Quỹ tín dụng nhân dân là một loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động do các thành viên tự nguyện lập ra,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ
PHƯỜNG GIA CẨM - VIỆT TRÌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THU
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ
PHƯỜNG GIA CẨM - VIỆT TRÌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN CÔNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Công Các số liệu có nguồn gốc
rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài: “Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì” tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể
và cá nhân
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc GS.TS Nguyễn Văn Công, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, các khoa, các phòng của trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm đã giúp đỡ mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, xin cảm ơn các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thu thập số liệu, cung cấp thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 5
1.1 Hoạt động tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân 5
1.1.1 Đặc điểm hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân 5
1.1.2 Nội dung hoạt động tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân 11
1.2 Chất lượng của tín dụng trong các quỹ tín dụng nhân dân 17
1.2.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng 17
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng 43
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 19
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng trong các quỹ tín dụng tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam 24
1.3.1 Kinh nghiệm tại các nước và một số địa phương ở Việt Nam 24
1.3.2 Bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 41
Trang 62.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 42
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ PHƯỜNG GIA CẨM - VIỆT TRÌ 47
3.1 Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân phường Gia Cẩm -Việt Trì 47
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 47
3.1.2 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý 49
3.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 51
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 52
3.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân phường Gia Cẩm -Việt Trì 55
3.2.1 Chất lượng huy động vốn 55
3.2.2 Chất lượng hoạt động cho vay 61
3.2.3 Năng lực tài chính 65
3.2.4 Mức độ an toàn 69
3.3 Đánh giá chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân phường Gia Cẩm -Việt Trì 70
3.3.1 Thành tựu đạt được 70
3.3.2 Những tồn tại và hạn chế 72
3.3.3 Nguyên nhân 73
Chương 4: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ PHƯỜNG GIA CẨM - VIỆT TRÌ 77
4.1 Định hướng nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân phường Gia Cẩm - Việt Trì 77
4.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân phường Gia Cẩm - Việt Trì 78
4.2.1 Cân đối nguồn vốn huy động và cho vay 78
4.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng Quỹ tín dụng 79
4.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư 80
Trang 74.2.4 Xây dựng chiến lược Marketing 81
4.2.5 Xây dựng, củng cố mối quan hệ với chính quyền địa phương các cấp 81
4.2.6 Xây dựng chính sách lãi suất linh hoạt 82
4.2.7 Tăng cường quản lý nợ, giải quyết tốt các khoản nợ quá hạn, nợ xấu 82
4.2.8 Chú trọng công tác dự báo và phòng ngừa các rủi ro trong tín dụng trung và dài hạn 84
4.2.9 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 84
4.2.10 Nâng cao chất lượng thông tin 85
4.2.11 Một số giải pháp hỗ trợ khác 86
4.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân phường Gia Cẩm - Việt Trì 87
4.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước và Chính phủ 87
4.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam 87
4.3.3 Kiến nghị đối với UBND thành phố Việt Trì 88
4.3.4 Kiến nghị đối với Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã Phú Thọ 88
KẾT LUẬN 91
PHỤ LỤC 96
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HTXTD : Hợp tác xã tín dụng NHHTX : Ngân hàng Hợp tác xã
QTDCS : Quỹ tín dụng cơ sở QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân QTDTW : Quỹ tín dụng trung ương
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng:
Bảng 3.1: Số lượng thành viên giai đoạn 2012 – 2014 52
Bảng 3.2: Kết quả kinh doanh của QTDND cơ sở Phường Gia Cẩm 53
Bảng 3.3: Nộp Ngân sách nhà nước của QTDND cơ sở Phường Gia Cẩm 54
Bảng 3.4: Tổng chi phí cho nhân viên của QTDND cơ sở Phường Gia Cẩm 55
Bảng 3.5: Cơ cấu huy động vốn theo thời gian 56
Bảng 3.6: Cơ cấu huy động vốn theo mục đích 58
Bảng 3.7: Tốc độ tăng trưởng vốn huy động 59
Bảng 3.8: Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch huy động vốn 60
Bảng 3.9: Tỷ trọng các loại vốn huy động so với nhu cầu sử dụng vốn 60
Bảng 3.10: Dư nợ tín dụng theo thời gian qua 3 năm 2012-2014 61
Bảng 3.11: Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng theo thời gian qua các năm 62
Bảng 3.12: Dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế 63
Bảng 3.13: Kết cấu thu nhập của QTDND cơ sở Phường Gia Cẩm 64
Bảng 3.14: Dư nợ trên vốn huy động qua 3 năm 2012 - 2014 65
Bảng 3.15: Dư nợ trên tổng tài sản qua 3 năm 2012 - 2014 66
Bảng 3.16: Hệ số an toàn vốn (CAR) qua 3 năm 2012 - 2014 67
Bảng 3.17: Dư nợ các nhóm qua 3 năm 2012 - 2014 69
Bảng 3.18: Dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn qua 3 năm 2012 - 2014 70
Sơ đồ: 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý 49
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, với tiến trình toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế thì vai trò của các tổ chức tín dụng ngày càng quan trọng trong việc huy động và sử dụng vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung và phục vụ cho nhu cầu vốn nói riêng
Việc thành lập Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là một trong những chủ trương chính sách đổi mới quan trọng về tín dụng góp phần giúp nền kinh
tế Việt Nam ngày càng phát triển Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân bao gồm Quỹ tín dụng nhân cơ sở và Quỹ tín dụng trung ương Quỹ tín dụng nhân dân
là một loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động do các thành viên tự nguyện lập ra, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập và hoạt động theo luật của các tổ chức tín dụng, luật hợp tác xã và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Để góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của người dân, đồng thời thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn do Đảng và nhà nước đề ra, cần phải có sự tài trợ về vốn, hỗ trợ về kỹ thuật, đổi mới công nghiệp, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hộ gia đình… phải có thêm một số vốn để bổ sung cho nhu cầu đang thiếu hụt Để đáp ứng nhu cầu đó Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì - Phú Thọ ra đời Hoạt động tín dụng của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm chủ yếu là tín dụng ngắn hạn và trung hạn, hoạt động tín dụng dài hạn hầu như chưa triển khai và thực hiện
Trang 11Tuy nhiên trong thời buổi kinh tế thị trường, xu thế cạnh tranh và hội nhập tạo nên thời cơ và thách thức không nhỏ đối với hoạt động tín dụng các Quỹ tín dụng nói chung và Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm nói riêng Các nhà quản trị cần quan tâm là làm sao cho chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao và hạn chế đến mức thấp nhất về tình trạng rủi ro, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, vạch ra được chiến lược phù hợp
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình kinh doanh sẽ giúp cho các Quỹ tín dụng thấy rõ được thực trạng tín dụng, xác định đầy đủ, đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng tín dụng Từ đó có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Đó chính là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ
sở phường Gia Cẩm - Việt Trì” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là tìm ra giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng tín dụng; từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì
Từ mục tiêu cơ bản đó, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định là:
- Làm rõ bản chất và vai trò của việc nâng cao chất lượng tín dụng tại các quỹ tín dụng;
- Phân tích và đánh giá tình hình thực trạng chất lượng tín dụng nhằm khẳng định những thành công và hạn chế về đề tài nghiên cứu tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì;
- Chỉ rõ thành công cũng như tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp thích ứng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ
Trang 123 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu chất lượng tín dụng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì Với đối tượng này, đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản và tiến hành khảo sát thực trạng chất lượng tín dụng cùng với việc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng tín dụng Cụ thể:
+ Về nội dung: Nghiên cứu chất lượng tín dụng cùng giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trong các quỹ tín dụng nhân dân
+ Về không gian: Giới hạn tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì
+ Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2012 đến 2014
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn Về mặt lý luận, đề tài sẽ hệ thống hóa một cách đầy đủ các vấn
đề liên quan đến chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản trị, quản lý của Quỹ tín dụng nhất là Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm các thông tin một cách sát thực về chất lượng tín dụng Đồng thời đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng của QTDND cơ sở phường Gia Cẩm
Kết quả thực hiện của đề tài không chỉ cung cấp cho Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phường Gia Cẩm những thông tin quan trọng về lý thuyết, kỹ năng quản trị mà còn là tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học….liên quan đến chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân nói chung và cơ sở phường Gia Cẩm nói riêng
Trang 135 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần tóm tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng tín dụng tại các
quỹ tín dụng nhân dân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở phường Gia Cẩm - Việt Trì
Chương 4: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân cơ
sở phường Gia Cẩm - Việt Trì
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG TẠI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
1.1 Hoạt động tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân
1.1.1 Đặc điểm hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác do các thành viên trong địa bàn tự nguyện thành lập và hoạt động theo quy định của Nghị định số 48/2001/NĐ-CP nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên
Nội dung của Nghị định số 48/2001/NĐ-CP nêu rõ: “Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân phải bảo
đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển” (Chính phủ (2001)
Đặc điểm hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân như sau:
- Tuân thủ các nguyên tắc cho vay vốn:
+ Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính hiệu quả của sử dụng vốn vay tạo điều kiện thực hiện tốt việc hoàn trả nợ vay của khách hàng Để thực hiện tốt điều này, mỗi lần vay vốn khách hàng làm giấy đề nghị vay vốn, trong giấy này khách hàng phải ghi rõ mục đích sử dụng vốn vay của mình và kèm theo phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết, nếu Quỹ tín dụng phát hiện khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì Quỹ tín dụng có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn
Trang 15+ Tiền vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng là giao dịch cung cầu về vốn, tín dụng chỉ là giao dịch quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Trong khoảng thời gian cam kết giao dịch, Quỹ tín dụng
và bên vay thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng rằng Quỹ tín dụng sẽ chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định cho bên vay Khi kết thúc kỳ hạn, bên vay phải hoàn trả quyền này cho Quỹ tín dụng (trả nợ gốc) và một khoản chi phí (lợi tức) nhất định cho việc sử dụng vốn vay Nguyên tắc này đảm bảo cho tiền vay không bị giảm giá, tiền vay phải thu hồi được đầy đủ và
có sinh lời
- Bảo đảm các điều kiện cho vay vốn:
Quỹ tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết
+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và
có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật
+ Thực hiện quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của chính phủ, ngân hàng nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Quỹ tín dụng
- Bảo đảm về đối tượng cho vay vốn:
Quỹ tín dụng thường cho vay các đối tượng như: giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự
án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống và đầu tư phát triển
Quỹ tín dụng không cho vay các đối tượng sau:
+ Số tiền vay để trả nợ gốc và lãi vay cho tổ chức tín dụng khác
+ Số tiền vay để trả cho chính tổ chức tín dụng cho vay vốn
Trang 16- Phương thức cho vay:
+ Cho vay từng lần:
Với phương thức cho vay này, mỗi lần vay vốn khách hàng phải lập hồ
sơ vay vốn cho từng lần vay, đến khi thu hoạch và bán sản phẩm thì trả hết
nợ, khi có nhu cầu vay vốn thì làm thủ tục vay từ đầu
Phương thức cho vay từng lần thích hợp với các đơn vị kinh doanh theo thương vụ hay vay theo mùa vụ Mỗi lần vay thì khách hàng và Quỹ tín dụng phải ký kết lại hợp đồng tín dụng
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng:
Khi khách hàng vay vốn, thông qua các phương án sản xuất kinh doanh trong năm và các điều kiện vay vốn khác của Quỹ tín dụng và khách hàng sẽ thỏa thuận một mức dư nợ cao nhất trong năm đủ để đáp ứng nhu cầu của tất cả các phương án xin vay, mức dư nợ này được gọi là hạn mức tín dụng Khi đó người vay chỉ lập một bộ hồ sơ xin vay và được sử dụng cho nhiều lần vay
Hạn mức tín dụng được xem như là một cam kết của Quỹ tín dụng về mức dư nợ khách hàng sử dụng và khách hàng được quyết định về thời điểm nhận tiền, thời điểm trả nợ trong phạm vi hạn mức và thời gian hiệu lực của hạn mức Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng áp dụng đối với đơn vị sản xuất có quan hệ thường xuyên và mang tính chất truyền thống
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:
Đây là phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, nhưng Quỹ tín dụng
sẽ cam kết dành cho khách hàng số hạn mức tín dụng đã định, không vì tình hình thiếu vốn để từ chối cho vay Vì Quỹ tín dụng phải bớt các món vay của khách hàng khác để giữ cam kết về hạn mức tín dụng nên khách hàng phải trả một mức phí cho việc duy trì hạn mức dự phòng Đó là số chênh lệch giữa hạn mức tín dụng với số thực vay
+ Cho vay theo dự án:
Đây là phương thức cho vay trung và dài hạn, Quỹ tín dụng phải thẩm định dự án trước khi cho vay Với phương thức này, khách hàng phải lập dự
án cụ thể trước khi vay vốn Quỹ tín dụng
Trang 17+ Cho vay trả góp:
Khi vay vốn thì Quỹ tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với vốn gốc được chia ra để trả theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Bảo đảm mức cho vay:
Khi xác định mức cho vay đối với một khách hàng, Quỹ tín dụng căn
cứ vào:
+ Khả năng nguồn vốn của Quỹ tín dụng
+ Khả năng quản lý của Quỹ tín dụng
+ Nhu cầu vay vốn và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng
Riêng đối với trường hợp cho vay khách hàng dưới hình thức cầm cố số tiền gửi do chính Quỹ tín dụng phát hành thì mức cho vay tối đa cộng tiền lãi phải trả khi đến hạn không vượt quá số dư còn lại của số tiền gửi tại thời điểm quyết định cho vay
- Xác định rõ thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng
- Qui định về lãi suất cho vay:
Lãi suất cho vay do Quỹ tín dụng và khách hàng thỏa thuận trên cơ sở mức lãi suất do Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng quy định phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng
Lãi suất cho vay thực hiện theo nguyên tắc phải bảo đảm bù đắp lãi suất huy động cộng với chi phí hoạt động của Quỹ tín dụng, nộp thuế theo quy định, bù đắp được rủi ro và có tích lũy
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do Quỹ tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong thời hạn đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng
Trang 18- Tuân thủ quy trình cho vay tín dụng:
Quy trình cho vay tín dụng được thực hiện theo các trình tự sau:
+ Bước 1/ Cán bộ tín dụng tiếp nhận đơn xin vay và hướng dẫn hồ sơ vay vốn nếu khách hàng có nhu cầu vay vốn:
Cán bộ tín dụng của QTDND cơ sở phổ biến cho thành viên về chính sách cho vay của QTDND cơ sở và xem xét các điều kiện của thành viên vay vốn có thể đáp ứng được như hình thức đảm bảo, thời hạn, lãi suất, điều kiện ràng buộc… hướng dẫn thành viên lập hồ sơ vay vốn đầy đủ và đúng quy định hiện hành của pháp luật và QTDND cơ sở
Kiểm tra thực tế đối với thành viên vay vốn
Đánh giá thành viên, tập trung vào các nội dung như: tư cách pháp nhân (hồ sơ pháp lý), cách thức, khả năng, kinh nghiệm, tổ chức quản lý và điều hành, uy tín của thành viên, lợi thế kinh doanh và các thông tin khác
Thẩm định phương án vay vốn và trả nợ của thành viên như: nhu cầu vay vốn, mục đích vay, tổng nhu cầu vốn cho phương án kinh doanh
Xác định khả năng rủi ro và biện pháp phòng ngừa: QTDND cơ sở sẽ xem xét rủi ro từ sự thay đổi của chính sách và cơ chế của nhà nước, rủi ro có thể phát sinh từ thành viên, thị trường, giá cả, tỷ lệ lạm phát…
Trang 19Thẩm định tài sản đảm bảo tiền vay (nếu có); chất lượng tài sản đảm bảo, khả năng chuyển đổi thành tiền, thị trường tiêu thụ từ đó xác định giá trị tài sản đảm bảo một cách chính xác
Sau khi thẩm định lại các thông tin, cán bộ tín dụng lập tờ trình thẩm định và kiến nghị cho vay hay không cho vay, nếu cho vay thì ghi rõ số tiền cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất Nếu không cho vay thì nêu rõ lý do
+ Bước 3/ Ký kết hợp đồng tín dụng:
Sau khi xem xét tờ trình thẩm định và hồ sơ vay vốn, Giám đốc có thể đồng ý hay từ chối cho vay hoặc yêu cầu tái thẩm định, bổ sung kiểm tra lại thông tin Nếu từ chối cho vay phải nêu rõ lý do, nếu khoản cho vay vượt mức phán quyết (đối với giám đốc) thì phải đưa ra hội đồng tín dụng theo quy định hiện hành Căn cứ quyết định của giám đốc, cán bộ tín dụng triển khai cho vay (ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng đảm bảo tiền vay nếu có) hay không cho vay hoặc tái thẩm định, bổ sung, kiểm tra lại thông tin
+ Bước 4/ Giải ngân theo hợp đồng tín dụng đã ký:
Cán bộ tín dụng hướng dẫn thành viên thực hiện các thủ tục nhận tiền vay như lập giấy nhận nợ, cung cấp giấy tờ chứng minh về việc sử dụng vốn vay, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ từ đó trình giám đốc phê duyệt và thực hiện giải ngân
+ Bước 5/ Kiểm tra sử dụng vốn vay và tiến hành thu nợ hoặc xử lý nợ
có vấn đề:
Kiểm tra sử dụng vốn vay: Cán bộ tín dụng của QTDND cơ sở phải chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai kiểm tra sử dụng vốn vay phù hợp với từng khoản vay và với hợp đồng tín dụng, lập biên bản kiểm tra và báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay Nếu các khoản vay của thành viên có dấu hiệu nghi ngờ hoặc có bằng chứng gặp khó khăn trong kinh doanh thì cán bộ sẽ lập tờ trình, trình lên cấp trên xử lý và có thể xử lý theo các như: chấm dứt hẳn việc cho vay hoặc là thu hồi nợ trước hạn một phần hay toàn bộ hoặc có thể xử lý
Trang 20bằng cách gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn hoặc thay đổi tài sản đảm bảo tiền vay
Thu hồi nợ vay: Tối thiểu trước 10 ngày đến hạn trả nợ, cán bộ tín dụng của QTDND cơ sở thông báo cho thành viên về thời hạn trả nợ, số nợ thành viên phải trả và trao đổi thêm thông tin với thành viên để nắm bắt cụ thể
về khả năng trả nợ đến hạn của thành viên Trường hợp thành viên không trả
nợ đúng hạn do nguyên nhân khách quan, thành viên phải có giấy đề nghị QTDND cơ sở trước ngày đến hạn, đề nghị điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ Cán bộ tín dụng tiến hành kiểm tra thực tế và có ý kiến đề nghị giám đốc cho gia hạn theo quy định hiện hành Nếu thành viên có nguồn trả nợ, cán
bộ tín dụng giám sát các nguồn thu và đôn đốc thành viên trả nợ đúng hạn
Xử lý nợ có vấn đề: Quá ngày đến hạn trả nợ theo hợp đồng tín dụng, nếu thành viên không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ và không được QTDND cơ sở chấp thuận cho gia hạn nợ gốc và nợ lãi thì QTDND cơ sở có thể xử lý như sau:
Chuyển sang nợ quá hạn
Thu nợ bằng việc xử lý tài sản đảm bảo
Khởi kiện trước pháp luật
+ Bước 6/ Thanh lý hợp đồng tín dụng:
Làm thủ tục giải chấp tài sản đảm bảo tiền vay:
Tất toán tiền vay, cán bộ tín dụng sẽ lập bảng đối chiếu và thông báo tất toán khoản vay cho thành viên
Tổng kết và lưu trữ hồ sơ khoản vay sau khi tất toán khoản vay
(Nguyễn Minh Kiều, 2006)
1.1.2 Nội dung hoạt động tín dụng tại các quỹ tín dụng nhân dân
Trang 21- Tín dụng là quan hệ kinh tế, theo đó một người thoả thuận để người khác sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với các điều kiện có hoàn trả vốn và lãi
Một cách chung nhất, pháp luật ngân hàng Việt Nam ghi nhận rằng, tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn) Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất
Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại Quan hệ giao dịch này được thể hiện qua các nội dung sau:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định, giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật như hàng hóa, máy móc, thiết bị…
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao trong một thời gian nhất định Sau khi hết thời gian sử dụng người đi vay phải
có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, khoản dôi ra gọi là lợi tức tín dụng
Mục đích của tín dụng bao gồm cả về mặt kinh tế lẫn xã hội Về mặt kinh tế nó bao gồm việc đáp ứng bổ sung nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Bên cạnh đó mục tiêu quan trọng của Quỹ tín dụng là lợi nhuận thu được từ mọi hoạt động tín dụng của Quỹ tín dụng
Về xã hội, việc cấp phát tín dụng góp phần vào việc giảm hiện tượng cho vay nặng lãi đang chèn ép các nhà sản xuất, cá thể có nhu cầu tín dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Bên cạnh đó tín dụng còn góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, cùng bình đẳng và phát triển trong một trật tự ổn định
Tín dụng bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Để thuận lợi cho quản lý hoạt động tín dụng, tín dụng thường được phân theo các tiêu thức khác nhau như: Phân theo thời hạn tín dụng, đối tượng tín dụng, mục đích tín dụng
Trang 22Thời hạn tín dụng được hiểu là khoản thời gian từ thời điểm người đi vay nhận vốn vay để sử dụng vào mục đích vay cho đến thời hạn phải trả nợ
cả vốn lẫn lãi theo hợp đồng tín dụng Dựa theo thời hạn tín dụng, tín dụng được phân biệt thành tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Tín dụng ngắn hạn:
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn tối đa là 12 tháng, thường dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm được sử dụng
để cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
Căn cứ vào đối tượng tín dụng, tín dụng chia thành tín dụng vốn cố định và tín dụng vốn lưu động
- Tín dụng vốn cố định:
Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng được cung cấp đề hình thành vốn
cố định của doanh nghiệp Loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung hạn và dài hạn Tín dụng vốn cố định thường được cấp phát phục vụ việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các nhà máy và công trình mới
- Tín dụng vốn lưu động:
Tín dụng vốn lưu động là loại tín dụng được cung cấp nhằm hình thành vốn lưu động như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp Loại tín dụng này được thực hiện chủ yếu bằng hai hình thức cho vay bổ sung vốn tạm thời thiếu hụt và chiết khấu chứng từ có giá
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng, tín dụng chia thành:
Trang 23- Tín dụng sản xuất và lưu động hàng hóa:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa là loại tín dụng cung cấp cho các nhà doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân để tiến hành sản xuất và kinh doanh
- Tín dụng tiêu dùng:
Tín dụng tiêu dùng là loại tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình…
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, tín dụng có vai trò rất quan trọng Điều đó thể hiện trên các mặt sau:
- Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế: Việc phân phối vốn tín dụng
đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục Tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu
về vốn cho đầu tư phát triển Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn vốn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản xuất
xã hội
- Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động của các tổ chức tín dụng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng được thực hiện một cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanh hiệu quả
- Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn: Trong thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và
ưu tiên cho xuất khẩu … Nhà nước đã tập trung tín dụng để tài trợ phát triển các ngành đó, từ đó tạo điều kiện phát triển các ngành khác
Trang 24- Tín dụng góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp: Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp
- Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ồn định trật tự xã hội: Do tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa và dịch vụ ngày càng gia tăng có thể thỏa mãn nhu cầu đời sống của người lao động Mặt khác, hoạt động tín dụng không chỉ đáp ứng cho nhu cầu của doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư Đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của cá nhân để phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa… nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó góp phần ổn định trật tự
xã hội
- Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài: Trong điều kiện kinh tế mở, tín dụng có vai trò quan trọng để mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế, từ đó giúp các nước xích lại gần nhau hơn và cùng phát triển trong sự hợp tác bình đẳng
Với vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế, tín dụng có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng Nhờ chức năng này của tín dụng mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế Như vậy sự có mặt của tín dụng được xem như là chiếc cầu nối giữa
Trang 25các nguồn cung - cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế Nói cách khác, ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập hợp những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
+ Phân phối gián tiếp: Là việc phân phối được thực hiện thông qua các
tổ chức trung gian như ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân dân, Công ty tài chính
Trong nền kinh tế hiện đại, phân phối vốn tín dụng qua các tổ chức trung gian chiếm vị trí quan trọng nhất Một mặt các tổ chức trung gian tập trung vốn tiền tệ của các doanh nghiệp và cá nhân để làm nguồn vốn cho vay, mặt khác các tổ chức này phân phối nguồn vốn đó dưới hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân và một phần cho kho bạc Nhà nước
Giữa phân phối qua tín dụng và phân phối qua Ngân sách có những điểm khác nhau: Đối với tín dụng phân phối trên cơ sở hoàn trả, phân phối vốn liên quan đến thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội, phân phối chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh Trong khi ngân sách phân phối vốn mang tính chất cấp phát, phân phối chủ yếu liên quan đến thu nhập quốc dân
và phân phối chủ yếu cho lĩnh vực phi sản xuất
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội:
Chức năng này được biểu hiện cụ thể qua quá trình huy động kịp thời những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội đưa vào chu chuyển, nghĩa là tín dụng đã tăng tốc độ vòng quay của đồng tiền, giảm lượng tiền dư thừa nhằm ổn định lưu thông tiền tệ
Hơn nữa trong điều kiện hệ thống các tổ chức trung gian tài chính phát triển thì song song với quá trình tổ chức nghiệp vụ tín dụng sẽ là việc mở
Trang 26rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu thông Điều này sẽ làm giảm các chi phí lưu thông khác như chi phí in ấn giấy bạc, chi phí bảo quản tiền, vận chuyển tiền….và giúp tốc độ lưu thông hàng hoá nhanh hơn và do vậy, hàng hoá đi từ hình thái tiền tệ vào sản xuất và ngược lại được thúc đẩy mạnh
mẽ hơn Nói cách khác, tín dụng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát triển
kinh tế (Nguyễn Minh Kiều, 2006), Lê Thị Thu Thủy 2005)
1.2 Chất lƣợng của tín dụng trong các quỹ tín dụng nhân dân
1.2.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng
Hoạt động tín dụng hiện nay mang lại phần lợi nhuận lớn nhất cho các
tổ chức tín dụng Tuy nhiên, lợi nhuận trong hoạt động tín dụng lại gắn liền với chất lượng tín dụng, Vậy chất lượng tín dụng là gì?
Có thể nói, chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được biểu hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho người cung cấp Theo cách đó, trong kinh doanh tín dụng, chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với
sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Quỹ tín dụng
Với cách định nghĩa như vậy, ta thấy chất lượng tín dụng ở đây được đánh giá trên 3 góc độ: QTDND cơ sở, khách hàng và nền kinh tế
Đối với QTDND cơ sở: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức
độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân Quỹ tín dụng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được đánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tín dụng
Trang 27Đối với nền kinh tế: đối với sự phát triển kinh tế, xã hội chất lượng tín dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác các khả năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, hoà nhập với cộng đồng quốc tế
Hiểu đúng về bản chất của chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá đúng chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhân của những tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho Quỹ tín dụng tìm được biện pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
Quỹ tín dụng cũng giống như các nhà kinh doanh: bỏ vốn của mình ra
và mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn Đảm bảo chất lượng cho các khoản vay và cho vay bản thân nó đối với Quỹ tín dụng đã là một nhu cầu cấp thiết Như vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lượng cho vay là điều kiện tối ưu cần thiết cho Quỹ tín dụng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Quỹ tín dụng duy trì hoạt động mà còn giúp Quỹ tín dụng phát triển Nếu
đi ngược lại mục tiêu trên Quỹ tín dụng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình
Hoạt động tín dụng của Quỹ tín dụng được mở rộng với các thủ tục được đơn giản hoá, thuận tiện nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tượng cần thiết, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi, hẻo lánh
Để có thể nâng cao chất lượng tín dụng, ngoài sự nỗ lực của bản thân Quỹ tín dụng, đòi hỏi nền kinh tế phải ổn định và phải có một cơ chế phù hợp
về chính sách, chế độ, sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa các cấp, các ngành,… tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tín dụng
Trang 28Việc nâng cao chất lượng tín dụng ảnh hưởng quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của Quỹ tín dụng:
- Nâng cao chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của Quỹ tín dụng do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch
vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của Quỹ tín dụng và sự trung thành của khách hàng
- Nâng cao chất lượng tín dụng làm gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ do giảm được sự chậm chễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay và yêu cầu kiểm tra tối thiểu;
- Nâng cao chất lượng tín dụng giúp cải thiện tình hình tài chính của Quỹ tín dụng, tạo thế mạnh cho Quỹ tín dụng trong quá trình cạnh tranh
- Nâng cao chất lượng tín dụng tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của Quỹ tín dụng bởi vì chất lượng tín dụng ngày càng cao cho phép Quỹ tín dụng
có những khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ xung vốn đầu tư
nâng cao chất lượng tín dụng tạo ra sự đột phá trong cạnh tranh từ đó ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ tín dụng
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
1.2.3.1 Nhân tố khách quan
Đây là những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài có tác động đến chất lượng tín dụng của QTDND cơ sở mà bản thân Quỹ tín dụng không thể kiểm soát được Do đó Quỹ tín dụng phải tìm mọi biện pháp để thích nghi và tồn tại, biết khai thác, tận dụng những yếu tố tích cực đồng thời hạn chế đến mức
Trang 29tối thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của những nhân tố đó đến Quỹ tín dụng
Cụ thể những nhân tố khách quan tác động đến chất lượng tín dụng của Quỹ tín dụng bao gồm:
- Môi trường kinh tế:
Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của một hoạt động kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại Hoạt động của QTDND cơ sở có thể coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tác động đến chất lượng tín dụng của QTDND Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao Ngược lại sự thay đổi theo chiều hướng xấu sẽ làm cho chất lượng các khoản tín dụng xấu đi ngoài ý muốn
Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng Một nền kinh tế ổn định, tỷ lệ lạm phát vừa phải
sẽ tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao Tức là các tổ chức,
cá nhân sản xuất kinh doanh hoạt động trong môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó có thể trả vốn và lãi được cho QTDND Ngược lại khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá trị đồng tiền giảm sút, chỉ
số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tác động xấu đến khả năng thu hồi công nợ của QTDND cơ sở
Trang 30những thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…) Và như vậy, những món tiền doanh nghiệp vay Quỹ tín dụng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng
- Môi trường cạnh tranh:
Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của QTDND Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh QTDND cơ
sở luôn phải quan tâm tới đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố và khuyếch trương uy tín và thế mạnh của Quỹ tín dụng Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực của cạnh tranh gay gắt các QTDND cơ sở
có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng tín dụng
- Môi trường tự nhiên:
Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như hạn hán, lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh… làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thủy
Trang 31sản, hải sản Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp
sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của QTDND cơ sở
- Nhân tố khách hàng:
+ Uy tín, đạo đức của người vay:
Trong quy trình tín dụng các QTDND thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên
Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của quy trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai Thực tế kinh doanh đã cho thấy, tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện Khách hàng có thể lừa đảo QTDND thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…Việc khách hàng gian lận tất yếu sẽ dẫn đến những rủi ro cho QTDND cơ sở
Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng
và Quỹ tín dụng Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực
tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác Do đó, QTDND cơ
sở cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác
Trang 32+ Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng:
Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ cho QTDND cả gốc lẫn lãi Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kinh nghiệm thực tế,…thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của QTDND cơ sở
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan
Là các nhân tố bên trong Quỹ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của Quỹ tín dụng Đây là các nhân tố mà Quỹ tín dụng có thể kiểm soát được bao gồm:
- Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo Quỹ tín dụng có liên quan Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu
nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng
- Kiểm soát nội bộ:
Đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với mọi QTDND cơ sở Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của QTDND
Trang 33càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong quy chế tín dụng cũng như quy trình tín dụng Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng
- Tổ chức nhân sự:
Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và tất nhiên nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động của một QTDND Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động tín dụng, QTDND cơ sở cần phải có một đội ngũ cán
bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng
Trong bố trí sử dụng, người cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết
để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến đổi của nền kinh tế thị trường Ngoài
ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho QTDND cơ sở
- Thông tin tín dụng:
Hoạt động tín dụng muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này Vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh ngân hàng là hết sức quan trọng Muốn nâng cao chất lượng tín dụng, Quỹ tín dụng cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng
Trang 341.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng trong các quỹ tín dụng tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm tại các nước và một số địa phương ở Việt Nam
1.3.1.1 Kinh nghiệm tại các nước
Nguồn gốc ra đời của ngân hàng HTX bao gồm 2 loại hình: Loại ngân hàng HTX thứ nhất do những người nông dân và đông đảo người nghèo thuộc tầng lớp thị dân ở thành thị và các vùng ven đô thị cùng nhau góp vốn thành lập để hợp tác nhằm tương trợ, giúp đỡ nhau có vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh (do họ không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ các NHTM) vượt qua tình trạng đói nghèo Loại ngân hàng HTX thứ hai ra đời trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập một số hợp tác xã tín dụng (HTXTD) hoặc QTDND cơ sở với nhau hoặc do chính các TCTD là HTX này cùng góp vốn thành lập để nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, mở rộng khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, điều hòa vốn, hỗ trợ khả năng thanh khoản cho các HTXTD hoặc các QTDND thành viên; qua đó nâng cao khả năng bảo đảm an toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh để hỗ trợ cho hoạt động của các thành viên ngân hàng HTX (bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các loại hình tổ chức kinh tế HTX khác) ngày một hiệu quả hơn và bền vững hơn Từ những tổ chức đầu tiên được hình thành ở từng khu vực, từng vùng nhỏ hẹp, các tổ chức này dần dần phát triển thành các ngân hàng HTX cung cấp đầy đủ các loại sản phẩm dịch
vụ ngân hàng, đồng thời nhanh chóng trở thành phong trào lan rộng ở các nước Đức, Anh, Pháp, Italia, Hà Lan, Canada, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc Cho đến nay, các ngân hàng HTX hầu như đã hiện diện
ở tất cả các nước trên thế giới Qua lịch sử hình thành và phát triển mô hình ngân hàng HTX, có thể nói nguồn gốc hình thành và phát triển ngân hàng HTX cũng có chung nguồn gốc hình thành mô hình HTXTD và QTDND, nhưng đây là loại hình TCTD hợp tác có quy mô lớn hơn và trình độ phát triển ở cấp độ cao hơn
Trang 35Trong quá trình phát triển, hệ thống ngân hàng HTX ở CHLB Đức là một trong những mô hình phát triển thành công nhất; đồng thời đây cũng là một trong những mô hình được chúng ta nghiên cứu kết hợp với mô hình QTD Desjardins Canada để áp dụng vào điều kiện thực tiễn hoàn thiện và phát triển mô hình hệ thống TCTD là HTX ở Việt Nam
- Mô hình ngân hàng hợp tác xã ở Cộng hòa Liên bang Đức:
Cộng hòa Liên bang Đức là “cái nôi” của phong trào HTXTD (nay được gọi là Ngân hàng HTX) Vào năm 1849, Friedrich Raiffeisen và Hermann Schulz - Delitzch đã sáng lập ra những HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đầu tiên ở CHLB Đức; tiếp đó năm 1854, các HTXTD đầu tiên đã được thành lập nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống cho những người lao động nhỏ và các HTX nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói trên Cùng trong giai đoạn này, các ngân hàng HTX cơ sở đầu tiên đã được thành lập ở các vùng đô thị Do đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng và được sự ủng hộ của những người nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và những người lao động sản xuất nhỏ, loại hình HTXTD và ngân hàng HTX đã mau chóng lan rộng khắp nước Đức Tới năm 1864, Hiệp hội HTXTD và Ngân hàng HTX vùng Heddesdorf (vùng khởi phát các HTXTD đầu tiên) đã được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ sự phát triển của các HTXTD
và các ngân hàng HTX cơ sở Tiếp đó, năm 1872, các ngân hàng HTX khu vực bắt đầu được thành lập nhằm mục tiêu điều hoà vốn và thực hiện các giao dịch thanh toán cho các HTXTD và ngân hàng HTX cơ sở cũng như các loại hình kinh tế HTX khác trong từng khu vực và năm 1895, Ngân hàng HTX
TW Đức đã được thành lập ở Berlin nhằm mục tiêu hỗ trợ như trên cho các ngân hàng HTX cơ sở và ngân hàng HTX khu vực (tuy nhiên, trong thời gian đầu, Ngân hàng HTX TW chỉ mới hoạt động ở phạm vi một bang và dần dần mới phát triển quy mô hoạt động ở cấp liên bang) Tới năm 1907, ở Đức đã có tới 19.000 HTXTD và ngân hàng HTX cơ sở, 64 ngân hàng HTX khu vực và
1 Ngân hàng HTX TW Tuy nhiên, bắt đầu từ giai đoạn này trở đi, phong trào phát triển theo chiều sâu và nâng cao chất lượng hoạt động, song song với quá
Trang 36trình sáp nhập các HTXTD với nhau để trở thành các ngân hàng HTX với quy
mô hoạt động lớn hơn; đến năm 1970, ở CHLB Đức cũ có 7.400 ngân hàng HTX cơ sở, 16 ngân hàng HTX khu vực và 1 Ngân hàng HTX TW
Sau sự kiện thống nhất nước Đức năm 1990, các bang mới ở miền Đông (Cộng hoà dân chủ Đức trước đây) đã thực hiện chuyển đổi các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp của Nhà nước CHDC Đức, kết hợp với bộ phận thực hiện nghiệp vụ tín dụng của các HTX tiêu thụ ở nông thôn sang mô hình ngân hàng HTX như ở phía Tây Cho đến năm 2002, toàn CHLB Đức có khoảng 1.800 ngân hàng HTX cơ sở, 1 Ngân hàng HTX khu vực và 1 Ngân hàng HTX TW
Song song với quá trình hình thành và phát triển, để đáp ứng yêu cầu phục vụ các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính ngân hàng trong nền kinh
tế thị trường, các ngân hàng HTX cơ sở, ngân hàng HTX khu vực và Ngân hàng HTX TW Đức đã góp vốn cùng nhau thành lập các doanh nghiệp tài chính đặc biệt, bao gồm các ngân hàng thế chấp bất động sản, quỹ tiết kiệm xây dựng, ngân hàng chiết khấu, công ty bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, động sản và bất động sản, cho thuê tài chính Hiện nay, hệ thống ngân hàng HTX Đức có gần 20 doanh nghiệp tài chính đặc biệt loại này, đủ khả năng đáp ứng toàn bộ nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ tài chính - ngân hàng cho các khách hàng của từng ngân hàng HTX cũng như cho toàn hệ thống ngân hàng
HTX (Trần Quang Khánh, 2014)
- Mô hình hệ thống Quỹ tín dụng Desjardins ở Canada:
Mô hình NHHTX ở Canada có lịch sử phát triển lâu đời từ thế kỷ 19 Ngày 06/12/1900 ông Alphonse Desjardins - một nhà báo và là nghị sĩ quốc hội là người sáng lập ra tổ chức có tên gọi QTD đầu tiên ở bang Quebec, Canada với ba mục tiêu chính là cải thiện đời sống kinh tế và đời sống thành viên, đưa ra các dịch vụ ngân hàng tốt nhất và đề cao tính tương trợ lẫn nhau Năm 1920, hai mươi năm sau kể từ khi QTDCS đầu tiên ra đời, Liên đoàn được ra đời do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế nếu từng QTDCS hoạt động riêng lẻ sẽ không trụ được Năm 1932, sau khi bị ảnh hưởng của cuộc
Trang 37khủng hoảng thị trường chứng khoán ở Mỹ, các Liên đoàn, QTDCS bị ảnh hưởng và đứng trước nguy cơ sụp đổ Vì vậy các Liên đoàn phải tập hợp lại
để thành lập Tổng liên đoàn QTDTW với tư cách là một tổ chức tài chính trung tâm của Tổng liên đoàn được thành lập năm 1980.Từ năm 2000 đến nay, để nâng cao khả năng cạnh tranh, hệ thống QTD Desjardins đã thực hiện việc tái cơ cấu tổ chức bằng việc chuyển từ mô hình ba cấp (gồm các QTDCS, các Liên đoàn khu vực và Tổng liên đoàn) thành mô hình hai cấp (gồm các QTDCS và một Liên đoàn) thông qua việc sáp nhập các Liên đoàn khu vực vào Tổng liên đoàn để trở thành một Liên đoàn duy nhất
Từ khi ra đời, phong trào QTD Desjardins đã trải qua một quá trình đầy sóng gió và thăng trầm Đến nay, hoạt động của hệ thống QTD Desjardins đã vượt ra khỏi Quebec - Canada Hệ thống QTD Desjardins đã cung ứng các dịch vụ quốc tế như các ngân hàng lớn, cạnh tranh ngang với các ngân hàng này về nhiều lĩnh vực như séc lữ hành, thẻ VISA, đầu tư, bảo hiểm Hơn 500 QTDCS đã làm các dịch vụ ngân hàng quốc tế cho xã viên của mình
Phong trào QTD Desjardins được phân thành hai hệ thống riêng biệt:
- Hệ thống hợp tác: gồm các QTDCS, Liên đoàn, QTDTW, Quỹ an toàn Desjardins, Cơ quan lịch sử, Cơ quan phát triển quốc tế, Quỹ tín thác, Quỹ đầu tư Các tổ chức này chủ yếu hoạt động mang tính chất hợp tác, tương trợ và đề cao tôn chỉ, mục đích của một hệ thống HTX
- Hệ thống các doanh nghiệp: gồm các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận đơn thuần Việc thành lập nên các doanh nghiệp này nhằm mục đích tăng cường năng lực tài chính và hiệu quả cạnh tranh của hệ thống hợp tác Các QTD Desjardins vừa là chủ sở hữu đồng thời là khách hàng của các doanh nghiệp này Các doanh nghiệp của Phong trào QTD Desjardins chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực chuyên biệt về bảo hiểm, chứng khoán, tín thác, bất động sản, đầu tư…
Cả hai hệ thống hợp tác và hệ thống doanh nghiệp của Phong trào QTD Desjardins đều được đặt dưới sự kiểm soát của Liên đoàn
Trang 38Hiệu quả hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng Desjardins: Các QTD Desjardins đã đạt đến trình độ phát triển rất cao với quy mô hoạt động và trang thiết bị hiện đại không hề thua kém các NHTM Các thành viên có thể thực hiện các giao dịch với QTD Desjardins thông qua mạng Internet 24/24 giờ Có thể nói cho đến nay hệ thống QTD Desjardins đã cung cấp đầy đủ tất
cả các loại dịch vụ tài chính, ngân hàng cho khách hàng và thành viên của mình Ngoài việc bản thân mỗi QTDCS tự phát huy nội lực của mình, hệ thống QTD Desjardins luôn nêu cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và phát huy tinh thần đoàn kết tương trợ giữa các đơn vị cấu thành hệ thống
Với cơ cấu tổ chức hoàn thiện và quy mô hoạt động ngày càng phát triển sâu rộng trong mọi tầng lớp dân cư và lĩnh vực kinh tế ở bang Québec (một trong những bang có nền kinh tế phát triển nhất ở Canada), Phong trào QTD Desjardins đã thực sự trở thành một mô hình tập đoàn TCTDHT có quy mô hoạt động lớn nhất trong các định chế tài chính ở bang Québec và là
một trong năm tập đoàn tài chính lớn nhất ở Canada (Hiệp hội Quỹ tín dụng
nhân dân Việt Nam, 2006)
1.3.1.2 Kinh nghiệm tại một số địa phương ở Việt Nam
- Nghệ An - Hiệu quả từ Quỹ tín dụng nhân dân:
Vì thiếu vốn đầu tư cho con đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, bà Trần Thị Minh ở xóm Mỹ Hậu, xã Hưng Đông - TP Vinh đến Quỹ tín dụng nhân dân Hưng Đông vay tiền Bởi là người dân trong xã, lại vay vốn đầu tư vào lĩnh vực xuất khẩu lao động, nên Quỹ tín dụng nhân dân đã nhanh chóng giải quyết cho bà Minh vay 150 triệu đồng và nguồn vốn đó đã giúp cho gia đình bà thực hiện được nguyện vọng là đưa con đi xuất khẩu lao động Từ nguồn tiền ở nước ngoài gửi về, sau 9 tháng bà Minh đã tiến hành trả nợ gốc Quỹ tín dụng hơn 80 triệu đồng Không chỉ xóm Mỹ Hậu, mà ở xóm Mai Lộc, hiện có 20 hộ vay 3 tỷ đồng tại Quỹ tín dụng nhân dân Hưng Đông đầu tư cho người thân, con cháu đi xuất khẩu lao động và thông qua đó tạo cơ hội giải quyết việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân trong xóm Hay gia
Trang 39đình ông Phan Thế Song ở xóm Trung Mỹ, vay 300 triệu đồng đầu tư phát triển kinh tế trang trại ở xã Nghi Hoa - Nghi Lộc và mô hình này phát triển mạnh theo hướng tập trung chăn nuôi vịt với quy mô lớn Là xã ngoại thành, nên cùng với việc đầu tư cho người dân vay vốn phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, Quỹ tín dụng nhân dân Hưng Đông còn tập trung ưu tiên nguồn vốn cho người dân vay đầu tư vào lĩnh vực xây dựng nhà cửa, buôn bán, dịch vụ sửa chữa ô tô, xe máy, vay xuất khẩu lao động, vay mua sắm phương tiện đi lại Với việc mở rộng đối tượng cho vay, đến nay, doanh số cho vay của Quỹ đạt hơn 90 tỷ đồng
Tại TX Cửa Lò, mặc dù có nhiều ngân hàng hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn với nhiều nguồn ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng Quỹ tín dụng nhân dân Nghi Hương đã có những giải pháp hợp lý để phát triển, như: Mở rộng công tác huy động vốn thông qua khai thác các nguồn tiền tiết kiệm nhàn rỗi trong cộng đồng dân cư; Phát triển tín dụng và thường xuyên nắm bắt diễn biến thị trường tiền tệ để ban hành cơ chế lãi suất kịp thời, đa dạng phù hợp với từng thời điểm; Đổi mới phong cách và chất lượng phục vụ; Đảm bảo tốt khả năng thanh toán và đáp ứng nhu cầu vốn vay của thành viên, khách hàng
Ông Nguyễn Đức Hạnh - Giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân Nghi Hương cho hay: “Một trong những điểm nổi bật của Quỹ là làm tốt công tác huy động vốn, năm 2009 huy động vốn tại địa bàn được hơn 35,6 tỷ đồng, thì năm 2013 là gần 111,5 tỷ đồng và phấn đấu đến cuối năm 2014 huy động vốn đạt 130 tỷ đồng Nhờ huy động được nguồn vốn này, Quỹ đã chủ động được trong công tác điều hành vốn, bảo đảm khả năng thanh toán và đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của thành viên, khách hàng Trong quá trình thực hiện công tác tín dụng, Quỹ luôn thực hiện nghiêm quy chế cho vay và cải tiến các thủ tục nhanh, gọn, đúng pháp luật, đặc biệt chú trọng công tác thẩm định, xét duyệt, phán quyết cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi vay
Trang 40vốn, nhờ đó chất lượng công tác tín dụng luôn được nâng cao Thời gian qua, Quỹ đã đầu tư cho 5.663 lượt thành viên, khách hàng vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh phục vụ du lịch biển, phát triển kinh tế, chăn nuôi hải sản, xuất khẩu lao động và nguồn vốn vay đều sử dụng đúng mục đích, phát huy hiệu quả”
Hiện nay, tại nhiều địa phương trong tỉnh, quỹ tín dụng nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nguồn vốn cho người dân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng các ngành, nghề , dịch vụ Sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng đó của quỹ tín dụng nhân dân, đã tạo ra “kênh” vay vốn rất kịp thời, hiệu quả của mô hình này Được biết, hiện nay huyện Diễn Châu
là địa phương dẫn đầu trong tỉnh về số lượng phát triển quỹ tín dụng nhân dân (có 10 quỹ), tiếp đến là huyện Yên Thành có 9 quỹ, huyện Đô Lương có 7 quỹ, Nam Đàn 6 quỹ Ông Trịnh Bá Quân - Phó trưởng phòng Kinh tế - Tổng hợp, Liên minh HTX Nghệ An cho biết: “Hiện nay trên địa bàn tỉnh ta
có 54 quỹ tín dụng nhân dân tại 54 xã của 13 huyện, thị, thành (gồm 54 hội sở
và 7 phòng giao dịch) Các quỹ tín dụng nhân dân đã tăng trưởng về quy mô
và chất lượng hoạt động Hiện tổng nguồn vốn hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân là hơn 2.451,6 tỷ đồng, gồm 75.833 thành viên và nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt hơn 2.008,6 tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay hơn 2.112
tỷ đồng, nợ xấu chỉ chiếm 0,20% (dưới mức cho phép) Một điều rất đáng mừng của mô hình quỹ tín dụng nhân dân, là trong số 54 quỹ đang hoạt động thì có đến hơn 40 quỹ tín dụng hoạt động hiệu quả”
Tuy nhiên, đến nay trên địa bàn tỉnh ta vẫn có 426/480 phường, xã, thị trấn (88,75%) chưa có quỹ tín dụng nhân dân Cùng với đó, hiện nhiều quỹ chưa có đất để xây dựng trụ sở làm việc và chưa được hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ, phát triển của Nhà nước Và tại các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Anh Sơn, Tân Kỳ, Con Cuông hiện vẫn chưa có mô hình quỹ tín dụng nhân dân Vì vậy, trong thời gian tới cần có cơ chế, chính sách phù hợp hơn