Giải quyết những mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học của xã hội và thực tiễn quản lý dạy học còn nhiều bất cập hiện nay, cần phải nghiên cứu các biện pháp quản lý dạy học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐÌNH DƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Hội đồng Khoa học chuyên ngành Quản lý giáo dục Trường Đại học giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng phòng Đào tạo, Khoa sau Đại học nhà trường, các thầy cô giáo đã giúp đỡ tận tình trong công tác giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt hoạt động học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và cán
bộ, nhân viên Trường trung học phổ thông Bất Bạt – Huyện Ba Vì đã tích cực ủng hộ, cộng tác nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong hoạt động điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
Xin vô cùng cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả trong hoạt động học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc
tới GS.TS Nguyễn Hữu Châu - người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn,
giúp đỡ, chỉ bảo ân cần cho tác giả trong hoạt động nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo trong Hội đồng khoa học, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Đình Dương
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BGD & ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
CSTĐ Chiến sĩ thi đua
CSVC - TBDH Cơ sở vật chất - Thiết bị dạy học
GV - HS Giáo viên - Học sinh
HT TCDH Hình thức tổ chức dạy học
KT - ĐG Kiểm tra - đánh giá
LĐTT Lao động tiên tiến
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục từ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Những khái niệm cơ bản 6
1.2.1 Những khái niệm liên quan đến lĩnh vực quản lý 6
1.2.2 Những khái niệm liên quan đến hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học 11
1.2.3 Những khái niệm liên quan đến quản lý chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục 15
1.3 Các đặc điểm cơ bản của quản lý chất lượng 21
1.4 Các cấp độ trong quản lý chất lượng 22
1.5 Các mô hình quản lý chất lượng 24
1.5.1 Mô hình kiểm soát chất lượng 24
1.5.2 Mô hình đảm bảo chất lượng 24
1.5.3 Mô hình quản lý chất lương tổng thể 25
1.6 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT 26
1.6.1 Những đặc trưng cơ bản của bộ môn Toán 26
1.6.2 Đặc thù của hoạt động dạy học môn Toán học ở trường THPT 27
1.6.3 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán học ở trường THPT 27
1.7 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán tiếp cận đảm bảo chất lượng 30
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT 33
Trang 62.1 Phương pháp luận nghiên cứu thực trạng 33
2.2 Thực trạng phát triển của trường THPT Bất Bạt 33
2.2.1 Quy mô phát triển trường lớp 33
2.2.2 Chất lượng giáo dục của nhà trường 34
2.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý 37
2.2.4 Đội ngũ giáo viên 38
2.2.5 Cơ sở vật chất 40
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt 40
2.3.1 Thực trạng hoạt động dạy của giáo viên bộ môn Toán 40
2.3.2 Thực trạng hoạt động học môn Toán của học sinh 45
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt 49
2.4.1 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên bộ môn Toán 49
2.4.2 Quản lý hoạt động học của học sinh 58
2.5 Đánh giá chung công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt 60
2.5.1 Ưu điểm 60
2.5.2 Hạn chế 62
2.5.3 Nguyên nhân 62
Kết luận chương 2 64
CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 65
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.1.1 Đảm bảo tính đồng bộ 65
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 65
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 66
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt66 3.2.1 Nhóm biện pháp quản lý hoạt động dạy Toán của đội ngũ giáo viên 66
Trang 73.2.2 Nhóm biện pháp quản lý hoạt động học môn Toán của học sinh 84
3.2.3 Nhóm biện pháp về đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học môn Toán 91
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lớp và số học sinh của nhà trường theo năm học 34
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại 2 mặt của HS và kết quả tốt nghiệp của nhà trường 3 năm gần đây 35
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số liệu HS trúng tuyển Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp từ năm 2012 đến năm 2014 36
Bảng 2.4: KQ thanh tra CM theo định kỳ của trường THPT Bất Bạt 38
Bảng 2.5: Kết quả thanh tra chuyên môn theo định kỳ của trường THPT Bất Bạt (môn Toán) 39
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động giảng dạy môn Toán của GV 41
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng PP và HTTCDH môn Toán 44
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát về mức độ thực hiện các HĐHT môn Toán 48
Bảng 2.9: Kết quả khảo sát học tập của HS năm học 2013 – 2014 49
Bảng 2.10: Thực trạng quản lý hoạt động lập kế hoạch của GV 50
Bảng 2.11: Thực trạng QL nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của GV51 Bảng 2.12: Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy của GV Toán 52
Bảng 2.13: Thực trạng quản lý hoạt động cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy của GV Toán 53
Bảng 2.14: Thực trạng QL hoạt động KT - ĐG kết quả học tập của HS 55
Bảng 2.15: Thực trạng quản lý thực hiện quy định hồ sơ chuyên môn của GV 57
Bảng 2.16: Thực trạng QL hoạt động học tập của HS môn Toán 58
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý 94
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo luôn được coi là động lực để phát triển kinh tế xã hội, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện nhằm đào tạo ra những con người "vừa hồng, vừa chuyên", vừa có phẩm chất vừa có năng lực Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện đường lối phát triển giáo dục trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Trước yêu cầu đổi mới của đất nước, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng
đã có Nghị quyết số 29-NQ/TƯ ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Nghị quyết T.Ư8 đã nêu rất rõ các mục đích, chỉ tiêu cụ thể, đặc biệt đưa
ra 7 quan điểm lớn định hướng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam và 9 nhóm giải pháp, trong đó giải pháp mang tính đột phá là nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và đổi mới công tác quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Công tác quản lý giáo dục ở các trường phổ thông trong những năm qua đã bộc lộ những mặt yếu kém, bất cập do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là trình độ quản lý chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển của xã hội; chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý trong nhà trường
Giải quyết những mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học của xã hội và thực tiễn quản lý dạy học còn nhiều bất cập hiện nay, cần phải nghiên cứu các biện pháp quản lý dạy học ở trường phổ thông theo tiếp cận quản
lý chất lượng để giúp cho nhà trường thực thi tốt hơn trong hoạt động dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường, đây là một vấn đề mới, mang tính cấp thiết và khả thi
Xuất phát từ những lý do trên, học viên lựa chọn nghiên cứu vấn đề:
Trang 10“Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất tiếp cận đảm bảo chất lượng” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt – Huyện Ba
Vì – Thành phố Hà Nội tiếp cận đảm bảo chất lượng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý chất lượng và khả năng vận dụng vào
quản lý hoạt động dạy học
3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở
trường THPT Bất Bạt – Huyện Ba Vì – TP Hà Nội tiếp cận đảm bảo chất lượng
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường
THPT Bất Bạt tiếp cận đảm bảo chất lượng trong giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông Bất Bạt
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt tiếp cận đảm bảo chất lượng
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Những đặc trưng cơ bản của quản lý chất lượng như một phương thức quản lý là gì?
- Hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT diễn ra như thế nào? Có thể vận dụng phương thức QL đảm bảo chất lượng để quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT được không?
- Cần có những biện pháp quản lí nào để có thể áp dụng phương thức QL đảm bảo chất lượng vào quản lí hoạt động dạy học môn Toán?
6 Giả thuyết khoa học
Quản lý dạy học ở trường THPT Bất Bạt, trong đó có hoạt động dạy học
Trang 11môn Toán, hiện nay còn nhiều bất cập, chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếp cận đảm bảo chất lượng
như: Xây dựng kế hoạch và qui trình dạy học với các chuẩn chất lượng; Nâng cao chất lượng đội ngũ; cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; đổi mới công tác kiểm tra đánh giá; hình thành công cụ kiểm tra, đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng một cách đồng bộ và có hệ thống
sẽ nâng cao được chất lượng dạy học môn Toán trong nhà trường
7 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt – Huyện Ba Vì – TP Hà Nội
- Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn là số liệu của trường giai đoạn từ năm 2010 đến nay
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận triển khai đề tài
Tư tưởng khoa học chủ yếu xuyên suốt đề tài là sự kết hợp tiếp cận hệ
thống và tiếp cận QL đảm bảo CL
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để phân loại, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan có liên quan đến đề tài
8.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp: điều tra giáo dục, nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia để khảo sát và đánh giá thực trạng
Sử dụng phương pháp phỏng vấn, thử nghiệm để kiểm chứng tính khả thi
và hiệu quả của các biện pháp đề xuất
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng thống kê toán học để bổ trợ, bổ sung việc xử lý số liệu về khảo sát thực trạng và kết quả nghiên cứu
Trang 129 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về dạy học, những vấn đề cơ
bản về QLCL; Cụ thể hóa việc áp dụng QL đảm bảo CL trong trường THPT Bất Bạt; Xây dựng được mô hình quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt theo tiếp cận đảm bảo chất lượng Mô hình này sẽ góp phần tích cực vào tri thức lý luận trong đổi mới quản lý dạy học của nhà trường
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Phân tích và đánh giá chung về thực trạng quản lý dạy học ở các trường
THPT và nêu một số tồn tại của QL hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt
Đề xuất được các nhóm biện pháp QL đảm bảo CL trong dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt Các nhóm biện pháp này áp dụng trong thực tiễn
sẽ góp phần đổi mới cung cách quản lý ở trường THPT Bất Bạt hiện nay, giúp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán của nhà trường và qua đó giúp nhân rộng kinh nghiệm quản lý cho các cơ sở, trường THPT khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT tiếp cận đảm bảo chất lượng ở trường THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt tiếp cận đảm bảo chất lượng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt theo tiếp cận đảm bảo chất lượng
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TOÁN TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Quản lý chất lượng trong giáo dục ở Việt Nam là một vấn đề đã được nhiều tác giả quan tâm và dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu Các tác giả đã phân tích và chọn lọc một số tiếp cận có thể vận dụng vào trong quản lý giáo dục như: tiếp cận hệ thống, tiếp cận văn hóa tổ chức, tiếp cận quản lý chất lượng theo ISO, tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), tiếp cận các yếu tố tạo thành chất lượng đối với một cơ sở giáo dục (theo mô hình CIPO) Các tiếp cận này sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý nhà trường nâng cao trình
độ và năng lực của mình để ứng dụng một cách năng động trong quản lý tại các
cơ sở giáo dục
Đặc biệt, những năm gần đây dưới sự hướng dẫn của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, đã có rất nhiều thạc sĩ chuyên ngành QLGD - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội lựa chọn vấn đề quản lý chất lượng một cơ sở giáo dục theo các tiêu chuẩn chất lượng và cũng nhiều tác giả lựa chọn vấn đề quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trường làm đề tài luận văn tốt nghiệp Song việc nghiên cứu áp dụng những lý luận về quản lý chất lượng vào quản lý hoạt động dạy học một môn học cụ thể còn chưa được nhiều tác giả
đề cập đến Xác định được tầm quan trọng của việc QL hoạt động DH trong nhà trường là vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường và vận dụng các kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học chuyên ngành QLGD ở trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả sẽ dựa vào cơ sở lý luận của công tác quản lý chất lượng và quản lý hoạt động dạy học, để tìm hiểu thực trạng của QL hoạt động DH môn Toán và chỉ ra một số biện pháp QL hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT Bất Bạt – Thành phố Hà Nội tiếp cận đảm bảo chất lượng
Trang 141.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Những khái niệm liên quan đến lĩnh vực quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một trong những loại hình quan trọng và lâu đời nhất của con người, nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của con người Quản lý là hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia và trong mọi thời đại Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
Tác giả của “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý, Frederik Winslon Taylo
(1856 - 1915), người Mỹ được coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” đã
thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và đều phải quản lý chặt chẽ”; “Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [20,Tr.15,17,18 ]
K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [21,Tr.108]
H.Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự
phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22,Tr.33]
Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn
Thị Mỹ Lộc cho rằng: Hoạt động quản lý là “Tác động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản
Trang 15lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức” [21, Tr.1].
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [8, Tr.38].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý nhằm
làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới”
Quản lý = Quản + Lý, trong đó:
- Quản là chăm sóc gìn giữ sự ổn định
- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới, phát triển
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định thì tất yếu dẫn đến rối ren Vậy, Quản lý = ổn định + phát triển [6 Tr.2]
Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận về quản lý, song các định nghĩa đều
đề cập tới bản chất chung của hoạt động quản lý đó là:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý
- Quản lý xét đến cùng, bao giờ cũng là quản lý con người
- Quản lý vừa là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật khách quan
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm
lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có hiệu quả Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyên tắc nào cho tình
Trang 16huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn, nghệ thuật ứng xử, giao tiếp, khả năng thuyết phục, cảm hóa của nhà quản lý Vì vậy, trong quản lý không thể tuân thủ theo những nguyên tắc, quy định cứng nhắc mà phải xử lý tình huống linh hoạt, mềm dẻo
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của con người Hiểu theo nghĩa tổng quan, QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QLGD:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các HĐDH, có tổ chức
được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới QL được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [26,tr.9]
Trong cuốn sách giáo dục học, tác giả Phạm Viết Vƣợng đã viết: “Mục
đích cuối cùng của QLGD là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu
vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội.” [27, tr.206]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể QL với khách thể QL nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [2, tr.50]
Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa về QLGD, nhưng bản chất của QLGD là quá trình tác động có tính định hướng của chủ thể QL lên các thành tố tham gia
Trang 17vào quá trình hoạt động giáo dục nhăm tực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục Các thành tố đó là mục tiêu giảng dạy, nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy, lực lượng giáo dục, đối tượng giáo dục, phương tiện giáo dục
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
* Nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Nhà trường là
một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển xã hội” [22, tr.3]
Tại khoản 2, điều 48, Luật giáo dục 2005 đã khẳng định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục.” [1, tr.15]
Như vây, nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội
là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là cơ quan giáo dục chuyên biệt,
có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo bài bản về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục, mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại
* Quản lý nhà trường
Nhà trường là tổ chức cơ sở của các cấp QLGD, cho nên QL nhà trường
là nội dung quan trọng trong QLGD Có nhiều tác giả quan niệm về QL nhà trường, cụ thể:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [26, tr.61]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL trường là tập hợp những tác động tối
ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản
lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận dụng nguồn lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp, và do lao động xây dựng vốn
Trang 18tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, và tiêu điểm hội
tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới” [19, tr28]
Trong QL và thực tiễn khẳng định, QL nhà trường gồm hai loại:
- QL các chủ thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng và tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển
- QL các chủ thể bên trong nhà trường nhằm cụ thể hóa các chủ trưởng đường lối, chính sách giáo dục thành các kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để đưa nhà trường đạt các mục tiêu đề ra
Tóm lại, QLGD trong nhà trường chính là QL các thành tố của quá trình dạy học, muốn thực hiện hiệu quả công tác giáo dục, người QL phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc cải tiến công tác QLGD, QL nhà trường Người quản lý nhà trường phải bao quát 10 vấn
đề trong kế hoạch phát triển nhà trường:
Sơ đồ: Quản lý các thành tố quá trình dạy học
M: Mục tiêu đào tạo H: Hình thức đào tạo
N: Nội dung đào tạo Đ: Điều kiện đào tạo
P: Phương pháp đào tạo Mô: Môi trường đào tạo
Th: Thày- lực lượng đào tạo Bô: Bộ máy đào tạo
Tr: Trò- Đối tượng đào tạo Qi: Quy chế đào tạo
Trang 19QLNT thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Đó là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước QLNT là QL: chương trình dạy học và giáo dục của nhà trường, QL các hoạt động của HS, QL giáo viên, phát triển nghề nghiệp của người thầy, QL
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, thư viện nhà trường, đảm bảo cho nhà trường thực hiện được sứ mạng cao cả của mình
1.2.1.4 Quản lý trường THPT
Trường THPT là cấp học cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông gồm
3 năm học, là cấp học hoàn thiện kiến thức phổ thông cho HS, cấp học tạo nguồn lực cho các yêu cầu đào tạo của xã hội, đồng thời chuẩn bị tích cực cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất Vì vây, trường THPT có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện với những yêu cầu riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ của cấp học Nhiệm vụ, quyền hạn của trường THPT được quy định tại Điều 3, Điều lệ trường Trung học (Ban hành kèm theo Quyết định 07/2007/QĐ – BGD & ĐT, ngày 02 tháng
04 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
QL trường THPT Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL nhà trường là QL hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa được hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [19, tr.34]
1.2.2 Những khái niệm liên quan đến hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
1.2.2.1 Hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm, nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân và nhóm xã hội, hoạt động có những đặc điểm sau:
- Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng
- Con người là chủ thể của hoạt động
Trang 20- Hoạt động được thực hiện trong những điều kiện lịch sử-xã hội nhất định
- Hoạt động có sử dụng phương tiện, công cụ để tác động vào đối tượng
1.2.2.2 Hoạt động dạy học
* Hoạt động dạy học:
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục Dạy học là hoạt động phối
hợp của hai chủ thể (giáo viên và học sinh) Theo tác giả Phạm Minh Hạc:
“Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất
và năng lực cá nhân” [26, tr.8]
Hoạt động dạy học là quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh Hai hoạt động đó gắn bó mật thiết với nhau, dạy và học là những mục đích tự thân đặc trưng Nếu học nhằm vào việc chủ động chiếm lĩnh khoa học thì dạy lại có mục đích điều khiển sự học tập
* Hoạt động dạy:
Hoạt động dạy là hoạt động truyền thụ với nghĩa là tổ chức hoạt động học
mà kết quả là học sinh lĩnh hội được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ, hoạt động này bao gồm cả khâu kiểm tra việc tiến hành và kết quả của hoạt động học của người học [26, tr.192]
Dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau, đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học Người giáo viên là người truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh, giúp học sinh nắm được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ
* Hoạt đông học:
Là hoạt động của người học, nhằm lĩnh hội nội dung kinh nghiệm xã hội
Đó là lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thài độ nhất định Theo
Đ.B.Encônin: “Hoạt động học, trước hết là hoạt động mà nhờ nó diễn ra sự
thay đổi trong bản thân học sinh Đó là hoạt động nhằm tự biến đổi mà sản
Trang 21phẩm của nó là những biến đổi diễn biến ra trong chính bản thân chủ thể trong quá trình nhận thức nó” [24, tr.198]
Bản chất HĐHT là quá trình người học tiếp thu những thông tin dưới sự điều khiển, hướng dẫn của GV, nhằm làm biến đổi bản thân, nâng cao giá trị, từ
đó hoàn thiện nhân cách của mình Muốn vậy, người học phải xác định rõ mục đích, động cơ học tập, có sự say mê, tích cực, tiếp thu một cách tự giác, sáng tạo những thông tin đó với kinh nghiệm riêng của bản thân
Như vậy, hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, không tách rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học phải thông minh, sáng tạo, kết quả hoạt động học của
HS phản ánh kết quả hoạt động dạy của GV và chúng không tách rời nhau Vì vây, dạy và học là hai hoạt động tồn tại song song cùng nhau phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, luôn bổ sung nhau, chế ước lẫn nhau và là đối tượng tác động chủ yếu cho nhau, nhằm kích thích động lực bên trong mỗi chủ thể để cùng nhau phát triển
Tóm lại, hoạt động dạy học có ưu thế tuyệt đối trong việc hình thành tri thức, phát triển năng lực tư duy thông qua việc dạy các môn học cơ bản, đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện Hoạt động dạy học bao gồm toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của giáo viên, việc học tập, rèn luyện của
HS theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm đạo tạo thế hệ trẻ thành những người làm chủ đất nước, có văn hóa, có sức khỏe, có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa
để đáp ứng nhu cầu xây dựng xã hội mới
1.2.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
* Quản lý hoạt động giảng dạy của GV
Quản lý hoạt động giảng dạy, thực chất là quản lý nhiệm vụ của đội ngũ
GV GV truyền đạt những kiến thức, kỹ năng và những giá trị về tư tưởng, phẩm chất cần được trang bị cho HS Đồng thời, GV có nhiệm vụ phải học tập, rèn
Trang 22luyện, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao chất lượng dạy học Quản lý hoạt động dạy học của GV bao gồm:
- Quản lý việc lập kế hoạch công tác của GV
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của GV
- Quản lý nhiệm vụ vận dụng và cải tiến phương pháp giảng dạy
- Quản lý việc KT – ĐG kết quả học tập của HS
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
- Quản lý hoạt động bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của GV
* Quản lý hoạt động học tập của HS
Quản lý HĐHT của HS là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, tu dưỡng, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập Để nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường cần tăng cường biện pháp quản lý HĐHT của HS Quản lý HĐHT của HS bao gồm: Quản lý hoạt động học trên lớp, hoạt động tự học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động hướng nghiệp
Quản lý HĐDH là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống
QL HĐDH trong nhà trường Quy định dạy học được thực hiện theo một chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể trên lớp học Quản lý HĐDH được phân hóa thành hai quá trình cơ bản: QL quá trình dạy học trên lớp; quản lý quá trình dạy học ngoài lớp Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục mỗi cấp học, bậc học
Quản lý HĐDH do nhà trường hướng dẫn tổ chức và chỉ đạo nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục khác, hoặc các cơ quan,
tổ chức văn hóa, khoa học, thể dục thể thao, các tổ chức đoàn thể quần chúng ngoài xã hội, nơi mà trò tham gia học tập, vui chơi giải trí có tổ chức
QL dạy học là QL một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
Trang 231.2.3 Những khái niệm liên quan đến quản lý chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục
1.2.3.1 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là mục tiêu của sự tìm tòi liên tục của con người trong suốt tiến trình lịch sử của nhân loại chất lượng chính là lực lượng thúc đẩy những nỗ lực không ngừng của mỗi người trên cương vị của mình “Chất lượng” là một khái niệm khó định danh chính xác, bởi tuỳ theo góc độ tiếp cận khác nhau
“chất lượng” lại được hiểu khác nhau
Theo từ điển Tiếng Anh Oxford English Dictionary: “Chất lượng là mức
độ hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các
dữ liệu, thông số cơ bản” [15, tr.3]
Theo bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9000: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được công bố còn tiềm ẩn” [15, tr.3]
Chất lượng có thể được diễn tả dưới dạng tuyệt đối và dạng tương đối
Ở nghĩa tuyệt đối, một vật có chất lượng là vật đạt những tiêu chuẩn tuyệt hảo, không thể tốt hơn Đó là vật quý hiếm đắt tiền Chất lượng tuyệt đối là cái
“mọi người đều ngưỡng mộ, nhiều người muốn và rất ít người sở hữu”[15, tr.3]
Ở nghĩa tương đối, khái niệm chất lượng, có nhiều sắc thái khác nhau Khi ta so sánh một loại sản phẩm hay dịch vụ được cung ứng bởi các tổ chức khác nhau, hoặc cùng một sảnn phẩm, dịch vụ được cung ứng bởi một tổ chức nhưng vào những thời điểm khác nhau sẽ thấy rõ hơn nội hàm tương đối trong khái niệm chất lượng
Sự tương đối khái niệm chất lượng có liên quan tới 2 thông số - so với các tiêu chuẩn kĩ thuật của nhà cung ứng và đáp ứng nhu cầu của người tiếp nhận [15, tr.3]
Như vậy chất lượng là sản phẩm không chỉ là tập hợp các thuộc tính bản chất của nó mà còn là mức độ phù hợp của các thuộc tính được xác định và công
bố rộng rãi, đồng thời còn là sự thoả mãn với các nhu cầu của người sử dụng
Trang 24trong những điều kiện cụ thể Nói cách khác là chất lượng vừa có đặc tính chủ quan, vừa có đặc tính khách quan
1.2.3.2 Chất lượng trong giáo dục
Sản phẩm của các ngành sản xuất công nghiệp là một vật dụng cụ thể có thể cân đo, đong đếm, là một loại sản phẩm đã được làm xong và có thể đưa vào
sử dụng ngay nhưng việc đưa ra một sản phẩm có chất lượng cũng không hề dễ Còn sản phẩm giáo dục là con người với sự phát triển toàn diện, nên định nghĩa chất lượng trong giáo dục là công việc vô cùng khó khăn Khi xem xét chất lượng trong giáo dục phải có cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc và nó là vấn đề của mọi thời đại
Giáo dục là một hoạt động hướng đích rõ rệt Do vậy, chất lượng giáo dục đều hướng tới các mục đích sau:
- Sự xuất sắc trong giáo dục (Petes and Waterman, 1982)
- Giá trị gia tăng trong giáo dục (Feigenbaum, 1983)
- Trùng khớp của kết quả đầu ra của giáo dục với các mục tiêu; yêu cầu đã hoạch định (Crosby, 1979, Gilmore 1974)
- Không có sai sót trong quá trình giáo dục (Crosby 1979)
- Đáp ứng hoặc một quá trình kì vọng của khách hàng trong giáo dục (Parasuraman 1985)
Theo Jeymour (1992), đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu của khách hàng, cải tiến liên tục, sự phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống, hạn chế sự e dè, thừa nhận và tưởng thưởng, làm việc theo đội, giải quyết vấn đề một cách hệ thống là nguyên tắc chất lượng trong giáo dục
Giáo dục là hoạt động hướng đích, do vậy, chất lượng giáo dục phụ thuộc nhiều vào mục tiêu của giáo dục Liệu có thể xác định được chúng ta cần loại sản phẩm nào? Nếu chúng ta cần 1 kĩ sư, chúng ta sẽ xác định một loạt những kiến thức, kĩ năng, năng lực mà một kĩ sư giỏi có thể có Nhưng người kĩ sư đó còn có thể là người chồng/vợ, cha/mẹ, là thành viên của một hệ thống chính trị -
Trang 25xã hội nhất định Một nền giáo dục có chất lượng phải bao quát cả những mục tiêu cá nhân trong bối cảnh rộng lớn của cả xã hội
Stephen Murgatroyd và Colin Morgan xét trên phương diện quản lý chất lượng đã tổng hợp các loại định nghĩa về chất lượng thành 3 nhóm - đảm bảo chất lượng, chất lượng theo hợp đồng và chất lượng của người tiêu dùng
Đảm bảo chất lƣợng
Đảm bảo chất lượng có ngụ ý nói tới việc xác lập những tiêu chuẩn, các phương pháp phù hợp và những yêu cầu về chất lượng kèm theo quá trình thanh tra, đánh giá việc đáp ứng những tiêu chuẩn đó Công việc này thường do nhóm chuyên gia hoặc 1 tổ chức chuyên môn thực hiện
Đảm bảo chất lượng được thực thi trong nhà trường nói chung trong đó có nhà trường Việt Nam theo nhiều cách khác nhau
Những kì thi chung (tốt nghiệp THPT, thi đại học v.v) là một trong những
ví dụ điển hình về hệ thống đảm bảo chất lượng Học sinh trong cả nước dự các
kì thi do cục khảo thí biên soạn với ý tưởng là toàn thể học sinh của các trường khác nhau có cơ hội bình đẳng trong các kì thi và kết quả của các kì thi này phản ánh mức độ đáp ứng các chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành
Các bài thi do các chuyên gia trong từng lĩnh vực biên soạn Đáp án và biểu điểm cũng được biên soạn đồng thời với đề thi nhằm điều chỉnh cách chấm của các giám khảo khác nhau
Một ví dụ khác về đảm bảo chất lượng đó là bộ chuẩn kiến thức kĩ năng trong chương trình chuẩn cho từng môn học do Bộ GD&ĐT ban hành Đây là tuyên bố về chuẩn đảm bảo chất lượng cho toàn thể học sinh các trường THPT trong cả nước
Như vậy, thông qua các chuyên gia, Bộ GD&ĐT công bố những kì vọng của Chính phủ đối với học sinh THPT, các trường phấn đấu để đạt những tiêu chuẩn đó Đây là khung chuẩn cơ bản để các trường xây dựng kế hoạch dạy - học
Những ví dụ nêu trên về đảm bảo chất lượng trong giáo dục cho thấy cần nhấn mạnh những đặc điểm sau:
1 Đảm bảo chất lượng là bộ tiêu chuẩn do các chuyên gia xác lập
2 Đảm bảo chất lượng được giới thiệu như tập hợp những yêu cầu, hay kì vọng mà nhà trường phải phấn đấu để đạt được
Trang 263 Các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng được đánh giá bằng các tiêu chí
4 Các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng có thể cho phép xây dựng các phương án khác nhau tuỳ thuộc vào từng trường
5 Các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng bao gồm một số hình thức thi cử, thanh tra, tự đánh giá và đánh giá ngoài
Chất lượng giáo dục thông qua hợp đồng được thực hiện bằng một số phương thức chủ yếu sau:
Bài tập về nhà là một dạng chất lượng hợp đồng, giáo viên giao bài tập về nhà cho học sinh, nêu rõ chất lượng bài làm và thời hạn nộp bài Ngoài ra, giáo viên còn chỉ rõ bài làm được chấm như thế nào và hệ số điểm của bài so với kết quả của toàn môn học Chất lượng bài tập được giáo viên đánh giá thông qua việc học sinh đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được giao
Chất lượng giáo dục thông qua hợp đồng có thể được minh hoạ bằng kế hoạch dạy học của từng giáo viên cho năm học, trong đó giáo viên cam kết thực hiện những nhiệm vụ của mình Đây có thể xem là bản hợp đồng giữa giáo viên
và nhà trường, và chất lượng giáo dục được đánh giá thông qua chất lượng của công việc được hoàn thành
Quay những ví dụ nói trên, có thể nêu những đặc trưng cơ bản của khái niệm chất lượng thông qua việc thực hiện hợp đồng như sau:
1 Hợp đồng được thương thảo giữa 2 bên, được văn bản hoá và kí kết trước khi bắt đầu công việc
2 Hợp đồng mang tính địa phương và quy định trách nhiệm của các bên tham gia
3 Những kì vọng về chất lượng được quy định trong hợp đồng
4 Chất lượng công việc được các bên cùng đánh giá
Trang 275 Chất lượng được đánh giá theo tiến trình chứ không thông qua thanh tra hay kiểm tra
Chất lƣợng của khách hàng
Chất lượng của khách hàng có ngụ ý nói tới những kì vọng của người tiếp nhận sản phẩm hay dịch vụ và chất lượng được xác định khi sản phẩm hay dịch
vụ đó đáp ứng hoặc vượt quá sự mong đợi của khách hàng
Chất lượng giáo dục thông qua khách hàng khó xác định hơn, mặc dù gần đây bắt đầu xuất hiện xu thế này trong các nhà trường ở Việt Nam cũng như trên thế giới
Xu thế lấy người học làm trung tâm có thể xem là một ví dụ điển hành về khái niệm chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng, mà trong giáo dục, học sinh được xem là nhân vật trung tâm, là một trong những khách hàng bên ngoài quan trọng nhất
Trước khi xuất hiện xu thế này, cũng đã có những biểu hiện của khái niệm chất lượng thông qua khách hàng Đó là những hội đồng cha mẹ học sinh sinh hoạt định kì và bày tỏ nguyện vọng của mình với nhà trường, đồng thời, cam kết phối hợp với nhà trường trong việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học
Khái niệm chất lượng thông qua khách hàng có thể có những đặc điểm cơ bản sau:
1 Khách hàng có thể xác định được kì vọng của mình một cách rõ ràng (nếu họ được động viên và hỗ trợ)
2 Kì vọng, những yêu cầu của khách hàng đôi khi không trùng với suy nghĩ của người cung ứng dịch vụ
3 Khi nhà cung ứng và khách hàng hợp tác với nhau để xác định nhu cầu
và dịch vụ đáp ứng những nhu cầu đó thì chất lượng dịch vụ sẽ được cải tiến
4 Không phải tất cả khách hàng đều suy nghĩ giống nhau về những kì vọng và nhu cầu của mình, song việc cố gắng thoả mãn nhu cầu của số đông khách hàng là điều có thể làm được
Khái niệm chất lượng thông qua khách hàng đòi hỏi nhà cung ứng dịch vụ phải thường xuyên quan tâm tới nhu cầu của khách hàng và phải hành động sao cho khách hàng luôn cảm nhận được rằng các ý tưởng, đề xuất của họ đang được thực thi một cách thường xuyên
Trang 28Trong chương trình hành động Dakar (Senegal – 2000), UNESCO đã đề nghị cách hiểu chất lượng giáo dục ở trường học hay chất lượng trường học như
là đơn vị tổ chức giáo dục thông qua 10 tham số sau:
1/ Người học khỏe mạnh, được nuôi dưỡng tốt, được khuyến khích thường xuyên để có động cơ học tập chủ động
2/ Giáo viên thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức
3/ Phương pháp và kỹ thuật dạy học - học tập tích cực
4/ Chương trình giáo dục thích hợp với người học và người dạy
5/ Trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng học tập, giảng dạy, học liệu và công nghệ giáo dục thích hợp để tiếp cận và thân thiện với người sử dụng
6/ Môi trường học tập đảm bảo vệ sinh, an toàn, lành mạnh
7/ Hệ thống đánh giá thích hợp với mô trường, quá trình giáo dục và kết quả giáo dục
8/ Quản lý giáo dục có tính tham gia và dân chủ
9/ Tôn trọng và thu hút được cộng đồng cũng như nền văn hóa địa phương trong hoạt động giáo dục
10/ Các thiết chế, chương trình giáo dục có nguồn lực thích hợp, thỏa đáng và bình đẳng (chính sách và đầu tư)
Theo đề nghị này thì chất lượng giáo dục không chỉ quan tâm tới quá trình giáo dục trong nhà trường mà chất lượng giáo dục phải có ở tất cả những gì tạo nên nhà trường thậm chí cả những yếu tố bên ngoài nhà trường Do đó, chất lượng giáo dục không chỉ giới hạn trong nhà trường mà bao gồm cả những bộ phận trong cả hệ thống giáo dục có mối quan hệ với cơ sở giáo dục Như trên chúng ta đã quan niệm chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân là chất lượng giáo dục tổng quát thì chất lượng giáo dục trong nhà trường chính là chất lượng ở dạng đơn vị vì các cơ sở giáo dục là những bộ phận cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân [15, tr.19-20]
1.2.3.3 Quản lý chất lượng
Trang 29A.G.Robertson, một chuyên gia về chất lượng người Anh cho rằng “Quản
lý chất lượng sản phẩm được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì
và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng” [15, tr.15]
A.V.Feigenbaum, người đầu tiên đưa ra thuật ngữ TQM, cho rằng “Quản lí chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó”[15, tr.15]
Theo GOST 1567, “Quản lí chất lượng sản phẩm là xây dựng đảm bảo duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như những tác động hướng tới đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm”[15, tr.15]
Có hàng loạt định nghĩa khác nhau về quản lí chất lượng Song, cho dù đề cập đến khái niệm “quản lí chất lượng” từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu cũng thống nhất ở một điểm chung, đó là:
- Thiết lập chuẩn
- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn
- Có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn
[15, tr.16]
1.3 Các đặc điểm cơ bản của quản lý chất lƣợng
Nếu quản lý theo kiểu truyền thống là quản lý theo chức năng bao gồm 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra Quản lý theo chức năng là tác động trực tiếp của người qản lý đến các hoạt động, quản lý trực tiếp đối tượng quản lý Thì ở quản lý chất lượng, các chức năng trên không tác động trực tiếp đến đối tượng quản lý mà chỉ tác động gián tiếp thông qua chuẩn Do vậy quản chất lượng có những chức năng cơ bản sau:
Trang 30Chức năng quy định chất lượng: thể hiện ở các khâu điều tra, nghiên cứu,
thiết kế, đề xuất mức chất lượng, quy định những điều kiện, những tiêu chuẩn kĩ thuật cụ thể mà các bộ phận trong quá trình sản xuất phải đạt được sao cho phù hợp với các quy định của cơ quan quản lý, với yêu cầu khách hàng về chất lượng… với các tổ chức hành chính dịch vụ, thể hiện trên phương hướng, mục tiêu, chính sách, chuẩn mực về chất lượng
Chức năng quản lý chất lượng: bao gồm tất cả các khâu của quá trình đào
tạo, chức năng này không phải chỉ do những người lãnh đạo phụ trách, quản lý
mà dưới sự điều khiển, dẫn dắt của họ, nó được thể hiện ở tất cả thành viên của nhà trường, người trực tiếp gắn bó với mọi công đoạn của quá trình
Chức năng đánh giá chất lượng: bao gồm việc đánh giá chất lượng từng
phần và đánh giá chất lượng toàn phần của sản phẩm Đánh giá chất lượng từng phần của sản phẩm là xem xét chất lượng hiện có của sản phẩm ở mỗi công đoạn dưới ảnh hưởng của chất lượng thiết kế và chuẩn chất lượng Đánh giá chất lượng toàn phần là sự đánh giá tổng quan chất lượng sản phẩm được dựa vào những chỉ tiêu, chuẩn mực, những quy định về chất lượng hoặc dựa vào yêu cầu của người sử dụng Đánh giá chất lượng bao gồm 2 phương thức: đánh giá trong của tổ chức (ĐBCL) và đánh giá ngoài của một cơ quan bên ngoài tổ chức (Kiểm định CL)
1.4 Các cấp độ trong quản lý chất lƣợng
Quản lý chất lượng thể hiện ở 3 cấp độ sau
- Kiểm soát chất lượng: là việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay
sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó Đây là công đoạn này ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Thanh tra nội bộ, và thử nghiệm sản phẩm là phương pháp phổ biến nhất Hệ thống chất lượng chủ yếu dựa trên giấy tờ sổ sách ghi nhận từng ca sản xuất Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận…
Trang 31- Đảm bảo chất lượng: “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế
hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lí đã được chứng minh là
đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy
đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814)
Khác với kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình xản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảo chất lượng là thoả mãn các tiêu chuẩn kỹ thuật một cách ổn định Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ Hệ thống đảm bảo chất lượng chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào Trong hệ thống đảm bảo chất lượng, sự tham gia được uỷ quyền Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng
có thể đóng vai trò nhất định trong đảm bảo chất lượng Các tiêu chuẩn chất lượng được duy trì bằng cách tuân thủ quy trình vạch ra trong hệ thống đảm bảo
chất lượng Đảm bảo chất lượng quan tâm đến Kiểm soát hệ thống chất lượng, Kiểm soát quá trình bằng thống kê, phân tích nhân quả để có biện pháp khắc
phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự không trùng hợp
Để đánh giá và duy trì hệ thống đảm bảo chất lượng, sự can thiệp của bên
ngoài được chú trọng thông qua các hình thức phổ biến như Thanh tra chất lượng và Kiểm định chất lượng
- Quản lý chất lượng tổng thể: đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng nhưng
mở rộng và phát triển thêm Quản lý chất lượng tổng thể tạo ra văn hoá chất lượng, mà ở đó mục tiêu của từng nhân viên của toàn nhân viên làm hài lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm điều này Quản lý chất lượng tổng thể là tổng thể là tầng bậc cao nhất nếu so sánh với các cấp độ khác nhau trong quản lý chất lượng
Ở cả 3 cấp độ trên của quản lý chất lượng đều giống nhau là quản lý bằng chuẩn Tuy nhiên ở 3 cấp độ đó có sự khác nhau cơ bản về mục đích: ở cấp độ kiểm soát chất lượng là để loại bỏ sản phẩm; ở cấp độ đảm bảo chất lượng là để
Trang 32ngăn ngừa và duy trì; ở cấp độ quản lý là chất lượng tổng thể là để tạo ra sự mong muốn, hài lòng của khách hàng tạo ra chất lượng toàn diện, tạo ra văn hoá chất lượng
1.5 Các mô hình quản lý chất lƣợng
1.5.1 Mô hình kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là kĩ thuật đầu tiên trong quản lí chất lượng xuất hiện vào những năm 1930, còn thuật ngữ “Quản lí chất lượng tổng thể” là thuật ngữ do Feigenbaum (1983) đề xuất “Kiểm soát chất lượng trong nghĩa rộng nhất của nó là tựu trung vào những phương pháp quản lý đa dạng nhằm cố duy trì chất lượng của sản phẩm ở mức độ mong muốn “Bách khoa toàn tư Quốc tế
về Khoa học xã hội 1979) Vấn đề cơ bản của kiểm soát chất lượng là phát hiện
và loại bỏ những sản phẩm đã hoàn thành (Fidler, 1996) Kiểm soát chất lượng được xác định như “một quá tình xác lập những tiêu chuẩn chấp nhận được với những giới hạn nhất định về chất lượng nguyên liệu, kích cỡ, trọng lượng, và những thông số khác của hàng hoá hay dịch vụ và duy tì những tiêu chuẩn đó” (Johannsen, 1968) Như vật kiểm soát chất lượng còn có nghĩa là loại bỏ chất lượng quá cao cùng như chất lượng quá thấp (Johannsen, 1968) Quá trình kiểm soát chất lượng điều hành trong sản xuất công nghiệp là một sản phẩm được lấy ngẫu nhiên từ giây chuyền và được kiểm tra cẩn thận để xác định chất lượng sản phẩm Điều đó hiển nhiên là sự lãng phí và làm tăng giá thành sản phẩm [15, tr.22]
1.5.2 Mô hình đảm bảo chất lượng
Mô hình quản lí chất lượng cao hơn trong quá trình phát triển của mình là đảm bảo chất lượng Mô hình này đưa hệ thống thiết kế vào quản lý chất lượng ngay từ đầu, nhấn mạnh tới đảm bảo chất lượng chứ không phải là phát hiện và loại bỏ những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu Đảm bảo chất lượng là chiến lược ngăn ngừa việc sản xuất ra những phế phẩm Oakland (1988) xác định 5 giai đoạn, hoặc là 5 đặc trưng của cơ chế đảm bảo chất lượng
1 Kế hoạch hoá chất lượng
2 Hướng dẫn
Trang 333 Đào tạo đội ngũ
4 Cung cấp trang thiết bị, công nghệ và phương pháp luận đánh giá sản phẩm
5 Phân tích ý kiến của khách hàng, đảm bảo quyền và trách nhiệm pháp lí sản phẩm
Như vậy, mô hình đảm bảo chất lượng dựa trên nguyên lí là tất cả các bộ phận chức năng phải chia sẻ trách nhiệm về chất lượng, cung cấp một phương pháp hữu hiệu để đạt và duy trì các tiêu chuẩn chất lượng (Oakland, 1988)
Vai trò quan trọng của đảm bảo chất lượng là chất lượng của khâu thiết kế sản phẩm - một khuôn mẫu của sản phẩm Vấn đề quan trọng không kém là chuyển giao thiết kế sang khâu sản xuất sao cho khuôn mẫu được tuân thủ nghiêm túc Sản phẩm chính là đầu ra của sự tương tác giữa đầu vào và quá trình Hệ thống đảm bảo chất lượng đảm bảo có nguyên liệu, thiết bị đầu vào đúng tiêu chuẩn, và chất lượng quá trình nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng sản phẩm Các thông số của nguyên liệu, thiết bị và quá trình đi suốt quá trình đảm bảo chất lượng Đó chình là cơ chế đảm bảo “không có lỗi”, “làm đúng ngay từ đầu và làm đúng mọi lúc, mọi nơi” [15,tr.23]
1.5.3 Mô hình quản lý chất lương tổng thể
Mô hình TQM là cách tiếp cận cao hơn đảm bảo chất lượng Tầm quan trọng được nhấn mạnh không chỉ ở khâu quản lí chất lượng đầu vào và quá trình, mà còn ở chỗ phát tiển “văn hoá chất lượng” trong cán bộ công chức Sự thành công TQM là ở chỗ làm cho “khách hàng” cảm thấy vui sướng Khi hài lòng, khách hàng sẽ kể lại cho bạn bè, từ đó, uy tín của sản phẩm, của tổ chức sẽ tăng lên Là một mô hình năng động, TQM còn phán đoán được sự thay đổi trong nhu cầu và sở thích của khách hàng và sự thay đổi sản phẩm của hình nhằm đáp ứng nhu cầu mới đó không như mô hình kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng, TQM năng động, không chấp nhận một định nghĩa chất lượng nào là vĩnh cửu TQM luôn nỗ lực xác định tầm cao mới của chất lượng để vươn tới
Trang 34Như vậy, các mô hình quản lí chất lượng tiến triển từ thanh tra tới kiểm soát chất lượng (để loại bỏ) tời đảm bảo chất lượng (để ngăn ngừa) và cuối cùng
là TQM (để cải tiến liên tục)
Các mô hình quản lí này có thể áp dụng cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ cũng như giáo dục
Như vậy quản lý chất lượng theo mô hình quản lý chất lượng là quá trình quản lý theo cách phải thiết kế có hệ thống để duy trì và có các biện pháp nhằm duy trì và nâng cao chất lượng, hệ thống đó phải liên kết các bộ phận với nhau [15, tr 23-24]
1.6 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT
1.6.1 Những đặc trưng cơ bản của bộ môn Toán
Môn Toán là một môn học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong chương trình giáo dục phổ thông Điều này xuất phát từ đặc trưng của Toán học là tính trừu tượng cao độ và tính thực tiễn phổ dụng, có tính lôgic chặt chẽ và tính thực nghiệm
Môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THPT nói riêng bởi những lý do cơ bản sau:
Môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, góp phần phát triển tư duy lôgic người học Cùng với việc giúp cho học sinh kiến tạo những tri thức và rèn luyện kỹ năng Toán học cơ bản, môn Toán có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tư duy lôgic …; rèn luyện phẩm chất tư duy, những đức tính của người lao động mới như: Tính chính xác, tính sáng tạo, tính kỷ luật … Đây là những kỹ năng, phẩm chất rất cần thiết của người lao động trong thời đại mới - Thế kỷ XXI
Môn Toán cung cấp vốn kiến thức Toán học phổ thông cho học sinh một cách có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh bao gồm kiến thức, kỹ năng và tư duy Môn Toán còn là “công cụ” giúp cho việc dạy và học các môn học khác ( Như môn Lý, Hóa, Sinh ) Do tính trừu tượng cao độ và tính thực tiễn phổ
Trang 35dụng, những tri thức và kỹ năng Toán học cùng với những phương pháp làm việc trong Toán học đã trở thành công cụ để học tập những môn học khác trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác nhau (nhất là các ngành khoa học tự nhiên), là công cụ vận dụng vào hoạt động trong thực tế cuộc sống
1.6.2 Đặc thù của hoạt động dạy học môn Toán học ở trường THPT
Toán học là một bộ môn khoa học có những đặc thù rất riêng, nó được chia thành các phân môn như: Đại số, hình học, giải tích, lượng giác Vì vậy, dạy học môn Toán học ở nhà trường THPT phải bám sát vào đặc thù của từng phân môn
Toán học là một bộ môn được chia thành nhiều phân môn khác nhau, có cách dạy khác nhau để phù hợp với đặc thù của từng phân môn Song ở những phân môn đó vẫn có sự thống nhất chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất - Hợp thành bộ môn Toán học
1.6.3 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán học ở trường THPT
1.6.3.1 Những nội dung cơ bản của quản lý
* Quản lý hoạt động dạy:
- Quản lý khâu chuẩn bị của GV: trước hết GV phải phân tích được các nhu cầu sau: vị trí môn học, đối tượng (kiến thức nền, hứng thú, phong cách học, kỳ vọng xã hội), nhu cầu xã hội, ưu tiên đào tạo, điều kiện CSVC kĩ thuật Đồng thời
GV phải xác định được mục tiêu bài học, tổ chức sắp xếp nội dụng, chuẩn bị phương pháp, phương tiện, công cụ và lên kế hoạch dạy học cụ thể
- Quản lý khâu thực thi của GV: QL kế hoạch soạn giảng: mục tiêu bài học, nội dung dạy học, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; và QL việc chuẩn bị môi trường dạy học
- Quản lý khâu đánh giá cải tiến: Đánh giá cải tiến là một trong những khâu quan trọng, cần thiết cho việc đánh giá QL của hoạt động dạy Vì sau mỗi tiết dạy từ khâu chuẩn bị đến khâu thực thi đều được rút kinh nghiệm, đánh giá việc đã làm, thành công hay chưa thành công, việc ghi chép, kế hoạch cải tiến ra sao
Trang 36* Quản lý hoạt động học:
- Quản lý khâu chuẩn bị: Người học phải xác định được tầm quan trọng của việc học, vị trí của môn học để có thái độ, động cơ học tập và có sự chuẩn bị chu đáo về bài học trước khi được lĩnh hội từ bài giảng của giáo viên
- Quản lý khâu thực thi: QL hoạt động học của HS là QL các hoạt động trong giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Quản lý khâu cải tiến: Trong quá trình nhận thức của HS có rất nhiều mức độ khác nhau, nhưng người dạy phải nắm bắt được mức độ nhận thức của người học, cách nhận thức (sáng tạo, rập khuôn máy móc, tư duy đa chiều ) để điều chỉnh kịp thời
- Quản lý hoạt động tự đánh giá của học sinh : Thông qua hoạt động này học sinh tự nhận ra những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế trong nhận thức môn Toán, đồng thời làm tăng động lực trong quá trình học tập
Như vậy, QL hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học Tất cả các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học tồn tại trong mối quan
hệ qua lại thống nhất với môi trường của nó Môi trường xã hội chính trị và môi trường cách mạng – khoa học kỹ thuật QL dạy học phải thực sự chú trọng tới các thành tố này
1.6.3.2 Một số khó khăn trong dạy học môn Toán cho học sinh nông thôn
- Trình độ giáo viên:
Đội ngũ GV Toán THPT còn thiếu và chưa đồng bộ Nhiều GV chưa chủ động lĩnh hội tri thức, dành thời gian cho việc chuẩn bị bài, chưa thật yêu nghề Tuy đã có nhiều cố gắng dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học nhưng do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của chuẩn và chưa được hướng dẫn cụ thể nên quá trình giảng dạy còn lúng túng, dẫn đến tình trạng một
bộ phận GV chưa bám sát vào chuẩn kiến thức, kỹ năng, đặt câu hỏi kiểm tra cũng chưa bám sát vào chuẩn kiến thức, kỹ năng Bộ phận GV có trình độ
Trang 37chuyên môn cao không nhiều, đa số GV có trình độ chuyên môn trung bình chưa đổi mới được phương pháp dạy học, dạy còn thiên về thuyết trình kết hợp với vấn đáp, tình trạng GV giảng ít, chủ yếu chép lời giải lên bảng vẫn còn, khiến giờ dạy trở nên nặng nề, chưa hấp dẫn, còn thụ động một chiều, chưa tạo điều kiện để HS được chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực, tự tìm tòi, khám phá Thậm chí, còn có những GV dạy học không đúng phương pháp bộ môn, không phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo của học sinh, một số ít giáo viên còn nói ngọng mang dấu ấn ngôn ngữ địa phương, vì thế bài giảng trở lên không hấp dẫn Đa số GV lúng túng trong việc đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá
- Trình độ học sinh:
HS đa số là con em gia đình khó khăn, HS nông thôn chưa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng Đa số HS còn có suy nghĩ sợ và ngại học toán vì môn toán rất khó học và lại khô khan, để học giỏi toán ngoài khả năng tư duy nó còn đòi hỏi các em học sinh thật sự kiên trì và yêu thích toán Vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót về lập luận khi học toán
Một phần không nhỏ HS chưa đầu tư cho việc học tập, chưa xác định rõ trách nhiệm của bản thân cho việc học Hầu như HS không chịu đọc bài trước khi đến lớp, không soạn bài, không tóm tắt được nội dung bài học, dẫn đến hạn chế trong cách tiếp cận kiến thức toán học Nhìn chung, học toán đối với HS nông thôn còn có nhiều những hạn chế, khó khăn nhất định mà phải tìm ra những biện pháp hữu hiệu để cải thiện việc học toán đối với HS nông thôn
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật:
Cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn chung đáp ứng được yêu cầu của môn hoc: Như tranh, hình ảnh, phòng học bộ môn, tài liệu tham khảo Tuy nhiên một số
đồ dùng cho việc dạy và học toán đã quá cũ kĩ GV chưa đầu tư vào việc tự chế
đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học còn hạn chế một phần không nhỏ ảnh hưởng
Trang 38đến quá trình giảng dạy và kết quả dạy học Việc quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường phải được tiến hành đồng thời với công tác quản lý, chỉ đạo khai thác và sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học một cách có hiệu quả
1.7 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán tiếp cận đảm bảo chất lƣợng
Dựa trên 5 đặc trưng của cơ chế đảm bảo chất lượng và những đặc thù của hoạt động dạy học môn Toán, Quản lý hoạt động dạy học môn Toán tiếp cận đảm bảo chất lượng phải thực hiện được các giai đoạn sau
Đối với việc quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên (Hiệu trưởng quản lý, giáo viên tự quản lý):
1 Kế hoạch hoá chất lượng: Nghiên cứu chuẩn giáo viên THPT; Xây dựng hệ tham chiếu cho các tiêu chuẩn, tiêu chí; Xây dựng quy trình dạy học cho giáo viên
2 Hướng dẫn giáo viên thực hiện hệ tham chiếu với các tiêu chuẩn, tiêu chí, thực hiện quy trình dạy học
3 Nâng cao chất lượng đội ngũ; QL việc thực hiện các hướng dẫn đối với
hệ tham chiếu, đối với quy trình dạy học đảm bảo tuân thủ nghiêm túc (Xây dựng kế hoạch, soạn bài, cải tiến ND, PP, HTTC dạy học, kiểm tra – đánh giá, thực hiện quy định về quản lý hồ sơ chuyên môn, công tác bồi dưỡng, nghiên cứu, …)
4 Cung cấp trang thiết bị, công nghệ và phương pháp luận kiểm tra - đánh giá kết quả
5 Phân tích ý kiến của khách hàng, đảm bảo quyền và trách nhiệm pháp lí sản phẩm Thực hiện đúng nguyên lý tất cả các bộ phận trong hệ thống phải chia
Trang 393 QL việc thực hiện các hướng dẫn đối với quy trình học tập đảm bảo tuân thủ nghiêm túc
4 Cung cấp trang thiết bị, công nghệ và phương pháp luận để học sinh tự kiểm tra - đánh giá kết quả
5 Phân tích ý kiến của học sinh, phụ huynh, thực hiện đúng nguyên lý tất
cả các bộ phận trong hệ thống Nhà trường, Gia đình và Xã hội phải chia sẻ về trách nhiệm
Trang 40Kết luận chương 1
Chương 1 tổng kết một số cơ sở lý luận về vấn đề quản lý chất lượng trong giáo dục, quản lý hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Toán nói riêng Nội dung của chương đã đề cập đến các khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Toán tiếp cận đảm bảo chất lượng Với những cơ sở lý luận trên, việc quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THPT phải có những biện pháp thích hợp Những biện pháp đó sẽ được đề xuất trong chương 3, dựa trên cơ sở lý luận chương 1 và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở chương 2