

Trang 9

theo hướng giao tiếp trong lớp học, thông qua nghiên cứu bán thử nghiệm để đánhgiá hiệu quả của một số hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp đối với sinh viênnăm thứ nhất - Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông.

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

Như đã đề cập trong phần Lý do chọn đề tài, từ vựng thực sự cần thiết và quantrọng đối với người học để giao tiếp tốt Tuy nhiên giá trị của từ vựng chưa đượcđánh giá đúng hoặc nó được dạy theo cách truyền thống đơn thuần, khiến cho các giờhọc từ vựng trở nên nhàm chán Nghiên cứu này cố gắng đánh giá hiệu quả tương đốicủa một số hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp và đề xuất một số kiến nghịcho việc giảng dạy và học tập từ vựng một cách hiệu quả hơn

Với nghiên cứu này, người viết hy vọng sẽ góp một phần nhỏ để giảng dạy /học tập từ vựng theo hướng giao tiếp có hiệu quả, từ đó có thể giúp sinh viên ghi nhớ

từ vựng và giúp các giáo viên tìm ra cách thức phù hợp nhất trong việc giảng dạy từvựng

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này được thiết kế để tìm câu trả lời cho câu hỏi chính " Liệu cáchoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp có hiệu quả hơn những hoạt động dạyhọc truyền thống?" Do giới hạn của một đề tài nhỏ, trong thời gian hạn chế, chúng tôichỉ tiến hành một nghiên cứu bán thử nghiệm kéo dài trong 6 tuần dựa trên ba đơn vịbài học đầu tiên (Module 1, 2 và 3) của giáo trình New Cutting Edge - Elemetary.Đối tượng nghiên cứu là 40 sinh viên năm thứ nhất không chuyên và hai giáo viêntiếng Anh, những người đồng chuẩn bị kế hoạch bài giảng và dạy hai lớp học – mộtlớp bán thực nghiệm và và một lớp kiểm soát Bản thân người viết không tham giadạy thực nghiệm để đảm bảo tính khách quan

5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Từ vựng có vai trò gì trong việc dạy và học ngoại ngữ?

2 Liệu các hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp có hiệu quả hơn cáchoạt động dạy từ vựng truyền thống không?

3 Những gợi ý giúp cho việc dạy và học từ vựng hiệu quả hơn?

Trang 10

6 Phương pháp nghiên cứu

Trước tiên, phần nền tảng lý luận liên quan đến đề tài được tiến hành thông quaviệc sưu tầm tài liệu, các nguồn thông tin từ internet…Trong Phần 2- Nghiên cứu,chúng tôi đưa ra một cái nhìn tổng thể về việc dạy và học từ vựng tại Đại họcCNTT&TT trong đó chúng tôi đề cập đến giáo viên, sinh viên, giáo trình …nằmtrong bối cảnh nghiên cứu này

Với sự cố gắng nhằm tìm ra hiệu quả của các hoạt động dạy từ vựng theo hướnggiao tiếp cho sinh viên năm thứ nhất không chuyên, một nghiên cứu bán thử nghiệmđược tiến hành Nghiên cứu này chỉ dành cho sinh viên năm thứ nhất không chuyênAnh của ĐH CNTT&TT 40 sinh viên này thuộc về 2 lớp học không được lựa chọnngẫu nhiên Một lớp được chỉ định ngẫu nhiên làm thử nghiệm và và lớp còn lại làlớp kiểm soát Tương tự, hai giáo viên tương đồng với nhau về trình độ học vấn, tuổitác và kinh nghiệm dạy tiếng Anh không chuyên cho sinh viên, có uy tín đối vớiđồng nghiệp trong trường Một giáo viên được chọn ngẫu nhiên cho lớp thử nghiệm

và giáo viên còn lại cho lớp kiểm soát Nghiên cứu bán thử nghiệm được kéo dàitrong khoảng 6 tuần với 3 bài đầu tiên của giáo trình New Cutting Edge -Elementary Bài kiểm tra đầu vào (pre-test) được tiến hành với sinh viên của cả hailớp khi mới bắt đầu thử nghiệm nhằm kiểm tra kiến thức từ vựng của sinh viên Saukhi kết thúc mỗi bài học, một bài kiểm tra đầu ra (post-test) dựa trên kiến thức củabài học đó, được các sinh viên cả 2 lớp hoàn thành Tuy nhiên, nội dung bài kiểm trađầu ra cuối cùng bao gồm kiến thức cả ba bài Bên cạnh bài kiểm tra đầu ra, việcthăm lớp và tự đánh giá của giáo viên cũng được sử dụng như công cụ kiểm tra bổxung nhằm khẳng định kết quả của các bài kiểm tra Dữ liệu thu được phân tích hoàntoàn bằng việc mô tả thống kê Bằng những cách này, chúng ta có thể thấy các hoạtđộng nào trong số 2 loại hoạt động dạy từ vựng theo cách truyền thống và theo hướnggiao tiếp Từ đó, chúng tôi đưa ra một vài kiến nghị

Trang 11

Chương 2- Bán thực nghiệm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu Chương cuối cùng,Chương 3 – Phân tích số liệu, Kết quả và bàn luận làm sáng tỏ kết quả của nghiêncứu bán thử nghiệm.

Phần 3 – Kết luận – đưa ra tóm tắt nghiên cứu, những gợi ý đối với việc dạy vàhọc từ vựng hiệu quả hơn

Trang 12

PHẦN II: NGHIÊN CỨU CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thiệu chung

Chương này tập trung vào việc cung cấp một cái nhìn tổng quan về kiến thức lý

luận liên quan đến nghiên cứu, bao gồm Từ vựng trong dạy và học tiếng Anh; Dạy tiếng Anh; Phương pháp và đường hướng dạy từ vựng ở đại học; và nền tảng lý luận

về đường hướng dạy từ vựng

1.2 Từ vựng trong dạy và học tiếng Anh

1.2.1 Định nghĩa và phân loại Từ

Việc nắm bắt từ vựng bắt đầu từ đơn vị ‘Từ’ Vậy ‘Từ’ là gì? Theo Arnold I.B,(1996), thuật ngữ ‘Từ’ biểu thị một đơn vị cơ bản của một ngôn ngữ có kết quả từmối quan hệ giữa một nét nghĩa cụ thể với một nhóm âm thanh cụ thể có chức năng

cú pháp Từ là một tổng thể cấu trúc và ngữ nghĩa học trong hệ thống ngôn ngữ Từđiển American Heritage (1985) cho chúng ta biết rằng từ thường được ngăn cách bởikhoảng cách trong văn viết, và được phân biệt về mặt âm vị học, chẳng hạn như vềtrọng âm trong nhiều ngôn ngữ Từ nếu là một đơn vị riêng lẻ không thể đóng tựđóng vai trò giao tiếp: a man, I, like, good Chúng chỉ có chức năng giao tiếp khi

được phối hợp theo một cách nhất định: I like a good man.

Charles Carpenter Fries, trong cuốn “The structure of English: An Introduction

to the construction of English tendencies” (1952) đã phân biệt bốn loại từ theo chức

năng trong câu và theo sự phối hợp của chúng với các từ khác:

- Các từ chức năng (tạo câu hỏi)

- Các từ thay thế: he, she, they…

- Các từ có chức năng ngữ pháp: some, any

- Các từ chứa thông tin, tạo nên phần cốt lõi của từ vựng trong mỗi ngôn ngữ

1.2.2 Định nghĩa và phân loại từ vựng

“Từ vựng là kiến thức về từ và nghĩa của từ” đó là định nghĩa của Fran Lehr và

cộng sự (2004) trong một nghiên cứu có tiêu đề “A Focus on Vocabulary Hãy cùngnhìn nhận thuật ngữ “kiến thức từ vựng” được hiểu như thế nào Steven Stahl (1998)

cho chúng ta một định nghĩa như sau: “Kiến thức về từ vựng là một loại kiến thức; loại kiến thức về từ không chỉ nói về định nghĩa, mà còn nói đến cách mà một từ

Trang 13

được sử dụng một cách rộng rãi.” Điều đó có nghĩa là kiến thức về từ vựng không

chỉ là cái gì đó có thể tiếp thu một cách đầy đủ Nó là thứ có thể mở rộng và làm sâusắc trong suốt cuộc đời một con người Sự chỉ dẫn về từ vựng bao gồm nhiều hơnviệc tra từ trong từ điển và sử dụng từ trong câu Từ vựng được tiếp thu một cách tình

cờ qua những lần bộc lộ bởi từ và có chủ ý qua việc diễn đạt hướng dẫn bằng các từ

cụ thể và các thủ thuật học từ

Từ các lý giải trên, chúng ta có thể thấy một chiến lược học từ vựng mới luônrất thú vị và cần thiết Bên cạnh đó, có thể thấy là từ vựng cực kỳ quan trọng khi sinhviên muốn học tiếng Anh, bởi một sinh viên năm được nhiều từ vựng sẽ thấy hiểu vàtiếp thu tiếng Anh dễ hơn các sinh viên khác có ít từ vựng hơn

Các nhà nghiên cứu thường đề cập đến bốn loại từ vựng sau:

- Từ vựng cho kỹ năng nghe: Là những từ chúng ta cần biết để hiểu được

những gì chúng ta nghe

- Từ vựng cho kỹ năng nói: Là những từ chúng ta sử dụng khi chúng ta nói.

- Từ vựng cho kỹ năng đọc: là những từ cần thiết cho việc hiểu một bài đọc.

- Từ vựng cho kỹ năng viết: là những từ cần thiết trong văn viết.

Trang 14

1.2.4 Vai trò của từ vựng đối với các kỹ năng ngôn ngữ

1.2.4.1 Trong giao tiếp

Tiếng Anh được sử dụng như một công cụ giao tiếp giữa hai hoặc nhiều ngườinói các ngôn ngữ khác nhau Là một công cụ giao tiếp được sử dụng bởi tất cả mọingười trên thế giới, việc sử dụng tiếng Anh sẽ đòi hỏi nhiều từ vựng Một điều khôngcần bàn cãi là, một người nắm nhiều từ vựng sẽ tìm thấy nó dễ dàng hơn để làm chủtiếng Anh hơn bất kỳ người nào khác không có nhiều từ Với người có nhiều từ vựng,

họ cũng có thể thành thạo hơn trong giao tiếp, bởi vì họ không còn lo lắng khi lựachọn những từ sẽ được sử dụng trong khi trò chuyện Từ đây, chúng ta có thể nóirằng từ vựng và khả năng giao tiếp liên quan chặt chẽ Tôi xin trích dẫn quan điểm

của Lewis để ủng hộ điều này: "Từ vựng là thứ cơ bản để giao tiếp Nếu người học không nhận ra nghĩa của các từ khóa được sử dụng bởi những người dùng chúng, họ

sẽ không thể tham gia vào các cuộc trò chuyện Nếu họ muốn bày tỏ một số ý tưởng hoặc yêu cầu thông tin mà họ phải có khả năng sản xuất các mặt hàng từ vựng để truyền đạt ý nghĩa Thật vậy, nếu sinh viên biết các hình thái và cú pháp của một phát ngôn có địa chỉ, nhưng không biết ý nghĩa của mục từ vựng quan trọng thì họ sẽ không thể tham gia vào các hội thoại" (Lewis, 1993)

1.2.4.2 Đối với các kỹ năng khác.

Một vốn từ vựng tốt là cần thiết để viết cũng như nó cần cho việc đọc và nghe người sinh viên khó có thể chọn từ thích hợp để tự diễn đạt, trừ khi họ có một sự lựachọn; và đó có nghĩa là có nhiều từ để chọn từ, mà sẽ đến từ việc xây dựng một vốn

từ vựng tốt Hơn nữa, người học gặp khó khăn với việc tạo ra độ dài các chủ đề đạtyêu cầu trong các chủ đề cho thấy một cách viết quan trọng bởi sản phẩm của từ

vựng "Với vốn từ vựng nghèo nàn, dòng chảy tự do của ý tưởng và ngòi bút bị chặn

và nhỏ giọt ra; với vốn từ vựng tốt, nó sẽ được giúp đỡ để tuôn chảy."

(www.aug.edu/fenglish/learning_materials/how2_vocabulary.htm)

Từ vựng cũng rất quan trọng đối với đọc hiểu và nghe hiểu người học khôngthể hiểu những gì họ đang đọc và nghe mà không biết hầu hết những gì các từ có ýnghĩa

Tóm lại, việc xây dựng vốn từ vựng là như một khía cạnh quan trọng trong việchọc một ngoại ngữ Việc thiếu hụt vốn từ vựng sẽ ảnh hưởng đến sự khó khăn của

Trang 15

việc sử dụng đúng tiếng Anh trong các hình thức nói và viết Do đó, việc tiếp thu từvựng nên được coi là cơ sở của tri thức và là một phần tích hợp việc học ngôn ngữtrong hầu hết các tình huống giao tiếp Và một vốn từ vựng phong phú cũng như biếtcách sử dụng từ vựng hợp lý cũng cải thiện khả năng giao tiếp của sinh viên thôngqua nói, nghe, và viết

1.3 Việc dạy từ vựng

1.3.1 Vai trò của việc dạy từ vựng

Dạy từ vựng là một bộ phận quan trọng của việc dạy ngoại ngữ có mục tiêu đểgiúp sinh viên không chỉ để cải thiện và mở rộng vốn từ vựng của mình Sự lựa chọnrộng của một từ làm cho ngôn ngữ trở nên linh hoạt, nó hỗ trợ trong việc tránh sự lặplại và sự đơn điệu của lời nói, và nó mang lại khả năng diễn đạt ý tưởng chính xác và

dễ hiểu hơn Ngày nay, điều này thường được chấp nhận rằng việc giảng dạy từ vựngnên là một phần của chương trình và được giảng dạy một cách cơ bản, được lên kếhoạch chu đáo Lewis (1993) lập luận rằng vốn từ vựng cần được đặt ở trung tâm

qúa trình giảng dạy ngôn ngữ, bởi vì "ngôn ngữ bao gồm từ vựng được ngữ pháp hóa, chứ không phải là ngữ pháp hóa từ vựng" Do vậy, các giáo trình mới hiện nay đều

bao gồm các phần từ vựng học Do đó, người học phải có nỗ lực nghiêm túc để đạtđược các mục tiêu ngôn ngữ không chỉ trong mà cả ở ngoài lớp học Để việc giảngdạy ngôn ngữ hiệu quả, sinh viên được tiếp xúc với ngôn ngữ đích theo nhiều cách,

và mục tiêu của giáo viên là làm cho các bài học từ vựng không nhàm chán và trêntất cả là khuyến khích sinh viên của mình tự chủ trong việc học ngôn ngữ

1.3.2 Cái gì cần được dạy khi dạy từ vựng?

Dạy hay học từ có nghĩa là dạy hay học: dạng, nghĩa và cách dùng của nó

Trang 16

Nghĩa

Cách dùng

Từ minh họa trên, chúng ta có thể thấy sự cân bằng giữa ba thành tố của việcdạy từ vựng: Dạng, Nghĩa và cách dùng Nói cách khác 3 thành tố này cần phải đượcchú trọng như nhau

1.3.3 Phương pháp và cách tiến hành dạy từ vựng ở đại học

Trong số rất nhiều yếu tố đo lường sự thành công hay thất bại trong việc học vàdạy, phương pháp được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất Các phươngpháp được thực hiện nhằm cố định hệ thống giảng dạy với các kỹ thuật và các phầnthực hành theo quy định, và các cách tiếp cận là các triết lý về giảng dạy ngôn ngữ có

thể được hiểu và áp dụng bằng nhiều hình thức khác nhau trong lớp học "Về lý thuyết thì, một phương pháp liên quan đến một cách thức tiếp cận, được xác định một cách

có tổ chức của quyết định bởi một đề cương, và được thực hiện một cách trình tự" (Richards và Rodges, 1996) Ngoài ra, theo Prator (1991: 17) " trong tình hình giảng dạy nó là phương pháp được sử dụng, nhiều hơn bất kỳ yếu tố nào khác , xác định các kết quả đạt được "

Phương pháp dạy/học từ vựng đã trải qua rất nhiều thay đổi Đầu tiên, hãy nhìn

vào phương pháp dịch ngữ pháp Ở phương pháp này, từ vựng được giảng dạy bởi

các phương tiện dịch khi sinh viên được giao danh sách các từ và học qua việc dịch.Ngôn ngữ được coi là một tập hợp các từ riêng lẻ, độc lập và phải có một từ tươngứng trong tiếng mẹ đẻ cho mỗi từ mà sinh viên được học Phương pháp này thườngđược áp dụng trong giảng dạy từ vựng cho sinh viên không chuyên tiếng Anh tại các

cơ sở đào tạo phía bắc của Việt Nam Trong phương pháp âm thanh ngôn ngữ, việc

giảng dạy từ vựng cũng được điều chỉnh lên dạy ngữ pháp và từ đã được trình bày vàhọc trong cấu trúc Ngoài ra, sự quan tâm lớn được dành cho phát âm

Từ vựng theo phương pháp Phản ứng của toàn bộ cơ thể được nhấn mạnh trên

lĩnh vực ngôn ngữ khác bằng cách sử dụng các mệnh lệnh để chỉ đạo hành vi và sự

Trang 17

phối hợp hành động Phương pháp này liên quan đến một số lượng đáng kể của việcnghe và hiểu kết hợp với phản ứng cơ thể khác nhau Giáo viên thường sử dụng cửchỉ, ngôn ngữ cơ thể, nét mặt để minh họa các từ cho sinh viên Đây được coi làphương pháp thích hợp cho người mới bắt đầu học tiếng Anh đặc biệt là trẻ em, vìvậy phương pháp trực tiếp tốt hơn cho những người rất giỏi trong việc sử dụng vốn

từ vựng một cách hiệu quả trong giao tiếp Những từ trong phương pháp này đềuđược giảng dạy bằng mô phỏng và thực hành Các từ cụ thể được giảng dạy thôngqua việc minh họa, các đối tượng hoặc hình ảnh trong khi những cái trừu tượng đượcgiảng dạy bởi sự liên kết những ý tưởng

Và phương pháp cuối cùng, có cách tiếp cận chính xác hơn, tôi muốn đề cập

đến là Phương pháp giảng dạy theo hướng giao tiếp Vì nghiên cứu này là có liên

quan nhiều đến phương pháp này do đó, một sự quan tâm được dành cho việc trìnhbày nó trong một phần độc lập

1.3.4 Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp

1.3.4.1 Giới thiệu và định nghĩa về phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp

Việt Nam đang có được một sự tiến bộ kinh tế nhanh chóng trong khi chúng tangày càng liên quan chặt chẽ hơn với thế giới bên ngoài Phương pháp giảng dạytruyền thống dịch ngữ pháp không còn phù hợp với các nhu cầu giao tiếp thực tế.Một số thay đổi thiết yếu cần phải được thực hiện để nâng cao chất lượng giảng dạytiếng Anh tại các trường đại học ở Việt Nam Dạy học theo hướng giao tiếp ngàycàng trở nên phổ biến trên thế giới, và sẽ rất hữu ích khi áp dụng hướng dạy học nàyvào các lớp học tại Việt Nam Trong những năm gần đây, Dạy học theo hướng giaotiếp đã được áp dụng ở Việt Nam và nó đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc dạy

và học ngoại ngữ Với phương pháp này, sinh viên Việt Nam cảm thấy tự tin hơn khigiao tiếp với người nước ngoài Bởi vì nó tập trung chủ yếu vào "năng lực giao tiếp"

- được coi là mục tiêu của dạy học theo hướng giao tiếp "Năng lực giao tiếp" đềcập đến "các hệ thống kiến thức cơ bản và kỹ năng giao tiếp cần thiết" (Canale ,1983: 5) Năng lực giao tiếp cho phép sinh viên sử dụng ngôn ngữ trong các phạm vichức năng giao tiếp khác nhau

Chúng ta hãy quay trở lại định nghĩa về dạy học theo hướng giao tiếp TheoWikipedia, "Dạy một ngôn ngữ theo hướng giao tiếp là cách tiếp cận với việc dạy các

Trang 18

ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ trong đó nhấn mạnh sự tương tác của cả nhữngphương tiện và mục đích cuối cùng của việc học một ngôn ngữ Nó cũng được gọi là

"đường hướng giao tiếp đối với giảng dạy ngoại ngữ" hay chỉ đơn giản là "Đườnghướng giao tiếp."

1.3.4.2 Các đặc điểm cơ bản của đường hướng giao tiếp

David Nunan (1991: 279) đã liệt kê năm đặc điểm cơ bản của dạy học theohướng giao tiếp:

1 Sự nhấn mạnh việc học để giao tiếp thông qua sự tương tác với ngôn ngữđích

2 Sự giới thiệu của các chủ đề có thực trong các tình huống học tập

3 Việc chuẩn bị cơ hội cho người học tập trung, không chỉ về ngôn ngữ mà cònvới chính quá trình học tập

4 Việc củng cố kinh nghiệm của cá nhân người học là yếu tố quan trọng gópphần vào việc học tập trên lớp

5 Một nỗ lực để gắn các hoạt động ngôn ngữ trong và ngoài lớp học

Năm tính năng này được các nhà nghiên cứu dạy học theo hướng giao tiếpkhẳng định, để thấy rằng họ rất quan tâm đến các nhu cầu và mong muốn của ngườihọc cũng như việc kết nối giữa các ngôn ngữ khi chúng được được sử dụng trong vàngoài lớp học Từ những gì Nunan nói về các hiện tượng nổi bật của việc dạy họctheo hướng giao tiếp, chúng ta có thể thấy rằng bất kỳ việc thực hành giảng dạy nàogiúp người học phát triển năng lực giao tiếp trong một bối cảnh thực đều được coi làmột hình thức chấp nhận được và có lợi cho giao tiếp Như vậy, trong lớp học, việcdạy học theo hướng giao tiếp thường có dạng luyện tập theo cặp và nhóm, đòi hỏi sựthương lượng và hợp tác giữa các học viên Các hoạt động trong đó sinh viên thựchành và phát triển các chức năng ngôn ngữ và khuyến khích người học phát triển sự

tự tin của họ

1.3.4.3 Vai trò của giáo viên trong việc dạy học theo hướng giao tiếp:

Vai trò của giáo viên trong việc dạy học theo hướng giao tiếp tương đối khácvới vai trò của họ trong các phương pháp giảng dạy truyền thống Trong các lớp họctruyền thống, giáo viên phụ trách và "điều khiển" việc học tập Trong dạy học theohướng giao tiếp giáo viên đóng vai người hỗ trợ, cho phép sinh viên chịu trách nhiệm

Trang 19

về việc học của mình Giáo viên không chỉ đơn thuần là người truyền kiến thức; thayvào đó, họ trở thành người hỗ trợ, người phân tích nhu cầu, tư vấn, là người quản lýnhóm.

Các giáo viên vẫn thiết kế các bài tập và hướng dẫn vào lớp, nhưng các sinhviên phải làm việc Trách nhiệm tham gia giúp làm tăng sự tự tin trong việc sử dụngngôn ngữ Trong dạy học theo hướng giao tiếp, sinh viên thực hành các tình huốngthực tế cuộc sống, ví dụ, mua thực phẩm tại chợ hoặc nhờ một ai đó hướng dẫn.Trong bài tập này, mục tiêu là để sinh viên nói lên nhu cầu và suy nghĩ của mình, màkhông lo lắng về việc ngữ pháp có hoàn hảo hay không

1.3.4.4 Thách thức đối với việc áp dụng dạy học theo hướng giao tiếp ở Việt Nam Trong bài báo "Ngoại ngữ và điều kiện dạy ngoại ngữ ở Việt Nam" Lê Văn Canh

(Tạp chí Teacher’s Edition - ĐHQGHN, Số 7, 11/ 2001) lý giải việc dạy giao tiếp làtương đối khó khăn ở Việt Nam vì một số lý do như trình độ tiếng Anh của giáo viênthấp, các lớp học quá đông, nhà cửa, đồ nội thất và trang thiết bị khác rất hạn chế, cáctài liệu, thư viện và các dịch vụ tư vấn và chỉ được hỗ trợ cung cấp mức độ vừa phải.Phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi những hiểu biết và kỹ năng mới Chúng thườngđòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian chuẩn bị tài liệu bổ sung, trong khi hiện

có rất nhiều việc đòi hỏi về thời gian của giáo viên ngoài công việc giảng dạy chính

1.3.4.5 Một vài lưu ý khi áp dụng việc dạy từ vựng theo hướng giao tiếp một cách hiệu quả.

Trong khi cố gắng áp dụng phương pháp giảng dạy từ vựng theo đường hướnggiao tiếp vào lớp học ngoại ngữ, chúng ta phải xem xét các nguyên tắc sau đây:

1 Hiểu được sự khác biệt văn hóa

2 Điều chỉnh vai trò của giáo viên, sinh viên và các tài liệu

3 Kết hợp giữa giới thiệu từ vựng với thực hành chúng

Trang 20

nghe Người học tham gia hoạt động nhóm có thể nhận được sự giúp đỡ từ ngườikhác.

2 Các hoạt động giao tiếp thường đưa ra một bối cảnh có ý nghĩa, không chỉcung cấp đủ dấu hiệu giúp cho một sinh viên thực hiện phán đoán về ý nghĩa của các

từ xa lạ, mà nó còn hỗ trợ việc ghi nhớ các mặt hàng mới

3 Tạo cơ hội tốt cho sinh viên bộc lộ việc sử dụng lặp đi lặp lại của các từ mới

4 Từ quan điểm ngôn ngữ học xã hội, sự tương tác ngang hàng theo nhómthường cung cấp một môi trường học tập trong đó sinh viên có thể mắc lỗi và diễn tả

sự hiểu lầm mà không gây ảnh hưởng phụ của việc bộc lộ điểm yếu của mình trước

cả lớp hoặc trước giáo viên

Tuy nhiên, bằng việc nhận thức được các đặc tính này và cách chúng ảnh hưởngđến phản ứng của sinh viên đến những từ vựng xa lạ, giáo viên có thể giúp nâng caochất lượng học tập từ vựng

1.4 Kết luận

Trong chương này, tôi đã cố gắng mô tả ngắn gọn các kiến thức lý thuyết liênquan đến vấn đề nghiên cứu Đó là từ vựng và vai trò quan trọng của nó trong việcdạy và học tiếng Anh Chương này cũng bao gồm việc thảo luận về phương phápgiảng dạy ngoại ngữ đã được phát triển trong suốt lịch sử, từ những phương pháp cổđiển như phương pháp dịch ngữ pháp, phương pháp trực tiếp , phương pháp âm thanhngôn ngữ đến đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp gần đây nhằm chỉ ra: (1) vaitrò của từ vựng trong giảng dạy và học tiếng Anh, (2) cái nhìn tổng quan về một sốphương pháp giảng dạy; (3) lý thuyết của phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp

và các hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp nổi bật giúp thúc đẩy quá trình họctập

Trang 21

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP BÁN THỰC NGHIỆM2.1 Giới thiệu

Chương này đề cập việc sử dụng phương pháp bán thực nghiệm để kiểm tra tínhhiệu quả của một số hoạt động giảng dạy từ vựng theo hướng giao tiếp cho sinh viênnăm thứ nhất không chuyên tiếng Anh tại ĐH CNTT&TT Trong nghiên cứu bánthực nghiệm này tôi đã đóng vai một nhà tổ chức, quan sát viên, thu thập dữ liệu vàphân tích để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu Hai giáo viên tiếng Anh

- đồng nghiệp của tôi tại ĐHCNTT&TT đã giúp tôi chuẩn bị kế hoạch bài học và dạytiếng Anh cho sinh viên của hai lớp: thử nghiệm và kiểm soát Do yêu cầu công việc,tôi không thể tham dự tất cả các bài học trong thí nghiệm này, chỉ có một số trong số

họ Đối với bài học mà tôi không thể quan sát, các dữ liệu đã được thu thập thông quacác giấy tờ tự đánh giá giao cho các giáo viên Để xác định ảnh hưởng của các hoạtđộng dạy học theo hướng giao tiếp, ngoài việc quan sát lớp học và các giấy tờ tựđánh giá của giáo viên, tôi đã phát triển một công cụ đánh giá được thực hiện trướckhi tiến hành thực nghiệm (pre -test) và một lần nữa sau khi hoàn thành mỗi một đơn

vị bài học (post-test)

Trước khi đi vào phần chính của chương này, chúng ta hãy nhìn vào các nền đểthiết lập các nghiên cứu bao gồm các giáo viên, sinh viên năm thứ nhất không chuyêntiếng Anh, giáo trình và các mục tiêu chương trình tại ĐH CNTT&TT

2.2 Bối cảnh nghiên cứu

2.2.1 Vài nét về ĐH CNTT&TT

Đại học CNTT&TT mà tiền thân là Khoa Công nghệ thông tin là đơn vị đào tạothành viên thuộc Đại học Thái Nguyên được thành lập ngày 14/12/2001 theo QuyếtĐịnh số 6946/QĐ-BGD ĐT-TCCB của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Khoa Công nghệ thông tin thực hiện mô hình phối hợp quản lý và đào tạo vớiViện Công nghệ thông tin thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có chứcnăng, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao côngnghệ trong các lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ sự nghiệpCNH, HĐH các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc nói riêng, cả nước nói chung

Trang 22

Sau 10 năm xây dựng và phát triển, ngày 30/3/2011, Thủ tướng Chính phủ kýquyết định thành lập Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông trên cơ

sở nâng cấp Khoa CNTT thuộc Đại học Thái Nguyên

2.2.2 Đội ngũ giảng viên tiếng Anh

Hầu hết các giảng viên phụ trách giảng dạy tiếng Anh cho sinh viênĐHCNTT&TT đến từ Bộ môn Ngoại ngữ- khoa Khoa học Cơ bản - một trong nhữngkhoa lớn nhất của nhà trường Bộ môn có 12 giáo viên trong đó có một giảng viênnam Hầu hết các giáo viên đều còn trẻ, tuổi đời trên dưới 30 Hầu hết giảng viên là

nữ giới đã lập gia đình nên có tư tưởng ổn định, yên tâm công tác

Tại trường ĐHCNTT&TT, do đặc trưng của một trường khối kỹ thuật nênkhông có sinh viên chuyên tiếng Anh Bên cạnh việc giảng dạy tiếng Anh giao tiếp,các giáo viên được phân theo nhóm dạy tiếng Anh cho các chuyên ngành Về trình độchuyên môn, tất cả các giảng viên tiếng Anh đều đạt trình độ Thạc sĩ – chuẩn giảngviên tiếng Anh không chuyên theo quy định

Một điều nữa cần được nhắc đến là tất cả các giảng viên đều rất nhiệt tình trongcông việc, có tinh thần trách nhiệm cao Tuy vậy, đa phần các giảng viên đều có connhỏ, điều này gây khó khăn không nhỏ đến việc hoàn thành công việc giảng dạyđược giao

2.2.3 Sinh viên năm thứ nhất không chuyên tiếng Anh.

Nhìn chung, các sinh viên năm thứ nhất đều mới tốt nghiệp THPT và ở độ tuổi

từ 18 đến 20 Hầu hết các em đều đến từ các vùng nông thôn, miền núi nên trình độtiếng Anh đầu vào không cao và có một số em chưa bao giờ học tiếng Anh Một sốlớp học tiếng Anh còn rất đông, có những lớp số sinh viên hơn 60 em nên rất khókhăn cho giáo viên trong việc giảng dạy ngoại ngữ và sinh viên không có đủ thờigian để thực hành trên lớp Ngoài ra, các em không có nhiều điều kiện giao tiếp vớingười nước ngoài và trình độ tiếng Anh không đồng đều Rất nhiều các em chưa xácđịnh được động cơ học tập đúng đắn, các em thường nghĩ tiếng Anh là một môn khó

và các em chỉ cố gắng học để đủ điểm qua Điều này cũng ảnh hưởng khá nhiều đếnkết quả dạy và học tiếng Anh nói chung và dạy ngữ pháp tiếng Anh nói riêng Các

em chưa có được chiến lược học tập phù hợp nên vẫn học rất thụ động Có nhiều emkhông chịu chuẩn bị bài và làm bài tập ở nhà trước khi đến lớp nên ảnh hưởng khá

Trang 23

nhiều đến khả năng tiếp thu bài trên lớp Một điểm nữa là, các sinh viên đến từ thànhthị thường tiếp thu khá hơn các sinh viên miền núi và nông thôn.

2.2.4 Giáo trình

Giáo trình được sử dụng cho các sinh viên năm thứ nhất không chuyên tiếngAnh năm đầu tiên là quyển New Cutting Edge Elementary Cụ thể, sinh viên sẽ học 3học phần tiếng Anh giao tiếp: Anh Văn 1 (Module 1 đến Module 5), Anh Văn 2 (từModule 6 đến Module 10) và Anh Văn 3 (module 11 đến Module 15) Đến học phầnthứ 4, các sinh viên sẽ học Anh văn chuyên ngành theo các chuyên ngành mà mìnhđăng ký

Các sinh viên trong nghiên cứu này đang theo học khóa học Anh văn 1, phạm vinghiên cứu là 3 bài học đầu từ Module 1 đến Module 3 Đây được đánh giá là giáotrình tiếng Anh giao tiếp hay, chú trọng đến việc luyện các kỹ năng giao tiếp chongười học, đồng thời cũng có sách bài tập kèm theo đáp án Điều này giúp cho ngườihọc có thể tự học cấu trúc, từ vựng ở nhà nhằm tự nâng cao khả năng sử dụng vốn từ

và cấu trúc ngữ pháp trong những tình huống khác nhau

2.2.4.1 Thiết kế các bài từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge -Elementary

Thường có năm phần trong một đơn vị bài học, cụ thể là ngữ pháp, từ vựng,đọc và viết, nghe nói và phát âm Phần từ vựng được thiết kế như sau :

CommonverbsDailyroutines(p.26)

Activities(p.34)

Transport(p.42)

Bảng 1: Thiết kế từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge -Elementary

Bên cạnh đó, từ vựng được tích hợp vào các phần khác của từng đơn vị bài học

Vì vậy, ngoài phần từ vựng, giáo viên cũng phải dạy từ mới trong các phần kiến thứckhác

2.2.4.2 Các bài học từ vựng trong giáo trình New Cutting Edge - Elementary

Theo quan điểm của tác giả, việc dạy và học từ vựng đều đóng vai trò rất quantrọng trong giáo trình này Đặc biệt ở chỗ sách được thiết kế cho mục tiêu giao tiếpnên việc dạy từ vựng càng cần được chú ý Có ít nhất một phần từ vựng đầu vào chính

Trang 24

cho mỗi đơn vị trong giáo trình và nhiều phần từ vựng nhỏ trong các bộ phận khác.Yếu tố phát âm có vị trí xứng đáng trong mỗi đơn vị bài học Có ba phương pháp tiếpcận đối với việc dạy từ vựng:

- Dạy từ mới trong một bộ phận từ vựng, ví dụ như các con số, ngôn ngữ tronglớp học

- Khuyến khích thói quen học tập từ vựng: sử dụng từ vựng, đoán nghĩa

- Dạy các hệ thống từ vựng, ví dụ tiền tố và hậu tố, từ đồng nghĩa, trái nghĩa;homonyms, từ đồng âm; chữ cái im lặng, danh từ ghép; cấu tạo từ Bên cạnh đó,vốn từ vựng chung được bố trí phù hợp với các chủ điểm

2.2.5 Mục tiêu việc dạy tiếng Anh tổng quát tại Đại học CNTT&TT

Mục tiêu cuối cùng của chương trình giảng dạy tiếng Anh tại ĐH CNTT&TT làtrang bị cho sinh viên những kiến thức nền tảng trình độ tiếng Anh nói chung và khảnăng giao tiếp với người nước ngoài Sinh viên chỉ học tiếng Anh tổng quát trong bahọc kỳ, học kỳ thứ tư của năm thứ hai họ nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành (ESP)

để phục vụ cho công việc tương lai của mình

2.3 Một số hoạt động dạy học theo hướng giao tiếp trong đề tài.

2.3.1 Trò chơi

Lee Su Kim (1995) đã chỉ ra rằng: "Có một quan niệm phổ biến rằng bản chấtcủa sự học nên là nghiêm túc và thận trọng và rằng nếu ai có vui vẻ, hài hước và đầytiếng cười, đó ko phải là học thực sự Đây là một quan niệm rất sai lầm Người ta cóthể vừa học ngoại ngữ vừa thư giãn cung một thời điểm Một trong những cách tốtnhất để làm điều này là thông qua trò chơi."

Có rất nhiều lợi thế của việc sử dụng trò chơi trong lớp học:

- Trò chơi có động cơ thúc đẩy và thử thách

- Trò chơi thực hành ngôn ngữ trong các kỹ năng khác nhau - nói, viết, nghe vàđọc

- Chúng khuyến khích các sinh viên tương tác và giao tiếp

- Chúng tạo ra một bối cảnh có ý nghĩa cho việc sử dụng ngôn ngữ

Là tác giả, tôi muốn nói thêm rằng các trò chơi cũng cho phép người học tiếpthu những trải nghiệm mới trong việc học một ngoại ngữ mà không phải lúc nào cũng

có thể trong một bài học điển hình

Trang 25

2.3.2 Giới thiệu nghĩa của từ bằng dịch nghĩa

Có một quan niệm sai lầm rằng không nên giới thiệu ý nghĩa của từ bằng cáchdịch Điều đó đúng khi các giáo viên chỉ sử dụng mỗi phương pháp này và dịch tất cảcác từ chưa biết từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng trong lớp học Điều đó làmcho sinh viên không cố gắng đoán và buộc họ phải tìm hiểu ý nghĩa và cách sử dụng.Đôi khi, nếu sinh viên không thể hiểu được ý nghĩa một cách dễ dàng, việc dịch cũngphải được áp dụng để tiết kiệm thời gian của giáo viên Nhưng giáo viên nên cânnhắc nghĩa tiếng Việt tương đương nhất, giải thích ý nghĩa của một từ trong một ngữcảnh cụ thể và sau đó cho ví dụ minh họa cho những ý nghĩa đó Điều đó sẽ tránh sựhiểu lầm và sử dụng sai từ của sinh viên

2.3.3 Liên hệ nghĩa từ mới với những từ đã biết

Vì trong những bài học trước sinh viên được cung cấp với nhiều từ, vì vậy nếumột từ mới được giới thiệu liên quan đến các từ họ đã biết, họ có thể dễ dàng hiểu vànhớ từ Các tiền tố, hậu tố có thể được minh họa với gốc từ của chúng để giúp cácsinh viên đoán ý nghĩa

Ví dụ: beauty – beautiful – beautifully Manly – Man

2.3.4 Tương phản và đối lập

Khi giáo viên muốn giải thích ý nghĩa của một từ mới, họ đôi khi sử dụng ýnghĩa trái ngược của từ đó Theo tôi, cách này thực sự hiệu quả, có thể mang lại hailợi thế: thứ nhất , giúp sinh viên để nhớ lại một từ đã học và thứ hai, nói chính xác ýnghĩa của một từ mới Rất nhiều từ có thể được hiểu tốt hơn bằng cách tương phảncủa họ trong bối cảnh

Ví dụ: big – small beautiful - ugly…

2.3.5 Giáo cụ trực quan

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người học ở cấp tiểu học có thể nhớ từtốt hơn thông qua bài thuyết trình từ phương tiện trực quan Một số hoạt động giaotiếp bằng cách sử dụng dụng cụ trực quan như: hình ảnh, ảnh, áp phích, các đối tượngthực, bản vẽ bảng đe , Flashcards có thể giúp giáo viên tạo ra các tình huống haymột bối cảnh và trên tất cả có thể kích thích sinh viên nói ngôn ngữ

2.3.6 Sử dụng cách diễn đạt qua khuôn mặt và ngôn ngữ cơ thể

Ngày đăng: 02/03/2017, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Le Van Canh (2001), “Language and Vietnamese Pedagogical Context”, Teacher’s Edition, Vol. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Language and Vietnamese Pedagogical Context”", Teacher’s Edition
Tác giả: Le Van Canh
Năm: 2001
2. Fries Ch. (1952), The structure of English: An introduction to the construction of English sentences, Harcourt, Brace & Co., New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: The structure of English: An introduction to the construction of English sentences
Tác giả: Fries Ch
Năm: 1952
3. Gairns R. & Redman S. (1986), Working with words: A guide to teaching and learning vocabulary, Cambridge University Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working with words: A guide to teaching and learning vocabulary
Tác giả: Gairns R. & Redman S
Năm: 1986
4. Hutchinson T. (2002), Lifelines - Elementary, Workbook, Oxford University Press, Oxford, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lifelines - Elementary
Tác giả: Hutchinson T
Năm: 2002
6. Johnson K. & Morrow K. (1992), Communication in the Classroom: Applications and Methods for a Communicative Approach, Longman Group UK Limited Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communication in the Classroom: "Applications and Methods for a Communicative Approach
Tác giả: Johnson K. & Morrow K
Năm: 1992
7. John, L. (1968), Introduction to theoretical linguistics, Cambridge University Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to theoretical linguistics
Tác giả: John, L
Năm: 1968
8. Lewis M. (1997), Implementing the Lexical Approach: Putting theory into practice, Language Teaching Publications, Hove, England Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementing the Lexical Approach: Putting theory into practice
Tác giả: Lewis M
Năm: 1997
9. McCarthy M. (1990), Vocabulary Description, Acquisition and Pedagogy, Cambridge University Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vocabulary Description, Acquisition and Pedagogy
Tác giả: McCarthy M
Năm: 1990
10. Nunan D. (1992), Research Methods in Language Learning, Cambridge University Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research Methods in Language Learning
Tác giả: Nunan D
Năm: 1992
11. Schmitt N. & McCarthy M. (1997), Vocabulary: Description, Acquisition and Pedagogy, Cambridge University Press, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vocabulary: Description, Acquisition and Pedagogy
Tác giả: Schmitt N. & McCarthy M
Năm: 1997
12. Wilkins D. (1972), Linguistics and Language Teaching, Edward Arnold, London.13. www.co.sdsu.edu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linguistics and Language Teaching, "Edward Arnold, London.13
Tác giả: Wilkins D
Năm: 1972
15. n.wikipedia.org/wiki/Communicative_language_teaching Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: biến số của các bài post-tests - Nghiên cứu hiệu quả của các hoạt động dạy từ vựng theo hướng giao tiếp đối với sinh viên năm thứ nhất   đại học công nghệ thông tin và truyền thông  ĐHTN
Bảng 4 biến số của các bài post-tests (Trang 35)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w