Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các thày cô giáo và các em học sinh khối lớp 9 của 3 trường: THCS Văn Yên, THCS Lê Lợi, THCS Vạn Phúc quận Hà Đông – Hà Nội, cùng gia đình, bạn bè,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
THỰC TRẠNG RỐI LOẠN LO ÂU CỦA HỌC SINH LỚP 9
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
THỰC TRẠNG RỐI LOẠN LO ÂU CỦA HỌC SINH LỚP 9 TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ
VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đinh Thị Kim Thoa
HÀ NỘI - 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc đến PGS TS Đinh Thị Kim Thoa – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thày, các cô trong và ngoài khoa Tâm
lý học lâm sàng, đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức khoa học
để em có thể áp dụng trong công việc và cuộc sống
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các thày cô giáo và các em học sinh khối lớp 9 của 3 trường: THCS Văn Yên, THCS Lê Lợi, THCS Vạn Phúc quận Hà Đông – Hà Nội, cùng gia đình, bạn bè, người thân…đã ủng hộ
và tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi điều tra số liệu, khảo sát thực trạng vấn đề tại địa bàn nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Do điều kiện, thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thày cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 2015
Học viên
Hoàng Thị Thu Hường
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ viết
tắt Từ viết tắt đầy đủ
1 RLLA Rối loạn lo âu
2 GAD7 Thang đánh giá lo âu
3 PHILLIPS Bảng đánh giá lo âu học đường của Phillips
4 ICD - 10 Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối
loạn tâm thần và hành vi - năm 1992
5 DSM- IV Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần,
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1:Phân biệtlo âu bình thường và rối loạn lo âu 1718
Bảng 2.1: Số lượng học sinh tham gia nghiên cứu theo trường 323
Bảng 2.2: Số lượng học sinh tham gia nghiên cứu phân theo lớp 32
Bảng 2.3: Số lượng học sinh tham gia nghiên cứu theo giới tính 35
Bảng 2.4: Số liệu về thành tích học tập của học sinh theo các năm 35
Bảng 2.5: Số liệu về xếp loại hạnh kiểm của học sinh theo các năm 35
Bảng 2.6: Số anh chị em ruột sống chung dưới một mái nhà 36
Bảng 2.7: Tình trạng hôn nhân của cha mẹ 36
Bảng 2.8: Trình độ học vấn của cha mẹ 38
Bảng 2.9: Nghề nghiệp của cha mẹ 39
Bản0g 2.10: Thu nhập bình quân tháng của cha/mẹ 40
Bảng 2.11: Hệ số Cronbach – Alpha phản ảnh độ tin cậy ổn định bên trong của thang và các tiểu thang đo lo âu học đường của Phillips 44
Bảng 3.1: Phân loại lo âu theo thang sàng lọc lo âu GAD7 48
Bảng 3.2: Phân loại rối loạn lo âu theo trường 50
Bảng 3.3: Phân loại rối loạn lo âu theo giới 53
Bảng 3.4: Phân loại rối loạn lo âu theo học lực 55
Bảng 3.5: Điểm trung bình và độ lệch chuẩn thang đo của Phillips về các dạng lo âu học đường 57
Bảng 3.6: Phân loại lo âu học đường theo tiêu chí đề xuất của Nguyễn Thị Minh Hằng 61
Bảng 3.7: Điểm trung bình và giá trị kiểm định ANOVA các trường 63
Trang 6Bảng 3.8: Giá trị kiểm định trung bình hai mẫu độc lập (t-test) về sự khác biệt
giữa học sinh nam và nữ 65
Bảng 3 9: Hệ số tương quan Pearson giữa lo âu và kết quả học tập các năm 67 Bảng 3.10: Hệ số tương quan Pearson giữa lo âu và trình độ học vấn của cha
mẹ, thu nhập của gia đình 69
Bảng 3.11: : Hệ số tương quan giữa tình trạng hôn nhân của cha mẹ, số con
trong gia đình với lo âu theo thang đo Phillips và GAD7 70
Bảng 3.12: Hệ số tương quan giữa nghề nghiệp của cha mẹ với lo âu theo
thang đo Phillip và lo âu theo thang đo GAD 71
Trang 7v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số lượng học sinh phân theo lớp thường và lớp chọn tham gia
nghiên cứu 33
Biểu đồ 2.2: Thành tích học tập của học sinh qua các năm 35
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ về số anh chị em ruột sống chung trong gia đình 36
Biểu đồ 2.4: Biểu đồ về tình trạng hôn nhân của cha mẹ 37
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ về thu nhập bình quân của cha mẹ 390
Biểu đồ 3.1: Phân loại lo âu theo thang sàng lọc lo âu GAD7 47
Biểu đồ 3.2: Phân loại RLLA theo trường 51
Biểu đồ 3.3: Phân loại rối loạn lo âu theo giới 54
Biểu đồ 3.4: Phân loại rối loạn lo âu theo học lực 55
Biểu đồ 3.5: Xếp hạng điểm trung bình thang đo của Phillips về các dạng lo âu học đường 58
Trang 8MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 4
4.1 Khách thể nghiên cứu 4
4.2 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Câu hỏi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phạm vi nghiên cứu 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Kế hoạch nghiên cứu 6
10 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
10.1 Đóng góp về mặt lý luận 6
10.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 6
11 Cấu trúc của luận văn 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu trong các nghiên cứu đi trước 7
Trang 9vii
1.1.1 Nghiên cứu về rối loạn lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu trên thế giới 7
1.1.2 Nghiên cứu về rối loạn lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu tại Việt Nam 8
1.1.3 Nghiên cứu về các yếu tố có liên quan tới rối loạn lo âu ở trẻ 10
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1 Lo âu 12
1.2.2 Rối loạn lo âu 15
1.2.3 Các dạng RLLA 18
1.2.4 Lo âu học đường 19
1.3 Nguyên nhân rối loạn lo âu 21
1.3.1 Nguyên nhân sinh học 21
1.3.2 Nguyên nhân thuộc vềgia đình – xã hội 21
1.3.3 Nguyên nhân thuộc về chủ thể 22
1.4 Đặc điểm sự phát triển tâm – sinh lý ở học sinh lớp 9 23
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 27
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 27
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 39
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 40
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 41
Trang 102.3 Công cụ nghiên cứu 41
2.3.1 Bảng hỏi thông tin chung 41
2.3.2 Bảng đánh giá lo âu học đường Phillips 41
2.3.3 Bảng hỏi sàng lọc rối loạn lo âu GAD-7 của Spitzer 44
Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Thực trạng tỉ lệ RLLA ở học sinh lớp 9 46
3.2 Thực trạng lo âu học đường ở học sinh lớp 9 56
3.3.Tương quan giữa lo âu và một số yếu tố khác 66
3.3.1 Tương quan giữa lo âu và kết quả học tập các năm 66
3.3.2 Tương quan giữa lo âu và trình độ học vấn của cha mẹ, thu nhập của gia đình 68
3.3.3 Tương quan giữa lo âu và tình trạng hôn nhân của cha mẹ, nghề nghiệp của cha mẹ, số con trong gia đình 69
Kết luận chương 3 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
1 Kết luận 72
2 Khuyến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nếu coi tuổi trẻ là mùa xuân của đời người thì có thể nói độ tuổi thiếu niên
là mùa xuân của tuổi trẻ Độ tuổi có nhiều điều đổi thay cả về cơ thể và suy nghĩ, cảm xúc Có bao nhiêu câu hỏi, có bao nhiêu trăn trở, bao cảm xúc vui buồn Những dự định, ước mơ cho tương lai, cho gia đình Những mâu thuẫn nội tâm, mâu thuẫn trong các mối quan hệ với người xung quanh Ở giai đoạn này, các em phải thực hiện nhiều vai trò, nhiều nhiệm vụ do cha mẹ, thày cô, xã hội quy định Trong quá trình dần trưởng thành, các em có thể gặp những khó khăn
mà bản thân các em khó có thể vượt qua nếu các em không có sức mạnh, không
có sự trợ giúp từ những người xung quanh Và hệ quả sẽ là sự bế tắc, buồn chán hoặc tuyệt vọng, nhìn nhận tiêu cực về giá trị bản thân dẫn đến các rối loạn tâm thần ở các em
Sức khỏe thể chất, tâm thần và xã hội phát triển cân bằng, hài hòa là cơ sở cho một cá nhân phát triển toàn diện đưa lại các hiệu quả của lao động có hữu ích cho phát triển xã hội và cá nhân Nếu sức khỏe tâm thần có vấn đề sẽ dẫn tới thiếu hứng thú trong học tập, vui chơi, suy nghĩ không hợp lý, thiếu thực tế và dẫn đến các hành vi lệch lạc, quấy nhiễu cuộc sống của cá nhân và các thành viên trong gia đình, cản trở sự phát triển chung của xã hội
Theo đánh giá chung của nhiều quốc gia trên thế giới, các rối loạn liên quan đến tâm lý chiếm 20% -25% dân số Trong đó rối loạn lo âu là rối loạn thường gặp và phổ biến Nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) cho thấy có khoảng 15% dân số nói chung đã trải nghiệm dấu hiệu đặc trưng của rối loạn lo âu và 2,3% đến 8,1% đang có rối loạn lo âu hiện hành Theo thống kê, tỉ lệ mắc phải lo
âu ước tính ở thanh thiếu niên và trẻ em khoảng từ 3% đến 20%, làm cho rối loạn
Trang 12lo âu trở thành một trong những rối loạn thường gặp của trẻ em và thanh thiếu niên (Albano, Chorpita, & Barlow, 2003)
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em Việt nam dao đọng từ 9% đến 25% Nghiên cứu của Ngô Thanh Hồi (2005), trên địa bàn Hà Nội và lân cận trên 1203 học sinh tiểu học và trung học cơ sở cho thấy 19,46% các em có vấn đề về sức khỏe tâm thần Theo một nghiên cứu về thực trạng lo âu ở học sinh trường PTTH Xuân Đỉnh –Hà Nội (Nguyễn Thị Hằng Phương, 2010), kết quả thu được cho thấy 13,4% học sinh có biểu hiện lo âu Theo nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh ở một
số trường THCS thành phố Long Xuyên (Trần Thị Huyền Anh – trung tâm nghiên cứu KHXH&NV) cho thấy kết quả tự đánh giá mức độ trầm cảm của học sinh ở khoảng ranh giới là 25,99%, ở khoảng không bình thường là 15,72% Kết quả tự đánh giá mức độ lo âu của học sinh ở mức ranh giới là 24,31%, ở khoảng không bình thường là 19,70%
Học sinh lớp 9 là lứa tuổi vừa bước qua tuổi dậy thì nhưng chưa thực sự trưởng thành Thời kì này các em đi qua một loạt những lớp sự kiện, những kinh nghiệm, sự trải nghiệm hay những nhiệm vụ phát triển được xác định về mặt xã hội Trong giai đoạn phát triển này, những thay đổi của các yếu tố sinh học có ảnh hưởng đến các yếu tố tâm lý Và ngược lại, các sự kiện xã hội, sự trải nghiệm tâm
lý đến lượt nó cũng ảnh hưởng lên hệ thống sinh học Trong giai đoạn phát triển này có rất nhiều những mâu thuẫn, những sự kiện xã hội liên quan đến nhu cầu và nhiệm vụ phát triển đòi hỏi học sinh phải đáp ứng như chúng vừa muốn là trẻ con, được mọi người chú ý, quan tâm, chăm sóc nhưng cũng rất muốn là người lớn được trao quyền tự quyết định, được tôn trọng các vấn đề riêng tư, được tự giải quyết các vấn đề cá nhân Học sinh lớp 9 phải đương đầu với những khó khăn trong học hành, thi cử Quan trọng hơn đó là nỗi lo lắng về kì thi tốt nghiệp và thi
Trang 13chuyển cấp vào THPT mà theo cha mẹ và các em thì đó là kì thi quyết định tương lai của mỗi người Ngoài ra, các em còn phải đối mặt với các mối quan hệ bạn bè, thày cô, gia đình……) Đó chính là những lo âu bình thường mà bất cứ người trưởng thành nào cũng từng trải qua Tuy nhiên, lo âu diễn ra quá mức sẽ ảnh hưởng đến các chức năng về mặt xã hội như là công việc học tập, giao tiếp Nếu
lo âu quá nặng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tương lai của các em Với mong muốn tìm hiểu về những lo lắng mà học sinh lớp 9 đang trải qua, những chủ điểm khiến các em lo lắng nhiều hơn trong giai đoạn này cũng như cách các em đã ứng phó với những lo lắng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Thực trạng rối loạn lo âu của học sinh lớp 9 trên địa bàn thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng tỷ lệ RLLA và nguyên nhân chính gây ra RLLA cho học sinh lớp 9 Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm tỷ lệ và mức độ lo âu cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Điểm luận các công trình nghiên cứu về RLLA nói chung và RLLA của học
sinh THCS nói riêng về tỉ lệ rối loạn lo âu chung trong dân số, các yếu tố ảnh hưởng, các vấn đề, chủ điểm mà học sinh lứa tuổi này thường lo lắng
3.2 Trên cơ sở tham khảo công cụ của các công trình nghiên cứu đi trước, chúng
tôi kế thừa một số công cụ để tham khảo xây dựng công cụ nghiên cứu cho đề tài này
3.3.Thử nghiệm công cụ nghiên cứu, tiến hành điều tra thực tế, làm sạch số liệu,
phân tích xử lý số liệu để viết báo cáo
Trang 144 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là 348 học sinh khối lớp 9: 188 nam và 160 nữ, 15 tuổi, của 3 trường THCS Trường THCS Lê Lợi 119 học sinh, trường THCS Vạn Phúc 118 học sinh, trường THCS Văn Yên 111 học sinh Trong đó có 170 học sinh lớp chọn và 178 học sinh lớp thường
Tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu: Chỉ đưa vào nghiên cứu những học sinh
tự nguyện và hợp tác tham gia làm test trong quá trình nghiên cứu và có khả năng hiểu và trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi nghiên cứu
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng rối loạn lo âu của học sinh lớp 9 (tỉ lệ, các vấn đề lo âu)
5 Câu hỏi nghiên cứu
5.1.Tỉ lệ RLLA ở học sinh lớp 9 là bao nhiêu?
5.2 RLLA của học sinh tập trung vào những vấn đề gì?
5.3.Mối liên hệ giữa rối loạn lo âu với một số yếu tố khác?
6 Giả thuyết khoa học
6.1.Tỉ lệ RLLA của học sinh lớp 9 là tương đối phổ biến (khoảng từ 10 – 20%) đo
bằng thang sàng lọc GAD7 (theo như các nghiên cứu đi trước)
6.2 Sự lo âu của học sinh tập trung vào một số lĩnh vựcnhư: gia đình, học tập,
quan hệ với giáo viên, với bạn bè…
6.3 Có mối tương quan giữa lo âu với học lực và một số yếu tố nhân khẩu học
của học sinh
Trang 157 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian và tài chính nên mẫu nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn mẫu trên 348 khách thể là học sinh trong 3 trường THCS trên địa bàn Hà Nội: Trường THCS Lê Lợi Quận Hà Đông, trường THCS Vạn Phúc Quận Hà Đông, trường THCS Văn Yên Quận Hà Đông
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý
luận, khoảng trống tri thức và tìm kiếm các công cụ hay được sử dụng trong các công trình nghiên cứu đi trước
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:Sử dụng các bộ công cụ nghiên cứu
như sau:
a Thang đánh giá lo âu GAD7
Thang sàng lọc, cho biết có bao nhiêu phần trăm học sinh có RLLA
b Thang đánh giá lo âu học đường của PHILIPS
Cho biết các vấn đề học sinh lo lắng là gì? Các em lo lắng vấn đề nào nhất?
c Bảng hỏi thông tin chung
Thu thập các thông tin về nhân khẩu học như tuổi, giới, trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ, thành phần gia đình, năng lực học tập, hạnh kiểm
8.3 Phương pháp thống kê: Để phân tích, xử lý số liệu nghiên cứu của đề tài
Ngoài các phân tích thống kê thông dụng như phần trăm, tính tổng, điểm trung bình chúng tôi dùng t-test và ANOVA để phân tích và so sánh giữa các nhóm Bên cạnh đó sử dụng tương quan(Pearson) để tìm hiểu mối quan hệ giữa các thang đo và tiểu thang đo, và một số mối quan hệ khác
Trang 169 Kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 3/2014: Đăng kí nhận đề tài, nhận giáo viên hướng dẫn, lập đề
cương nghiên cứu
- Tháng 4/2014: Bảo vệ đề cương
- Tháng 5/2014: Thu thập số liệu ở các trường THCS Lê Lợi, THSC Vạn Phúc, THCS Văn Yên quận Hà Đông, Hà Nội
- Tháng 8/2014: Hoàn thành nhập số liệu và xử lý số liệu nghiên cứu
- Tháng 6/2014: Hoàn thành luận văn
10 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
10.1 Đóng góp về mặt lý luận
Những kết quả thu được về mặt lý luận sẽ làm phong phú hơn nguồn tư liệu
về RLLA của học sinh Thấy được một số yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu của các em
10.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
- Chỉ ra được thực trạng RLLA của học sinh lớp 9 và mối tương quan giữa
RLLA với một số yếu tố khác
- Kết quả có thể sử dụng trong tham vấn học đường
11 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu trong các nghiên cứu đi trước
1.1.1 Nghiên cứu về rối loạn lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu trên thế giới
Cuối thế kỳ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã có sự quan tâm đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con người Trong các bệnh về sức khỏe tân tầm, lo âu, trầm cảm được xem là những bệnh tâm căn Đến năm 1866, Morel gộp chung lại những trạng thái lo âu dưới cái tên là: “Hoang tưởng cảm xúc“ (Délire émotif), khác với hystérie và ưu bệnh (hypochondria) [30, tr.123]
Sigmend Freud cho rằng lo âu có căn nguyên tâm lý và liên quan đến tính dục (libido) Theo ông lo âu xảy ra trong vô thức và liên quan đến những xung đột nội tâm, xung đột này càng nhiều thì lo âu càng nặng Nhưng sau đó ông nhận thấy rằng những tác động của môi trường trong và ngoài cơ thể, đặc biệt là các sang chấn tâm lý có thể gây lo âu ở các mức độ khác nhau Cuối cùng ông định nghĩa lo âu (anxiety) như là tín hiệu cảnh báo sự nguy hiểm (danger) trong vô thức và không có đối tượng rõ ràng Điều này khác với sợ hãi (fear) là tín hiệu cảnh báo trong nhận thức tỉnh táo với một hay nhiều đối tượng được nhận thứccụ thể
Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lí Rối loạn lo âu được xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể
Năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đưa ra bảng phân loại DSM – IV, coi rối loạn tâm thần là những triệu chứng bất thường về tâm lý hoặc hành vi có ý nghĩa
về mặt lâm sàng làm ảnh hưởng đến chức năng sống của cá nhân, suy giảm năng lực nhận thức hoặc mang đến cảm giác tiêu cực
Trang 18Nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15 % dân số nói chung, trong cuộc đời đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trưng đủ của RLLA và 2,3 – 8,1 % có RLLA hiện hữu
Tóm lại, qua các nghiên cứu đã được điểm luận, khái RLLA đã xuất hiện và được chú ý nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 trên thế giới Nội hàm của RLLA được nhiều nhà nghiên cứu và tác giả bổ sung và khái quát theo thời gian Tỉ lệ rối loạn
lo âu trong dân số nói chung ở các nước trên thế giới trong vài thập kỷ qua dao động trong khoảng từ 15 – 20% dân số trong đó tỉ lệ RLLA ở trẻ em dao động trong khoảng từ 5,7 – 17,7 %
1.1.2 Nghiên cứu về rối loạn lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, số lượng trẻ em trong độ tuổi học sinh mắc rối loạn lo âu và trầm cảm có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Ví dụ như nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú và cộng sự trên 1500 trẻ tại hai phường Kim Liên và Trung
Tự (2000) cho thấy có tới 1,9 % đến 3 % trẻ có lo âu – trầm cảm Nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2000) trên 503 học sinh cấp II cho thấy tỉ lệ trẻ đã từng trải qua rối loạn lo âu là rất cao: 17,65 % - 19,20 % Một nghiên cứu khác của Hoàng Cẩm Tú và cộng sự (2007) khảo sát sức khỏe tâm thần ở 1.727 học sinh THCS ở
Hà Nội cho thấy có 25,76% tổng số học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó số học sinh có những vấn đề cảm xúc (lo âu – trầm cảm) là cao nhất – chiếm tới 29,7%, tỷ lệ nữ mắc nhiều hơn nam Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hằng và Nguyễn Thị Nga (2009), có 20,65% học sinh lớp 1 có lo âu học đường ở mức độ vừa, trong đó tình huống kiểm tra kiến thức ở lớp học là nguyên nhân lớn nhất
Gần hơn, nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) đã điều tra dịch tễ trên 1.314 trẻ em từ 6 – 16 tuổi ở 10 tỉnh, thành
Trang 19Trong đó, lo âu/ trầm cảm chiếm 1,8%, thu mình chiếm 2,1%, than phiền cơ thể chiếm 4,1% Tỉ lệ này ở mức ranh giới là 18,3%
Theo Bác sĩ Nguyễn Thanh Hồi - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, kết quả cuộc khảo sát mới đây đưa ra con số giật mình: 19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần Trong khi đó, hiểu biết của xã hội (thậm chí ngay trong ngành y tế) về chăm sóc sức khỏe tâm thần còn rất nghèo nàn Như vậy, gần 20% trẻ dưới 16 tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [33]
Một nghiên cứu chúng tôi dẫn theo tài liệu của Nguyễn Công Khanh, "Báo cáo của tổ chức y tế thế giới năm 1995 công bố rằng có khoảng 20% người lớn đã
có trải nghiệm cơn hoảng sợ trong đời Theo thống kê của nhiều nước trong nhiều thập kỷ qua, tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em là 5,7 đến 17,7% Theo Kashani và O.Verchell (1997) tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em và vị thành niên Mỹ là khoảng 9% Còn tại Hoa Kỳ hiện nay, mỗi năm có hàng triệu dân mắc bệnh này" [16, tr.26] Nghiên cứu về “Thực trạng gây ra RLLA ở học sinh trường trung học phổ thông chuyên Quảng Bình” – Nguyễn Thị Hằng Phương, 2007 Điều tra trên 600 học sinh Kết quả thu được có 130 học sinh có RLLA(21,6%) Trong một nghiên cứu khác cũng của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương, 2005 sư dụng trắc nghiệm Zung trong khảo sát thực trạng lo âu ở học sinh đã rút ra một số nhận định như sau: Khi so sánh về giới thì các em nam (7,72%) có biển hiện lo âu nhiều hơn nữ (5,45%) So sánh giữa các lớp thì ở lớp có học lực khá hơn (7,72%) có lo âu nhiều hơn lớp có học lực trung bình (5,09%) Tình hình lo âu ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Hà nội qua điều tra dịch tễ trên 220 em, có 13,14% các em
có biểu hiện lo âu
Cụ thể là: 17 em (7,72%) có lo âu nhẹ 9 em có lo âu trung bình( 4,09%) 1
em có lo âu trên trung bình và 2 em (0,9%) có biểu hiện lo âu bệnh lý
Trang 20Nguyễn Doãn Thành và cộng sự với nghiên cứu về Thực trạng Stress lo âu
và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp III ở một trường cấp III ở Bình Thuận (4/2009) thu được kết quả 38% học sinh có biểu hiện stress lo âu
Như vậy, qua những công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu ở trẻ em Việt Nam đã được điểm luận trên đây, tỉ lệ rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông có sự dao động lớn có thể từ 15% – 30% tùy thuộc vào mẫu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và công cụ sàng lọc sử dụng trong các nghiên cứu
1.1.3 Nghiên cứu về các yếu tố có liên quan tới rối loạn lo âu ở trẻ
Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm luận một số công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới kết luận về các yếu tố có liên quan đến rối loạn lo âu ở trẻ Trong đó phải để đến các yếu tố thuộc về chủ thể, yếu tố gia đình và môi trường học đường
Ví dụ liên quan đến yếu tố thuộc về chủ thể, công trình của M Pior và cộng
sự ( 1983 – 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc trẻ mới sinh tới tuổi 18 Kết quả cho thấy 42 % những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình đo được vào thời điểm 9 tuổi thường phát triển thành rối loạn lo âu vào giai đoạn 13 – 14 tuổi
Hay liên quan đến yếu tố gia đình, Warren và Huston ( 1997) cho rằng mối quan hệ mẹ con quá kéo dài sẽ làm tăng trạng thái lo âu của trẻ và sự gắn bó kéo dài là một yếu tố dự đoán quan trọng về trạng thái lo âu ở trẻ
Còn liên quan đến môi trường học đường, kết quả thu được từ nghiên cứu của Nguyễn Doãn Thành cho thấy có 29% học sinh thường hay bị stress lo âu vì
áp lực thi cử và 33% học sinh thường hay có stress lo âu vì áp lực học tập ở trường, 70% trong tổng số học sinh thường hay bị stress lo âu vì học môn học không thích, 48% trong tổng số học sinh bị stress lo âu vì không hợp thầy cô Hay
Trang 21trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Hằng ở học sinh lớp 1 cho thấy có 26,65% học sinh tham gia nghiên cứu cho biết rất lo lắng trong các tình huống như kiểm tra bài cũ, bài tập về nhà, làm bài thi, bài kiểm tra, phát biểu trước lớp, giải bài tập trên bảng Đặc biệt, 2/3 trẻ được hỏi có biểu hiện lo âu liên quan đến mối quan hệ với giáo viên; 1/3 trẻ xem thành tích học tập là áp lực lớn
Bên cạnh các nghiên cứu tập trung vào một nhóm nguyên nhân cụ thể, cũng
có nhiều nghiên cứu về các nguyên nhân của RLLA ở học sinh nói chung Ví dụ như nghiên cứu “Thực trạng gây ra RLLA ở học sinh trường trung học phổ thông chuyên Quảng Bình” của Nguyễn Thị Hằng Phương cho thấy có 4 nhóm yếu tố gây ra RLLA ở học sinh : 1) Yếu tố học tập 2) Yếu tố gia đình 3) Bản thân học sinh 4) Mối quan hệ xã hội Tác giả cũng cho biết mức độ gây lo lắng của các yếu tố này trong đó xếp hạng cao nhất gây ra RLLA cho học sinh là nhóm yếu tố liên quan đến học tập Thứ hai là nhóm yếu tố thuộc về bản thân học sinh Thứ 3
là nhóm yếu tố thuộc về vấn đề gia đình Nhóm có ảnh hưởng ít nhất đến RLLA
là mối quan hệ xã hội Hay trong một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Doãn Thành trên học sinh cấp III ở Bình Thuận tác giả đã chỉ ra các chỉ số đáng lưu ý sau : có 5% trong tổng số học sinh thường hay bị stress lo âu về kinh tế gia đình, 33% trong tổng số học sinh thường hay bị stress lo âu vì áp lực, kỳ vọng học tập từ gia đình và 78% trong tổng số học sinh thường hay bị stress lo âu vì xung đột trong quan hệ gia đình
Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của một số học sinh ở một số trường THCS được thực hiện năm 2005 bởi nhóm nghiên cứu: TS.BS Lê Thị Kim Dung, PGS Nguyễn Võ Kỳ Anh, TS.BSCKII Lã Thị Bưởi, TS.BS Đinh Đăng Hòe, BS.Nguyễn Xuân Nguyên cho biết các yếu tố ảnh hưởng đến các tổn thương SKTT trong đó có RLLA gồm (i) Yếu tố về gia đình (VD như
sự quan tâm không đúng mức của gia đình: 46,6%; Gia đình ly thân, ly hôn:
Trang 2212,1% số học sinh nhóm đối tượng nghiên cứu không sống cùng bố mẹ đẻ; Cha
mẹ đã kỳ vọng vào con cái quá nhiều, nguyện vọng của bố mẹ quá mức về thành tích học tập 88,9% đạt loại khá giỏi); (ii) Các yếu tố liên quan đến học tập (như Điều kiện học tập: môi trường học tập an toàn; học thêm quá nhiều; áp lực trả bài
và thi cử: có nhiều hơn 27% có các biểu hiện lo âu trong thời điểm thi cuối kỳ) Qua những nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra khá nhiều yếu tố liên quan tới lo âu ở trẻ tuổi đi học: đặc điểm khí chất,tính cách, hoàn cảnh gia đình đặc biệt là môi trường học đường Những yếu tố liên quan đến vấn đề học tập ảnh hưởng nhiều đến lo âu của trẻ: Kì vọng của gia đình, môi trường học, áp lực thi
cử, quan hệ với giáo viên Những yếu tố này có nhiều xáo trộn và thay đổi khi trẻ chuyển từ cấp 2 lên cấp 3 Tuy nhiên nghiên cứu về RLLA của học sinh trong giai
đoạn chuyển cấp hầu như chưa có Vì vậy nghiên cứu này rất có ý nghĩa thực tiễn
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Lo âu
Lo âu là một cảm xúc thông thường của con người trước các sự kiện của cuộc sống Là tín hiệu báo trước một vài trở ngại sắp xảy ra kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hàng ngày
và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết, đương đầu với các mối đe dọa Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi việc đã giải quyết xong hoặc được trấn áp bằng tâm lý
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lo âu:
- Theo từ điển Tâm lý học Cambridge, lo âu về bản chất là đáp ứng với một
đe dọa không được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột, còn sợ là đáp ứng với một đe dọa được biết rõ ràng từ bên ngoài hay không có nguồn gốc xung đột Cả hai đều là đáp trả lại các kích thích bất lợi của môi
Trang 23trường nhằm gia tăng tính tích cực của hành vi, chẳng hạn sợ hãi con rắn được tìm thấy ở nhiều người được cho là có ích nó giúp họ tránh những tổn thương mà người không có cảm giác sợ này có thể gặp phải do không lường trước được nguy hiểm (như bị rắn cắn)
- Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng, lo âu là phản ứng cảm xúc của chủ thể đối với một mối đe dọa về thể chất hay tinh thần(dẫn theo [25, tr 386])
- Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn, lo âu là một rối loạn có cấu trúc đơn sơ thể hiện ra ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng [28, tr11]
- Theo tác giả Đinh Đăng Hòe: Lo âu là hiện tượng phản ứng bình thường của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua
- Theo bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc bệnh viện tâm thần TP Hồ Chí Minh: “Lo âu là tâm trạng chờ đợi một việc gì đó sắp xẩy ra mà mình không biết được hậu quả”
- Theo từ điển tâm lý của Nguyễn Khắc Viện, lo âu là việc suy nghĩ về một điều gì đó có thể xảy ra mà không chắc có thể ứng phó được là lo Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ Nhưng khi tâm lý bị rối loạn, thì cá nhân thường cảm thấy lo nhưng không biết cụ thể la lo về điều gì
Từ những cách hiểu khác nhau về lo âu vừa trình bày trên, chúng tôi hiểu thuật ngữ lo âu như sau:
- Lo âu là hiện tượng phản ứng cảm xúc tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua để tồn tại
Trang 24- Lo âu là một tín hiệu báo động nguy hiểm sắp xẩy đến, cho phép con người
sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa Lo âu và sợ hãi cũng có những điểm khác nhau, với lo âu, đó là một đáp ứng với một sự đe dọa mà cá nhân không biết được rõ ràng, mơ hồ, thường phát sinh từ bên trong và mang tính xung đột, mâu thuẫn Còn sợ hãi là đáp ứng với một sự đe dọa, mà sự đe dọa này thường được xác định hoặc biết rõ, thường phát sinh từ bên ngoài và không mang tính xung đột
Như vậy, trong cuộc sống con người có những lo âu là chuyện rất bình thường Người lớn thì lo âu chuyện con cái, công việc, quan hệ Trẻ em thì lo lắng việc học hành, bạn bè Cũng chính lo âu làm cho con người muốn hoàn thiện bản thân mình, sống có mơ ước, có quyết tâm để đạt được điều mình muốn, để khắc phục những khó khăn, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn
Nhưng nếu những lo âu đó kéo dài, lo âu với những nguyên nhân không rõ ràng, những mối đe dọa không có thực sẽ dẫn đến lo âu mang tính bệnh lí - RLLA
Vấn đề lo âu ở thanh thiếu niên là cảm giác lo lắng về những gì xẩy ra trong cuộc sống của các em, có ảnh hưởng tới tình cảm, nguyện vọng đời sống của chính các em Vì trong thời kì này hoạt động chủ đạo của các em là học tập và thể hiện vai trò trong các mối quan hệ với gia đình, bạn bè, thày cô nên chúng ta có thể phân loại được những nguyên nhân gây ra lo lắng, áp lực cho các em chính là những lo lắng xung quanh áp lực về việc học tập, những mối quan hệ với bạn bè với thầy cô giáo, và mối quan hệ với cha mẹ, anh chị em gia đình
Trang 251.2.2 Rối loạn lo âu
Lo âu là một phản ứng bình thường của con người Trong cuộc sống hàng ngày, khi vượt qua được sẽ giúp con người điều chỉnh, thích nghi với cuộc sống
và phát triển các chức năng tâm lý Tuy nhiên, nếu tình trạng lo âu ở mức độ cao
sẽ dẫn tới những trở ngại trong cảm xúc, hành vi của cá nhân, gây khó khăn trong các hoạt động thường ngày Ở mức độ cao hơn của tình trạng này là rối loạn lo
âu
Rối loạn lo âu (RLLA) được định nghĩa là sự sợ hãi quá mức không rõ nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích được do một bệnh tâm thần khác hoặc do một bệnh cơ thể Rối loạn lo âu là rối loạn mà bệnh nhân không thể kiểm soát được, biểu hiện vững chắc, mãn tính và khuếch tán dưới dạng kịch phát
RLLA làm cản trở các hoạt động trong cuộc sống thường ngày của chủ thể,
về cả mặt nhận thức, hành vi và sự phát triển nhân cách của chủ thể
Theo P Pichot (1967), lo âu chỉ là sự lo sợ về một đối tượng không rõ ràng hoặc không cụ thể Fiona Judd và Graham Burrows trong bài viết về “Các rối loạn loâu”, cho rằng: Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi mơ hồ, khó chịu, lan tỏa cùng với rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào, ít nhất trong thể nhẹ và nhất thời,chúng ta thường thấy mang tính chu kỳ
Theo Bremmer có tới 50-90%bệnh nhân có các rối loạn tâm thần khác kéo theo (trầm cảm, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, loạn thần cấp ) Rối loạn lo âu thường biểu hiện sau một yếu tố gây stress, chủ thể có cảm giác sợ hãi mơ hồ, sự bất an, bối rối khó chịu, dễ bị kích thích lo nghĩ về những sự việc vụn vặt kéo theo cảm giác đau thắt ngực, đánh trống ngực, cảm giác trống rỗng thượng vị, có
mồ hôi Những người bị rối loạn lo âu, trầm cảm, stress dai dẳng thường có biểu
Trang 26hiện mất ngủ, bực bội, bất an, trí nhớ và khả năng lao động giảm sút (dẫn theo [22])
Theo tiêu chuẩn phân loại lo âu của hội Tâm thần học Mỹ, DSM-IV, rối loạn
lo âu là những lo sợ thái quá về một số sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xẩy ra lặp đi lặp lại ít nhất trong 6 tháng Cá nhân thường có khó khăn trong sự kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là cảm giác bất động, khó thư giãn, dễ mệt mỏi, khó tập trung chú
ý, trí nhớ trống rỗng, sự căng cơ, dễ bực bội, khó ngủ và cảm giác bất an…
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng, RLLA ở trẻ em và thanh nhiếu niên có các triệu chứng sau (dẫn theo [25, tr.386]):
- Về mặt cơ thể: vã mồ hôi chân/tay, giọng nói run rẩy, vẻ mặt thất thần, đau đầu, đau bụng, tức ngực, khó thở/ thở dốc, ho khan
- Về nặt cảm xúc: lo lắng, dễ cáu bẳn, dễ tức giận, dễ bị kích động, linh cảm những chuyện không hay
- Về nhận thức: thường có những ý nghĩ ám ảnh, phi lý, tưởng tượng ta nhiều tình huống/kết quả xấu
- Về hành vi: không thể ngồi yên một chỗ, vụng về/lóng ngóng, dễ làm đổ
vỡ đồ vật, tránh những tình huống, hoàn cảnh được xem là các mối đe dọa, ví dụ, trường học, các tình huống học đường hay các tình huống xã hội
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, lo âu là điều bình thường và cần thiết đối với cuộc sống con người Nhưng nếu người ta không kiểm soát nổi những cảm giác lo âu ở mức bình thường, để nó vượt quá ngưỡng của mức bình thường, diễn biến trong thời gian dài, kèm theo những rối loạn về mặt thực thể, rối loạn hệ thần kinh thực vật thì lo âu trở nên có tính bệnh lí hay còn gọi là RLLA
Trang 27Theo DSM-IV, sự khác biệt giữa lo âu và rối loạn lo âu là trạng thái lo lắng quá mức và cá nhân có khó khăn hoặc mất sự kiểm soát những lo âu này Những người trải nghiệm sự lo âu khó kiểm soát những xúc cảm của bản thân, những xúc cảm tiêu cực thường tạo ra sự đảo lộn hay sự mất năng lực trong phạm vi của bản thân
Để phân biệt rõ hơn về lo âu bình thường và rối loạn lo âu, chúng tôi tóm tắt lại trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Phân biệt lo âu bình thường và rối loạn lo âu
có xu hướng nhìn thấy kết quả tồi tệ
Lo lắng không gây nhiều khó chịu,
không gây đau khổ đáng kể
Không có hoặc có rất ít rối loạn
Cá nhân có thể kiểm soát nỗi lo lắng
của mình
Cá nhân không kiểm soát được nỗi lo lắng của mình
Những cơn lo lắng diễn ra trong thời
gian ngắn khi có sự kiện tác động
đến cá nhân Khi sự kiện qua đi thì
cá nhân hết lo lắng
Cá nhân bị lo lắng lặp đi lặp lại mỗi ngày và kéo dài trong ít nhất sáu tháng
Trang 28Lo lắng hầu như không ảnh hưởng
đến hoạt động và chức năng sống
hàng ngày của cá nhân
Lo lắng sẽ ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động chức năng và cuộc sống xã hội của cá nhân
Thông qua các cách diễn đạt về RLLA như trên, ở đây, chúng tôithống nhất hiểu khái niệm rối loạn lo âu như sau:
Rối loạn lo âu là lo âu quá mức về một vấn đề không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy Tình trạng này thường xuyên xảy ra và khó kiểm soát gây trở ngại đến hoạt động của chủ thể, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có
vẻ như quá mức hay vô lí và có thể làm thay đổi tình trạng cơ thể
1.2.3 Các dạng RLLA
Theo DSM IV, mô tả 9 dạng lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên
- RLLA lan tỏa(GAD): liên quan đến sự lo lắng quá mức dai dẳng, kéo dài
và không kiểm soát được một só trạng thái và hoạt động, ít liên quan đến các tình huống cụ thể Trẻ em và thanh thiếu niên RLLA lan tỏa thường lo lắng quá mức
- Ám ảnh sợ đặc hiệu: là sự sợ hãi dai dẳng đối với một đối tượng hay tình huống gợi lên những phản ứng trả lời tức thì, thường là các tình huống mang tính tấn công đặc thù như sợ động vật, sợ bóng tối, sợ độ cao, sợ đi khám bệnh…
Trang 29- Hoảng loạn: là RLLA liên quan đến sự trải nghiệm những cơn hoảng loạn một cách thường xuyên và không lường trước được và sâu đó sợ cảm giác cơ thể từng có trong tình huống đó
- Ám sợ khoảng trống: là rối loạn liên quan đến cảm giác sợ rơi vào một không gian nào đó không an toàn như nơi công cộng, không gian rộng
- Ám ảnh cưỡng bức: là RLLA đặc trưng bởi sựi tái diễn, ám ảnh kéo dài kèm theo những hành vi nghi thức xảy ra khi căng thẳng quá mức
- Rối loạn stress sau sang chấn: là rối loạn xảy ra sau khi cá nhân đã chứng kiến hoặc trải nghiệm những sự kiện đe dọa, gây chấn thương nghiêm trọng
- Rối loạn stress cấp tính: xảy ra trong vòng khoảng 1 tháng tiếp xúc với tác nhân gây ra căng thẳng cực độ Đây là tiền đề của rối loạn stress sau sang chấn
1.2.4 Lo âu học đường
Theo từ điển Tâm lý học Cambridge: Theo luật Yerkes-Dodson, một mức độ tối ưu của sự kích thích cần thiết để hoàn thành tốt nhất công việc như vậy là một
kỳ thi, hiệu suất, hoặc sự kiện cạnh tranh Tuy nhiên, khi những lo lắng hay mức
độ kích thích vượt quá tối ưu, kết quả là một sự suy giảm trong hoạt động
Kiểm tra sự lo lắng là lo lắng, lo âu, bồn chồn hoặc cảm thấy các học sinh có một nỗi sợ thất bại một kỳ thi Những học sinh có tâm lý hồi hộp có thể gặp bất
kỳ những điều sau đây: sự kết hợp của lớp với giá trị cá nhân ; sợ hãi của sự bối rối bởi một giáo viên; sợ sự xa lánh của cha mẹ hoặc bạn bè; áp lực thời gian; hoặc cảm thấy mất kiểm soát Đổ mồ hôi, chóng mặt, đau đầu, tim đập đua xe, buồn nôn, bồn chồn, không kiểm soát được khóc hay cười và tiếng trống trên bàn
là tất cả chung Bởi vì tâm lý hồi hộp xoay quanh sợ đánh giá tiêu cực, tranh luận tồn tại như để kiểm tra xem liệu sự lo lắng chính là một rối loạn lo âu duy nhất hoặc cho dù đó là một loại hình cụ thể của nỗi ám ảnh xã hội Các DSM-IV phân loại tâm lý hồi hộp như một loại ám ảnh xã hội
Trang 30Lo âu học đườnglà các lo âu xuất hiện khi trẻ tới trường, có thể xuất hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, có liên quan tới các mối quan hệ và các dạng hoạt động trong đời sống học đường: quan hệ bạn bè, thầy cô, áp lực học tập, đạt được thành tích, sự tự đánh giá và nhu cầu thể hiện bản thân…
1.2.5 Hậu quả của RLLA
Rối loạn lo âu là một trong các rối loạn tâm lý có tính phổ biến cao, bệnh thường kết hợp với nhiều rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn nhân cách, rối loạn
ăn uống, rối loạn dạng cơ thể Chính vì thế nó đem lại gánh nặng đáng kể cho cá nhân, gia đình, xã hội
Các nghiên cứu của Dweck và Wortman (1982); Strauss và Frame (1987); Turner, Beidel và Costello (1987) chỉ ra rằng thời thơ ấu có rối loạn lo âu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến một loạt các yếu tố, bao gồm thành tích học tập và hoạt động
xã hội Hơn nữa, trẻ em có rối loạn lo âu thường có nhiều hơn một rối loạn cùng một lúc
Nhiều bằng chứng ủng hộ ý kiến rằng các rối loạn lo âu có một khởi phát sớm ở trẻ em có thể tiếp tục vào tuổi trưởng thành (Albano et al, 2003).Thân chủ
có thể lạm dụng chất gây nghiện; mất ngủ; những vấn đề về dạ dày; nhức đầu; nghiến răng
Lo âu ảnh hưởng đến các chức năng sống bình thường của bệnh nhân Có thể mất rất nhiều thời gian hoặc mắc kẹt trong một mô hình suy nghĩ và hành vi lặp đi lặp lại như đếm hoặc rửa tay chỉ để giảm lo âu, căng thẳng
Hầu hết bệnh nhân rối loạn lo âu luôn cẩn thận với những nơi lạ mà họ đến hoặc những tình huống mà họ cảm thấy nguy hiểm đe dọa Điều đó làm cho bệnh nhân khó khăn trong việc thiết lập và duy trì mối quan hệ với người khác
Trang 31Bệnh nhân rối loạn lo âu thường cảm thấy không thoải mái với những tình huống nhất định Điều này duy trì thói quen, đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của môi trường
Bên cạnh đó, bệnh nhân lo âu có thể giảm những chức năng sống, đối với học sinh kết quả học tập giảm sút, các hoạt động xã hội bị thu hẹp, bệnh nhân cùn mòn giao tiếp xã hội
1.3 Nguyên nhân rối loạn lo âu
1.3.1 Nguyên nhân sinh học
- Giả thuyết về di truyền: Những người họ hàng bị RLLA thì nguy cơ cá nhân bị RLLA lên tới 19,5 % Những người sinh đôi cùng trứng nguy cơ bị cao hơn những người sinh đôi khác trứng
- Giả thuyết về Catecholamin: Những bệnh nhân có RLLA có tăng tiết adrenalin làm ảnh hưởng đến các triệu chứng lâm sàng Thực tế cho thấy các thuốc ức chế beta đặc biệt là ức chế ngoại vi có tác dụng chống lo âu
- Giả thuyết serotonin: dựa trên tác dụng chống lo âu của một số thuốc chống trầm cảm tác dụng trên thụ cảm thể 5HT
- Thuyết phản xạ của Paplop: các rối loạn xảy ra do mất cân bằng giữa quá trình hưng phấn và ức chế ở võ não Lo âu thường xảy ra ở những người có loại hình thần kinh yếu
1.3.2 Nguyên nhân thuộc vềgia đình – xã hội
- Vai trò của môi trường gia đình: Lý thuyết gắn bó, thuyết quan hệ - đối tượng của các nhà phân tâm học: Bowlby, Winicott, Melanie Klein khẳng định sự gắn bó xã hội quyết định sự phát triển bình thường của trẻ Một quan hệ đứt đoạn sớm giữa mẹ và con dẫn đến sự chống đối của trẻ, sự thất vọng, xa rời và cuối cùng, trong một số trường hợp, là những rối loạn cảm xúc và hành vi ứng xử
Trang 32Như vậy các rối loạn lo âu ở trẻ em phụ thuộc vào mối tương tác sớm mẹ - con và bản chất của mối quan hệ gắn bó đó Nếu mất đi sự tương tác sớm, hoặc chất lượng gắn bó không đảm bảo sẽ làm phát triển rối loạn lo âu ở trẻ
- Lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura (1969): nhấn mạnh vai trò của nhận thức (tư duy, tưởng tượng) trong việc hình thành lo âu Lo âu có thể được tập nhiễm từ người chăm sóc hoặc những người khác trong môi trường sống của trẻ thông qua bắt chước, lây lan lo sợ hay do cách giải thích, nuôi dưỡng hoặc rèn luyện Hành vi của cha mẹ và môi trường giáo dục là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển lo âu ở trẻ
1.3.3 Nguyên nhân thuộc về chủ thể
- Theo phân tâm học, lo âu xuất hiện khi các xung năng tính dục luôn đòi hỏi được thỏa mãn nhưng do những cấm kỵ của ý thức dẫn đến những xung năng này
bị chèn ép Nhưng xung năng này tiếp tục đấu tranh để được thỏa mãn cùng với
sự gia tăng chèn ép của các cấm đoán, các cơ chế phòng vệ Chính sự xung đột nội tâm này gây nên các trạng thái mệt mỏi, suy nhược, lo âu và trầm cảm ở chủ thể
- Học thuyết về nhận thức (Beck, Ellis): Trong mô hình nhận thức của mình, Beck cho rằng hành vi và cảm xúc của cá nhân chịu ảnh hưởng của sự tri giác hoặc đánh giá sự kiện Với những người lo âu, họ thường đánh giá quá mức nguy
cơ đồng thời đánh giá dưới mức khả năng ứng phó của bản thân Như vậy chính nhận thức sai lầm của chủ thể là nguyên nhân dẫn tới lo âu của chủ thể
- Theo Maslow con người cần được thỏa mãn 5 nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển: nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn, nhu cầu yêu thương và thuộc về, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện Khi nhu cầu an toàn của trẻ không được thỏa mãn chúng rơi vào trạng thái mà Maslow gọi là lo âu cơ bản
Trang 33- Carl Roger với lý thuyết thân chủ trọng tâm cho rằng chính sự không tương thích giưa cái Tôi quan niệm với những trải nghiệm của cơ thể chính là nguồn gốc của sự trì trệ tâm lý Sự không tương thích này càng lớn thì cá nhân càng dễ bị tổn thương và khả năng xuất hiện lo âu
Có thể thấy những yếu tố sinh học, gia đình, môi trường xung quanh và chính bản thân cá nhân tác động đến việc hình thành và duy trì lo âu…
1.4 Đặc điểm sự phát triển tâm – sinh lý ở học sinh lớp 9
Học sinh lớp 9 đã và đang có sự thay đổi lớn về mặt sinh học, sự thay đổi này được bắt đầu do hiện tượng dậy thì Các em có sự phát triển mạnh về thể chất
và chức năng hệ sinh dục
Các em cũng có sự thay đổi lớn về nhận thức, có suy nghĩ sáng tạo, độc lập,
có chính kiến và bảo vệ chính kiến Các em ý thức được về bản thân và hiểu được người khác hơn Ở giai đoạn này các em tiếp nhận tiếp nhận và xử lý rất nhiều thông tin từ các nhiệm vụ của bản thân và từ các mối quan hệ xã hội Các em trải qua nhiều sự kiện trong cuộc sống nên cũng sẽ trải nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau
Ở độ tuổi này các em đang trong giai đoạn định hình bản sắc cá nhân- hình thành các suy nghĩ về bản thân, về cuộc sống, về tương lai…Các em có nhu cầu được khẳng định, được công nhận là người lớn, được đối xử tôn trọng và bình đẳng như người lớn Các em muốn làm những việc mình muốn, không bị kiểm soát và được lắng nghe…Điều đó đã thôi thúc các em cố gắng trên nhiều lĩnh vực
để thể hiện sự trưởng thành của mình Tuy nhiên, do kinh nghiệm sống của các
em còn non nớt, tư duy bồng bột, chưa sâu sắc, thiếu bao quát… nên bố mẹ và thày cô, những người lớn tuổi vẫn xem xét các em như là những đứa trẻ cần phải bao bọc, quản lý, nhắc nhở, theo dõi…Cách đối xử đó làm cho các em thấy thiếu
tự tin, không được tôn trọng…Vì thế, giữa các em với người lớn thường xuất hiện
Trang 34mâu thuẫn
Ở giai đoạn này có sự thay đổi về các mối quan hệ, các em phát triển nhiều các mối quan hệ ngoài gia đình, cụ thể là mối quan hệ với nhóm bạn Nhóm bạn
có vai trò, ý nghĩa lớn và cũng có áp lực lớn đối với các em Trong quá trình các
em còn chưa phát triển hoàn chỉnh về nhận thức và còn ít kinh nghiệm sống Các
em sẵn sang tham gia thử nghiệm những hành vi, cảm xúc mới để thể hiện bản thân và để có được sự chấp nhận của nhóm Nếu các em tham gia vào một nhóm bạn không tốt thì các em rất dễ bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ, hoạt động tiêu cực Học sinh lớp 9 cũng bắt đầu có sự hấp dẫn gới tính và nhu cầu quan tâm đến bạn khác giới Các em thường có những hành vi để thu hút sự chú ý bạn khác giới
và muốn thử nghiệm các hành vi tình dục, điều này sẽ gây ra nhiều nguy cơ nếu các em có những suy nghĩ không lành mạnh và thiếu sự hiểu biết
Học sinh lớp 9 phải đối diện với những nhiệm vụ, những quy định của gia đình, nhà trường, nhóm bạn, xã hội và cả kì vọng của chính bản thân các em Nếu các em không tự giải quyết được, lại thiếu sự giúp đỡ thì các em sẽ dễ có những suy nghĩ nông nổi, có những hành vi bồng bột gây hậu quả cho chính các em và
xã hội
Tóm lại, chính những đặc điểm tâm sinh lý có tính đặc thù ở tuổi thiếu niên, đặc biệt là những khủng hoảng về tâm lý do tuổi thiếu niên là lứa tuổi đang định hình bản sắc của mình và phải thích nghi với sự chuyển biến mau chóng của hoàn cảnh xã hội Nên khi có những đòi hỏi đặt ra trong đời sống, học tập, phát triển, tuổi thiếu niên rất dễ mất thăng bằng trong hoạt động tâm lý: khó kiềm chế cảm xúc, khó sử dụng lý trí một cách hiệu quả, dễ có những xung đột giữa người thiếu niên và người thân trong gia đình và những người khác trong xã hội, khiến trẻ rơi vào tình trạng rối nhiễu tâm lý, cần những biện pháp cụ thể để hạn chế và ngăn
Trang 35nó
- Nếu lo âu về một sự kiện nào đó vượt quá độ ảnh hưởng thật của sự kiện,
lo âu kéo dài không thể kiểm soát và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cá nhân thì lúc đó cá nhân đã bị RLLA và cần có biện pháp can thiệp giúp cá nhân nhận diện được vấn đề và tự vượt qua được nỗi lo lắng của mình
- Lo âu học đường là trạng thái lo lắng của học sinh liên có nguồn gốc chủ yếu liên quan đến vấn đề học tập: thi cử, điểm số, nhận xét của thày cô, bạn bè, chuyển trường, chuyển cấp… và các mối quan hệ với bạn bè, thày cô hay kì vọng của bản thân, gia đình về việc học của các em Ở độ tuổi 14 – 15 (học sinh lớp 9) các em có những chuyển biến lớn về tâm sinh lý, sự thay đổi về cơ thể, cảm xúc ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi của các em Hơn nữa các em còn phải chuẩn bị cho 2 kì thi rất quan trọng là thi tốt nghiệp THCS và thi vào THPT Những sự kiện đó có thể gây ra lo âu quá mức cho học sinh nếu các em không có kĩ năng giải quyết vấn đề hoặc thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường
- Học sinh là lớp người có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của đất nước Ở giai đoạn này, sự phát triển tâm sinh lý của các em phát triển mạnh mẽ
và có ảnh hưởng lớn đến sự thành công trong công việc, trong cuộc sống của họ
Trang 36Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạngRLLA của học sinh để từ đó đề xuất những khuyến nghị tích cực góp phần giúp các em có một sức khỏe tâm thần khỏe mạnh trong một cơ thể khỏe mạnh là một việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn
Trang 37CHƯƠNG 2:
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Quận Hà Đông được thành lập ngày 8 tháng 5 năm 2009 - là một trong 10 quận thuộc thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 10 km về phía Tây Nam.Trải qua hơn 100 năm hình thành và phát triển, qua nhiều lần tách, nhập, đổi tên địa giới hành chính, trải qua những thăng trầm của lịch sử, Hà Đông luôn có vị trí lý tưởng trong quá trình xây dựng và phát triển, luôn là trung tâm phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội của Thủ đô
Quâ ̣n có diê ̣n tích tự nhiên 4.833,7 ha - Hà Đông là quận có diện tích lớn thứ
2 của Hà Nội với 17 đơn vị hành chính phường và dân số 233.136 người (2009) Ngành GD&ĐT quâ ̣n Hà Đông phát triển không ngừng về quy mô, đa da ̣ng về loa ̣i hình , ngành học, bâ ̣c ho ̣c đến năm 2011 có tổng số 63 trường, gồm 26 trường mầm non , 22 trường tiểu học và 15 trường THCS Phát triển mạng lưới trường lớp, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa: Thực hiện sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội, của Sở Giáo dục Hà Nội, hiện nay quận Hà Đông đang tiến hành hoàn thành công tác qui hoạch mạng lưới trường học đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Năm ho ̣c 2010-2011 các cấp học đã hoàn thành biên chế với chất lượng hai mặt giáo dục đạt và vượt chỉ tiêu đầu năm
Cấp mầm non: 100% trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối; tỷ lệ trẻ phát triển bình thường đạt 96,3%; trẻ bán trú đạt 98,6%
Cấp tiểu học: Xếp loại hạnh kiểm có 99,97% học sinh thực hiện đầy đủ; Xếp loại học lực có 63,2% học sinh giỏi , 25,2% học sinh khá , 10,7% học sinh trung
Trang 38bình, 0,9% học sinh xếp loại yếu ; 99,61% học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học, cuối năm 99,39% học sinh được lên lớp
Cấp THCS: có 77,5% học sinh xếp loại ha ̣nh kiểm tốt , 19,2% học sinh xếp loại khá, 3,3% học sinh xếp loại trung bình ; Xếp loa ̣i học lực có 35,4% học sinh xếp loại giỏi, 37,7% xếp loại khá, 23,1% xếp loại trung bình; 96,1% học sinh được lên lớp thẳng và học sinh tốt nghiệp THCS năm 2011 đa ̣t 98,6%
Kết quả tham gia các Hội thi do Sở GD &ĐT Hà Nội tổ chức :Đối với Học sinh: Cấp THCS có 63 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 (2 giải nhất, 23 giải nhì, 20 giải ba, 18 giải khuyến khích); 6 học sinh đạt giải trong hội thi ho ̣c sinh giỏi kỹ thuật Cấp tiểu học Hội thi OLYMPIC tiếng Anh có 6 học sinh đạt giải (1 giải nhì, 5 giải khuyến khích), OLYMPIC tiếng Anh qua INTERNET có 14 em đạt giải (1 giải nhì, 3 giải ba, 10 giải khuyến khích), có 2
em đạt giải Quôc gia Hội thi TDTT đạt 15 huy chương vàng, 18 huy chương bạc,
27 huy chương đồng Được Bộ GD &ĐT tă ̣ng bằng khen trong Hội thi Tiếng hát dân ca
Đối với giáo viên : Giáo viên dạy giỏi cấp THCS đạt 01 giải nhì và 02 giải khuyến khích, cấp Tiểu học là đơn vị đạt thành tích xuất sắc gồm 01 giải nhất và
02 giải khuyến khích, cấp mầm non có 3 giáo viên và 1 nhân viên được công nhận giáo viên giỏi, nhân viên giỏi, đạt giải nhì Hội thi cô giáo tài năng duyên dáng Phòng GD&ĐT quận được nhận Bằng khen của Bộ GD&ĐT trong Hội thi thiết kế bài giảng Eleaning
Kết quả thi vào lớp 10 THPT công lập, đứng thứ 13/29 quận huyện Trường THCS Lê Lợi có tổng số điểm hai môn Ngữ văn và Toán xếp thứ 5 trong tổng số
608 trường THCS toàn Thành phố Hà Nội
Trang 392.1.2 Khách thể nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 9 trường THCS Vạn Phúc, THCS Lê Lợi, THCS Văn Yên thuộc quận Hà Đông thành phố Hà Nội Học sinh được chọn đều về số lượng và chất lượng ở các trường Số lượng học sinh giữa lớp thường và lớp chọn, nam và nữ tương đối cân bằng nhau
2.1.2.1 Đặc điểm trường THCS Vạn Phúc
Trường Trung học cơ sở Vạn Phúc (Quận Hà Đông) là trường học cấp trung học cơ sở dành cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 Đây là trường dành cho con em sống trong phường Vạn Phúc.Trường có cơ sở vật chất ngày khang trang, số giáo viên giỏi, học sinh giỏi không ngừng được nâng lên cả về số lượng và chất lượng
đã khẳng định được vị thế của nhà trường.Trường đã được Ủy ban nhân dân tỉnh
Hà Tây công nhận đạt chuẩn quốc gia năm 2007.Trường liên tục đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến, Chi bộ trong sạch vững mạnh, Công đoàn vững mạnh xuất sắc, Liên đội mạnh
2.1.2.2 Đặc điểm trường THCS Lê Lợi
Trường THCS Lê Lợi quận Hà Đông là trường đào tạo học sinh cấp THCS
có tiếng nhất trên địa bàn quận Hà Đông.Trường có bề dày truyền thống với nhiều thành tích nổi bật, có thương hiệu.Là một trong năm trường THCS luôn dẫn đầu toàn thành phố Hà Nội về phong trào và kết quả giáo dục.Học sinh được xét tuyển vào trường sau khi hoàn thành chương trình tiểu học từ tất cả các trường tiểu học trên địa bàn quận Hà Đông.Học sinh được xét tuyển là các học sinh giỏi
và đã đạt được các thành tích cao trong quá trình học tiểu học
Năm học 2013-2014, trường THCS Lê Lợi có 1000 học sinh, trong đó khối lớp 9 có 280 học sinh.Đa số học sinh chăm ngoan, học giỏi Xếp loại học lực của
Trang 40học sinh toàn trường đạt 95% loại giỏi(trong đó khối 9 số học sinh đạt học lực giỏi chiếm 97%), không có học sinh trung bình, yếu Xếp loại hạnh kiểm của học sinh toàn trường đạt 98% hạnh kiểm tốt(trong đó khối 9 đạt hạnh kiểm tốt chiếm 98.3%), còn lại hạnh kiểm khá Không có hạn kiểm trung bình, yếu, kém.Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên toàn trường là 59 người Trình độ giáo viên về cơ bản đáp ứng được yêu cầu đạt chuẩn và trên chuẩn, có năng lực sư phạm tốt, được phụ huynh và học sinh tín nhiệm.Ngoài việc giảng dạy văn hóa nhà trường luôn quan tâm đến giáo dục truyền thống đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống, hiểu biết pháp luật và ứng xử có văn hóa trong nhà trường cho học sinh
Nhà trường luôn kết hợp với Ban đại diện phụ huynh và học sinh toàn trường trong việc quản lí giáo dục học sinh Tăng cường kênh thông tin từ phía phụ huynh để thiết thực góp phần thúc đẩy chất lượng giáo dục
Trong năm học 2013-2014 trường THCS Lê Lợi đề ra mục tiêu phấn đấu:
- Kết quả xét tốt nghiệp THCS phấn đấu đạt 100% khá giỏi
- Thi lên lớp 10 PTTH: Phấn đấu đạt tỉ lệ 100% Duy trì đứng trong top 5 của thành phố Hà Nội
- Học sinh thi đỗ vào các hệ chuyên: Phấn đấu đạt tỉ lệ 80%
2.1.2.3 Đặc điểm trường THCS Văn Yên
Nhà trường đã có một cơ sở vật chất khang trang hiện đại với diện tích trên 9.000m2, 20 phòng học, 6 phòng bộ môn, nhà đa năng, phòng truyền thống, thư viện, hội trường, sân vận động và nhiều phòng chức năng khác Nội thất được trang bị mới, hiện đại, đáp ứng những đòi hỏi của đổi mới trong dạy và học hiện nay Bên cạnh đó, nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên với 58 đồng chí, trong
đó nhiều thầy cô giáo là giáo viên dạy giỏi các cấp Chi bộ Đảng của trường gồm