Củng cố và phát triển Hội đồng Giáo dục các cấp thống nhất quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục .... Nhưng trên thực tế, mỗi mộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ GIA THANH
QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 14
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ GIA THANH
QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VÕ KỲ ANH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.NGND Nguyễn Võ Kỳ Anh
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
LÊ GIA THANH
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bảy tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới Lãnh đạo và các Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận án này
Đặc biệt với tấm lòng thành kính, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS NGND Nguyễn Võ Kỳ Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Giáo dục
và đào tạo Vĩnh Phúc, UBND các huyện, thành, thị tỉnh Vĩnh Phúc, các trường THPT trong tỉnh và các chuyên gia giáo dục đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần và đóng góp nhiều ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thu thập số liệu, thử nghiệm và hoàn thành luận án
Cuối cùng tác giả muốn nói lời cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, khích lệ, động viên tác giả trong suốt quá trình tác giả công tác, học tập và nghiên cứu khoa học
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Bảng ký hiệu các chữ viết tắt trong luận án vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ, mô hình ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC 8
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 11
1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 21
1.2.1 Giáo dục 21
1.2.2 Môi trường giáo dục 22
1.2.3 Quản lý 27
1.2.4 Quản lý giáo dục 28
1.2.5 Quản lý nhà trường 30
1.2.6 Liên kết 32
1.2.7 Các lực lượng xã hội 33
1.3 Tầm quan trọng của việc liên kết các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 34
1.3.1 Vai trò của việc xây dựng môi trường giáo dục 34
1.3.2 Vai trò của các lực lượng trong xây dựng môi trường giáo dục 36
1.3.3 Vai trò của việc liên kết các lực lượng trong xây dựng môi trường giáo dục 39
Trang 6iv
1.4 Sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường
giáo dục 42
1.4.1 Mục tiêu liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 42
1.4.2 Nội dung liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 45
1.4.3 Biện pháp và hình thức liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 47
1.4.4 Điều kiện và cơ chế liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 48
1.5 Quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 49
1.5.1 Xây dựng kế hoạch liên kết 50
1.5.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động liên kết 52
1.5.3 Kiểm tra, đánh giá các hoạt động liên kết 54
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 55
1.6.1 Nhận thức của các chủ thể tham gia liên kết (đội ngũ thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội ) 56
1.6.2 Những điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá, truyền thống của mỗi vùng và của thời đại 57
1.6.3 Đặc điểm của học sinh THPT và vị trí của giáo dục THPT 58
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH VĨNH PHÚC VỚI CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HIỆN NAY 62
2.1 Giới thiệu về giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc 62
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 65
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 65
2.2.2 Địa bàn khảo sát 65
2.2.3 Đối tượng điều tra khảo sát 65
Trang 7v
2.2.4 Nội dung khảo sát 65
2.2.5 Phương pháp khảo sát 66
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 66
2.3.1 Thực trạng hoạt động liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 66
2.3.2 Thực trạng việc quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 80
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 85
2.5 Đánh giá chung về thực trạng việc quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 86
2.5.1 Những mặt mạnh, thuận lợi 86
2.5.2 Những mặt còn hạn chế, khó khăn 87
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 87
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HIỆN NAY 92
3.1 Những nguyên tắc để xây dựng hệ thống biện pháp 92
3.1.1 Hệ thống biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục 92
3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa và duy trì liên tục 92
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn và phát huy được tiềm năng của các lực lượng xã hội 93
3.1.4 Tác động vào các yếu tố của quá trình giáo dục học sinh và vào các khâu của quá trình liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội 94
3.1.5 Phát huy được ý thức tự giác, sự dân chủ, đồng thuận của các chủ thể tham gia liên kết 94
3.2 Biện pháp quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 95
3.2.1 Xây dựng kế hoạch quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 95
Trang 8vi
3.2.2 Củng cố và phát triển Hội đồng Giáo dục các cấp thống nhất quản lý sự liên kết
của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục 100
3.2.3 Xây dựng cơ chế liên kết, xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức nhà trường, gia đình, xã hội trong việc giáo dục học sinh 110
3.2.4 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, gia đình, và các lực lượng xã hội trong hoạt động liên kết xây dựng môi trường giáo dục 119
3.2.5 Tăng cường kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến trong hoạt động liên kết xây dựng môi trường giáo dục 127
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 131
3.4 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp và tổ chức thử nghiệm biện pháp 132
3.4.1 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi 132
3.4.2 Thử nghiệm 134
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 140
1 Kết luận 140
2 Khuyến nghị 141
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 141
2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 142
2.3 Đối với nhà trường 142
2.4 Đối với gia đình học sinh 142
2.5 Đối với các lực lượng xã hội 143
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
PHỤ LỤC 151
Trang 9vii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 BGH Ban Giám hiệu
2 BGD Ban giáo dục
3 CBQL Cán bộ quản lý
4 CLB Câu lạc bộ
5 CMHS Cha mẹ học sinh
6 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
7 GDCD Giáo dục công dân
8 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
9 GDTX Giáo dục thường xuyên
10 GV Giáo viên
11 GVBM Giáo viên bộ môn
12 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Xếp ha ̣ng điểm trung bình 3 môn thi ĐH, CĐ của tỉnh Vĩnh phúc 63
Bảng 2.2: Nhận thức về sự cần thiết phải liên kết 66
Bảng 2.3: Nhận thức về mục đích của sự liên kết 67
Bảng 2.4: Thực trạng việc thực hiện các nội dung liên kết 71
Bảng 2.5: Thực trạng biện pháp và hình thức liên kết 72
Bảng 2.6: Đánh giá của CBQL và giáo viên về mức độ thực hiện sự liên kết của các lực lượng……… 74
Bảng 2.7: Đánh giá của phụ huynh về mức độ thực hiện sự liên kết của các lực lượng 75
Bảng 2.8: Đánh giá của CBQL và giáo viên về mức độ ảnh hưởng của các lực lượng khi tham gia liên kết 77
Bảng 2.9: Đánh giá của phụ huynh về mức độ ảnh hưởng của các lực lượng khi tham gia liên kết 78
Bảng 2.10: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch liên kết 79
Bảng 2.11: Thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện sự liên kết 80
Bảng 2.12: Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá sự liên kết 82
Bảng 2.13: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết giữa nhà trường và các lực lượng xã hội 84 Bảng 3.1:Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp 134 Bảng 3.2: Bảng so sánh kết quả thử nghiệm trước và sau áp dụng biện pháp 136
Trang 11ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, MÔ HÌNH
Trang
Sơ đồ 1.1: Cơ chế phối hợp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tổ chức giáo dục 17
Mô hình 1.1: Quan niệm cũ về kết hợp ba nhân tố trong giáo dục 39
Mô hình 1.2: Mô hình liên kết giáo dục hiện nay 40
Biểu đồ 2.1: Số trường đạt chuẩn quốc gia của toàn tỉnh……….… 62
Biểu đồ 2.2: Mức độ các trường THPT thực hiện hoạt động liên kết……… 64
Biểu đồ 2.3: Nhận thức về môi trường giáo dục tốt nhất cho học sinh……… 66
Biểu đồ 2.4: Nhận thức về các lực lượng cần phải huy động tham gia liên kết 69 Mô hình 3.1: Cơ cấu tổ chức HĐGD……….……… 101
Mô hình 3.2: Cơ chế quản lý liên kết xây dựng môi trường giáo dục……… 110 Biểu đồ 3.1: Đánh giá kết quả trước khi thử nghiệm biện pháp 137 Biểu đồ 3.2: Đánh giá kết quả sau khi thử nghiệm biện pháp 137
Trang 12Môi trường là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả các điều kiện tự nhiên và xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, hoạt động và phát triển nhân cách Môi trường tự nhiên tốt tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và hoạt động, môi trường xã hội tốt sẽ tạo mối quan hệ tốt giữa các cá nhân với nhau và giữa các cá nhân với tập thể, xã hội để phát triển nhân cách
Như vậy, yếu tố môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách để phát triển con người toàn diện như mục tiêu của Luật Giáo dục
đã đề ra đáp ứng công cuộc CNH-HĐH của đất nước ta hiện nay: “Mục tiêu giáo dục
là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc " [60, tr 11]
1.2 Đất nước ta đang trên đà hội nhập, nhiều cơ hội được mở ra và không ít thách thức Một trong những thách thức đó là cơ chế thị trường, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đang phát huy tác dụng tích cực, tạo nên sự phát triển năng động và thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta Nhưng kinh tế thị trường cũng ngày càng bộc lộ những mặt trái, gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống tinh thần, sự cảm thụ văn hóa - nghệ thuật, tâm lý - đạo đức, của các tầng lớp dân cư trong xã hội Hệ thống giá trị đang có những thay đổi vô cùng phức tạp, những giá trị truyền thống đang bị lấn át, những giá trị vật chất đang được đề cao Khi mở cửa hội nhập, cùng với những yếu tố tích cực thì những ảnh hưởng tiêu cực cũng tràn vào Cùng một lúc, ở mọi chỗ, mọi nơi đang đan xen giữa cái tốt và cái xấu, giữa truyền thống và thời đại, giữa cái tiêu cực và tích cực, giữa thiện và ác Những ảnh hưởng tiêu cực đó len lỏi, thẩm thấu vào mọi quan hệ xã hội, làm sai lệch các chuẩn mực giá trị, dẫn tới sự suy
Trang 132
thoái về đạo đức ở một bộ phận xã hội làm ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục
Hiện nay, vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống đang được cả xã hội hết sức quan tâm và lo lắng Trong số hơn 22 triệu học sinh, sinh viên, đại đa số các em có đạo đức tốt Số học sinh, sinh viên có đạo đức, lối sống không tốt chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng số lượng tuyệt đối thì không nhỏ và đã gây bao nỗi băn khoăn, lo lắng cho xã hội bởi những hậu quả do sự xuống cấp về đạo đức, lối sống do số ít học sinh, sinh viên gây
ra Có thể nói, chưa bao giờ, vấn đề xây dựng môi trường giáo dục học sinh, sinh viên được đặt ra với tầm quan trọng, tính cấp thiết và ý nghĩa xã hội rộng lớn như lúc này
1.3 Đối với thế hệ trẻ các em có nhiều hoài bão ước mơ, nhưng lại thiếu vốn sống, thiếu kinh nghiệm, vì vậy một bộ phận rất dễ bị cám dỗ bởi những ham muốn trước mắt Nghị quyết 25-NQ/TƯ, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đã đánh giá: “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin,
ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng,
xa rời truyền thống văn hóa của dân tộc… tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp”
Thực tế hiện nay ở nhiều trường chủ yếu quan tâm tới dạy văn hóa để có thành tích cao trong việc đạt tỷ lệ học sinh lên lớp, thi đỗ tốt nghiệp, vào đại học, cao đẳng,
số lượng giải học sinh giỏi mà xem nhẹ vấn đề xây dựng môi trường giáo dục, chưa tạo được cho các em một môi trường tốt để các em rèn luyện Thêm vào đó, một số gia đình với nhiều lý do khác nhau, chưa quan tâm giáo dục cho con em, phó mặc cho nhà trường; hoặc vì lối sống ích kỷ, vô cảm, thiếu gương mẫu của người lớn, sự mâu thuẫn, ly hôn, ly tán trong gia đình đã tạo ra một môi trường xấu tác động tiêu cực đến các em; các sản phẩm văn hóa độc hại lưu truyền công khai ngoài xã hội; diễn biến phức tạp của các loại hình tội phạm; nguồn thông tin mở trên internet; những thông tin giật gân, vô cảm trên báo chí, phim ảnh, kích động bạo lực trong game, đã tác động đến lối sống của học sinh; một bộ phận thanh thiếu niên hư bỏ học đã lôi kéo, dụ dỗ học sinh vào con đường ăn chơi, vi phạm pháp luật Ở một số nơi, các cấp chính quyền, đoàn thể xã hội lại thờ ơ coi việc xây dựng môi trường giáo dục là của nhà trường và của gia đình mà chưa có các biện pháp xử lý để tạo môi trường lành mạnh cho các em Có thể nói sự kết hợp lỏng lẻo của nhà trường, gia đình và xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục học sinh là một trong những yếu tố nguy cơ dẫn đến
Trang 143
những suy thoái trong một bộ phận học sinh, sinh viên
1.4 Lâu nay môi trường giáo dục cho học sinh ở các nhà trường vẫn có sự kết hợp của " ba nhân tố" giữa nhà trường, gia đình và xã hội Nhưng trên thực tế, mỗi một lực lượng có những mục tiêu riêng, sự "phối hợp", "kết hợp" chủ yếu dựa trên nguyên tắc "thuyết phục", "nhờ vả", "thân quen" của những người đứng đầu, khi có việc, khi cần thì đến với nhau, chưa có những cơ chế kết hợp đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động, chưa có những quy định ràng buộc xác định rõ mục đích chung, nhiệm vụ trách nhiệm, nội dung giáo dục, phương pháp phối hợp có hiệu quả để tạo ra
sự thống nhất, đồng thuận tổ chức các hoạt động giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục học sinh
Muốn xây dựng môi trường giáo dục, muốn thực hiện những mục tiêu giáo dục, muốn ngăn ngừa những hiện tượng không lành mạnh, muốn phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng xã hội vào việc chăm sóc, tạo cơ hội cho học sinh được rèn luyện, thì vai trò quản lý của cấp trường (cấp cơ sở của quản lý giáo dục) là rất quan trọng, phải có khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục, biến mục tiêu trở thành hiện thực
Đã đến lúc sự phối kết hợp giữa các lực lượng giáo dục: gia đình, nhà trường và
xã hội để xây dựng môi trường giáo dục học sinh phải ở mức chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn - Đó là sự Liên kết Liên kết trong hoạt động giáo dục để tạo ra sự thống nhất từ nhận thức đến hành động giữa nhà trường và các lực lượng xã hội, thể hiện sự ràng buộc, gắn bó chặt chẽ với nhau về mục tiêu, về quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ trong xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phát huy tối đa những mặt tích cực, tiềm năng của xã hội, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến với học sinh
Những lý do trên đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Quản lý sự liên kết của trường trung học phổ thông với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục hiện nay" làm luận án tiến sĩ
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài xác định luận cứ khoa học của một trong những yếu tố có tính quyết định đến môi trường giáo dục học sinh THPT đó là sự liên kết giữa nhà trường và các lực lượng xã hội
Trang 153.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục hiện nay?
4.2 Giả thuyết khoa học
Môi trường giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, tác động hằng ngày,
hằng giờ lên nhân cách của học sinh Nhà trường, gia đình, các tổ chức xã hội rất lo
lắng và nỗ lực hoạt động, nhưng hiệu quả giáo dục học sinh chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu giáo dục của xã hội đòi hỏi Phải chăng là
do nhà trường và các lực lượng xã hội chưa có sự liên kết, đồng thuận, thống nhất về mục tiêu, nội dung, biện pháp, chưa có những tác động quản lý một cách khoa học vào các tác nhân liên đới trong việc xây dựng môi trường giáo dục học sinh
Nếu có những biện pháp quản lý sự liên kết của trường trung học phổ thông với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục để có hành động đồng thuận, khép kín được không gian (môi trường) và thời gian (hằng ngày, hằng tuần, cả năm), phát huy được ưu thế của gia đình và các tổ chức xã hội, tạo môi trường lành mạnh thuận lợi để học sinh tích cực phát huy, rèn luyện thì hiệu quả và chất lượng giáo dục học sinh phổ thông sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định những cơ sở lý luận về quản lý sự liên kết của trường trung học phổ thông với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục cho học sinh THPT
Trang 165
5.2 Khảo sát, đánh giá, phân tích thực tra ̣ng quản lý sự liên kết của trường trung học phổ thông với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục ở một số trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc
5.3 Đề xuất các biện pháp liên kết, xác định những cơ chế, nội dung cần liên kết để xây dựng môi trường giáo dục học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
5.4 Khảo nghiệm các biện pháp và thử nghiệm một số biện pháp nhằm chứng minh tính khả thi, tính hợp lý của những biện pháp đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát, phỏng vấn: Lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND các cấp;
CBQL, giáo viên, phụ huynh, học sinh và các lực lượng xã hội
- Địa điểm nghiên cứu: Các cơ quan liên quan và các trường THPT trong tỉnh
Vĩnh phúc
- Giới hạn về nội dung: Nghiên cứu quản lý sự liên kết của trường THPT với
các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện của Đại hội Đảng các khóa, các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương và địa phương có liên quan đến đề tài Thu thập và phân tích các nguồn tài liệu, nghiên cứu trong và ngoài nước; các dự án,
chuyên đề, tạp chí, kỷ yếu, bài viết và trên mạng internet có liên quan đến đề tài 7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu hỏi trưng cầu ý kiến CBQL, giáo
viên, phụ huynh và học sinh nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục
- Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm: Phỏng vấn, trao đổi
với các cán bộ Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Vĩnh phúc; Lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên Sở GD&ĐT; cán bộ quản lý các
cơ quan, chính quyền, đoàn thể ở địa phương; cán bộ quản lý các trường THPT, Bí thư Đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, phụ huynh và học sinh của các trường THPT trong tỉnh Vĩnh phúc
Trang 176
- Phương pháp chuyên gia: Hỏi ý kiến các chuyên gia, CBQL giáo dục
- Khảo nghiệm và thử nghiệm: Một trong số các biện pháp đề xuất, kết quả thử nghiệm được tổng kết, nhận định về tính cấp thiết và tính khả thi
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu, dữ kiện
- Phương pháp thống kê
- Dùng phần mềm tin học
- Phân tích, so sánh, tổng hợp rút ra những nhận định
8 Đóng góp mới của luận án
- Luận án làm rõ được ý nghĩa, vai trò, sự cấp thiết của việc quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường giáo dục học sinh THPT trong bối cảnh hiện nay
- Đánh giá thực trạng việc quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục học sinh; phân tích những yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới sự liên kết các lực lượng xã hội
- Xác định mục tiêu liên kết, cơ chế liên kết, nội dung, hình thức liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục học sinh THPT hiện nay
- Đề xuất những biện pháp và quy trình liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội để xây dựng một môi trường lành mạnh, phát huy tối đa những yếu tố tích cực, hạn chế thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh THPT hiện nay
9 Những luận điểm cần bảo vệ
1 Con người, nhân cách con người là sản phẩm của một hoàn cảnh cụ thể, môi trường xã hội càng lành mạnh thì sự phát triển nhân cách càng thuận lợi Giáo dục học sinh THPT hiện nay chỉ có thể đạt hiệu quả tối ưu khi xác định được cách thức hoạt động thống nhất toàn xã hội (nhất là môi trường xã hội học sinh đang sống, đang học tập, hoạt động hằng ngày) Xác định được những nội dung, trách nhiệm của tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục học sinh
2 Ngành giáo dục (nhà trường, trực tiếp là hiệu trưởng) là cơ quan giáo dục chuyên biệt có trách nhiệm tổ chức liên kết các lực lượng xã hội và gia đình để xây dựng môi trường giáo dục học sinh Việc tổ chức quản lý phải được xây dựng thống
Trang 198
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ LIÊN KẾT CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
J.A.Cômenxki (1592 - 1670) là một nhà sư phạm lỗi lạc của nhân loại người Tiệp Khắc, người đặt nền móng lý luận và hoạt động thực tiễn cho giáo dục của nền văn minh công nghiệp và đến nay những cống hiến của ông còn nguyên giá trị Ông cho rằng, dạy học, giáo dục phải tuân theo quy luật của tự nhiên, vì con người là một thực thể của tự nhiên cũng giống như muôn loài cây cỏ muông thú Tổ chức giáo dục phải dựa vào quy luật của tự nhiên thì trẻ em, con người mới phát triển, nếu không tuân theo quy luật tự nhiên thì giáo dục, con người không phát triển tốt được Ông rất coi trọng môi trường giáo dục, tổ chức giáo dục, dạy học theo quy luật của tự nhiên, theo quy luật phát triển của trẻ
Ông thường ví trẻ em như con khỉ con, chúng thích bắt chước vì vậy để việc giáo dục trẻ em được tốt thì phải xây dựng nhà trường thành môi trường thuận lợi cho trẻ học bắt chước, thầy giáo và những người xung quanh cần làm gương để tạo cho trẻ những ấn tượng tốt cho trẻ bắt chước Ông cũng nhắc nhở trẻ em nhiều thói xấu từ nhỏ sau này sửa rất khó, ông ví chẳng khác gì lần đầu nồi mới đã nấu cơm khê thì cái nồi
ấy sau này mùi khê còn ảnh hưởng dai dẳng mãi [69, tr.134]
I.V Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động B.F Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu ) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi.Từ kết quả nghiên cứu của hai ông, các nhà giáo dục học đã nhận thức được một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố môi trường thực
Trang 209
tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại So sánh qua hai mô hình thực nghiệm đã cho thấy: môi trường
bị động và môi trường chủ động sẽ tác động quyết định đến năng lực hoạt động của con người Điều đó luôn đúng với bất cứ hoạt động sống nào của con người từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành Ở phạm vi rộng hay hẹp, hoạt động của con người sẽ không
có hiệu quả nếu thiếu vắng yếu tố môi trường [76, tr.8]
A.S.Makarenko (1888-1939), nhà sư phạm Xô Viết lỗi lạc đầu thế kỷ XX có ví nhà sư phạm như một người làm vườn tài ba, thông qua hoạt động giáo dục có thể tạo
ra môi trường, có thể điều chỉnh sự phát triển nhân cách như người làm vườn điều chỉnh sự phát triển hạt giống và cây cảnh theo ý muốn của cá nhân Nhưng không phải
là áp đặt mà là tạo cơ hội, điều khiển sự phát triển nhân cách của trẻ em theo quy luật của sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em Sau nhiều năm làm công tác giáo dục và quản
lý giáo dục ông đã rút ra một kết luận hoàn toàn đúng: không có khái niệm trẻ em hư hỏng mà chỉ do trẻ rơi vào một hoàn cảnh đặc biệt dẫn tới những sai lệch trong quá trình phát triển nhân cách Ông đã nói vui "nếu tôi rơi vào hoàn cảnh như các em, tôi cũng sẽ như các em mà thôi" Nhà sư phạm tài ba là ở chỗ phát hiện đúng nguyên nhân, đặc điểm của trẻ tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi, điều chỉnh những hoạt động tiêu cực thành những hoạt động tích cực, giúp trẻ phát triển những tiềm ẩn ở chúng Ông cũng từng nhấn mạnh sự phát triển nhân cách của trẻ em không phải là sản phẩm của một cá nhân nhà sư phạm, mà đó là kết quả của toàn bộ những tác động của chế độ xã hội, của sự tác động tổng hoà các quan hệ xã hội mà mỗi người sống, hoạt động trong đó [81, tr.170]
Còn theo Các Mác thì: Môi trường giáo dục sinh ra trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, môi trường giáo dục cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng cao, phong phú, đa dạng và phức tạp Môi trường giáo dục là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan hệ người - người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt
Trang 2110
động của con người càng có đạo đức Môi trường giáo dục “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [14, tr.43]
Trong cuốn “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” của hai tác giả Jean
Marc Denommé & Madeleine Roy đã phân tích kỹ mô hình quen thuộc trong môi trường giảng dạy đó là: Người dạy - Người học - Tri thức được chuyển thành: Người dạy -Người học - Môi trường Hai tác giả coi môi trường là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra hoạt động học Đặc biệt, hai tác giả đi sâu vào các yếu tố môi trường của việc học, các yếu tố môi trường của việc dạy Trên cơ sở đó, các tác giả đã nhấn mạnh đến một quy luật quan trọng: môi trường ảnh hưởng đến người dạy, người học; người học và người dạy phải thích nghi với môi trường Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường [52, tr.86]
Mary Parker Follet (1868 – 1933), bằng những quan sát trực tiếp hoạt động của người quản lý, Bà đi đến kết luận rằng sự phối hợp là điều kiện sống còn của sự quản
lý hiệu quả Bà đề xuất bốn nguyên tắc phối hợp mà người quản lý cần áp dụng đó là: (1) Sự phối hợp sẽ thành đạt nhất nếu những người chịu trách nhiệm ra quyết định có
sự tiếp xúc trực tiếp với nhau; (2) Sự phối hợp ở những giai đoạn đầu của việc lập kế hoạch và triển khai dự án có một ý nghĩa quyết định; (3) Sự phối hợp phải chú ý tới mọi nhân tố trong một tình huống, hoàn cảnh cụ thể; (4) Sự phối hợp phải được duy trì liên tục [62, tr.24-25]
Nhiều nhà tâm lí học Mỹ với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng rất quan trọng của môi trường đến sự hình thành nhân cách cá nhân Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đã dần hình thành một chuyên ngành tâm lí học mới: Tâm lí học môi trường và thường được khái quát trong các tài liệu Giáo dục học, Tâm lí học Quan điểm chung của Khoa học giáo dục (bao gồm cả Tâm lí học) đều khẳng định vai trò quyết định của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người Tiếp đó là vấn đề nghiên cứu, xây dựng môi trường với mục đích để có ảnh hưởng tốt nhất đến dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ Đặc biệt là câu nói của nhà Xã hội học Mỹ R.E Pác-cơ: “người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo dục” Điều này khẳng định vai trò của yếu tố môi trường văn hoá
và giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người [76, tr.7]
Trang 2211
Tác giả Kathleen Cotton trong cuốn sách “Mối quan hệ trong nhà trường là
những mối quan tâm lớn nhất” đã nghiên cứu về sự phối hợp của gia đình với nhà
trường, bao gồm các hình thức khác nhau như: Cha mẹ có thể hỗ trợ việc học của con
em mình bằng cách tham gia các môn học và đáp ứng các nghĩa vụ học tập, giúp đỡ con cái của họ, theo dõi bài tập về nhà, tích cực dạy kèm con ở nhà để cải thiện việc học; khuyến khích, tạo điều kiện về thời gian, không gian học thích hợp cũng như đáp ứng các mong muốn của con em mình Tác giả cũng đã đưa ra những minh chứng rằng
sự phối hợp của gia đình vào các hoạt động học tập của con em họ đã giúp các em đạt được thành tích cao hơn trong học tập Hơn nữa, các nghiên cứu cho thấy khi con em
họ có kết quả học tập tốt hơn thì gia đình cũng tham gia mạnh mẽ hơn trong việc giúp
đỡ con mình học tập [106]
Joyce L Epstein trong cuốn "Trường học gia đình và sự cộng tác cộng đồng -
cẩm nang cho hành động của bạn" đã đưa ra khái niệm về mối quan hệ phối hợp giữa
Gia đình - Nhà trường - Xã hội như là những chiến lược hành động của gia đình, nhà trường và xã hội, giúp học sinh có được môi trường học tập và rèn luyện đạt kết quả cao nhất Theo bà, sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục học sinh là rất quan trọng bởi kết quả rèn luyện và học tập của học sinh đều phụ thuộc vào các yếu tố trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội [103]
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
Bác Hồ đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng về triết lý nhân sinh, hành động
vì nhân sinh, xây dựng môi trường giáo dục học sinh Trong các tác phẩm, những bài nói chuyện Bác luôn chú trọng đưa vấn đề xây dựng môi trường giáo dục để giáo dục cán bộ, quần chúng nhân dân và đặc biệt lưu ý giáo dục học sinh là bộ phận quan trọng
có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng Nếu mà không có đầy đủ đạo đức cách mạng thì có tài gì cũng vô dụng” [8, tr.158]
Bác còn chỉ cho chúng ta thấy rõ mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ Bởi vì, sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, của các lực lượng xã hội Chỉ có sự
Trang 2312
kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố này mới tạo thành sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp trồng người thắng lợi Bác đã chỉ ra phương châm giáo dục hết sức khoa học: "Giáo dục phải phục vụ đường lối của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống nhân dân Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt, đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động sản xuất” Người nhấn mạnh: “Gia đình, trường học
và xã hội chăm lo giáo dục, đều nhằm mục đích làm cho các em mai sau trở nên những công dân tốt, những cán bộ tốt, những người chủ tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” [43, tr.507]
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu nhi toàn miền Bắc ngày 12 tháng 9 năm 1959, Bác nói: “Giáo dục thiếu niên, nhi đồng là trách nhiệm của các cô, các chú, của gia đình, của nhà trường, của đoàn thể, của xã hội Trẻ em trong như tấm gương, cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dễ tiếp thu Nếu nhà trường dạy tốt
mà gia đình dạy ngược lại, sẽ có ảnh hưởng không tốt tới trẻ em và kết quả cũng không tốt Cho nên muốn giáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường, đoàn thể, gia đình, xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau” [8, tr.131] Quan điểm này tiếp tục được Bác nhấn mạng lại lần nữa tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm tháng 8 năm 1963: “Trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các cơ quan chính quyền và các cấp ủy Đảng phải thật sự quan tâm đến nhà trường, đến việc học tập của con em mình hơn nữa” [8, tr.154]
Tháng 6 năm 1962, trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục, Bác cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ của cán bộ Đảng trong ngành giáo dục: “Phải biết rằng đảng viên là thiểu số so với tổng số nhân dân, nếu không có người ngoài Đảng ủng hộ, giúp đỡ thì Đảng cũng không làm gì được Vì vậy, cán bộ Đảng nói chung và cán bộ Đảng trong ngành giáo dục nói riêng phải đoàn kết với cán bộ ngoài Đảng Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò Bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [8, tr.115]
Theo “Báo cáo thực trạng công tác giáo dục đạo đức trong trường phổ thông”
Trang 2413
của Văn phòng Chủ tịch nước năm 2013 thì các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các Sở GD&ĐT, các nhà trường đều xác định giáo dục đạo đức là nội dung quan trọng trong giáo dục học sinh, đã cơ bản quan tâm lãnh đạo, xây dựng kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác xây dựng môi trường giáo dục học sinh (ban hành văn bản quản lý, xây dựng cơ sở vật chất, phối hợp triển khai các phòng trào ); Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, đội ngũ giáo viên có sự quan tâm xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, an toàn, xây dựng hình ảnh nhà giáo, lồng ghép giáo dục đạo đức vào trong các môn học, trong sinh hoạt Đoàn, Đội, trong các hoạt động ngoại khóa Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như: (1) vẫn còn tư tưởng “khoán trắng” cho nhà trường; (2) Có tình trạng giáo viên chỉ tập trung dạy kiến thức chuyên môn, chưa quan tâm đến việc lồng ghép giáo dục đạo đức; (3) Một bộ phận giáo viên chưa quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh mô phạm người thầy, xây dựng môi trường giáo dục; (4) Cơ sở vật chất của trường, sân chơi cho học sinh còn thiếu thốn
Kết quả khảo sát cũng thể hiện rõ mong muốn của các nhà trường là được thường xuyên duy trì mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội bằng nhiều hình thức như: tin nhắn, điện thoại, email và nhất là sổ liên lạc (một số địa phương như Quảng Ninh, Cần Thơ đã triển khai sổ liên lạc điện tử); họp phụ huynh, Ban đại diện cha mẹ học sinh với Ban Giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm và các tổ chức đoàn thể ở địa phương; ký quy chế phối hợp, lập cam kết 3 bên giữa nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương; nhà trường thông báo về địa phương và gia đình với những học sinh vi phạm đạo đức, có vấn đề về hạnh kiểm; ngành giáo dục phối hợp với các
cơ quan, tổ chức đoàn thể như Công an, Đoàn thanh niên, Tư pháp, Văn hóa xây dựng môi trường giáo dục, tạo sân chơi lành mạnh cho các em
Viện Nghiên cứu giáo dục đã nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước thuộc
chương trình KHXH-04 và xuất bản cuốn sách " Về phát triển toàn diện con người
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" do tác giả Phạm Minh Hạc làm chủ biên [37]
Qua tiến hành khảo sát 666 đối tượng, chủ yếu là học sinh, sinh viên, 194 giáo viên và
119 cán bộ quản lý xã hội, tác giả xác định được các nguyên nhân của thực trạng đạo đức của học sinh, sinh viên chưa tốt đó là: xã hội còn nhiều tiêu cực, gia đình buông lỏng trong việc giáo dục đạo đức, tác động của nền kinh tế thị trường, người lớn thiếu
Trang 25Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức - nhân
văn” [83] đã phân tích rất cụ thể hệ thống giá trị đạo đức của mỗi người, của từng gia
đình và xã hội và đã đưa ra 8 phương hướng lớn để phát huy vai trò của giáo dục trong
sự phát triển của xã hội mà nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới đang quan tâm cần tập trung giải quyết Trong đó có 2 phương hướng đòi hỏi phải có sự quản lý xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh đó là: “Tìm mọi giải pháp phát huy tiềm năng của xã hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục” và “Để có những công dân thực sự, giáo dục gia đình, giáo dục cộng đồng, giáo dục truyền thống, giáo dục văn hóa chưa bao giờ được đặt đúng vị trí quan trọng vốn có của nó như hiện nay [83, tr.48]
Tác giả Phạm Hồng Quang trong cuốn “Môi trường giáo dục” [76] đã đi sâu làm
sáng tỏ là các quy luật tác động của môi trường giáo dục đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách đó là:
- Quá trình hình thành nhân cách và sự phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trường nhất định Do đó, giáo dục phải hướng vào việc xây dựng cho trẻ những định hướng đúng đắn để tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường, đồng thời có khả năng chống lại những ảnh hưởng xấu
Trang 26- Cuốn sách “Tăng cường mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội, góp
phần thúc đẩy xã hội hóa công tác giáo dục” [21] của tác giả Bùi Ngọc Diệp thì môi trường giáo dục bao gồm môi trường gia đình, nhà trường và xã hội Nội dung cụ thể là: Xây dựng môi trường gia đình lành mạnh, nếp sống hòa thuận, đầm ấm, truyền thống gia đình, kiến thức và kỹ năng làm cha mẹ tốt; Xây dựng môi trường sư phạm trong nhà trường bao gồm cảnh quan, cơ sở hạ tầng, nền nếp kỷ cương, quan hệ trong sáng giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, thầy trò với nhân dân địa phương; Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở
hạ tầng, tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống, đề cao giá trị xã hội chân chính, xây dựng nếp sống văn minh, tạo ra dư luận đúng đắn về giá trị của học vấn, về động cơ, thái độ học tập và thi cử Các môi trường trên đồng thời tác động vào thế hệ trẻ, làm cho giáo dục được mở rộng về thời gian và không gian và tạo môi trường giáo dục mọi lúc, mọi nơi Ngược lại, chính lớp trẻ được giáo dục chu đáo sẽ giúp các môi trường trên trở nên trong sạch và lành mạnh hơn
Tác giả cũng đưa ra một số biện pháp quản lý đã được áp dụng trong chương trình giáo dục VVOB Việt Nam cũng như của một số tổ chức khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các mối quan hệ vốn có giữa gia đình, nhà trường và xã hội để góp sức xây dựng nhà trường, giúp nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục: (1) Nâng cao nhận thức cho gia đình, nhà trường và cộng đồng; (2) Xây dựng chương trình, kế hoạch hành động của nhà trường tham gia vào hoạt động của cộng đồng; (3) Xây dựng kế hoạch và triển khai chương trình hành động của cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường; (4) Xây dựng kế hoạch và triển khai chương trình hành động của gia đình với nhà trường và cộng đồng; (5) Kiểm tra, đánh giá sự phối hợp giữa các bên liên quan
Trang 2716
Cuốn sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa” [49], tác giả Trịnh Duy Huy cho rằng xây dựng môi trường giáo dục
phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
và chỉ ra những mối liên quan từ nhà trường, gia đình và toàn thể xã hội trong việc phối hợp để xây dựng môi trường giáo dục cho học sinh
Tác giả Hà Nhật Thăng và Trần Hữu Hoan trong cuốn “Xu thế phát triển giáo
dục” [81] cũng đưa ra một thực tế là lâu nay môi trường giáo dục cho học sinh ở các nhà trường vẫn có sự kết hợp của "ba nhân tố" giữa nhà trường, gia đình và xã hội Song, việc thực hiện kết hợp đó chưa đạt hiệu quả cao vì chưa có một cơ chế đảm bảo
sự thống nhất trong hoạt động, chưa có những quy định ràng buộc xác định rõ mục đích chung, nhiệm vụ trách nhiệm, nội dung giáo dục, phương pháp phối hợp, cách thức tổ chức điều hành hoạt động giáo dục
Từ đó tác giả đưa ra là muốn xây dựng môi trường giáo dục, muốn thực hiện những mục tiêu giáo dục, muốn ngăn ngừa những hiện tượng không lành mạnh, muốn phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng xã hội vào việc chăm sóc, tạo cơ hội cho học sinh được rèn luyện, phát huy tối đa những mặt tích cực, tiềm năng của xã hội, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến với học sinh thì phải tiến hành liên kết giữa các lực lượng giáo dục Tác giả cũng khẳng định, liên kết trong hoạt động giáo dục thể hiện sự thống nhất từ nhận thức đến các hành động giữa các thành viên tham gia liên kết trong giáo dục Liên kết thể hiện sự ràng buộc, gắn bó chặt chẽ với nhau về mục tiêu, về quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm và sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh
dù khó khăn hay thuận lợi
Tác giả Bùi Đăng Thiên trong cuốn “Gia đình môi trường giáo dục đầu tiên
của con người” [85] đã thông qua những hoàn cảnh, ví dụ cụ thể để phân tích những
ảnh hưởng của gia đình tới sự phát triển nhân cách của trẻ Tác giả cũng đã làm rõ các yếu tố tâm lý của cha mẹ tác động lên đứa trẻ trong việc nuông chiều con, dung túng con, bao bọc con làm mất khả năng khám phá của trẻ; những áp lực mà cha mẹ kỳ vọng và dồn lên con trẻ trong việc học hành, thi cử, đỗ đạt; áp đặt gia đình được quản
lý theo kiểu công sở và bị chi phối bởi người cha hay người mẹ có vai trò, quyền lực trong xã hội… Bằng những câu chuyện nhẹ nhàng, thâm thúy, tác giả đã hướng cho
Trang 2817
các bậc làm cha mẹ các phương pháp giải quyết các tình huống cụ thể để định hướng cho con những bước đi đầu tiên của mỗi người
Giáo trình “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” do Nguyễn Dục Quang (chủ
biên) [77] đã khẳng định, sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường sẽ tạo nên môi trường giáo dục tốt nhất cho học sinh Đây cũng là một đòi hỏi tất yếu khi nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh Bởi vì, nếu chỉ có GVCN và một mình nhà trường thực hiện sẽ gặp những hạn chế và khó khăn nhất định như: thiếu điều kiện cho hoạt động, thiếu nguồn thông tin xã hội và đặc biệt là gia đình
và xã hội không nắm được những nhu cầu hoạt động của học sinh Bản chất của sự phối hợp đó là đạt được sự thống nhất về mục tiêu giáo dục của hoạt động cũng như về nội dung, hình thức và các điều kiện cho hoạt động Do đó sự phối hợp này là cần thiết cho cả người lớn và học sinh
Tác giả cũng đã nêu rõ vai trò và nhiệm vụ của các lực lượng trong việc phối hợp giáo dục học sinh đó là: Đối với Ban Giám hiệu nhà trường; Đối với Tổng phụ trách Đội; Đối với giáo viên chủ nhiệm; Đối với gia đình; Đối với các tổ chức xã hội
Từ sự phân tích vai trò, nhiệm vụ cụ thể của các lực lượng giáo dục nêu trên, tác giả
đã đưa ra sơ đồ hóa cơ chế quản lý phối hợp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tổ chức giáo
dục ở một trường phổ thông như sau (Xem sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1: Cơ chế phối hợp chỉ đạo thực hiện kế hoạch tổ chức GD [77, tr.101]
Đề tài "Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường THPT với cộng đồng" do tác
giả Nguyễn Thị Minh Phương, Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông làm chủ nhiệm [74] đã phân tích, làm rõ một số thuật ngữ và vấn đề liên quan đến nội dung
Trưởng ban
Phó Trưởng ban
GVCN
Hội cha mẹ học sinh
Trang 2918
nghiên cứu như: Cộng đồng, Tăng cường, Mối quan hệ, Trường trung học phổ thông, Mối quan hệ giữa nhà trường THPT và cộng đồng, Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường THPT và cộng đồng, Xã hội hoá giáo dục và Cơ chế phối hợp giữa trường THPT và cộng đồng
Tác giả đã lựa chọn và phân tích một số văn bản của Đảng và Nhà nước đề cập đến những vấn đề liên quan tới việc quản lý, triển khai các hoạt động nhằm tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng Những văn bản đó đã chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của nhà trường đối với cộng đồng, xã hội và vai trò, trách nhiệm của cộng đồng xã hội đối với nhà trường, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả giáo dục
và tạo điều kiện cho nhà trường góp phần hơn nữa vào sự phát triển kinh tế, văn
hoá-xã hội của cộng đồng
Để tìm hiểu thực trạng mối quan hệ giữa trường THPT và cộng đồng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi 978 đối tượng bao gồm CBQL, giáo viên, học sinh, phụ huynh, cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể của 4 trường THPT thuộc 2 tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn sâu 1 số đối tượng và đã thu được kết quả như sau: (1) Về nhận thức: các đối tượng khảo sát đều có hiểu biết sơ bộ về cộng đồng và mối quan hệ hai chiều giữa nhà trường và cộng đồng; vai trò của trường THPT và cộng đồng Tuy nhiên, những kiến thức cơ bản về cộng đồng như: định nghĩa cộng đồng, vai trò của cộng đồng, của nhà trường, mối quan hệ hai chiều giữa trường THPT và cộng đồng, thì đa số CBQL, giáo viên, cán bộ cộng đồng còn lúng túng, chưa trả lời được hoặc chưa trả lời đầy đủ; (2) Về sự cần thiết tăng cường mối quan hệ giữa trường THPT và cộng đồng thì hầu hết đều cho là cần thiết vì hiện nay mối quan hệ này còn lỏng lẻo, chưa thường xuyên nên chưa phát huy hết vai trò của nhà trường và cộng đồng; (3) Về hiệu quả: các hoạt động tác động phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng có tác dụng tới học sinh, người dân cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ
Qua kết quả nghiên cứu của đề tài về mặt lý luận và thực tiễn giáo dục Việt Nam, tác giả khẳng định sự tồn tại khách quan của mối quan hệ giữa nhà trường, trong đó có trường THPT và cộng đồng, nhằm khai thác mọi tiềm năng cho hoạt động giáo dục đạt mục tiêu, hiệu quả; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển cộng đồng
Trang 3019
Trong cuốn “Phát triển giáo dục hướng tới một xã hội học tập” của tác giả Phạm
Tất Dong đã đề cập đến các vấn đề xã hội học tập, xã hội hóa giáo dục và những vấn
đề cơ bản trong cấu trúc của nó; Cấu trúc của xã hội học tập; Tình hình phát triển giáo dục giai đoạn 2000 - 2010 theo chủ trương xây dựng xã hội học tập; Đổi mới căn bản
và toàn diện nền giáo dục theo hướng xây dựng xã hội học tập [22]
Đề tài “Xây dựng đạo đức của thanh niên Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Diệp Minh Giang (Luận án tiến sĩ Triết
học, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011) [29] Trong phần phương
hướng và các giải pháp, tác giả khẳng định cần phát huy vai trò của gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên và nêu rõ: Để xây dựng đạo đức của thanh niên một cách toàn diện cả về ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức đòi hỏi giáo dục đạo đức là một quá trình thường xuyên liên tục, lâu dài từ tuổi nhi đồng, thiếu niên cho đến thanh niên Đồng thời, không thể chỉ trông chờ vào gia đình hoặc nhà trường hay một tổ chức nào mà là sự phối kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cá nhân với cộng đồng xã hội; giữa gia đình, nhà trường và xã hội; giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị; cũng như, sự kết hợp các quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường, pháp luật, xã hội dân sự; sự phối hợp các hoạt động chính trị, văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải trí,…
Tác giả Đỗ Tuyết Bảo trong Luận Án Tiến sĩ với đề tài "Giáo dục đạo đức cho
học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới
hiện nay" [7] đã làm rõ vai trò và ý nghĩa của môi trường giáo dục đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh THCS trong điều kiện đổi mới, nêu ra những định hướng và giải pháp bảo đảm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh THCS tại Thành phố Hồ Chí minh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong các giải pháp tác giả đưa ra có một giải pháp về “Đổi mới hình thức tổ chức
hoạt động giáo dục đạo đức và xây dựng môi trường giáo dục đạo đức” Trong giải pháp
này, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới việc xây dựng môi trường giáo dục cho học sinh Theo tác giả thì môi trường tốt nhất cho việc giáo dục đạo đức trẻ em phải là môi trường thấm nhuần tinh thần dân chủ và lẽ công bằng; môi trường của sự hòa hợp, thân ái, hợp tác, tương trợ và tin cậy lẫn nhau Về thực chất, đó là môi trường nhân
Trang 3120
văn, môi trường văn hóa Tuy nhiên, xây dựng được môi trường như thế không phải dễ dàng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay, khi mà những mặt trái của nó đang gia tăng những tác động tiêu cực Nhà trường có khả năng xây dựng môi trường đó tốt hơn cả do tính hướng đích giáo dục của nó Vấn đề là ở chỗ, nhà trường phải thường xuyên liên hệ mật thiết với xã hội, nhất là với gia đình để làm tăng lên những ảnh hưởng tích cực, đồng thuận, hạn chế có kết quả nhất trong những khả năng cho phép những tác động trái chiều gây ảnh hưởng bất lợi tới cuộc sống tinh thần đạo đức của đứa trẻ
Hội thảo toàn quốc “Giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV
thông qua việc đẩy mạnh công tác phối hợp gia đình, nhà trường và xã hội” được Bộ
GD&ĐT tổ chức sáng 24/8/2012 tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Quang Quý đã khẳng định nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống nhằm hoàn thiện nhân cách HSSV ngày càng trở nên cấp bách trong giai đoạn hiện nay Thứ trưởng Trần Quang Quý cho rằng, đây là một nhiệm vụ không dễ dàng, đòi hỏi sự công phu, kiên trì, tâm huyết không chỉ của toàn ngành giáo dục mà cần phải có sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, của nhiều lực lượng, nhiều tổ chức, đoàn thể, của mỗi gia đình và của toàn xã hội Tại hội thảo, theo ý kiến đa số, nguyên nhân chủ yếu của những biểu hiện suy thoái đạo đức của thanh niên là: sự buông lỏng trong việc quản lý giáo dục con cái của gia đình; việc giáo dục trong nhà trường từ bậc phổ thông đến đại học còn nhiều bất ổn và tác động của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập các nền văn hóa và sự hấp dẫn của đời sống đô thị đã làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị xâm hại và mai một dần Nhiều năm qua, sự phối hợp, gắn bó chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội đã được triển khai thực hiện hiệu quả, tạo nên một môi trường hài hòa, vừa tình cảm, vừa quy phạm, vừa lý thuyết, vừa thực tiễn giúp học sinh nâng cao khả năng tự nhận thức, tự giáo dục, tự rèn luyện mình Bên cạnh đó, kịp thời phát hiện, điều chỉnh những hành vi biểu hiện lệch lạc về
tư tưởng, đạo đức, lối sống của các em
Qua nghiên cứu, phân tích, tổng hợp đánh giá tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy đã có nhiều công trình của nhiều tác giả đã nghiên cứu nhưng chủ yếu tập trung vào các vấn đề lý luận về môi trường giáo dục; vai trò,
Trang 32và ngoài xã hội; thực trạng về việc quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh ở trường, ở gia đình và của các lực lượng xã hội Các tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp rất cụ thể để nâng cao nhận thức, phát huy ảnh hưởng, vai trò và nhiệm vụ của nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong việc phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh cả ở trong nhà trường, gia đình và xã hội
Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như chưa có một chuyên khảo nào đi sâu vào đề tài quản lý sự liên kết của trường THPT với các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường giáo dục học sinh trung học phổ thông Tác giả đã kế thừa trực tiếp những thành quả nghiên cứu nêu ở trên, dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để triển khai đề tài và hy vọng góp được một phần nhỏ bé của mình vào việc khắc phục sự thiếu hụt nói trên
1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài
1.2.1 Giáo dục
Con người từ khi xuất hiện, qua quá trình lao động, cải tạo tự nhiên đã phát hiện và nhận thức được các qui luật phát sinh, tồn tại và phát triển của thế giới khách quan và cũng qua quá trình này con người đó tích luỹ được kinh nghiệm sống, lao động và những hiểu biết của quá trình phát triển của xã hội Những tri thức
và kinh nghiệm của thế hệ đi trước tích luỹ được thế hệ sau lĩnh hội, kế thừa có chọn lọc và phát triển Đây là hiện tượng đặc thù chỉ xuất hiện ở xã hội loài người - hiện tượng giáo dục Hiện tượng này xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, giáo dục tồn tại và vận động, phát triển theo sự tồn tại, vận động và phát triển
Trang 3322
của xã hội Giáo dục là một hiện tượng xã hội chịu sự chi phối và qui định bởi nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và sự hoàn thiện về chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của xã hội, của nền văn minh nhân loại
Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những
kinh nghiệm của xã hội loài người
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, lao động
Theo tác giả Trần Khánh Đức trong cuốn "Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI", thuật ngữ Giáo dục được định nghĩa là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội Giáo dục
là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội” [27, tr.340]
1.2.2 Môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục là tổng hòa các mối quan hệ, là toàn bộ cơ sở vật chất, tinh thần mà trong đó con người được giáo dục đang sống, lao động, rèn luyện và học tập được sử dụng nhằm tác động đến sự hình thành nhân cách của họ phù hợp với mục đích giáo dục đã định Ở một phương diện khác, môi trường giáo dục là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục đạt kết quả cao nhất Môi trường giáo dục rất đa dạng, có thể phân chia một cách tương đối thành các môi trường nhà trường, gia
Trang 34- Môi trường nhà trường: Môi trường giáo dục nhà trường là tập hợp các yếu tố
về vật chất và tâm lý, xã hội có tác động trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng quá trình dạy học và giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người học Thông qua môi trường nhà trường, mỗi học sinh được bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành cần thiết để họ hoàn thiện bản thân và phù hợp với yêu cầu của xã hội So với gia đình, nhà trường là môi trường rộng lớn hơn, phong phú
và hấp dẫn hơn đối với thế hệ trẻ Trong nhà trường, học sinh được giao lưu với thầy
cô, bạn bè, được tham gia vào các hoạt động mang tính xã hội Môi trường nhà trường
có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, tình cảm và hành vi của học sinh cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng giáo dục Trường học không chỉ có môi trường vật chất mà là một không gian tâm lý chất đầy vốn sống của giáo viên và học sinh, luôn có
sự tương tác giao tiếp sư phạm
Môi trường nhà trường là điều kiện và chất xúc tác ảnh hưởng đến việc hình thành nhận thức, thái độ, tình cảm và hành vi của học sinh Môi trường nhà trường thân thiện, lành mạnh với mối quan hệ sư phạm được xây dựng trên sự tôn trọng, hợp tác và thấu hiểu sẽ thúc đẩy các hành vi tích cực ở người học Ngược lại, môi trường nhà trường thiếu tính thân thiện không những không giúp học sinh hình thành hành vi tích cực mà sẽ tạo điều kiện để học sinh bộc lộ những hành vi tiêu cực Sự phát triển tâm lý và phát triển nhân cách của học sinh trong môi trường nhà trường không thể tách rời với quá trình giáo dục Vì vậy, để đi đến kết quả cuối cùng của giáo dục là giúp người học phát triển toàn diện đòi hỏi ba yếu tố: điều kiện môi trường nhà trường, hoạt động dạy học và giáo dục có sự tương tác chặt chẽ với nhau
Trang 3524
Theo UNESCO thì môi trường nhà trường lành mạnh là tạo cho các em học sinh cảm thấy: được an toàn, được có giá trị, được yêu thương, được hiểu và được tôn trọng Môi trường nhà trường thân thiện trong đó các mối quan hệ của giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh được dựa trên nền tảng của các giá trị như: tin tưởng, cởi mở, tôn trọng, đồng cảm, chia sẻ, không bạo lực, không có sự kì thị sẽ giúp người học có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình Ngoài ra, môi trường học đường thân thiện còn phát triển năng lực tự đánh giá một cách tích cực và tự điều chỉnh hành
vi của mình trong quá trình học tập để hài hòa với các thành viên trong lớp
Để có thể xây dựng môi trường nhà trường nhân văn và thân thiện, giáo viên cần
có một số kỹ năng như: gương mẫu trong mọi cử chỉ, hành động, cách ứng xử, cư xử, biết lắng nghe học sinh, có lời nói và cử chỉ thể hiện sự quan tâm, tôn trọng học sinh, biết chia sẻ và thấu cảm với những vấn đề học sinh đang gặp phải trong học tập và cuộc sống, công bằng với học sinh, không phân biệt đối xử, tạo điều kiện để học sinh được bộc lộ bản thân, biết cách khích lệ và động viên học sinh để các em vượt qua những trở ngại
- Môi trường gia đình: Gia đình là mô ̣t hình thức tổ chức đời sống cô ̣ng đồng của
con người, mô ̣t thiết ch ế văn hóa - xã hội đặc thù , được hình thành , tồn ta ̣i và phát triển trên cơ sở của quan hê ̣ hôn nhân , quan hê ̣ huyết thống , quan hê ̣ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên
Gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của mình Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với trẻ là sớm nhất Giáo dục con cái trong gia đình không phải chỉ là việc riêng tư của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo đức và nghĩa vụ công dân của những người làm cha mẹ Nó được xác định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay như trong Hiến pháp (1992), Luật Hôn nhân và gia đình (1986), Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (1991)… gắn với quan hệ máu mủ ruột thịt và tình yêu sâu sắc của cha mẹ với con cái nên giáo dục gia đình mang tính xúc cảm mạnh mẽ, có khả năng cảm hóa rất lớn
Trong gia đình gồm ông bà, cha mẹ, cô chú, dì cậu và anh chị em, trẻ em được lớn lên trong môi trường khuôn phép rất nghiêm ngặt với các thủ tục, nghi lễ có tính giáo dục cao là tấm gương cực kỳ nhạy cảm cho con cái noi theo Gia đình là nơi sản
Trang 36mẹ, mỗi thành viên trong gia đình hãy là một người bạn tốt của trẻ; đồng thời là một người tương tác và hướng dẫn trẻ phù hợp, là người hiểu tâm lý của trẻ, cảm thông với
sự nhận thức và kinh nghiệm còn hạn chế của các em Khi người lớn sai hoặc có lỗi cũng nên xin lỗi trẻ với sự tôn trọng dành cho trẻ Luôn cởi mở, tạo điều kiện cho trẻ được nói, được bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ; lắng nghe trẻ và khuyến khích, tạo cơ hội cho trẻ có động cơ vươn lên Khi nhận thấy trẻ có tiến bộ có giá trị thì các thành viên trong gia đình nên có lời khen ngợi đúng lúc, kịp thời
- Môi trường xã hội: Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người, là toàn bộ các điều kiện và ảnh hưởng ở xã hội bên ngoài tác động đến đời sống, sự phát triển và thái độ của học sinh, là nơi mà các em học sinh thực hiện các tương tác xã hội để thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, các giá trị truyền thống, các chuẩn mực tinh thần của
xã hội ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Môi trường xã hội là môi trường thực tế để các em tiếp thu, thực hành và trải nghiệm các kiến thức đã học được trong nhà trường, gia đình và xã hội, giúp học sinh hoàn thiện những kỹ năng cuộc sống và hoàn thiện nhân cách Môi trường xã hội chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của học sinh
- Xây dựng môi trường giáo dục: Nhiệm vụ chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây
dựng phong trào học tập và phát triển môi trường giáo dục lành mạnh đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được xác định trong Luật Giáo dục để mọi cá
Trang 3726
nhân và tổ chức phải thực hiện Do đó, việc xác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường giáo dục cho thế hệ trẻ là trọng tâm của ngành giáo dục, nhưng để hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng này đòi hỏi phải có sự quan tâm của toàn xã hội Đối với nhà trường phải xây dựng được môi trường lớp học thân thiện, môi trường trường học thân thiện, quan hệ thân ái, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các học sinh, giữa các lớp học, khối lớp, quan hệ sư phạm giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh và ngược lại Xây dựng, trang bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hài hoà, hợp lý, mô phạm có tính thẩm mỹ và giáo dục cao Các nội quy, quy định phải phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý của học sinh, tránh học sinh phải chịu áp lực hay tâm lý khi đến trường Các hoạt động giáo dục được thiết kế và tổ chức phù hợp theo khả năng và sở thích của học sinh, không gây áp lực, căng thẳng, học sinh được tham gia, được thực hiện, được trải nghiệm thực tế trong các hoạt động cung cấp kiến thức, giáo dục truyền thống, giáo dục pháp luật, giáo dục môi trường, nhân dạo từ thiện, văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, trải nghiệm sáng tạo làm sao cho các em cảm thấy mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui
Đối với gia đình phải xây dựng được môi trường gia đình nền nếp, truyền thống, thương yêu, tôn trọng, có trách nhiệm, quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên Mọi thành viên trong gia đình đều phải gương mẫu, bảo ban nhau cùng tiến bộ, điều chỉnh các hành vi lệch lạc trong cuộc sống, tuân theo các chuẩn mực của xã hội, không vi phạm pháp luật hoặc mắc các tai tệ nạn xã hội, bầu không khí ở đó tạo cảm giác yêu thương, an toàn, tích cực, tôn trọng- nơi mà trẻ và mọi thành viên gia đình được hiểu, được có giá trị và quan tâm lẫn nhau, trẻ em được cha mẹ và người thân khuyến khích học tập, trẻ được trải nghiệm thử thách, cởi mở, linh hoạt và sáng tạo Quan hệ trong gia đình, dòng họ phải hiếu, lễ, kính trên nhường dưới, quan hệ với xóm giềng phải thân thiện, đúng mực, đoàn kết theo tiêu chuẩn gia đình văn hóa Trong môi trường như thế này trẻ sẽ cảm thấy được yêu thương, được tôn trọng, được hiểu, được an toàn; khi đó trẻ được phát huy tối đa khả năng và sự tự tin, những hành vi tích cực ở trẻ sẽ tăng lên Đây chính là môi trường thuận lợi để trẻ em học tập và phát triển nhân cách
Đối với xã hội phải xây dựng được môi trường lành mạnh, cộng đồng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, mọi người đều gương mẫu trong mọi hoạt động, hành vi
Trang 3827
Mọi người sống có trách nhiệm, có tinh thần tự giác cao, tuân thủ hiến pháp và pháp luật; có lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; sự ứng xử văn minh, lịch
sự, tính giản dị và trong sạch trong lối sống Mọi người luôn khuyến khích, nâng đỡ, nhân rộng cái đúng, cái tốt, cái tích cực; bảo vệ các giá trị nhân văn trong đời sống xã hội và đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu
Xác định mục tiêu chung của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ, để giáo dục được một con người trưởng thành là một việc rất khó nhưng cũng rất
vĩ đại Do bản chất nhân văn của giáo dục, cùng với đạo lí và lẽ sống tình người đang thôi thúc chúng ta phải góp một viên gạch vào xây dựng một môi trường giáo dục tốt đẹp cho học sinh, sinh viên và cộng đồng
1.2.3 Quản lý
Từ khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý Tính chất của việc quản lý thay đổi và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Theo C.Mác: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” C.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn, đều yêu cầu phải
có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [14, tr 350]
Nhà triết học V.G Afnatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng vận động của xã hội và hướng sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hướng đó; là phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa các lực lượng xã hội [27, tr 326] Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất [42, tr 12]
Trang 3928
Harold Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn
cá nhân ít nhất” [66, tr 32]
Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Những cống hiến của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [27, tr 327-328]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức[62, tr 1]
Tác giả Hà Sĩ Hồ đã định nghĩa “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”
Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực
và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”
1.2.4 Quản lý giáo dục
Theo P.V Khuđôminxki (nhà lý luận Xô Viết): Quản lý giáo dục là tác động có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường) nhằm mục đích
Trang 40có nhiều hệ thống con, và tương ứng với hệ thống con này có hoạt động quản lý, đó là quản lý vi mô Việc phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối Chẳng hạn, quản lý ở cấp Sở GD&ĐT là vi mô nếu so với Bộ GD&ĐT nhưng lại là vĩ mô nếu so với phòng GD&ĐT Điều quan trọng khi xem xét đến vấn đề quản lý phải xác định chủ thể quản lý là ai tác động đến đối tượng đang xét để từ đó thấy được mối tương quan trên dưới, vĩ mô và vi mô
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội [62, tr.10]
Theo tác giả Trần Kiểm thì "Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội"
Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, như quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục hướng nghiệp,v.v ; quản lý các đối tượng khác nhau: quản
lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý tài chính, quản lý có sở vật chất,v.v ; quản lý nhiều khách thể khác nhau: quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục, điều tiết và điều chỉnh ảnh hưởng từ bên ngoài nhà trường, tham mưu với hội cha mẹ học sinh, v.v
Có thể nói rằng, quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục đề ra Thực chất đó là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà