Trong bức thư gửi các thầy cô giáo và cán bộ, SV của một trường ĐH “chuyên đào tạo những người thầy dạy nghệ thuật” nhân dịp khai giảng năm học mới, [77,tr.7] Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ BÍCH LỢI
LUẬN CỨ KHOA HỌC CỦA PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ BÍCH LỢI
LUẬN CỨ KHOA HỌC CỦA PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu được thống kê trong quá trình khảo sát là trung thực Nếu có điều gì sai với lời cam đoan, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Bích Lợi
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Bá Lãm và PGS TS.Trần Khánh Đức, người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã thường xuyên chỉ bảo, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và thực hiện Luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ, giảng viên, viên chức Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ và hoàn thành Luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô, đồng nghiệp, các bạn bè đã cộng tác và giúp đỡ về mọi mặt để tôi thực hiện quá trình nghiên cứu của Luận án
Cảm ơn sự động viên, khích lệ và hỗ trợ của gia đình, người thân Đặc biệt là chồng và các con tôi, những người đã luôn cổ vũ, giúp đỡ tôi kiên trì thực hiện khát vọng nghiên cứu tri thức và chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, công tác và nghiên cứu khoa học
Tôi mong muốn học hỏi nhiều hơn nữa và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, sự hợp tác giúp đỡ, ủng hộ của các đồng chí lãnh đạo ngành Giáo dục và Văn hóa, của các thầy cô giáo, đồng nghiệp để Luận án được triển khai thực hiện, ứng dụng hiệu quả trong thực tế quản lý ở nước ta
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Bích Lợi
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN Viết tắt
Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung ương
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Các từ viết tắt dùng trong luận án iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
x xi MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT 7
1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật 7
1.2 Một số thuật ngữ, khái niệm dùng trong đề tài 11
1.3 Ý nghĩa và nhu cầu phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật 17
1.3.1 Ý nghĩa của đào tạo sư phạm/GV nghệ thuật và phát triển đào tạo GV nghệ thuật 17
1.3.2 Nhu cầu đào tạo GV nghệ thuật 18
1.4 Đặc điểm và những nhân tố tác động đến phát triển đào tạo GV nghệ thuật 24
1.4.1 Đặc điểm của đào tạo GV nghệ thuật 24
1.4.2 Những nhân tố tác động đến phát triển đào tạo GV nghệ thuật 32
1.5 Các thành tố phát triển đào tạo GV nghệ thuật 38
1.5.1 Xác định chiến lược đào tạo 38
1.5.2 Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo GV nghệ thuật 40
1.5.3 Xác định mục tiêu phát triển đào tạo GV nghệ thuật 41
1.5.4 Tổ chức quá trình đào tạo GV nghệ thuật 42
1.6 Kinh nghiệm một số nước về đào tạo GV nghệ thuật 48
1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 49
1.6.2 Kinh nghiệm của Nga 50
Trang 71.6.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 51
1.6.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 52
1.6.5 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 54
1.6.6 Kinh nghiệm của Triều Tiên 56
Kết luận chương 1 59
Chương 2: HIỆN TRẠNG ĐÀO TẠO SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT Ở VIỆT NAM 61
2.1 Nhu cầu và chiến lược phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật của nước ta 61
2.1.1 Nhu cầu của đất nước 61
2.1.2 Nhu cầu của các trường sư phạm nghệ thuật 66
2.1.3 Chiến lược phát triển đào tạo GV nghệ thuật 87
2.2 Mạng lưới trường sư phạm nghệ thuật và công tác quản lý đào tạo trong mạng lưới 89
2.2.1 Các trường đại học và cao đẳng đào tạo GV nghệ thuật 90
2.2.2 Các khoa đào tạo GV nghệ thuật, đào tạo liên thông, liên kết 93
2.2.3 Quản lý đối với các trường sư phạm nghệ thuật 96
2.3 Hiện trạng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính của ngành đào tạo sư phạm nghệ thuật 102
2.3.1 Đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật 102
2.3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 104
2.3.3 Tài chính cho đào tạo GV nghệ thuật 105
2.4 Hiện trạng mục tiêu và chương trình ĐT của các trường sư phạm nghê ̣ thuâ ̣t 105
2.4.1 Việc dạy các bộ môn nghệ thuật trong trường phổ thông 106
2.4.2 Hiện trạng thực hiê ̣n mục tiêu ĐT ở các trường sư pha ̣m nghê ̣ thuâ ̣t 107
2.5 Hiện trạng quá trình ĐT ở các trường sư phạm nghê ̣ thuâ ̣t 110
2.5.1 Những chính sách, văn bản liên quan đến quá trình đào tạo 110
2.5.2 Hiện trạng tổ chức quá trình đào tạo ngành sư phạm nghệ thuật 112
Trang 82.6 Đánh giá chung 115
2.6.1 Ưu điểm 115
2.6.2 Bất cập 118
Kết luận chương 2 121
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC TA 142 123 3.1 Định hướng phát triển đội ngũ nhà giáo, GV nghệ thuật theo tinh thần đổi mới giáo dục 123
3.2 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp phát triển đào tạo GV nghệ thuật 125
3.2.1 Nguyên tắc phát triển 126
3.2.2 Nguyên tắc khách quan 126
3.2.3 Nguyên tắc toàn diện 126
3.2.4 Nguyên tắc thực tiễn 126
3.2.5 Nguyên tắc kế thừa 127
3.2.6 Nguyên tắc thiết thực và phù hợp 127
3.3 Các giải pháp cụ thể 127
3.3.1 Đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức của toàn ngành sư phạm nghệ thuật 127
3.3.2 Xây dựng định hướng chiến lược để phát triển ngành sư phạm nghệ thuật 130
3.3.3 Hoàn thiện mạng lưới và phối hợp quản lý trong mạng lưới các trường sư phạm nghệ thuật 133
3.3.4 Phát triển đội ngũ nhà giáo ngành sư phạm nghệ thuật 135
3.3.5 Thực hiện xã hội hóa và bổ sung nguồn tài chính cho đào tạo sư phạm nghệ thuật 137
3.3.6 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho ngành đào tạo sư phạm nghệ thuật 139
3.3.7 Cải tiến công tác thực tập sư phạm, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho giáo sinh 141
3.3.8 Đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế để phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật 143
Trang 93.4 Thăm dò về tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp 145
3.4.1 Tiến hành lập phiếu thăm dò các giải pháp 145
3.4.2 Kết quả thăm dò các giải pháp phát triển đào tạo GV nghệ thuật 145
3.5 Thực nghiệm giải pháp 155
3.5.1 Xác định vấn đề cần thực nghiệm 155
3.5.2 Xây dựng giả thuyết khoa học 156
3.5.3 Tổ chức thực nghiệm 156
3.5.4 Tổng kết, đánh giá kết quả thực nghiệm 157
Kết luận chương 3 163
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 165
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NGHIÊN CỨU SINH 172
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
PHỤ LỤC 183
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tình hình số lượng GV nghệ thuật năm 2000-2001 68
Bảng 2.2: Tình hình số lượng GV nghệ thuật năm 2011-2012 69
Bảng 2.3: Kết quả thăm dò về số lượng GV nghệ thuật 72
Bảng 2.4: Kết quả thăm dò về chất lượng GV nghệ thuật 75
Bảng 2.5: Thăm dò về nguyên nhân GV nghệ thuật thiếu và yếu 78
Bảng 2.6: So sánh trình độ nghệ thuật của HS nước ta với khu vực, thế giới 81
Bảng 2.7: Các trường ĐH, Cao đẳng có đào tạo GV nghệ thuật 91
Bảng 2.8: Sự phát triển về số lượng SV hằng năm của Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật TW giai đoạn 2011- 2014 95
Bảng 2.9: Sự phát triển đội ngũ giảng viên sư phạm nghệ thuật 104
Bảng 3.1: Kết quả thăm dò tính cấp thiết của các giải pháp 147
Bảng 3.2: Kết quả thăm dò tính khả thi của các giải pháp 149
Bảng 3.3: Kết quả thăm dò sự tán thành đối với các giải pháp 151
Bảng 3.4: Danh mục các câu hỏi, kết quả sau thực nghiệm 158
Bảng 3.5: Sự khác nhau giữa hai mô hình thực tập sư phạm 160
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1, 2.2 Tình hình số lượng GV nghệ thuật của năm
2000-2001 và năm 2011-2012 70
Biểu đồ 2.3, Kết quả thăm dò về số lượng GV nghệ thuật 73
Biểu đồ 2.4, Kết quả thăm dò về chất lượng GV nghệ thuật 76
Biểu đồ 2.5,Thăm dò nguyên nhân GV nghệ thuật thiếu và yếu 79
Biểu đồ 2.6, So sánh trình độ nghệ thuật của HS nước ta với khu vực và thế giới 82
Biểu đồ 2.8, Sự phát triển về số lượng SV của Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật TW giai đoạn 2011-2014 96
Biểu đồ 3.1, Kết quả thăm dò tính cấp thiết của các giải pháp 148
Biểu đồ 3.2, Kết quả thăm dò tính khả thi của các giải pháp 150
Biểu đồ 3.3, Kết quả thăm dò sự tán thành đối với các giải pháp 153
Biểu đồ 3.5, Sự khác nhau giữa 2 mô hình thực tập sư phạm 162
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam nói chung
và đổi mới giáo dục nói riêng, nhu cầu phát triển giáo dục toàn diện cho thế
hệ trẻ trong các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật và văn hóa, nghệ thuật luôn được đặt lên hàng đầu Với quan điểm coi trọng trước hết là vai trò và chất lượng người thầy, việc phát triển sự nghiệp đào tạo, nhất là đào tạo GV nghệ thuật đang trở thành một nhu cầu và nhiệm vụ cấp thiết Nếu làm tốt được nhiệm
vụ này, sẽ đào tạo ra những công dân Việt Nam mang trong mình đầy đủ trí tuệ và tâm hồn có bản sắc dân tộc, để góp phần xây dựng, đổi mới đất nước
và hô ̣i nhập quốc tế
Trong bức thư gửi các thầy cô giáo và cán bộ, SV của một trường ĐH
“chuyên đào tạo những người thầy dạy nghệ thuật” nhân dịp khai giảng năm học mới, [77,tr.7] Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã chỉ rõ: “Giáo dục nghệ thuật là việc làm rất quan trọng
và cần thiết để góp phần trang bị một cách cơ bản và toàn diện cho thế hệ trẻ khi bước vào đời” Sau khi biểu dương những thành tích nhà trường đã đạt được trong công tác đào tạo 40 năm qua “là một đóng góp có ý nghĩa to lớn vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà”, Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã nêu
rõ yêu cầu và mong muốn: “nhà trường không ngừng nỗ lực phấn đấu, nâng cao chất lượng giảng dạy để đào tạo ngày càng nhiều những người thầy dạy nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội” Nội dung bức thư đó đặc biệt đã động viên và gợi nên cho nhà trường nhiều ý tưởng về đổi mới và phát triển
Thực tế hiện nay, việc dạy và học ở Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật
TW, cũng như tại các khoa Âm nhạc - Mỹ thuật của các trường ĐH sư phạm
và cao đẳng sư phạm khác, tuy công tác ĐT đã có nhiều tiến bộ và thành tích, nhưng cũng còn không it khó khăn, chưa đạt kết quả như mong muốn
Trang 13Nguyên nhân bên trong là do chất lượng đào tạo GV nghệ thuật còn nhiều bất cập Mặt khác cũng do yếu kém từ phía HS ngay từ khi thi đầu vào
Bối cảnh Việt Nam tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế đã đặt ra đòi hỏi mới là muốn cho kinh tế, văn hóa, GD phát triển bền vững, phải đồng thời phát huy nội lực kết hợp với sức mạnh thời đại Do đó, việc tham khảo kinh nghiệm các nước và mở rông hợp tác quốc tế để phát triển GD ĐT nói chung, ngành ĐT sư phạm nghệ thuật nói riêng là việc tất yếu và cấp thiết
Từ thực tế trên, cần có những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, đánh giá tình hình dạy và học nghệ thuật ở các trường phổ thông, các trường ĐH sư phạm và cao đẳng sư phạm có ĐT nghệ thuật, đưa ra phương hướng và các giải pháp để phát triển ngành ĐT sư phạm nghệ thuật cho cả nước
Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Luận cứ khoa học của phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta”,
với mong muốn góp một phần nhỏ vào sự phát triển ngành đào tạo sư phạm nghệ thuật
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD nước ta, trọng điểm là thực hiện GD toàn diện cho HS phổ thông
3 Giả thuyết nghiên cứu
(i) Ngành ĐT sư phạm nghệ thuật ở nước ta trong những năm qua đã đạt
nhiều thành tích và có bước phát triển tích cực, đáp ứng ngày càng lớn nhu cầu nâng cao chất lượng GD-ĐT; (ii) Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay, đối chiếu với nhu cầu trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, ngành ĐT này còn bộc lộ những yếu kém và bất cập: thiếu trầm trọng về số lượng GV nghệ thuật để thực hiện yêu cầu GD toàn diện cho HS phổ thông; chất lượng SV tốt nghiệp
ra trường hằng năm của các cơ sở ĐT bậc ĐH chưa đáp ứng được đòi hỏi của
Trang 14các cơ sở tuyển dụng cả về mặt chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cũng như năng lực tổ chức các hoạt động, các sự kiện văn hóa.(iii) Nếu đề xuất được một hệ giải pháp bao gồm các mặt từ tư duy, tầm nhìn đến chiến lược, mục tiêu, quá trình ĐT, thì sẽ giúp ngành ĐT sư phạm nghệ thuật phát triển mạnh
mẽ, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho HS phổ thông nói riêng và góp phần vào công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GD ở nước ta hiện nay
4 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
4.1 Hệ thống hóa lý luận về phát triển đào tạo GV nghệ thuật
4.2 Đánh giá thực trạng đào tạo GV nghệ thuật ở nước ta
4.3 Đề xuất giải pháp phát triển đào tạo GV nghệ thuật ở Việt Nam, đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện HS phổ thông
4.4 Thăm dò ý kiến và tiến hành thực nghiệm trong điều kiện cho phép nhằm chứng minh tính khả thi của các giải pháp
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể: Hoạt động đào tạo GV nghệ thuật
5.2 Đối tượng: Phát triển đào tạo GV nghệ thuật
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Hoạt động đào tạo sư phạm nghệ thuật ở các trường ĐH sư phạm nghệ
thuật, cao đẳng sư phạm nghệ thuật và các cơ sở khác có đào tạo sư phạm nghệ thuật ở miền Bắc, miền Trung Việt Nam
6.2 Yêu cầu đổi mới GD tập trung vào thực hiện GD toàn diện cho HS
6.3 Trong đào tạo GV nghệ thuật, tập trung vào GV hai bộ môn âm nhạc và
mỹ thuật
6.4 Thời gian đánh giá hiện trạng đào tạo GV nghệ thuật trong giai đoạn 2008- 2015; các giải pháp có thể áp dụng cho giai đoạn đến năm 2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các quan điểm tiếp cận
- Tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu, xem xét mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý, giữa cơ sở đào tạo GV nghệ thuật với các cơ sở sử dụng GV là các
Trang 15trường phổ thông, các giải pháp phát triển đào tạo GV trong mối quan hệ với nhu cầu xã hội và các nhân tố khác
- Tiếp cận thực tiễn: Thông qua khảo sát mà phân tích đánh giá thực trạng đào tạo GV nghệ thuật ở các trường khu vực miền Bắc và miền Trung
- Tiếp cận phát triển nguồn nhân lực: Vận dụng các khâu của lý thuyết phát triển nguồn nhân lực bao gồm: lập kế hoạch phát triển, tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách, dự báo đối với GV nghệ thuật
- Tiếp cận chuẩn hóa: Xem xét các quy định về chuẩn hóa do Chính phủ,
Bộ GD và ĐT, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành liên quan đến ĐT GV
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài về phát triển đào tạo GV nghệ thuật
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi và phiếu thống kê đối với các trường
ĐH, cao đẳng, phổ thông khu vực miền Bắc, miền Trung
- Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): một số trường đại diện
- Phương pháp quan sát: Bằng cách quan sát trực tiếp, quan sát theo mẫu
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia về đánh giá thực trạng, về các giải pháp Đối tượng lấy ý kiến là các nhà quản lý, cán bộ, giảng viên, giáo viên có liên quan đến đào tạo GV nghệ thuật Hình thức lấy ý kiến là trao đổi trực tiếp, phỏng vấn ghi âm ghi hình, trả lời phiếu hỏi
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp thực nghiệm: Xác định vấn đề thực nghiệm; xây dựng giả thuyết khoa học; chọn mẫu, qui mô, địa chỉ thực nghiệm; tổ chức thực nghiệm, làm việc với nhóm cộng tác viên, theo dõi, xử lý các vấn đề phát sinh trong tiến trình thực nghiệm; tổng kết đánh giá kết quả sau thực nghiệm
- Các phương pháp hỗn hợp khác
Trang 168 Những luận điểm bảo vệ
8.1 Điều kiện cho sự phát triển con người toàn diện là một nền GD hướng đến sự phát triển toàn diện của người học Để đảm bảo phát triển toàn diện cho mọi HS - một đòi hỏi tất yếu của xã hội văn minh, ngay từ trong GD phổ thông, phải quan tâm GD nghệ thuật, vì vậy cần phát triển đào tạo GV nghệ thuật đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu
8.2 Giáo dục nước ta từ khi có chế độ mới - Cách mạng Tháng Tám năm
1945, đã nhiều lần tuyên bố về mục tiêu giáo dục toàn diện Tuy nhiên, trong thực tế, việc triển khai dạy các môn nghệ thuật trong các trường phổ thông trên phạm vi cả nước còn gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là thiếu số lượng lớn GV nghệ thuật Vì vậy, trong quá trình GD có sự thiên lệch rõ rệt về phía thực hiện các yêu cầu GD tri thức, nhẹ về GD thẩm mỹ, làm ảnh hưởng đến thái độ thẩm mỹ và chất lượng sống của HS Để khắc phục lệch lạc đó, cần tăng cường công tác GD nghệ thuật cho HS phổ thông, với điều kiện có một đội ngũ GV nghệ thuật đáp ứng được mục tiêu đề ra 8.3 Để phát triển ĐT sư phạm nghệ thuật một cách nhanh chóng và bền vững, các cơ sở ĐT cần có mục tiêu, định hướng chiến lược ĐT đúng đắn, có mạng lưới ĐT thích hợp, tổ chức quản lý ĐT một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD của nước ta
9 Đóng góp của đề tài
9.1 Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về GD toàn diện HS phổ thông và
phát triển đào tạo GV nghệ thuật
9.2 Phân tích và đánh giá thực trạng đào tạo GV nghệ thuật trong các trường ĐH sư phạm và cao đẳng sư phạm trên toàn quốc, lấy trọng điểm là Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật TW, trên các mặt
9.3 Đưa ra phương hướng và 8 giải pháp về đổi mới tư duy, phát triển chiến lược, tăng cường phối hợp trong mạng lưới, cải tiến công tác thực tập sư
Trang 17phạm , nhằm phát triển đào tạo GV nghệ thuật bậc ĐH và cao đẳng , đáp ứng yêu cầu đổi mới GD ở Việt Nam hiện nay
9.4 Góp phần nâng cao chất lượng ĐT sư phạm nghệ thuật, nâng cao chất lượng chuyên môn cho các SV sư phạm nghệ thuật
10 Bố cục của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và
phụ lục, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật
- Chương 2: Hiện trạng đào tạo sư phạm nghệ thuật ở Việt Nam
- Chương 3: Phương hướng và những giải pháp phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta
Trang 18và đi sâu vấn đề này Từ nhiều góc độ khác nhau, có thể tham khảo một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây về đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực,
đào tạo GV nói chung và đào tạo GV nghệ thuật nói riêng:
Trong cuốn "Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến lược phát triển” (2003, NXB Giáo dục, Hà Nội, [56]), tác giả Đặng Bá
Lãm đã vẽ lên bức tranh tổng quát những vấn đề chung về xây dựng chiến lược phát triển giáo dục ở nước ta những năm đầu thế kỷ XXI, phân tích hiện trạng giáo dục Việt Nam, các chủ trương lớn cũng như những thành tựu và yếu kém của giáo dục thời kỳ Đổi mới Đặc biệt, về chiến lược phát triển giáo dục, tác giả đã có những phân tích sâu sắc về bối cảnh, thời cơ, thách thức đối với giáo dục Việt Nam trong vài thập kỷ tới, nêu ra viễn cảnh các mặt kinh tế,
xã hội, khoa học, giáo dục của Việt Nam đến năm 2020, các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, 7 giải pháp chiến lược phát triển giáo dục đi kèm với
12 chương trình hành động lớn trong giáo dục Đặc biệt, dưới tiêu đề “Các mục tiêu ưu tiên”, tác giả đã nhấn mạnh nội dung “ chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng các tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật”(56, tr.218)
Trong phần “Các giải pháp chiến lược phát triển giáo dục”, tác giả đã nhấn mạnh nhu cầu “giáo dục toàn diện” [tr.221,264], nhiều chỗ đề cập đến việc giáo dục nghệ thuật cho học sinh [tr.221,250,263,265] Đặc biệt, về
Trang 19phương pháp đào tạo, tác giả đã nhấn mạnh cần thực hiện theo các ý tưởng,
tư duy và cách làm mới, như “phát huy tính chủ động của người học, giúp người học hình thành năng lực thích ứng, hội nhập với thị trường lao động
và thị trường việc làm”, “hình thành năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”, người tốt nghiệp đại học ở nước ta trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI phải có những năng lực trội về trí tuệ và hành động cũng như năng lực nghiên cứu, sáng tạo, hợp tác trong môi trường quốc tế [tr.246,247]
Cùng tác giả Đặng Bá Lãm (chủ biên), trong cuốn “Quản lý nhà nước
về giáo dục - Lý luận và thực tiễn”,( NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005,
[58]), vấn đề đổi mới quản lý nhà nước đối với giáo dục đã được trình bày và phân tích khá đầy đủ và thấu đáo Các tác giả đã đi từ cơ sở lý luận và phương pháp luận của vấn đề “quản lý nhà nước về giáo dục” để đánh giá thực trạng vấn đề trên ở nước ta mấy chục năm qua, đồng thời giới thiệu, phân tích các mô hình/xu thế và kinh nghiệm quốc tế về phát triển giáo dục
và quản lý nhà nước về giáo dục của các nước Đặc biệt, các tư tưởng hiện đại về quản lý và giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa thế kỷ XXI, trong điều kiện kinh tế thị trường, như “sản phẩm giáo dục vừa mang thuộc tính hình thái ý thức xã hội, vừa mang thuộc tính hàng hóa khi nó gia nhập vào thị trường lao động”, “ học tập suốt đời”, “xã hội học tập”, “mở rộng đầu vào, thắt chặt đầu ra” [tr.130,146] đã được các tác giả đề cập và kiến giải, giúp cho nhận thức của lãnh đạo và cán bộ làm công tác đào tạo có thêm nhiều căn
cứ vững chắc, hữu ích cho sự nghiệp đổi mới giáo dục
Đặng Bá Lãm và cộng sự Trịnh Thị Anh Hoa (2004), trong bài báo
“Đào tạo giáo viên trong bối cảnh mới” [57], đã nêu lên phương hướng phát triển đào tạo giáo viên phục vụ đổi mới giáo dục nước ta
Tác giả Trần Khánh Đức, trong cuốn sách “ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”, ( NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 [32]), đã
giới thiệu và phân tích sâu sắc về triết lý và các mô hình giáo dục hiện đại, giáo dục trong nền kinh tế tri thức và dịch vụ giáo dục trong nền kinh tế thị
Trang 20trường; nhà trường trong các nền văn minh và những kịch bản nhà trường tương lai Điểm nổi bật của cuốn sách là tác giả đã trình bày khá sâu về quản
lý và phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN [tr.366,369] Các vấn đề về chiến lược giáo dục, khoa học luận và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đã được tác giả phân tích kỹ ở chương 8
và chương 11 Lĩnh vực đào tạo GV nghệ thuật đã được tác giả đề cập
[tr.666,669] khi giới thiệu về nội dung đào tạo GV ở Nhật Bản
Trong công trình nghiên cứu “Quản lý giáo dục Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (chủ biên) (NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2012 [63]), đã giới thiệu các mô hình nhà trường hiện đại, những cách nhận thức mới về khái niệm quản lý, người quản lý và lý thuyết quản lý giáo dục [tr.12-16], từ đó đề xuất “Cần có một chuyển biến quan trọng trong nhận thức về quản lý” Khi phân tích về lý thuyết quản lý giáo dục, tác giả cho rằng, để định nghĩa được quản lý giáo dục là gì, cần làm sáng tỏ ít nhất 3 thành tố: (i) Việc định danh quản lý giáo dục; (ii) Quá trình hình thành quản
lý giáo dục; và (iii): Nội dung của quản lý giáo dục [tr.15]
Qua việc tiếp cận và giới thiệu ý tưởng của “cây đại thụ về quản lý thời hiện đại” Peter Drucker (Mỹ), tác giả Đặng Quốc Bảo đã nêu rõ quan điểm
về quản lý nhà trường nước ta trong bối cảnh phát triển hiện nay, cho rằng nhà trường không nên chỉ nghiêng về chú trọng một mặt “Nhân cách” hay
“Sức lao động để tham gia vào thị trường”, mà nhà trường nước ta phải là
“pháo đài giữ vững được lý tưởng XHCN, củng cố hình thái ý thức xã hội theo con đường XHCN”, lại phải là “nhân tố thúc đẩy sự năng động của kinh tế thị trường đồng thời đảm bảo cho đất nước đi nhanh, đi sâu vào sự hội nhập mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc” [3, tr.86,87];[4,tr.67,123-138]
Từ một cơ sở đào tạo GV, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thư ở Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, đã có bài viết trao đổi trên Tạp chí
Giáo dục (số 240, kì 2-6/2010) về “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng
Trang 21viên âm nhạc-mỹ thuật ở Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương giai đoạn 2010-2015” [71] Tác giả nêu ra 5 giải pháp về (i) xây dựng quy
hoạch phát triển đội ngũ giảng viên; (ii) tăng cường bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ; (iii) xây dựng tiêu chuẩn giảng viên; (iv) xây dựng và hoàn thiện chế độ chính sách đối với giảng viên; (v) mở rộng hợp tác với các trường ĐH trong nước và nước ngoài; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các giảng viên, đặc biệt là các giảng viên trẻ, cần tự nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, tạo điều kiện để giao lưu, học tập kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật, phương pháp dạy học theo xu hướng “mở” của các nước tiên tiến trên thế giới; mời các giảng viên, nghệ sĩ có uy tín ở các trường, viện nghệ thuật tham gia giảng dạy một số chuyên ngành, để SV có thêm cơ hội tiếp cận với nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau; và điều quan trọng là, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu của nhà trường, các giải pháp đưa ra cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả”
Trên bình diện quốc tế, vấn đề GD nghệ thuật đã được UNESCO hết sức quan tâm Tổ chức Liên minh thế giới về GD nghệ thuật -WAAE, đã được thành lập từ tháng 3/2006 tại Bồ Đào Nha, với hơn 90 nước thành viên Hội nghị thượng đỉnh của WAAE quy mô toàn cầu và khu vực, được tổ chức họp hàng năm để mở rộng diễn đàn cho các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, các nhà
GD, kết nối và trao đổi về các chủ đề phát triển chính sách văn hóa nghệ thuật [102] Hội nghị thượng đỉnh của WAAE gần đây nhất họp tại Ôxtrâylia tháng 11/2014, với chủ đề về đổi mới GD nghệ thuật Tháng 5/2010, hội nghị thượng đỉnh WAAE cũng đã họp tại Hàn Quốc- một quốc gia được coi là đi tiên phong về GD nghệ thuật ở châu Á (xem thêm mục 1.6.4, kinh nghiệm Hàn Quốc, tr.68,69)
Do những đặc điểm và yêu cầu khác nhau về chức năng và mục tiêu nghiên cứu, các công trình nghiên cứu nêu trên, vì vậy, chưa có điều kiện đi sâu và toàn diện về các loại hình ĐT đặc thù, như về ĐT sư phạm nghệ thuật
Trang 221.2 Một số thuật ngữ, khái niệm dùng trong đề tài
Trong đề tài, chúng tôi sử dụng một số thuật ngữ, khái niệm Dưới đây là những định nghĩa có tính chất chung nhất, được nhiều người chấp nhận, với
mức độ chính xác tương đối cho các khái niệm dùng trong đề tài
- Luận cứ khoa học: Trong quá trình giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt
ra, nhà nước phải dựa trên những cơ sở lý luận (hệ thống khái niệm khoa học,
các quy luật, các mối quan hệ tác động qua lại khách quan giữa các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy ), cùng với việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, dự báo phát triển, để tìm ra các giải pháp, cách thức giải quyết vấn đề đặt ra phù hợp với các quy luật phát triển khách quan và nhu cầu thực tế Quá trình trên chính là quá trình nghiên cứu xây dựng luận cứ
khoa học để giải quyết một vấn đề Như vậy, có thể hiểu: Luận cứ khoa học
là những căn cứ lý luận và thực tiễn được nghiên cứu, phân tích, luận giải
có hệ thống để tạo cơ sở cho các giải pháp, cách thức, các phương pháp, cách giải quyết các vấn đề đặt ra.[59] Luận cứ khoa học của phát triển đào
tạo sư phạm nghệ thuật chính là cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) của các giải pháp phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật mà việc nghiên cứu phải vạch ra, tạo tiền đề cho việc xây dựng các đề án hành động
- Giáo dục: Là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Giáo dục là một
bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo
Trang 23dục biến đổi theo các giai đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị
- kinh tế của xã hội [82,tr.599]
- Đào tạo: Là quá trình tác động đến con người, làm cho người đó lĩnh hội và
nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo…một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kĩ thuật và văn hóa của đất nước Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả khái niệm đào tạo Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa, v.v [82,tr.59].
- Sư phạm: Khoa ho ̣c về giáo du ̣c và giảng da ̣y trong trường ho ̣c [83, tr.471]
- Đào tạo giáo viên: Đào tạo GV là nhiệm vụ của các trường sư phạm Giáo
viên là những người thực hiện công tác giáo dục trong nhà trường phổ thông Nội dung đào tạo GV gồm: lý luận khoa học chung về giáo dục, lý luận giáo dục học chuyên ngành và bộ môn, nhân cách người GV và những kĩ năng, kĩ xảo sư phạm chung và chuyên biệt: tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, sinh lý học lứa tuổi, kiến thức về các ngành chuyên môn Ở Việt Nam, đào tạo GV được coi là chức năng đặc thù của trường sư phạm Chỉ khi nào quá trình đào tạo sư phạm biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực,
tự giác thì giáo sinh sau này mới trở thành nhà giáo giỏi [82,tr.81]
Trang 24- Nghệ thuật: Nghệ thuật có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóa làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan từ đó ngưỡng
mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ năng, kĩ xảo cao vượt lên trên mức thông thường phổ biến Được gọi là nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ở mức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt Chẳng hạn nghệ thuật viết báo, nghệ thuật diễn thuyết, nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật đắc nhân tâm, nghệ thuật dùng phím chuột của máy vi tính Theo nghĩa này thường là một tài khéo đặc biệt nào đó Một số khái niệm đi liền với nghệ thuật là nghệ sĩ, nghệ nhân [82,1-2]..
- Sư phạm nghệ thuật: Thông qua giáo dục, giảng dạy đ ể đào ta ̣o ra những
GV dạy bộ môn nghệ thuật ở các cấp bậc học [82, tr.1193]
Ngành đào tạo sư phạm nghệ thuật còn được gọi là đào tạo giáo viên nghệ thuật Các thuật ngữ “đào tạo sư phạm nghệ thuật” và “đào tạo giáo viên nghệ thuật” trong nhiều ngữ cảnh có ý nghĩa tương đương Tuy nhiên, cũng cần phân biệt cả sự tương đồng cũng như sự khác biệt của các khái niệm này Khái niệm “đào tạo sư phạm nghệ thuật” không phải trong mọi trường hợp đều có thể thay bằng “đào tạo giáo viên nghệ thuật” Vì “đào tạo sư phạm” có hàm nghĩa rộng hơn, bao gồm cả đào tạo người thầy (giảng viên, giáo viên)
và nghề dạy học Trong các ngữ cảnh cụ thể của đề tài này, do khi muốn tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo giáo viên nghệ thuật cho các trường phổ thông, nên cụm từ “đào tạo giáo viên nghệ thuật” được tác giả dùng ở nhiều chỗ
- Âm nhạc : Là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh và nhịp điệu để diễn tả
tư tưởng, tình cảm của con người Căn cứ vào đặc trưng của quá trình sáng tạo, biểu diễn và tiếp thu, có thể chia thành âm nhạc chuyên nghiệp và âm nhạc dân gian Căn cứ vào các phương tiện diễn tả nghệ thuật có thể chia
Trang 25thành âm nhạc có lời và âm nhạc không lời Có loại âm nhạc chuyên nghiệp
do các nghệ sĩ chuyên nghiệp sáng tác và biểu diễn; có loại âm nhạc dân gian
do nhân dân lao động sáng tác và biểu diễn, đó là một bộ phận quan trọng của
âm nhạc dân tộc Âm nhạc dân gian còn bao gồm âm nhạc sinh hoạt, âm nhạc
tế lễ [82,tr.782]
- Âm nhạc, theo khái niệm ngắn gọn, là nghê ̣ thuâ ̣t sắp xếp, tổ chức phối kết hợp các âm thanh của gio ̣ng nói, các loại nhạc cụ hoặc cả hai thành một thanh bản chỉnh thể để diễn đạt tư tưởng, tình cảm [83,tr.63]
- Mỹ thuật: Mỹ thuật là "nghệ thuật của cái đẹp" Đây là từ dùng để chỉ các
loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu là hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc Theo cách nhìn khác, từ "mỹ thuật" (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được Vì lý do này người ta còn dùng từ "nghệ thuật thị giác" để nói về mỹ thuật Ví dụ: vẻ đẹp của một bức tranh, giá trị mỹ thuật của một công trình kiến trúc Có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp, phụ thuộc vào sự hiểu biết, khiếu thẩm mỹ và ý thích của riêng từng người Tuy nhiên, một tác phẩm được đánh giá là có phần mỹ thuật biểu hiện tốt thì ít nhiều tác phẩm đó phải có âm vang về tính kinh viện, hàn lâm
Ví dụ: thông qua ngôn ngữ tạo hình, tác giả diễn đạt thành công một tác phẩm mang tính triết lý sâu sắc, cho dù các hình tượng trong tranh mang tính trừu tượng hoặc tượng trưng Theo nghĩa rộng, mỹ thuật là môn nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, muốn học hay hiểu đúng về môn này cần phải hiểu ngôn ngữ của nó Từ "mỹ thuật" còn được dùng khi phân biệt những ngành lớn của hội hoạ: mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật công nghiệp, mỹ thuật trang trí ; mỗi ngành lại có một đặc thù riêng về kỹ thuật thể hiện và giá trị sử dụng Trên thế giới, và ở cả Việt Nam, những người hoạt động trong ngành thường chỉ thừa nhận khái niệm mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mỹ thuật với thủ công mỹ nghệ và mỹ thuật ứng dụng Mỹ thuật bao
gồm một số lĩnh vực nghệ thuật thị giác như: Hội họa- nghệ thuật tạo hình
trên bề mặt 2 chiều một cách trực tiếp Các tác phẩm hội họa mang tính độc
Trang 26bản Hội họa được coi là mảng quan trọng của mỹ thuật Đồ họa: là nghệ
thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách gián tiếp qua các kỹ thuật in ấn,
vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao Điêu khắc: là nghệ
thuật tạo hình trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (chạm khắc, chạm nổi) Đây là khái niệm theo nghĩa hàn lâm, là khái niệm cơ bản nhất và là cơ sở để đánh giá các tác phẩm mỹ thuật Hiểu rộng ra, cái gì thuộc nghệ thuật thị giác thì cũng được coi là thuộc mỹ thuật Đặc biệt những xu hướng mỹ thuật đương đại xuất hiện từ khoảng thập niên 1960 bao gồm: Nghệ thuật sắp đặt (Installation art); Nghệ thuật biểu diễn (Performance art); Nghệ thuật hình thể (Body art); Nghệ thuật đại chúng (Popular art)…Tuy nhiên, tên gọi các môn nghệ thuật thị giác này chưa thực sự thống nhất trong tiếng Việt [84, 1-3]
- Phát triển: Quá trình vận động từ thấp (giản đơn) đến cao (phức tạp), mà
nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời Sự phát triển của các hệ thống vô cơ, của thế giới hữu sinh, của xã hội loài người, của nhận thức đều phục tùng những quy luật phổ biến của phép biện chứng Đối với sự phát triển, nét đặc trưng là hình thức xoáy trôn ốc Mọi quá trình phát triển riêng rẽ đều có sự khởi đầu và sự kết thúc Vả lại, ngay từ đầu, trong khuynh hướng đã chứa đựng sự kết thúc của phát triển, còn việc hoàn thành chu kỳ phát triển đó thì lại đặt cơ sở cho một chu kỳ mới, trong đó không thể tránh khỏi lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ đầu tiên Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn tới cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Đồng thời, chỉ ở một mức phát triển khá cao thì những mầm mống của cái cao chứa đựng trong cái thấp mới bộc lộ ra và lần đầu tiên mới trở nên dễ hiểu Ví dụ, ý thức là kết quả phát triển của vật chất, và chỉ đứng trên quan điểm ấy mới có thể phát hiện được đặc tính chung nằm trong nền tảng của vật chất là đặc tính phản ánh Việc tái tạo sự phát triển dưới hình thức lý luận chỉ có thể thực hiện được nhờ những phương pháp và biện
Trang 27pháp của lô-gich biện chứng (xem, chẳng hạn, cái lịch sử và cái lô-gich) [85,
tr.433]
- Quản lý: Theo khái niê ̣m chung nhất , quản lý là t ổ chức, điều hành mô ̣t
viê ̣c gì đó làm cho nó được tiến hành thuận lợi Theo cách chiết tự, từ này
bao gồm 2 thành tố (quản lý = quản + lý), quản là trông nom, gánh vác, quán xuyến, chịu trách nhiệm ; lý là lo liệu làm sao cho công việc tiến triển thuận
lợi, tốt đe ̣p Theo định nghĩa do Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa
ra, thì Quản lý = định hướng + kiểm soát Yêu cầu th ực hiện đủ c ả 2 khâu chứ không thể chỉ quan tâm vào việc định hướng Việc định hướng nh ững chính sách quốc gia về giáo dục là vô cùng cần thiết và quan tr ọng, nhưng nếu có đi ̣nh hướng đúng , mà không kiểm soát được kết quả thực hiện những
chính sách đó ra sao, thì coi như chưa hoàn thành quy trình quản lý Quản lý
trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong
đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên Quản lý (tiếng Anh là Management, tiếng Latin là manumagere - điều khiển bằng tay) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật
tư, trí lực và giá trị vô hình) Đầu thế kỷ XX, nhà văn quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác"[82, 1-2]
- Quản lý phát triển: Quản lý phát triển là sự tác động của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đã định trong những điều kiện biến động của môi trường Quá trình của quản lý phát triển đòi hỏi sự điều chỉnh cũng như các chủ trương, biện pháp mới cho phù hợp với những môi trường có nhiều thay đổi Trong thực tiễn quản lý cũng cần có
Trang 28sự tăng tốc, tập trung để đáp ứng các yêu cầu của hoàn cảnh, của những đòi hỏi khách quan hoặc rà soát, thay đổi những chủ trương tác động để cho phù hợp, thích nghi với môi trường
Quản lý phát triển GV nghệ thuật là sự tác động của chủ thể quản lý đến đội ngũ GV nghệ thuật, nhằm đảm bảo số lượng cũng như chất lượng, cơ cấu phù hợp để đáp ứng yêu cầu phát triển của đơn vị, tổ chức, khu vực, địa phương theo chiến lược phát triển giáo dục đã được xác định Quản lý phát triển đội ngũ GV nghệ thuật nhằm nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể quản lý các cấp, các ngành, các cơ sở quản lý GD trong quá trình phát triển đội ngũ Trong hoạt động quản lý phát triển đội ngũ GV nghệ thuật, đòi hỏi các chủ thể phải xây dựng kế hoạch phát triển, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch ĐT, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, điều chỉnh đội ngũ GV nghệ thuật để đảm bảo chuẩn mực, mục tiêu đã đề ra
Trên đây là một số thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đề tài đồng thời là những cách hiểu chung nhất, phổ biến nhất về chúng
1.3 Ý nghĩa và nhu cầu phát triển đào tạo sƣ phạm nghệ thuật
1.3.1 Ý nghĩa của đào tạo sư phạm nghệ thuật và phát triển đào tạo GV nghệ thuật
Cùng với đội ngũ cán bộ quản lý GD, đội ngũ nhà giáo là nhân lực chủ yếu của ngành GD Đào tạo GV là một khâu trong phát triển nguồn nhân lực của GD Theo lý luận, phát triển nguồn nhân lực bao gồm các khâu: 1) Quy hoạch; 2) Tuyển chọn; 3) Bố trí sử dụng; 4) Đào tạo bồi dưỡng; 5) Chính sách chế độ; 6) Đánh giá Trong các khâu đó, công tác ĐT bồi dưỡng nhân lực có vai trò quyết định đối với đảm bảo số lượng, cơ cấu chất lượng đội ngũ nhân lực nói chung cũng như nói riêng đối với ngành sư phạm nghệ thuật Công tác phát triển đội ngũ GV nghệ thuật có thể xét cả trên bình diện
vĩ mô và vi mô Trên bình diện vĩ mô, đó chính là áp dụng các khâu của quy trình phát triển nguồn nhân lực vào việc phát triển đội ngũ này Trên bình
Trang 29diện vi mô là chất lượng người GV, tức là phẩm chất và năng lực GV đáp ứng yêu cầu của hoạt động GD, từ đó mà thiết kế quy trình đào tạo và tạo lập các điều kiện đào tạo GV nghệ thuật
Kết hợp cả hai bình diện đó, Đề tài sẽ nghiên cứu các khâu sau đây trong phát triển đào tạo sư phạm nghệ thuật: 1) Chiến lược đào tạo; 2) Mạng lưới
cơ sở đào tạo; 3) Mục tiêu phát triển đào tạo; 4) Tổ chức đào tạo
1.3.2 Nhu cầu đào tạo giáo viên nghệ thuật
Để thấy được vai trò và xác định chiến lược phát triển đào tạo GV nghệ thuật, cần đánh giá nhu cầu của lĩnh vực đào tạo này
1.3.2.1 Nhu cầu GD toàn diện HS phổ thông và nhu cầu đào tạo GV nghệ
thuật
Về nội dung GD, từ năm 1955, trong bài viết trên báo Nhân Dân (với bút danh CB), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu nội dung GD toàn diện đối với các
em HS bao gồm thể dục, trí dục, mỹ dục và đức dục Bác Hồ đã chỉ rõ: “Thể dục để làm cho thân thể mạnh khỏe, biết giữ gìn vệ sinh riêng và vệ sinh chung; Trí dục là để ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới;
Mỹ dục để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp; Đức dục là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công”
[64,T8, tr.74-75]
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng rất quan tâm đến việc GD thẩm mỹ cho HS Năm 1985, Ông căn dặn ngành giáo dục: “ Giáo dục thẩm mỹ không những là vấn đề quan trọng mà còn cấp bách hiện nay Chúng ta cần GD cho các em biết chân lý, trọng lẽ phải, biết đánh giá và cảm thụ đúng đắn cái đẹp của con người, thiên nhiên, truyền thống dân tộc, đời sống xã hội, biết quí trọng giá trị văn hóa truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa của đất nước và thế giới, biết giá trị và mến yêu nghệ thuật dân tộc, biết sống khiêm tốn giản
dị lành mạnh, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của đất nước, của gia đình, của bản thân” [39]
Trang 30Nhu cầu đẩy mạnh GD toàn diện cho HS phổ thông hiện nay đang là vấn đề hết sức cấp thiết Mục tiêu của GD nghệ thuật ở bậc phổ thông là góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho HS, nhằm đào tạo những con người toàn diện phục vụ công cuộc xây dựng đất nước trong thời kì đổi mới Từ đó, yêu cầu đă ̣t ra là cần trang bi ̣, bổ sung kiến thức toàn diện cho HS, khắc phục tình trạng chỉ chú trọng dạy và học các môn để đi thi
Để làm tốt nhiê ̣m vu ̣ này, các cấp quản lý GD, ĐT cần khuyến khích,
mở rộng và nâng cao hoạt động GD toàn diện ở các trường phổ thông một cách thực chất Qua tiến hành nghiêm túc n hững hoạt động thanh tra và kiểm định chất lượng GD, có thể đưa ra các đánh giá đúng đắn về chất lượng GD toàn diện nói chung và chất lượng GD bô ̣ môn nghệ thuật nói riêng trong các nhà trường Kết quả đánh giá sẽ cung cấp thực tra ̣ng về chất lượng các môn học, xác định những điểm yếu cần khắc phục Cũng từ kết quả đó, đối chiếu với yêu cầu đổi mới GD trong bối cảnh mới, các trường phổ thông góp phần đưa ra những đòi hỏi, kiến nghị đối với các trường ĐH sư phạm và Cao đẳng
sư phạm có đào tạo GV nghệ thuật, để họ có sự điều chỉnh, cải tiến thích hợp
Và chỉ khi làm tốt công viê ̣c này, các cơ sở ĐT GV nghệ thuật mới có thể trang bị cập nhật cho SV của mình lượng kiến thức đầy đủ và cơ bản, dáp ứng nhu cầu của SV và xã hội
Việc phân bố thời gian trong chương trình GD phổ thông cần quan tâm thích đáng đến các mặt GD thể chất và thẩm mỹ Theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê, “ở nhà trường phổ thông, giáo dục thẩm mỹ không nên hiểu là giáo dục đặc biệt cho những học sinh có năng khiếu về một môn nghệ thuật nào đó (đã có trường năng khiếu đặc biệt đảm nhiệm), mà là giáo dục văn hóa thẩm mỹ chung cho tất cả mọi học sinh, giúp các em tiếp xúc, có khả năng cảm thụ cái đẹp và biết thưởng thức cái thẩm
mỹ trong cuộc sống hàng ngày, từ đó khơi gợi lòng ham mê, thích thú, tham gia vào quá trình sáng tạo nghệ thuật ở mức độ thể hiện văn hóa chung của con người” [47, tr.135] Thực tế ngày nay, hiện tượng HS học lệch khá phổ
Trang 31biến Các bộ môn Âm nhạc - Mỹ thuật, Hội họa…thường bị coi là môn phụ Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục toàn diện và nhân cách của HS Những hiê ̣n tượng như HS chỉ lo học các môn Toán, Văn, tiếng Anh , tập trung nhiều thời gian đầu tư cho những môn này và một số môn thi bắt buô ̣c khác là tình trạng phổ biến trong các trường phổ thông hiện nay Và đương nhiên, trong xu thế đó, các môn học về nghệ thuật như âm nhạc , hô ̣i ho ̣a không nằm trong sự quan tâm của đa số GV, HS và cả cán bộ quản lý của nhà trường Hiện nay có hiện tượng phổ biến là nhiều HS chỉ chạy theo các môn Toán, Lý, Hóa, Ngoại ngữ, Văn coi nhẹ các môn Âm nhạc , Mỹ thuật, Giáo dục công dân và các môn không thi khác những hình thức chuyển tải và giảng dạy hấp dẫn để các em học tốt những môn học khác Như vậy, việc giáo dục toàn diện về đa ̣o đức, văn hóa, thể chất, nghệ thuật là nhiê ̣m vu ̣ luôn cần được quan tâm Điều này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập của
HS ở các cấp tiếp theo và trong cuộc sống sau này
Giáo dục toàn diện cho HS cũng là nhiệm vụ chung của cả gia đình , nhà trường và xã hội Cơ quan quản lý nhà nước về GD từ cấp Bô ̣ đến các địa phương cũng như các trường cần tạo mọi điều kiện cho HS được giáo dục toàn diện Các tổ chức quần chúng như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Phụ nữ
và các thầy cô giáo cũng cần ủng hộ, giúp đỡ các em Trước hết , để làm gương, đội ngũ GV cần không ngừng học tập, rèn luyện, biến các ý tưởng và hoài bão của mình thành hiện thực; không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, để luôn luôn mang lại cho HS những giờ học hấp dẫn, thực tiễn và bổ ích Đặc biệt, với đă ̣c điểm tâm sinh lý lứa tuổi , các hoạt động ngoại khóa ngoài trời sẽ thu hút sự chú ý của nhiều HS tham gia Khai thác những yếu tố đó, sẽ hỗ trợ rất tích cực cho việc GD toàn diện cho HS, bồi dưỡng HS giỏi ở các lĩnh vực khác nhau, kích thích tinh thần thi đua học tập, phấn đấu của HS
Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở các trường, điều quan tro ̣ng là cần tạo ra không khí chan hòa, thân thiê ̣n giữa thầy cô và HS, làm sao để các HS kính trọng và yêu quí thầy cô, yêu bạn bè, yêu trường lớp, yêu môi trường, có
Trang 32lý tưởng và hoài bão; yêu thích tất cả những môn học vì đó là những kiến thức cần thiết tối thiểu để các em bước vào đời Gắn liền với đó , đòi hỏi các thầy cô phải có tâm, yêu thương HS , có lòng yêu nghề, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm, hấp dẫn HS trong từng tiết học Muốn ta ̣o thói quen cho HS tâ ̣p trung nghiêm túc trong giờ học tập, trước hết đòi hỏi các GV phải mẫu mực và làm gương cho các em, xây dựng
mô hình trường học thân thiện, HS tích cực
Hoạt động văn hóa, nghệ thuật sẽ luôn luôn song hành với cuộc đời của một con người từ lúc trẻ thơ cho đến lúc già lão, sẽ tạo điều kiện cho sự giao tiếp xã hội, làm cho cuộc sống thú vị, nâng cao chất lượng cuộc sống Giáo dục nghệ thuật, cung cấp cho HS một số năng lực nghệ thuật chính là giúp cho các em có thêm kỹ năng sống, tăng cường chất lượng cuộc sống cho HS
Đối với các bộ môn nghệ thuật , lứa tuổi của HS tiểu ho ̣c và THCS chính là giai đoạn thuận lợi để kích thích tính sáng tạo của các em, phát hiện những HS có năng khiếu để tiếp tục bồi dưỡng , trong khi vẫn đảm bảo mặt bằng đồng đều về kiến thức với các môn học khác Ngoài ra, để công tác GD toàn diê ̣n cho HS đạt kết quả cao, rất cần có sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Nhìn nhận ở tầm mức cao và xa hơn , nền
GD của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào cũng không chỉ hướng vào mục tiêu nâng cao dân trí mà quan tro ̣ng hơn, còn hướng tới quá trình phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, vì nhân tài là nguyên khí của mỗi quốc gia Với lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và khoa học công nghê ̣, viê ̣c phát hiê ̣n, nuôi dưỡng và sử dụng nhân tài luôn là công việc của cả người thầy và xã hô ̣i Những tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật vừa có vai trò nâng cao chất lượng cuộc sống trong nước, vừa nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
1.3.2.2 Nhu cầu phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới và hội nhập
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển của con người và văn hóa Việt Nam Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Văn Dân [21], đã có phân tích và nêu nhận định khái quát: “Các
Trang 33nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi của con người và văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, được chia thành hai nhóm: nhân tố bên trong và nhân tố toàn cầu hoá” Hai nhóm đó gồm:
(i) Nhóm các nhân tố bên trong, bao gồm: nhân tố chính trị - tác động của sự đổi mới hệ thống chính trị và sự đổi mới về quan hệ nhà nước - công dân đến con người và văn hoá Việt Nam hiện đại; và nhân tố giá trị văn hoá truyền thống - tác động tích cực và tiêu cực của các giá trị truyền thống trong các lĩnh vực đời sống, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo, đều có tác động rất lớn (ii) Nhóm các nhân tố toàn cầu hoá, bao gồm: nhân tố kinh
tế thị trường, công nghệ thông tin - truyền thông, nhân tố toàn cầu hoá văn hoá, văn hoá mạng, văn hóa môi trường và văn hóa hòa bình
Sau khi phân tích và nêu các ý kiến dự báo, tác giả Nguyễn văn Dân đã
đề xuất các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố nêu trên Có 6 giải pháp, đó là:
(i) Giải pháp về chính trị và tư tưởng để xây dựng con người và văn hoá Việt Nam tiên tiến;
(ii) Những giải pháp phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của các giá trị văn hoá truyền thống;
(iii) Một số giải pháp để tiếp thu văn hoá thế giới;
(iv) Giải pháp tiếp thu các nhân tố khoa học và công nghệ của thế giới; (v) Một số giải pháp GD phục vụ phát triển con người và văn hoá Việt Nam
(vi) Những ý kiến mới trong việc đề xuất các giải pháp đối với việc kế thừa văn hoá truyền thống, tiếp thu văn hoá thế giới, tiếp thu văn hoá khoa học của thế giới và đổi mới văn hoá giáo dục [21]
Trong thời kỳ đổi mới và hô ̣i nhâ ̣p quốc tế, vấn đề then chốt là giải quyết nhu cầu về phát triển văn hóa theo hướng nào Có thể khẳng định, phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới là một quy luật tất yếu, nhưng chắc chắn phải dựa trên cơ sở gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của cha
Trang 34ông ta để lại, tiếp thu tinh hoa văn hóa tiên tiến của các nước bạn bè quốc tế,
đề cao tinh thần “hòa nhập chứ không hòa tan” Theo đó, nhu cầu phát triển văn hóa bao gồm nhiều mặt và đương nhiên trong đó, lĩnh vực nghệ thuật cũng luôn được quan tâm hàng đầu; với các lĩnh vực nổi bật là sáng tạo và đào tạo âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế thời trang, thiết kề đồ họa, hội họa…
Tuy Việt Nam đã có một kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian và những giá trị về điêu khắc, nghệ thuật tạo hình, hội họa, vẽ tranh dân gian…nhưng vấn đề những giá trị văn hóa đó cần được tiếp tục được gìn giữ, khôi phục và phát huy như thế nào đang đă ̣t ra hàng loa ̣t câu hỏi Trong thời
đa ̣i thông tin toàn cầu hóa, có thể nói, hầu như hàng ngày, hàng giờ diễn ra sự
du nhập của nhiều luồng văn hóa từ nước ngoài vào Việt Nam Thái độ và trình độ tiếp nhận , ứng xử của mỗi người chúng ta như thế nào sẽ là yếu tố quyết đi ̣nh đến kết quả đổi mới của đất nước Tuy nhiên trong đổi mới, hội nhập và phát triển, chúng ta vẫn phải chấp nhận trong một chừng mức nào đó, văn hóa nước nhà nói chung và văn hóa trong học đường nói riêng , còn tồn đọng những yếu tố la ̣c hâ ̣u từ quá khứ v à những ảnh hưởng tiêu cực từ văn hóa bên ngoài Câu hỏi làm thế nào để khắc phục được tình trạng trên cần
đi tìm lời giải với sự phối hợp đồng bộ từ ít nhất cả ba phía : gia đình, nhà trường và xã hội Nếu như ngoài xã hô ̣i và trong m ỗi gia đình , không thể không nhắc đến vai trò và trách nhiệm của các nghệ sỹ sáng tác, các nghệ sỹ biểu diễn, thì trong nhà trường không thể không chú trọng đến vai trò “tấm gương” của đội ngũ GV giảng da ̣y các bô ̣ môn nghệ thuật ở bâ ̣c phổ thông và các giảng viên làm công tác ĐT sư phạm nghệ thuật ở các trường đại học và cao đẳng
Giáo dục nghệ thuật trong trường phổ thông chính là con đường hữu hiệu nhất để gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc Trong sứ mê ̣nh vinh quang
và nặng nề đó , những người làm công tác đào tạo GV nghệ thuật đang giữ
mô ̣t vai trò hết sức thiết yếu
Trang 351.4 Đặc điểm và những nhân tố tác động đến phát triển đào tạo sƣ phạm nghệ thuật
1.4.1 Đặc điểm của đào tạo sư phạm nghệ thuật
Khác với đào tạo GV sư phạm nói chung, ĐT sư phạm nghệ thuật có những đặc thù riêng Từ khâu tuyển sinh đầu vào, các trường ĐT sư phạm nghệ thuật luôn có khâu sơ tuyển và có môn thi năng khiếu, điểm của môn năng khiếu được tính nhân hệ số 2 Trong quá trình ĐT, số giờ thực hành luôn nhiều hơn giờ học lý thuyết; thời gian SV đi kiến tập, thực tập nhiều hơn 4-6 tuần; khi thi tốt nghiệp điểm thực hành vẫn được coi trọng hơn; trang thiết bị học tập như đàn Piano, đàn Ooc-gan, phòng học cách âm, phòng vẽ…đòi hỏi đầu tư kinh phí lớn; thầy và trò ít nhiều đều có tính nghệ sĩ… Xem xét một số đặc điểm cụ thể về các mặt
1.4.1.1 Đặc điểm về mục tiêu, yêu cầu đào tạo
- Hiê ̣n nay, đối với HS các cấp từ mầm non, tiểu học đến THCS, bộ môn nghệ thuật (âm nhạc, mỹ thuật), chủ yếu nhằm trang bị và nâng cao trình
độ thẩm mỹ, đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện về đức - trí - thể - mỹ cho
HS, chưa đặt mục tiêu đưa những môn học này vào nhóm các môn thi bắt buộc Trong khi đó, bản thân việc dạy và học các môn nghệ thuật, xét cả về tinh thần (năng khiếu) và vật chất (trang bị phòng học, nhạc cụ ), đều có yêu cầu khác biệt cần quan tâm hơn so với việc dạy-học các bộ môn khác Hai yếu tố thực tế trên đã ảnh hưởng không thuận đến sự phát triển của ngành ĐT
GV nghệ thuật
- Từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, vấn đề GD văn hóa nghệ thuật cho HS đã được các cấp, cách ngành quan tâm mô ̣t cách thiết thực, cụ thể hơn Trong các nhà trường, viêc làm sao để có một hệ thống giáo trình giảng dạy các môn nghệ thuật đảm bảo thật khoa học và phù hợp với khả năng tiếp thu của HS, vẫn là vấn đề nan giải Nhiều cơ sở ĐT đã thông qua những cuộc khảo sát, đánh giá về thực trạng và những vấn đề khó khăn, gây ảnh hưởng tới chất lượng GD các bộ môn nghệ thuật (âm nhạc, mỹ
Trang 36thuật), đề ra biện pháp cải tiến, điều chỉnh phương pháp giảng dạy cũng như
có những đầu tư thích đáng về cơ sở vật chất cho viê ̣c da ̣y và ho ̣c các bô ̣ môn
đă ̣c thù này Bộ GD và ĐT cũng đã tạo nhiều điều kiện để các trường học chủ động xây dựng kế hoạch cải tiến hoạt động GD trong nhà trường, khuyến khích những cải tiến, sáng tạo mới trong phương pháp giảng dạy, để nâng cao hiê ̣u quả GD của nhà trường Không khí ca ̣nh tranh lành ma ̣nh trong ĐT đã xuất hiê ̣n và đang ngày càng được xã hội đón nhận ; từ đó, kết quả cao của
mô ̣t số nhà trường hay cơ sở ĐT đã thu hút được sự chú ý của ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân Phong trào xây dựng ngày càng nhiều tên tuổi của mô ̣t số nhà trường hiê ̣n nay, nhất là ta ̣i các thành phố của Viê ̣t Nam, chính là quá trình tạo ra những “thương hiệu” GD - mô ̣t hiê ̣n tượng mới, tích cực trong đổi mới GD và ĐT ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, mà đặc biệt trong đó, việc dạy và học các môn nghệ thuật chiếm vai trò tương đối nổi bật
- Ngành sư phạm nghệ thuật với đặc thù của mình , đã góp phần không nhỏ trong việc đào tạo ra những thế hệ giảng viên, GV cống hiến nhiều cho đất nước thời kỳ đổi mới Ánh sáng văn hóa của Đảng và của chế độ XHCN đang chiếu ro ̣i ngày càng xa trên khắp mọi vùng miền cả nước ĐT sư phạm nghệ thuật với những khả năng riêng của mình , đã ĐT được hàng ngàn GV giảng dạy các bộ môn nghệ thuật cho các trường tiểu ho ̣c , THCS, các trường
sư phạm trên cả nước [76] Mô ̣t ưu điểm cần nhấn ma ̣nh là , nếu như ở môi trường ĐT nghê ̣ thuâ ̣t chuyên nghiệp phải cần tới hàng chục năm (từ sơ cấp, trung cấp đến đại học) mới ĐT được những giảng viên âm nhạc, những ho ̣a sĩ chuyên ngành , thì ở các trường ĐH sư phạm, cao đẳng sư phạm, chỉ cần trong khoảng thời gian 3-4 năm đã có thể ĐT được một khóa GV ra dạy các
bô ̣ môn nghê ̣ thuâ ̣t (âm nhạc, mỹ thuật ) và đóng góp nhiều cho các phong trào văn hóa Vấn đề thời gian ĐT này trong nghệ thuật tất yếu có liên quan đến chất lượng chuyên môn Với nhiều chuyên ngành khác, rõ ràng không thể đòi hỏi người ho ̣c trong khoảng thời gian chỉ 3-4 năm đa ̣t trình đô ̣ chuyên sâu được Trong chương trình quy định tại trường, các SV nghệ thuật được học
Trang 37nhiều môn, ngoài các bộ môn chuyên ngành và phục vụ cho nghiệp vụ sư phạm, còn các môn bổ trợ bắt buô ̣c khác Mục tiêu hạn chế trong ĐT giai đoa ̣n này là đ ể SV sau khi ra trường có kiến thức cơ bản về âm nhạc - mỹ thuật, có thể tiếp tục công tác giảng dạy ở các trường phổ thông, hoặc tiếp tục nâng cao trình độ trong các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp khác, không đặt
ra mục tiêu trở thành những người chuyên sáng tác hay phê bình trong giới nghệ thuật Vì vậy, vẫn còn có một thực tế là, không ít SV sau khi ra trường vẫn chưa đủ khả năng về chuyên môn để có thể đứng trên bục giảng Nguyên nhân đơn giản đã đề cập ở trên, là do trong một thời gian ngắn, SV được ĐT nhiều bộ môn với thời lượng và số lượng tiết học chuyên môn (âm nhạc, mỹ thuật) còn quá ít, cho nên không thể có đủ một nền kiến thức vững vàng về chuyên môn nghê ̣ thuâ ̣t Tuy có lý do đặc thù đó, các cơ sở đào tạo GV nghệ thuật vẫn đang phải cố gắng cân đối để đảm bảo cả hai nhiệm vụ về chất lượng chuyên ngành nghệ thuật và nghiệp vụ sư phạm cho SV
- Mục tiêu và yêu cầu đào tạo GV nghệ thuật có đủ năng lực chuyên môn và kỹ năng sư phạm để thực hiện giảng dạy nghệ thuật luôn là sự kết hợp hài hòa để trang bị kiến thức toàn diện cho học sinh, SV về đức - trí - thể
- mỹ Công tác ĐT của các trường sư phạm nghệ thuật vì thế không chỉ chú trọng vào phương pháp giảng dạy kiến thức văn hóa và nâng cao thẩm mỹ nghệ thuật cho SV qua các giờ học chính khóa, mà còn cần mở rộng hơn nữa các hoạt động ngoại khóa và đi thực tế Đây là hình thức cuốn hút sự tham gia của đông đảo GV, SV để tăng thêm trải nghiê ̣m thực tiễn sau những bài học lý thuyết trong lớp học
- Nghệ thuật là luôn đổi mới Yêu cầu của ĐT sư phạm nghệ thuật cũng luôn đề cao việc thường xuyên cập nhật đổi mới về hình thức, nội dung, phương pháp dạy và học Giảng viên cần có những ý kiến phản hồi từ phía
SV để kịp thời điều chỉnh việc giảng dạy sao cho hấp dẫn và hiệu quả hơn
Trang 381.4.1.2 Đặc điểm về nội dung đào tạo
- Các trường sư phạm nghệ thuật có những yêu cầu khác biệt so với các trường sư phạm khác không chỉ ở hình thức và phương pháp da ̣y - học, mà còn cả về nội dung đào tạo Ngoài yêu cầu hoàn thành nội dung cơ bản do chương trình quy đi ̣nh Bô ̣ GD và ĐT, SV cần được đă ̣c biê ̣t chú ý tăng cường kiến thức, kĩ năng hoạt động tập thể, kĩ năng công tác Đoàn, Đội, tổ chức hoạt động ngoại khóa, tham gia các phong trào xã hội
Do đó, từ phía nhà trường cũng như các giảng viên cần sớm đưa kế hoạch tổ chức các hoạt động như trên vào nội dung công tác của đơn vi ̣, có thể dưới da ̣ng lâ ̣p kế hoa ̣ch nhóm và kế hoa ̣ch chung để có sự chuẩn bi ̣ về tinh thần, thời gian và vâ ̣t chất Các tổ chức chính trị- xã hội trong trường với danh nghĩa Đảng ủy , Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Phụ nữ đứng ra động viên, khuyến khích và tạo điều kiện để SV có thể tham gia các chương trình nghệ thuật hướng tới những ngày lễ trọng đại - mà gần như tháng nào cũng
có - như ngày thành lập Đảng 3/2, Quốc tế phụ nữ 8/3; ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3; ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam 30/4, ngày Quốc tế lao động 1/5; ngày sinh nhật Bác 19/5, các ngày 2/9, 20/10, 20/11, 22/12 v.v…
Với mỗi sự kiện, lãnh đạo và các giảng viên cần hướng dẫn SV xây dựng chương trình nghệ thuâ ̣t theo chủ đề phù hợp với các chuyên ngành nghệ thuật như biểu diễn âm nhạc, ca múa, diễn kịch, trưng bày, triển lãm tranh, giới thiệu các tác phẩm mỹ thuật của giảng viên và SV; mỗi hoa ̣t đô ̣ng cần có Ban giám khảo chấm điể m và trao giải để đô ̣ng viên tinh thần thi đua Thông qua những hoạt động nghệ thuật trong trường và giữa các đơn vị như
vâ ̣y, sẽ thu hút đông đảo SV tham gia, vừa ta ̣o cho các em cơ hô ̣i thể hiê ̣n và giao lưu, vừa góp phần tạo không khí, môi trường sinh hoạt lành mạnh và có
ý nghĩa Từ góc đô ̣ quản lý , khi nhà trường tổ chức mở rộng phạm vi hoạt động cho SV bằng các chương trình giao lưu nghệ thuật giữa các đơn vi ̣ trong trường, hay phối hợp với các cơ sở đào tạo văn hóa nghê ̣ thuâ ̣t khác,
Trang 39không những SV có cơ hội thi đua giành giải thưởng hay trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau , mà điều quan trọng hơn là , qua mỗi hoa ̣t đô ̣ng , lãnh đạo và giảng viên có thể tiến hành tổng kết , rút kinh nghiệm tập thể để đánh giá công tác chuẩn bi ̣ , ý thức và hiệu quả tham gia của từng cá nhân , từng tổ nhóm, nhâ ̣n xét đánh giá các kết quả và thiếu sót để SV có kiến thức
và trải nghiê ̣m về tổ chức hoa ̣t đô ̣ng , rất bổ ích cho các em sau khi ra trường Đào ta ̣o GV nghệ thuật không thể tách rời các hoa ̣t đô ̣ng tâ ̣p thể Tổ chức Đoàn Thanh niên của các k hoa nghê ̣ thuâ ̣t ở các trường ĐH sư phạm, Cao đẳng sư phạm, có thể làm nòng cốt để thành lập “Đội văn hóa nghệ thuật xung kích”, thu hút sự tham gia của đông đảo SV trong toàn trường; xây dựng các chương trình biểu diện văn nghê ̣ và trưng bày các tác phẩm nghệ thuật trong di ̣p khai giảng , chào đón SV mới hay các kỳ tổng kết, bế giảng, trao bằng tốt nghiệp Hình thức lâ ̣p “Câu la ̣c bô ̣ nghê ̣ thuâ ̣t” có thể thu hút nhiều thanh niên, SV đến với các buổi sinh hoa ̣t đi ̣nh kỳ, tự nguyê ̣n tham gia nhiều nô ̣i dung bổ ích , như mô ̣t loa ̣i hình sân chơi vừa giúp tăng cường sự hiểu biết vừa có cơ hô ̣i giao lưu, thể hiê ̣n khả năng sáng ta ̣o của các SV Mỗi khi có các phong trào, chiến di ̣ch do Đoàn Thanh niên phát đô ̣ng, như “Phong trào SV tình nguyện”, hay “Chiến dịch mùa hè xanh” , các cơ sở đào tạo GV nghệ thuật hơn ai hết, cần nhâ ̣n thức rõ trách nhiê ̣m và mức đô ̣ ủng hô ̣, tham gia của mình Viê ̣c sáng tác, biểu diễn những bài hát, tiết mu ̣c diễn xuất tiểu phẩm hay các bức tranh vẽ , pa nô áp phích quảng cáo -vốn là sở trường của
SV các trường sư phạm nghệ thuật- chắc chắn sẽ góp phần tích cực làm cho phong trào sôi nổi, náo nhiệt và sống động hẳn lên
Thông qua tổ chức , tham gia các hoạt động lớn của SV như Hội thi
“Nghiệp vụ sư phạm - Văn nghệ - Thể thao” toàn quốc giữa các trường sư phạm do Bộ GD và ĐT tạo tổ chức; Hội thi: “Tiếng hát SV” ; Triển lãm tranh
SV toàn quốc…lãnh đa ̣o và giảng viên nghê ̣ thuâ ̣t có thêm cơ hô ̣i để phát hiê ̣n các SV có năng khiếu, có triển vọng về nghệ thuật, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng, tạo nguồn cho cơ sở và xã hô ̣i
Trang 40- Yêu cầu đặc thù về nội dung đào tạo trong giáo dục sư phạm nghệ thuật, ngoài việc giáo dục toàn diện cho SV, điều then chốt là bồi dưỡng và nâng cao năng lực thẩm mỹ cho SV, để các em biết thể hiện những khát khao
và sáng tạo, mang cái đẹp đến cho cộng đồng, xã hội Từ lao động trong nghệ thuật sẽ làm ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị để góp phần làm cho cuộc sống thêm thi vị và thêm hài hòa Chỉ khi SV nhâ ̣n biết được giá trị của lao động nghệ thuật, thì các em mới biết yêu cái đẹp, biết rung cảm trước cái đẹp, để từ đó có những cảm xúc và sự khát khao trong sáng tạo nghệ thuật Đáp ứng yêu cầu này , bên cạnh trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, các giảng viên nghệ thuật cần phải hiểu rõ và đáp ứng thích đáng về các mặt cho đối tượng của mình - tức là các SV- trong thời đại ngày nay đang nghĩ
gì, đang cần gì, và đang mong muốn điều gì, khả năng tiếp thu bài giảng tới đâu.v v
- Nội dung trong đào tạo GV nghệ thuật cũng đòi hỏi tính hệ thống, tính nhất quán, tính logic và tính liên tục Viê ̣c đào tạo toàn diện cho SV ở những năm học thứ 2, thứ 3 (trong chương trình 4 năm) đã được nâng cao, chú trọng phát huy tăng cường kiến thức và thẩm mỹ trong nghệ thuật Từ năm thứ 3 và năm thứ 4, các SV có thể và cần được học những bài giảng mang tính mở rộng sang các lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, mang tính đặc trưng của các vùng miền trong nước và nước ngoài, cũng như các chuyên ngành văn hóa, khoa học tự nhiên, triết học… đặc biệt là bộ môn mỹ học Điều cần đặc biệt chú ý là, nội dung bài học chuyên ngành ở 2 năm cuối của chương trình phải được giảng dạy theo giáo án mang tính hệ thống và mang tính thực tiễn, phù hợp với môi trường sư phạm và yêu cầu của thực tiễn xã hội Về phương pháp giảng dạy cũng cần đảm bảo phù hợp chung với sự tiếp thu và thẩm mỹ của SV
1.4.1.3.Đặc điểm về phát triển mạng lưới trường sư phạm nghệ thuật
Hệ thống trường sư phạm nghệ thuật ở nước ta mấy năm gần đây đang
mở rộng quy mô và hình thức ĐT theo hướng kết hợp đa ngành, như kết hợp