1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thái bình)

122 517 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Bình trong giải quyết các vụ án hình sự ..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGHIấM THỊ THANH THƢ

VAI TRò CủA KIểM SáT VIÊN TRONG QUá TRìNH GIảI QUYếT Vụ áN HìNH Sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGHIấM THỊ THANH THƯ

VAI TRò CủA KIểM SáT VIÊN TRONG QUá TRìNH GIảI QUYếT Vụ áN HìNH Sự (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS Lấ LAN CHI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nghiêm Thị Thanh Thư

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 7

1.1.1 Khái niệm Kiểm sát viên 7

1.1.2 Khái niệm giải quyết vụ án hình sự và vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 10

1.2 Nội dung vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 12

1.2.1 Vai trò của Kiểm sát viên trong các quan hệ tố tụng của quá trình giải quyết vụ án hình sự 13

1.2.2 Các hoạt động thể hiện vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 20

1.3 Vai trò của Kiểm sát viên trong một số mô hình tố tụng trên thế giới 34

1.3.1 Vai trò của Công tố viên trong mô hình tố tụng tranh tụng 34

1.3.2 Vai trò của Công tố viên trong mô hình tố tụng thẩm vấn 36

1.3.3 Vai trò của Kiểm sát viên trong mô hình tố tụng hỗn hợp 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 43

2.1 Những quy định của pháp luật về vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ năm 1945 đến năm 2015 43

2.1.1 Những quy định của pháp luật về vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 43

Trang 5

2.1.2 Những quy định của pháp luật về vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình

giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 48

2.2 Những quy định của pháp luật về vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 54

2.2.1 Vai trò của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố 56

2.2.2 Vai trò của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74

Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA KIỂM SÁT VIÊN 75

3.1 Thực trạng hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Thái Bình (giai đoạn 2011 – 2015) 75

3.1.1 Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Bình trong giải quyết các vụ án hình sự 75

3.1.2 Các hạn chế của Kiểm sát viên Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Thái Bình trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và nguyên nhân 84

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 92

3.2.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự 92

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật khác 95

3.3 Giải pháp khác 97

3.3.1 Giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của Kiểm sát viên 97

3.3.2 Giải pháp bảo đảm điều kiện làm việc của Kiểm sát viên 100

3.3.3 Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Kiểm sát viên 101

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 113

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự TTHS: Tố tụng hình sự

VKS:

VKSND:

Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiểm sát viên là người trực tiếp thực hiện hai chức năng quan trọng của Viện kiểm sát (sau đây viết tắt là VKS) là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do vậy, Kiểm sát viên đóng vai trò rất quan trọng với tư cách là một chủ thể tham gia quá trình giải quyết vụ án hình sự, thể hiện qua việc nắm giữ vai trò đầu mối và là chủ thể xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự từ khi kiểm sát hoạt động xử lý tố

giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra đến khi xét xử, thi hành án

Đến nay đội ngũ Kiểm sát viên không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, tham gia hiệu quả vào quá trình thực thi nhiệm vụ chính trị của VKS nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung

Tuy nhiên, quá trình thực hiện chức năng kiểm sát và thực hành quyền công

tố vẫn còn xảy ra tình trạng bỏ sót, bỏ lọt tội phạm hoặc khởi tố tràn lan không đúng pháp luật, có nhiều trường hợp bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử oan, sai khi chưa đầy đủ dấu hiệu của tội phạm, gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc, làm ảnh hưởng tới quyền lợi ích hợp pháp của công dân Bên cạnh đó, công tác thực hành quyền công

tố và kiểm sát điều tra còn chưa được hiệu quả, chất lượng chưa cao, chưa bám sát chặt chẽ quá trình điều tra vụ án Tính chiến đấu và chủ động của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong quá trình điều tra và xét xử tại Tòa án còn nhiều trường hợp thụ động, phát huy trách nhiệm chưa cao Tính chủ động, tích cực trong việc tranh luận của Kiểm sát viên ở một số phiên tòa chưa được thực hiện tốt Nội dung tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên với bị cáo, Luật sư còn nhiều lý lẽ thiếu sắc bén, chưa khoa học, chưa sử dụng có hiệu quả tài liệu, chứng cứ khách quan kết

Trang 8

hợp với việc viện dẫn điều luật áp dụng để lập luận, chứng minh bảo vệ quan điểm của mình Mặt khác, năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực

tế của Kiểm sát viên hiện còn chưa đồng đều Văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng là một trong những vấn đề đang được quan tâm

Trước tình hình trên và trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta trong tình hình hiện nay, hoàn thành tốt nhiệm vụ cải cách

tư pháp thì việc tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích tình hình thực tiễn, qua

đó đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là đòi hỏi mang tính khách quan và cấp thiết

Nghiên cứu về vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là TTHS) là vấn đề quan trọng, không chỉ giúp cho mọi người nhận thức đúng,

đủ về chủ thể này trong hoạt động TTHS mà còn thông qua đó hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế tổ chức, các chế độ đãi ngộ đối với Kiểm sát viên; tạo điều kiện cho đội ngũ Kiểm sát viên có thể thực hiện tốt vai trò của mình Đây cũng chính là

lý do học viên chọn đề tài “Vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)” làm luận văn thạc sĩ

gia Hà Nội) nghiên cứu về tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên theo Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) năm 2003 trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo nội dung cải cách tư pháp

Trang 9

- Luận văn thạc sĩ luật học “Người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa (bảo vệ năm

2010 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu về những người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (bao gồm cả Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên VKSND)

- Luận văn thạc sĩ Luật học “Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội) của tác giả Nguyễn Thị Hạnh (bảo vệ năm 2015 tại Khoa Luật –

Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về những người tiến hành tố tụng thuộc VKSND và thực tiễn hoạt động của những người tiến hành tố tụng trong VKSND Thành phố Hà Nội

Ngoài ra còn có một số công trình khác có liên quan đến hoạt động của Kiểm

sát viên như: “Hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm” của tác giả Nguyễn Thị Hương đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2006; “Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát

và một số kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Duy Giảng (VKSND tối cao, năm 2013); “Bàn về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự” của tác giả Phạm Xuân Khoa đăng trên tạp chí Kiểm sát số 23/2014; “Nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự” của tác giả Lê Thị Ngọc Dung trên Tạp chí Dân chủ

và pháp luật tháng 9/2014; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên” của tác giả Lê

Mạnh Hùng (VKSND Thanh Khê, Đà Nẵng, năm 2015)…

Qua nghiên cứu cho thấy nội dung của các công trình nghiên cứu, luận văn, các bài viết trên tạp chí khoa học đã công bố ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì hầu hết các công

Trang 10

trình đó đều là những công trình nghiên cứu trực diện về chức năng, nhiệm vụ của VKSND; về địa vị pháp lý của tất cả các chủ thể tiến hành tố tụng trong VKSND; hoặc là nghiên cứu đơn lẻ, đề cập đến một vài vấn đề liên quan đến hoạt động của Kiểm sát viên trong một số giai đoạn tố tụng cụ thể Chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự Chính vì vậy, vai trò của Kiểm sát viên trong TTHS ở tất cả các giai đoạn tố tụng và những hạn chế, bất cập còn tồn tại chưa được phân tích đầy đủ và có hệ thống để có những phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của chủ thể này trong quá trình tham gia giải quyết vụ án hình sự

Từ nhận định trên, luận văn này sẽ tiếp tục nghiên cứu về vai trò của Kiểm sát viên nhưng ở trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, với sự phân tích

số liệu cụ thể trên thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình Từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao vị trí, vai trò của Kiểm sát viên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, luật thực định vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (trên cơ sở dữ liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những nội dung lý luận và thực tiễn có liên quan đến vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự với giới hạn không gian, thời gian nghiên cứu thực tiễn là trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 5 năm (2011 – 2015)

4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, giải mã được những vấn đề lý luận về vai trò của đội ngũ Kiểm sát

viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Thứ hai, khảo sát, phân tích, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ Kiểm sát viên

của VKSND tỉnh Thái Bình trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự; thấy được những thành tựu, ưu điểm, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế của đội ngũ này

và những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế đó

Thứ ba, xác định, đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao vai

trò đội ngũ Kiểm sát viên trong thời gian tới ở tỉnh Thái Bình nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung

5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, cũng như các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: Lịch sử pháp luật, Lý luận về Nhà nước và pháp luật, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp khảo sát thực tiễn, nghiên cứu báo cáo

6 Điểm mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện các vấn đề lý luận về vai trò của Kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự

Luận văn phác thảo trung thực và chính xác và khách quan thực tiễn khách quan tại địa bàn tỉnh Thái Bình, những thành tựu cũng như tồn tại, hạn chế trong quá trình đội ngũ Kiểm sát viên tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự

Luận văn cũng nêu lên được những giải pháp, kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS; nâng cao vai trò, chất lượng của Kiểm sát viên tại địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng, đội ngũ Kiểm sát viên trên toàn quốc nói chung nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp

Trang 12

7 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung gồm ba chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của Kiểm sát viên trong quá

trình giải quyết vụ án hình sự

- Chương 2: Quy định của pháp luật về vai trò của Kiểm sát viên trong quá

trình giải quyết vụ án hình sự

- Chương 3: Thực trạng hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình giải

quyết vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Thái Bình và một số giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm sát viên

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA KIỂM SÁT VIÊN

TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự

1.1.1 Khái niệm Kiểm sát viên

Hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng trong TTHS ở Việt Nam bao gồm Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án Mỗi cơ quan đều có vai trò nổi bật ở những giai đoạn tố tụng khác nhau Trong ba cơ quan nêu trên chỉ có duy nhất VKS là cơ quan tiến hành tố tụng tham gia xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự Từ khi thành lập đến nay,VKS với đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức chuẩn mực đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân được tôn trọng; trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững Đóng góp vào thành tích đáng tự hào của VKS là hoạt động của đội ngũ Kiểm sát viên – những người đại diện trực tiếp cho VKS tham gia quá trình TTHS theo quy định của pháp luật

Nói tới vai trò là nói tới tác dụng, chức năng của ai hoặc của cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức, một quá trình, một sự việc Vai trò của một chủ thể được xác định từ tư cách, vị trí của chủ thể đó trong một tập thể, tổ chức, trong một quá trình, sự việc Để xác định vai trò của Kiểm sát viên cần xuất phát từ cách tiếp cận về Kiểm sát viên trong một mối quan hệ nhất định, một thiết chế nhất định

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, “Kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan kiểm sát được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân”[22, tr 563] Từ điển

Trang 14

Bách khoa toàn thư chỉ ra nội hàm của khái niệm Kiểm sát viên gồm ba nội dung: 1,

là cán bộ của cơ quan kiểm sát – Kiểm sát viên ở đây có tư cách là một cán bộ trong thiết chế cơ quan kiểm sát; 2, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật; và 3, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân Tuy nhiên, nội dung thứ ba không còn phù hợp, không chính xác tại thời điểm hiện tại khi chức năng của VKS đã thay đổi, Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng của VKS

thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS

Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố” [57, tr 263] Khái niệm này chưa phản ánh rõ địa vị pháp lý của

Kiểm sát viên mà chỉ thể hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức năng của VKS được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND tại thời điểm đưa ra khái niệm và không còn phù hợp với thời điểm hiện tại

Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 định nghĩa: “Kiểm sát viên là người được

bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [55, Điều 1] Khái niệm trên đã xác định đúng về

nhiệm vụ của Kiểm sát viên từ giác độ chức năng hiện hành của VKSND nhưng cũng tồn tại những hạn chế trong cách xây dựng khái niệm như trong Từ điển Luật học

Theo chúng tôi, để làm rõ khái niệm và vai trò của Kiểm sát viên, thứ nhất,

cần khẳng định Kiểm sát viên là một công chức Nhà nước, là công chức nhà nước

có nghĩa trước tiên họ phải thỏa mãn các điều kiện của một công chức trong bộ máy Nhà nước Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì Kiểm sát viên là công chức Nhà nước, có nghĩa họ phải là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được xếp vào một ngạch công chức nhất định Kiểm sát viên là một công chức của VKS – người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng của VKS

là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp VKS thực hiện chức

Trang 15

năng, nhiệm vụ của mình thông qua hệ thống công chức là người tiến hành tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và những công chức khác, những bộ phận giúp việc khác Như vậy, Kiểm sát viên là một trong số các công chức góp phần thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của VKS Hiến pháp

2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động

tư pháp” [47, Điều 107] Kiểm sát viên là chủ thể tiến hành tố tụng, có vai trò quan

trọng và trực tiếp trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự của VKS

Thứ hai, Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, chức danh này được sử

dụng để định danh một người hành nghề luật, làm việc trong hệ thống tư pháp mà

cụ thể là chỉ người làm việc trong VKS, nhân danh Nhà nước tham gia vào các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng:

Chức danh tư pháp chỉ những người thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật [68, tr 5]

Như vậy, từ khía cạnh thứ hai, có thể hiểu Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, thực hiện một loại hình nghề luật tương ứng – nghề công tố/nghề kiểm sát tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia trên thế giới và sẽ có vai trò tương ứng với tính chất nghề nghiệp của họ trong sự phân công lao động xã hội

Thứ ba, khi được phân công giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh

thương mại… Kiểm sát viên là một loại người tiến hành tố tụng, có các thẩm quyền tiến hành tố tụng, có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện các quyết định và hành vi tố tụng và cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định, hành

vi tố tụng do họ thực hiện ở khía cạnh này, Kiểm sát viên có vai trò tố tụng của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Như vậy, cả ba tư cách này của Kiểm sát viên đều gắn với hoạt động nghề

Trang 16

nghiệp của họ Trong đó, tư cách người tiến hành tố tụng của Kiểm sát viên thể hiện

cả tư cách của một công chức nhà nước làm việc tại VKS và tư cách người hoạt động nghề nghiệp Tư cách người tiến hành tố tụng gắn với một vụ án, vụ việc cụ thể mà họ được phân công thụ lý và cũng thể hiện đầy đủ, trọn vẹn vai trò nghề nghiệp của họ

1.1.2 Khái niệm giải quyết vụ án hình sự và vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Giải quyết vụ án hình sự là một khái niệm được nhắc đến khá thường xuyên trong quá trình TTHS Tuy nhiên, hiện nay chưa có định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất về khái niệm này

Trong cuốn Sổ tay kiến thức pháp luật của Điều tra viên, tại trang 288, tác giả Nguyễn Ngọc Anh nhận định: “Trong tố tụng hình sự, xử lý vụ án hình sự chính

là việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự Xử lý vụ án còn có một cách gọi khác là giải quyết vụ án” [1]

Như vậy, có thể hiểu giải quyết vụ án hình sự chính là tất cả các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành án

Chúng tôi cho rằng, theo cách hiểu thông thường mang tính chất phổ biến thì giải quyết được hiểu là việc một chủ thể quyết định thực hiện một hay nhiều hoạt động để nhằm đạt được mục đích nhất định nào đó

Giải quyết vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng mang tính quyền lực nhà nước Nội dung giải quyết vụ án hình sự là các hành vi, quyết định nhằm xác định hành vi phạm tội; xác định và giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội, xử lý các vấn đề liên quan đến người phạm tội và các vấn đề khác của vụ án Giải quyết vụ án hình sự theo nghĩa hẹp bao gồm những “hoạt động quyết định những vấn đề liên quan đến sự tồn tại, kết thúc vụ án (quyết định khởi tố vụ án, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án…), mở rộng hay thu hẹp phạm vi điều tra vụ án hoặc quyết định đưa vụ

Trang 17

án tới những thời điểm tố tụng quan trọng (kết thúc điều tra đề nghị truy tố chuyển sang VKS, quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, quyết định đưa cụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung…)” [8] Theo nghĩa rộng có thể định nghĩa giải quyết vụ án hình sự là hoạt động của những chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật quyết định những vấn đề liên quan đến phạm vi, tính chất, tiến độ của vụ án hình sự

Quá trình giải quyết vụ án hình sự được nhận định bắt đầu từ giai đoạn tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, tiếp đó là các hoạt động trong giai đoạn điều tra, truy

tố, xét xử để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và kết thúc bằng việc bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án được ra quyết định thi hành Quá trình này gắn liền với một loạt các quyết định của các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền mang tính định đoạt đối với số phận pháp lý của một hay nhiều người bị truy cứu trách nhiệm hình sự Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong luận văn này chúng tôi lựa chọn tiếp cận vai trò của Kiểm sát viên trong giải quyết vụ án hình sự ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử và một phần giai đoạn thi hành án Thi hành án là giai đoạn tiếp theo của xét xử nhưng nó không phải là hoạt động tư pháp thuần túy mà còn mang tính chất hành chính Khi Tòa án ra quyết định thi hành án đồng nghĩa với việc kết thúc quá trình giải quyết vụ án hình sự Hoạt động của Cơ quan công an, Ủy ban nhân dân,

Cơ quan thi hành án hình sự… tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa lại là hoạt động tác nghiệp thi hành án, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật TTHS mà cần áp dụng các quy định của luật thi hành án Do vậy, giải quyết vụ án hình sự chỉ dừng lại ở phân đoạn đầu tiên của giai đoạn thi hành án hình sự

Từ các phân tích nêu trên về mối quan hệ giữa tư cách của Kiểm sát viên với vai trò của Kiểm sát viên và từ các phân tích về nội dung quá trình giải quyết vụ án

hình sự, chúng tôi cho rằng: “Vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự là sự thể hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên với tư cách là người tiến hành tố tụng của VKSND, thông qua các hoạt động tố tụng để góp phần giải quyết vụ án hình sự theo thẩm quyền, từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử và một phần của giai đoạn thi hành án hình sự”

Trang 18

1.2 Nội dung vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Kiểm sát viên là một người tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự Khi được phân công thụ lý một vụ án hình sự, Kiểm sát viên trở thành người tiến hành

tố tụng trong một vụ án hình sự cụ thể - hiện thực hóa chức năng của VKS trong vụ

án cụ thể này Vai trò người tiến hành tố tụng của Kiểm sát viên tương ứng với chức năng của VKS là một cơ quan tiến hành tố tụng nhưng phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các hành vi, quyết định tố tụng của họ trong vụ án Với tư cách người tiến hành tố tụng, họ có vai trò tố tụng trong việc giải quyết vụ án thông qua việc thực hiện hành vi, quyết định tố tụng trong phạm vi quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm do Luật TTHS quy định Vai trò của Kiểm sát viên với tư cách người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thể hiện trong các mối quan hệ tố tụng của

họ với những người tiến hành tố tụng trong và ngoài VKS, với người tham gia tố tụng và các tổ chức, cá nhân khác trong TTHS để thực hiện các thẩm quyền tố tụng của họ Nói cách khác, vai trò của Kiểm sát viên với tư cách người tiến hành tố tụng xuất phát từ địa vị pháp lý của họ Theo lý luận chung về nhà nhà nước pháp luật,

địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan

hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật, là sự thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa

vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể trong các mối quan hệ pháp luật [57, tr 244] Do đó, để xác định nội dung vai trò của Kiểm sát viên cần

“định vị” họ trong các mối quan hệ tố tụng cụ thể, gắn với địa vị pháp lý của họ trong mối quan hệ với các chủ thể pháp luật khác Tuy nhiên, ở góc độ lập pháp, pháp luật TTHS không thể quy định riêng thành các điều khoản độc lập quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên với chủ thể này hay chủ thể khác mà phải xây dựng thành các nhóm quyền và nghĩa vụ tố tụng tương ứng với các chức năng của cơ quan tiến hành tố tụng mà họ là người tiến hành tố tụng trực tiếp của cơ quan đó Vì

Trang 19

vậy, chúng tôi xác định nội dung vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ hai giác độ cơ bản dưới đây

1.2.1 Vai trò của Kiểm sát viên trong các quan hệ tố tụng của quá trình giải quyết vụ án hình sự

Quá trình giải quyết vụ án hình sự có nhiều giai đoạn với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp từ giai đoạn khởi tố, điều tra đến thi hành án hình sự Do vậy, Kiểm sát viên có mối quan hệ pháp luật với nhiều chủ thể tiến hành và chủ thể tham gia TTHS

Thứ nhất, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tiến hành tố tụng khác của VKS

Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tiến hành tố tụng khác trong VKS là mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm tra viên trong cùng một cơ quan VKS

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKS cấp mình Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng thực thi nhiệm vụ Khi có vụ án xảy ra, Kiểm sát viên thực thi nhiệm

vụ, quyền hạn theo sự phân công của Viện trưởng, Phó Viện trưởng (được Viện trưởng ủy nhiệm) Kiểm sát viên có trách nhiệm báo cáo trung thực, chính xác, đầy

đủ nội dung vụ việc, tiến độ giải quyết và đề xuất hướng xử lý Viện trưởng, Phó Viện trưởng (được Viện trưởng ủy nhiệm) sau khi nghe Kiểm sát viên báo cáo thì ghi ý kiến chỉ đạo của mình vào phiếu đề xuất của Kiểm sát viên Mặc dù là người tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS nhưng hoạt động của Kiểm sát viên không mang tính độc lập cao như Thẩm phán Kiểm sát viên chỉ được thực hiện độc lập một số hoạt động tố tụng và đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc thủ trưởng và nguyên tắc trực thuộc một chiều đặc thù của ngành Kiểm sát Trong quá trình tác nghiệp, Kiểm sát viên phải thường xuyên báo cáo với Viện trưởng, Phó viện trưởng (được Viện trưởng ủy nhiệm) Mối quan hệ giữa Viện trưởng, Phó Viện trưởng với Kiểm sát viên trong cùng một cơ quan VKSND được điều là mối quan

Trang 20

hệ chỉ huy, mệnh lệnh – phục tùng, xuất phát từ sự phân định thẩm quyền hành chính và quyền hạn trong TTHS của các chức danh này Thẩm quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng theo quy định của pháp luật mang tính mệnh lệnh và phải được Kiểm sát viên chấp hành nghiêm chỉnh Trong chỉ đạo nghiệp vụ, Viện trưởng

ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; có trách nhiệm giám sát các hoạt động và chỉ đạo kịp thời các vấn đề nghiệp vụ đối với Kiểm sát viên và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình

Kiểm tra viên là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Kiểm tra viên được hiểu là người giúp Kiểm sát viên thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Kiểm tra viên được phân công giúp việc cho Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án nên trong mối quan hệ này, Kiểm sát viên giữ vai trò chỉ đạo nhiệm vụ cho Kiểm tra viên, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra Kiểm tra viên thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật Kiểm tra viên tiến hành nghiên cứu hồ sơ, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên, thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước Kiểm sát viên

Thứ hai, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tiến hành tố tụng khác, người được giao một số nhiệm vụ khác ngoài VKS

Quá trình giải quyết vụ án hình sự có sự tham gia của nhiều cơ quan tiến hành

tố tụng và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan đó Tham gia giải quyết các vụ

án hình sự, chủ thể có mối quan hệ với Kiểm sát viên không chỉ có Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm tra viên trong cùng một cơ quan VKS mà còn bao gồm những người tiến hành tố tụng khác, người được giao một số nhiệm vụ khác ngoài VKS

Đều có chung nhiệm vụ là đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, nhanh chóng, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội nên các cơ quan VKS, Cơ quan điều tra, những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (bao gồm các cơ quan của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Lực lượng cảnh sát biển, Kiểm ngư, Kiểm lâm, Công an nhân dân được giao

Trang 21

nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Quân đội nhân dân được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) có mối liên hệ mật thiết với nhau trong quá trình tiến hành hoạt động TTHS mà đại diện trực tiếp là giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của các cơ quan theo luật định Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên,

những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vừa mang tính chỉ đạo vừa có tính chất phối hợp, kiểm soát lẫn nhau Tính chất chỉ đạo thể hiện ở

việc Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp có quyền tác động trực tiếp vào hoạt động điều tra của các Điều tra viên, các cá nhân có thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên trực tiếp hoặc trình Viện trưởng VKS ra các quyết định tố tụng và yêu cầu Cơ quan điều tra, những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và những người tiến hành tố tụng của các cơ quan này phải thực hiện Nhưng ngược lại, Điều tra viên, những người có thẩm quyền thuộc các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Lực lượng cảnh sát biển, Kiểm ngư, Kiểm lâm, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân không có quyền can thiệp vào hoạt động của Kiểm sát viên Pháp luật TTHS quy định cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa Cơ quan điều tra và VKS (Nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự) Kiểm sát viên đại diện cho VKS kiểm tra, giám sát kết quả hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra của Điều tra viên được phân công giải quyết vụ án hình sự; đồng thời có trách nhiệm thông báo các kết quả giải quyết vụ án cho Điều tra viên Cơ chế kiểm soát lẫn nhau giúp loại bỏ các hành

vi vi phạm pháp luật, tăng hiệu quả hoạt động của các bên khi tham gia giải quyết

vụ án hình sự Bên cạnh đó, VKS và các cơ quan điều tra này thuộc hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, có sự độc lập nhất định và không có sự ràng buộc với nhau trong quan hệ hành chính Pháp luật TTHS cũng không có những quy định và chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của những người tiến hành tố tụng, của Kiểm sát viên, của Điều tra viên một cách cụ thể rõ ràng để đảm bảo thực hiện mối quan quan hệ này[56, tr 48] Do đó, trong quá trình điều tra, thực hành quyền

Trang 22

công tố và kiểm sát điều tra thì cần phải có sự phối hợp giữa Kiểm sát viên với Điều tra viên, những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Chất lượng của hoạt động TTHS trong giai đoạn điều tra phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức, phương pháp cũng sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả của các Kiểm sát viên, Điều tra viên tham gia vụ án

Ngoài Cơ quan điều tra, VKS thì hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng còn

có một bộ phận rất quan trọng đó là Tòa án Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán thể hiện bản chất mối quan hệ của hai cơ quan nhà nước mà họ là người đại diện Đó là mối quan hệ phối hợp và kiểm soát, chế ước lẫn nhau của Tòa án và VKS Kiểm sát viên và Thẩm phán là các chức danh tư pháp, tham gia giải quyết vụ

án hình sự với tư cách là người tiến hành tố tụng Tính chất phối hợp nhưng có sự kiểm tra, chế ước lẫn nhau của mối quan hệ này thể hiện rõ trong giai đoạn xét xử

mà cụ thể là tại các phiên tòa hình sự Tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên với tư cách

là người đại diện thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử của Thẩm phán và ngược lại, Thẩm phán đảm nhiệm tốt vai trò của mình, tiến hành hoạt động xét xử đúng đắn, khách quan và công bằng cũng sẽ giúp cho Kiểm sát viên hoàn thành tốt vai trò của mình Hiệu quả xét xử của Tòa án phụ thuộc phần nhiều vào hoạt động của Kiểm sát viên Phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa… [5] Sự phối hợp giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán tại phiên tòa phải đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật, tránh thông đồng dẫn đến đưa ra phán quyết sai lầm, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Bên cạnh tính phối hợp thì mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán còn mang tính chế ước lẫn nhau Là những chủ thể tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên và Thẩm phán

có sự tác động qua lại nhằm kiểm soát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán là người kiểm soát toàn bộ quá trình xét xử Thẩm phán là chủ thể đại diện cho Tòa án có quyền xem xét, kết luận về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên trong quá

Trang 23

trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét và kết luận về tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu do Kiểm sát viên thu thập Trong trường hợp xét thấy cần thiết, Thẩm phán có quyền trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung, yêu cầu VKS bổ sung, hoàn thiện chứng cứ Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh tính có căn cứ của nội dung truy tố bằng việc đưa ra những căn cứ pháp lý, các chứng cứ chứng minh, lập luận để buộc tội bị cáo và bác bỏ các quan điểm, chứng cứ mà bị cáo, người bào chữa của bị cáo đưa ra Tuy nhiên, Kiểm sát viên chỉ đưa ra ý kiến, đề xuất quan điểm giải quyết đối với vụ án còn vai trò quyết định trong việc đưa ra bản

án lại thuộc về thẩm quyền của Thẩm phán Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu Kiểm sát viên trình bày các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa Kiểm sát viên tại phiên tòa ngoài thực hành quyền công tố còn tiến hành kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa Kiểm sát viên kiểm sát tính hợp pháp và có căn cứ của bản án đã tuyên Nếu có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu tòa án khắc phục những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện trưởng để tiến hành kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

Thứ ba, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng

Những người tham gia TTHS bao gồm người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người phiên dịch, người dịch thuật; người giám định; người định giá tài sản, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội Các chủ thể này đều có một vị trí nhất định trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự mà hoạt động của họ góp phần khẳng định vai trò của Kiểm sát viên trong thực thi các nhiệm vụ, chức năng của VKS

Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp từ giai đoạn khởi tố vụ án đến khi kết thúc xét xử và thi hành bản án có hiệu lực của tòa án Trong mối quan hệ với các chủ thể tham gia TTHS, Kiểm sát viên

Trang 24

đóng vai trò là người đại diện cho quyền lực nhà nước tiến hành hoạt động TTHS

mà những hoạt động đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của các cá nhân hoặc của người họ là đại diện tham gia tố tụng

Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo là mối quan hệ giữa một bên đại diện cho quyền lực nhà nước với một bên là cá nhân có dấu hiệu phạm tội Điều này dẫn đến tính bất bình đẳng tất yếu trong mối quan hệ này Kiểm sát viên với tư cách là tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, tìm

ra sự thật của vụ án Căn cứ vào hồ sơ và bản kết luận điều tra mà VKS quyết định truy tố bị can ra trước tòa bằng một bản cáo trạng hay trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án Trường hợp vụ án được đưa ra xét xử, Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa, lập luận để buộc tội bị cáo Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với bị cáo là mối quan hệ giữa bên buộc tội đại diện cho quyền lực nhà nước với bên bị buộc tội Là người bị buộc tội nên quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tham gia tố tụng sẽ bị hạn chế nhất định theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, người bị buộc tội vẫn được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án đã có hiệu lực pháp luật tuyên họ có tội Vì thế, người bị buộc tội vẫn phải được những người tiến hành tố tụng, trong đó có Kiểm sát viên tôn trọng, bảo đảm quyền con người; tuyệt đối không được đối xử với họ như người phạm tội Bên cạnh đó, Kiểm sát viên không chỉ tiến hành buộc tội bị cáo mà còn có trách nhiệm thu thập các chứng cứ, tài liệu để gỡ tội cho bị cáo Ngoài các tình tiết chứng minh tội phạm, Kiểm sát viên còn đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự Bên cạnh hoạt động thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên còn kiểm sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được trao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tố tụng và các chủ thể có thẩm quyền của các cơ quan đó nhằm bảo đảm toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm phải được tiến hành một cách chặt chẽ theo đúng trình tự, thủ tục do luật định; đảm bảo người bị buộc tội được thực hiện quyền bào chữa của mình một cách đầy đủ và thuận lợi Như vậy, Kiểm sát viên không chỉ là đại diện cho VKS

Trang 25

tiến hành buộc tội mà còn là người bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người phiên dịch, người dịch thuật; người giám định; người định giá tài sản, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội là những cá nhân góp phần vào quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Kiểm sát viên có thể căn cứ vào lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; kết quả giám định của giám định viên, biên bản định giá của người định giá tài sản và sự trợ giúp của phiên dịch viên, dịch thuật viên trong trường hợp người tham gia tố tụng không biết Tiếng Việt để tìm ra các chứng cứ chứng minh tội phạm Đây là những chủ thể trợ giúp Kiểm sát viên thực hiện hoạt động của mình và phải có mặt khi được triệu tập

Người bào chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân Họ giữ vai trò quan trọng trong tranh tụng, đại diện cho bên gỡ tội tranh luận với Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa để làm sáng tỏ nội dung vụ án Nếu như Kiểm sát viên đại diện cho quyền lực nhà nước thực hành quyền công tố theo sự phân công của Viện trưởng VKS thì người bào chữa là người đại diện cho cá nhân bị truy tố, thực hiện các hoạt động để “gỡ tội”, bảo vệ cho thân chủ mình trong phiên tòa hình sự Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, các quan điểm của Kiểm sát viên và người bào chữa sẽ tạo nên bức tranh toàn cảnh của vụ án, giúp cho Hội đồng xét xử có cái nhìn khách quan và chính xác, qua đó đưa ra phán xét đúng đắn Sự tham gia của người bào chữa trong vụ án hình

sự là động lực để Kiểm sát viên không ngừng trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiệp

vụ, bản lĩnh để có thể tham gia tranh tụng tốt tại phiên tòa Kiểm sát viên và người bào chữa cùng tham gia giải quyết vụ án sẽ đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trang 26

Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với người bào chữa khác mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Thẩm phán và Điều tra viên Kiểm sát viên, Thẩm phán, Điều tra viên là những người tiến hành tố tụng, có trách nhiệm chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ sự thật vụ án Trong khi đó, người bào chữa tham gia tố tụng tìm ra sự thật

vụ án, bảo vệ cho quyền lợi của thân chủ mình Đây là quyền chứ không phải là nghĩa vụ Bên cạnh đó, không phải trong tất cả các vụ án hình sự đều có sự tham gia của tất cả các chủ thể tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật Do vậy, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng chỉ phát sinh trong các vụ án cụ thể

1.2.2 Các hoạt động thể hiện vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

(i) Các hoạt động thực hành quyền công tố

Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật Phạm vi thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên bắt đầu từ khi khởi

tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án được thi hành hoặc vụ án bị đình chỉ

Thứ nhất, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thông qua hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm là những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự Đó có thể là tin báo, tố giác; là kiến nghị khởi tố; là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện ra tội phạm hoặc là người phạm tội tự thú VKS có thể là cơ quan trực tiếp tiếp nhận các nguồn tin này Khi tiếp nhận nguồn tin, người tự thú thì Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hành quyền công tố có nhiệm vụ chuyển giao cho Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết Kiểm sát viên trực tiếp kiểm tra, giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm trong trường hợp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà VKS đã có yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục

Trang 27

Thứ hai, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thông qua hoạt động đề ra yêu cầu điều tra

Hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên được thực hiện từ khi có quyết định khởi tố vụ án và xuyên suốt quá trình điều tra Hoạt động điều tra có đầy

đủ, kịp thời, hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc đề ra các yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên Kiểm sát viên luôn bám sát quá trình điều tra của cơ quan điều tra để có những yêu cầu kịp thời, đúng với vấn đề cần phải điều tra; từ đó hạn chế được tình trạng trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của VKS hoặc mất mát, thất lạc chứng cứ Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói hoặc bằng văn bản trong quá trình trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra Nếu Kiểm sát viên thực hành tốt công tác này thì quá trình giải quyết vụ án hình sự

ở các giai đoạn tiếp theo sẽ được thuận lợi và nhanh chóng, chính xác hơn

Thứ ba, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thông qua việc yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can và quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế

Để phục vụ cho việc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi giải quyết vụ án hình sự, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố có thể quyết định áp dụng một số biện pháp cưỡng chế như áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản… Trường hợp bị can bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu thì việc ra quyết định truy nã là vô cùng cần thiết Đây là hoạt động thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Tuy nhiên trong nhiều trường hợp Cơ quan điều tra chưa phát hiện hoặc kéo dài thời gian ra quyết định truy nã thì Kiểm sát viên có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra nhanh chóng truy nã bị can Tương tự trong trường hợp bắt được bị can bỏ trốn hoặc bị can bị truy nã ra đầu thú thì Kiểm sát viên cũng có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra

ra quyết định đình nã

Thứ tư, triệu tập, hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; người làm chứng, người bị hại, đương sự; người bị giữ trong

Trang 28

trường hợp khẩn cấp cũng là một trong các hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Kiểm sát viên

Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra theo trình tự tố tụng đối với người

đã bị khởi tố nhằm làm rõ hành vi phạm tội Hỏi cung bị can được cơ quan điều tra tiến hành ngay sau khi khởi tố bị can

Lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; người làm chứng, người

bị hại, đương sự; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là một hoạt động điều tra được thực hiện bằng việc gặp trực tiếp và hỏi những người đã chứng kiến hoặc người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội hoặc người có những thông tin về các tình tiết của vụ án nhằm thu thập thông tin cần thiết để làm rõ sự thật khách quan

Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố cùng tham gia với Điều tra viên hoặc trực tiếp thực hiện việc hỏi cung và lấy lời khai Việc trực tiếp thực hiện hoạt động này giúp cho Kiểm sát viên có thể loại bỏ những nghi ngờ của mình đối với lời khai của các chủ thể trên trước cơ quan điều tra; khẳng định năng lực và trách nhiệm của các Điều tra viên; nắm chắc và theo sát quá trình điều tra vụ

án Việc hỏi cung, lấy lời khai giúp Kiểm sát viên củng cố hồ sơ, củng cố chứng cứ

để có thể báo cáo với lãnh đạo VKS

Thứ năm, trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thông qua việc tham gia phiên tòa; công bố cáo trạng, quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn hoặc quyết định khác của VKS liên quan đến việc buộc tội bị cáo; xét hỏi, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và thực hiện việc luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp

Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự bắt đầu từ khi bản cáo trạng và quyết định truy tố của VKS cùng hồ sơ vụ án được chuyển đến tòa án cho đến khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc bị kháng cáo, kháng nghị và hồ sơ vụ án được chuyển lên tòa án có thẩm quyền xét

xử phúc thẩm [56, tr 215] Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công

tố trước khi tham gia phiên tòa nghiên cứu hồ sơ vụ án và dự thảo đề cương tham

Trang 29

gia xét hỏi Kiểm sát viên khi nghiên cứu hồ sơ ghi chép, trích ghi những tài liệu quan trọng, các tình tiết chính của vụ án để có cơ sở tranh luận với bị cáo hoặc người bào chữa Kiểm sát viên chuẩn bị đề cương tham gia xét hỏi, trong đó dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa, các vấn đề mà người bào chữa có thể sẽ nêu ra để chủ động tranh luận Luận tội là hoạt động quan trọng của Kiểm sát viên trong phiên tòa

Kiểm sát viên bắt đầu hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử vụ án hình sự bằng việc đọc bản cáo trạng tại phiên tòa Sau khi thủ tục bắt đầu phiên tòa kết thúc, Kiểm sát viên đại diện cho VKS trình bày toàn bộ cáo trạng Trong đó nêu rõ các vấn đề chứng minh trong vụ án như thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội; động cơ, mục đích, các thủ đoạn của tội phạm; hậu quả và các tình tiết quan trọng; các chứng cứ chứng minh tội phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; điều luật mà bị can bị truy tố…

Kiểm sát viên tham gia xét hỏi sau khi chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm đã hỏi xong Sở dĩ luật TTHS quy định trình tự xét hỏi theo thứ tự như vậy là xuất phát

từ trách nhiệm chứng minh vụ án, các định sự thật khách quan tại phiên tòa là trách nhiệm chính của Hội đồng xét xử Thông qua xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án làm cơ sở cho việc xác định tội danh, hình phạt và các quyết định sau này Để đảm bảo được điều đó, luật TTHS cho phép Chủ tọa phiên tòa quyết định một thứ tự xét hỏi hợp lý đối với từng vụ án Thứ tự này không hạn chế tính chủ động của các thành viên khác của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên trong việc thực hiện việc xét hỏi tại phiên tòa Kiểm sát viên có thể chủ động đề nghị chủ tọa phiên tòa cho hỏi bất kỳ ai nếu thấy cần thiết [56, tr 244] Tuy nhiên, do quy định như vậy lại rất dễ gây hiểu nhầm về vai trò xét hỏi của Chủ tọa phiên tòa, coi việc hỏi thuộc về nhiệm vụ của Chủ tọa phiên tòa còn Kiểm sát viên khi tham gia xét hỏi cần chú trọng vào những nội dung bảo vệ cáo trạng của VKS mà không quan tâm đến việc xét hỏi của các chủ thể khác, dẫn đến việc Kiểm sát viên chỉ chú trọng đến việc buộc tội mà lờ đi các chứng cứ gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án Điều này là không đúng với bản chất mô hình tố tụng thẩm vấn có yếu tố tranh tụng của nước ta

Trang 30

Sau khi kết thúc thủ tục xét hỏi, căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa thì Kiểm sát viên có thể tiến hành luận tội hoặc rút quyết định truy tố Việc thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên được biểu hiện rõ nét thông qua hoạt động luận tội

và tranh luận tại phiên tòa Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị lời luận tội, Kiểm sát viên thực hiện việc luận tội đối với bị cáo Luận tội của Kiểm sát viên chính là

sự buộc tội chính thức của VKS đối với bị cáo, thể hiện quan điểm giải quyết vụ án hình sự Phần luận tội của Kiểm sát viên phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một các khách quan, đầy đủ và toàn diện; đánh giá đúng tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nêu rõ hậu quả xảy ra, vai trò trách nhiệm của bị cáo Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa thể hiện đầy đủ những tài liệu trong hồ sơ vụ án, cho thấy sự đồng tình hay bác bỏ những chứng cứ, lập luận của người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét hỏi mà họ đã xuất trình, trình bày Kiểm sát viên chủ động trước những tình huống, diễn biến mới tại phiên tòa, phân tích, đánh giác chứng cứ logic, chính xác, giải đáp được những yêu cầu của người tham gia tố tụng nêu ra

Vai trò thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự thể hiện rõ ràng nhất thông qua tranh luận của Kiểm sát viên Tranh luận là hoạt động trung tâm của quá trình xét xử tại phiên tòa Trong suốt quá trình tranh luận, Kiểm sát viên phải bảo vệ được những quan điểm luận tội mà mình đã nêu ra Trường hợp những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bào chữa nêu ra các ý kiến khác với luận tội thì Kiểm sát viên đưa ra những lập luận của mình đối đáp đến cùng với từng ý kiến của người tham gia tố tụng dựa trên các căn cứ pháp luật và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

đã được xem xét công khai tại phiên tòa Hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng nhằm làm sáng tỏ nội dung của vụ án, làm cho việc buộc tội được khách quan, có căn cứ; tránh được sự áp đặt một chiều từ phía các cơ quan điều tra, VKS; và là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét đưa ra các phán quyết cụ thể chính xác Khi tranh luận, Kiểm sát viên bình tĩnh, thận trọng và tôn trọng các quyền hợp pháp của người tham gia tố tụng nhưng đồng thời kiên quyết bảo vệ các quan điểm, lập luận đúng, bác bỏ các luận điệu sai trái, các chứng cứ thiếu khoa học, không có đủ căn cứ pháp luật nhằm bảo vệ sự thật khách quan của vụ án

Trang 31

Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hiện việc buộc tội bị cáo chính xác và không làm oan người vô tội Do vậy, nếu trong trường hợp các tình tiết chỉ ra việc truy tố là không chính xác và việc buộc tội bị cáo là không có căn cứ hoặc thiếu căn

cứ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất với lãnh đạo VKS để quyết định rút toàn bộ hoặc một phần quyết định truy tố tùy theo trường hợp cụ thể (trong trường hợp rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa); hoặc tự mình rút quyết định truy tố, kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa

(ii) Các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự

Ngoài thực hành quyền công tố thì VKS còn có một chức năng quan trọng khác là kiểm sát hoạt động tư pháp mà nội dung là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Là chủ thể đại diện trực tiếp cho VKS trong thực hiện các hoạt động TTHS, Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tất cả các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự

Thứ nhất, Kiểm sát viên kiểm sát địa vị pháp lý của các chủ thể tiến hành, chủ thể tham gia hoạt động TTHS

Pháp luật TTHS quy định cụ thể về các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng Các chủ thể này cần phải tuân thủ pháp luật khi tiến hành hoạt động tố tụng của mình và có thể bị thay đổi nếu thuộc các trường hợp bắt buộc hay từ chối tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng để bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; đảm bảo quá trình giải quyết vụ án được khách quan, công bằng, tìm ra sự thật vụ án, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Do vậy, với vai trò là người kiểm sát trực tiếp hoạt động TTHS, Kiểm sát viên khi được phân công giải quyết vụ án cần kiểm sát chặt chẽ và có quyền đưa ra yêu cầu thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Và để đảm bảo những quyền cơ bản của bị can, bị cáo theo pháp luật TTHS như quyền bào chữa; quyền được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình… thì Kiểm sát viên có thể yêu cầu, đề nghị cử người bào chữa, người phiên dịch, người dịch thuật tham gia quá trình giải quyết vụ án

Trang 32

Thứ hai, Kiểm sát viên kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án hình sự

Hoạt động tiếp nhận, kiểm tra, giải quyết nguồn tin về tội phạm do Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện

là chủ yếu Cơ quan điều tra và VKS có mối quan hệ phối hợp liên ngành trong tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm; trong đó cơ quan điều tra chịu trách nhiệm chính về việc tiếp nhận, giải quyết và khởi tố vụ án hình sự Để đảm bảo mọi tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố phải được Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, xác minh và giải quyết đầy đủ thì Kiểm sát viên đại diện cho VKS tiến hành kiểm sát ngay từ đầu quá trình tiếp nhận, thụ lý và giải quyết các tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố của

cơ quan điều tra Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án kiểm sát việc Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi tiếp nhận các nguồn tin về tội phạm có đúng lập biên bản và ghi vào sổ tiếp nhận hay không, sau khi tiếp nhận thì việc tiến hành kiểm tra, xác minh các nguồn tin đó

có được thực hiện nghiêm túc, tuân thủ các quy định của pháp luật không? Kiểm sát viên kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm có thể yêu cầu các

cơ quan này cung cấp đầy đủ các tài liệu và thông báo cho VKS về kết quả tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm Kiểm sát viên kiểm sát việc thụ lý giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra là đúng thẩm quyền theo luật định Trong quá trình kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra,

Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể được áp dụng một số biện pháp như thu thập thông tin, tài liệu; khám nghiệm; giám định; định giá tài sản… Kiểm sát viên kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trong quá trình thực hiện những hoạt động đó Ngoài ra, Kiểm sát viên kiểm tra các căn cứ và thời hạn trong việc quyết định tạm đình chỉ hoặc phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm Trường hợp phát hiện ra vi phạm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thì Kiểm sát viên có quyền yêu cầu khắc phục hoặc báo cáo với lãnh đạo VKS để có biện pháp giải quyết Việc kiểm sát hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội

Trang 33

phạm của Kiểm sát viên chính là đảm bảo phát hiện nhanh chóng, kịp thời, không

bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

Khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can được coi là khâu đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là công tắc khởi động cho toàn bộ các hoạt động tố tụng kế tiếp Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là cơ sở để cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật cùng với các biện pháp điều tra mang tính cưỡng chế, can thiệp sâu sắc tới các quyền công dân cơ bản của bị can Kiểm sát viên kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can nhằm đảm bảo giải quyết tốt ngay giai đoạn đoạn đầu tiên của TTHS, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, tôn trọng các quyền hợp pháp của công dân

Khởi tố vụ án là hoạt động đầu tiên để khởi động quá trình giải quyết vụ án hình sự, để cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, tìm kiếm các dấu vết của tội phạm

đã xảy ra Kiểm sát viên kiểm sát việc gửi quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; tránh tình trạng cơ quan điều tra không kịp thời gửi cho Viện kiểm tra trong khi vụ án đã được khởi tố; cơ quan điều tra chỉ gửi khi cần có

sự phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, khi cần phê chuẩn lệnh tạm giam bị can; hoặc cơ quan điều tra không tiến hành khởi tố vụ án khi có sự kiện phạm tội xảy ra Khi nhận được quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định đó Khi kiểm tra quyết định khởi tố vụ án hình sự và hồ sơ, tài liệu, chứng cứ kèm theo, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ quyết định khởi tố; báo cáo, đề xuất lãnh đạo VKS quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án nếu các quyết định

đó không có căn cứ, trái pháp luật Nếu quyết định khởi tố vụ án không phù hợp với những căn cứ có trong tài liệu đã xác minh thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo VKS yêu cầu cơ quan điều tra hoặc VKS quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Kiểm sát viên kiểm sát việc thực hiện các yêu cầu và quyết định nêu trên của cơ quan điều tra Ngoài ra, trong trường hợp Hội đồng xét xử ra

Trang 34

quyết định khởi tố theo quy định của pháp luật TTHS thì Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định đó tương tự như kiểm sát quyết định khởi tố của cơ quan điều tra

Sau khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố cùng các tài liệu liên quan cho VKS phê chuẩn việc khởi tố Quyết định khởi tố bị can có ảnh hưởng sâu sắc tới sinh mạng, chính trị, tới hình ảnh của bị can trong cuộc sống xã hội, tới tâm lý, tình cảm của người bị khởi tố Do đó, pháp luật

đã giao quyền phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cho VKS và đó cũng là giao quyền quyết định cuối cùng cho VKS đối với việc có khởi tố hay không khởi tố một công dân, mặc dù quyết định đó do cơ quan điều tra ban hành [56, tr 82] Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hiện việc kiểm sát quyết định khởi tố bị can kiểm tra tính có căn cứ vào tính hợp pháp của quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra Kiểm sát viên kiểm tra các chứng cứ trong tài liệu đính kèm quyết định khởi tố bị can khẳng định chính bị can là người đã thực hiện hành vi phạm tội và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành; kiểm tra thủ tục ra quyết định và hình thức quyết định khởi tố bị can có tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không Trên cơ sở báo cáo của Kiểm sát viên, lãnh đạo VKS ra các quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; hủy bỏ quyết định khởi tố bị can nếu không có căn cứ, trái pháp luật; yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ quyết định khởi tố

Thứ ba, Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập

hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra

Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ các biện pháp điều tra do cơ quan điều tra áp dụng đối với người bị khởi tố Muốn tìm ra sự thật khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội thì thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm là vấn đề vô cùng quan trọng Hoạt động này chủ yếu thuộc

về trách nhiệm của cơ quan điều tra Kiểm sát viên ngoài việc thực hành quyền công tố chủ động thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan điều tra thu thập chứng cứ thì còn tiến hành kiểm sát hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ của cơ quan điều tra trong

Trang 35

giai đoạn điều tra Có nhiều nguồn và biện pháp thu thập chứng cứ khác nhau Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát các hoạt động khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng; kiểm sát việc hỏi cung bị can, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; người làm chứng, người bị hại, đương sự; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của cơ quan điều tra; kiểm sát việc thực nghiệm điều tra và trưng cầu giám định, định giá tài sản Việc kiểm sát các hoạt động điều tra này của Kiểm sát viên nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tiến hành, nội dung cần thực hiện được điều tra viên, những người tham gia tố tụng tuân thủ nghiêm chỉnh; không bỏ sót các chứng cứ quan trọng liên quan đến chứng minh sự thật khách quan của vụ án

Ngoài ra, Kiểm sát viên kiểm sát các hoạt động điều tra còn tiến hành kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc tách, nhập vụ án hình sự; ủy thác điều tra; kiểm sát việc chấp hành thời hạn điều tra, phục hồi điều tra hoặc điều tra lại, điều tra bổ sung; kiểm sát việc tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra Kiểm sát viên kiểm sát tư cách pháp lý của các chủ thể tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

có đáp ứng yêu cầu của pháp luật TTHS hay không Trường hợp người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra không được tiến hành hay tham gia các hoạt động điều tra; hoặc trong quá trình điều tra có hành vi vi phạm pháp luật TTHS xảy ra thì Kiểm sát viên có biện pháp xử lý kịp thời, trong trường hợp cần thiết có thể báo cáo lãnh đạo VKS giải quyết

Việc lập hồ sơ vụ án thuộc về chuyên môn nghiệp vụ của Điều tra viên, thực hiện theo quy định hướng dẫn của Bộ Công an Hồ sơ vụ án hình sự chủ yếu bao gồm các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can; các quyết định, lệnh, biên bản; các tài liệu về nhân thân người phạm tội; các tài liệu về thu thập, bảo quản vật chứng; … Hồ sơ vụ án là tổng hợp kết quả điều tra, là tài liệu cần thiết để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự Do vậy, Kiểm sát viên cần kiểm tra, giám sát việc lập hồ sơ vụ án của Điều tra viên tuân thủ đúng quy định của pháp luật; hồ sơ được thiết lập đầy đủ, chính xác phục

vụ cho hoạt động truy tố, xét xử của VKS và Tòa án

Trang 36

Thứ tư, Kiểm sát viên kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

Ở giai đoạn điều tra – xét xử, trong trường hợp cần thiết các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật Những biện pháp này can thiệp nghiêm trọng đến các quyền cơ bản của công dân Do vậy, Kiểm sát viên cần kiểm sát, đảm bảo việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng các biện pháp này thay cho điều tra Trước khi có sự phê chuẩn của VKS đối với quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra chỉ được áp dụng một biện pháp duy nhất là hỏi cung bị can ngay sau khi có quyết định khởi tố

bị can Các biện pháp điều tra khác như áp giải, ra lệnh bắt tạm giam,… chỉ được áp dụng khi quyết định khởi tố bị can được VKS phê chuẩn

Bắt, tạm giam, tạm giữ là những biện pháp ngăn chặn trong TTHS, can thiệp nghiêm trọng tới quyền cơ bản của công dân Những biện pháp này chỉ được tiến hành khi cần thiết, khi có đủ các điều kiện bởi các chủ thể nhất định có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS

Trong quá trình điều tra, để tránh tình trạng lợi dụng biện pháp ngăn chặn thay cho điều tra, Kiểm sát viên đại diện cho VKS thực hiện kiểm sát hoạt động bắt, tạm giam, tạm giữ của các cơ quan tiến hành tố tụng

Kiểm sát viên kiểm sát kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc bắt người trong các trường hợp: bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang truy nã, bắt để tạm giam; đảm bảo việc bắt người trong các trường hợp trên là có căn cứ và đúng pháp luật Đối với trường hợp bắt người cần có sự phê chuẩn của VKS (bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt để tạm giam), sau khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn việc bắt người của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và những người có thẩm quyền kèm theo các tài liệu có liên quan, Kiểm sát viên được phân công tiến hành kiểm tra căn cứ bắt người trong từng trường hợp cụ thể Trường hợp sau khi phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam hoặc người có thẩm quyền của VKS hoặc

Trang 37

Tòa án ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam, Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc thi hành lệnh này, kiểm tra việc áp dụng thủ tục khi tiến hành lệnh bắt bị can

Kiểm sát viên kiểm sát áp dụng biện pháp tạm giam, tạm giữ, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh là có căn cứ và đúng pháp luật, kịp thời khắc phục các vi phạm trong quá trình áp dụng, thay đổi, hủy bỏ những biện pháp này của những người có thẩm quyền Kiểm sát viên được phân công kiểm tra việc áp dụng biện pháp tạm giam, tạm giữ, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của pháp luật

Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án là những chủ thể có thẩm quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế Kiểm sát viên cần phải kiểm sát hoạt động của các chủ thể nêu trên có đúng thẩm quyền hay không?, có tuân thủ pháp luật TTHS về thời hạn áp dụng hay không?

Kiểm sát viên kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp cưỡng chế như dẫn giải, áp giải, kê biên tài sản… đúng người, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Kiểm sát viên có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gửi thông báo trước khi quyết định hủy bỏ, thay đổi việc áp dụng biện pháp cưỡng chế (áp dụng đối với hai biện pháp kê biên

và phong tỏa tài sản)

Qua kiểm tra nếu Kiểm sát viên thấy việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của Cơ quan điều tra, Tòa án không có căn cứ, trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo đề xuất với lãnh đạo VKS để yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án khắc phục vi phạm; hoặc hủy bỏ quyết định tạm giữ; hoặc từ chối phê chuẩn việc bắt người; hoặc từ chối phê chuẩn gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và yêu cầu Cơ quan điều tra trả tự do cho những người bị áp dụng các biện pháp đó…

Thứ năm, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của tòa án, của những người tham gia tố tụng và kiểm sát các bản án, quyết định của tòa án

Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của tòa án về thời

Trang 38

hạn chuẩn bị xét xử, về việc ra các quyết định: quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; kiểm sát nội dung của quyết định mở phiên tòa; kiểm sát việc giao các quyết định của tòa án cho những người có liên quan; kiểm sát việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án Đây là những hoạt động của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Nếu xảy ra vi phạm, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu Tòa án khắc phục hoặc báo cáo lãnh đạo VKS giải quyết

Tại phiên tòa, ngoài nhiệm vụ phải bảo vệ cáo trạng và quan điểm truy tố của VKS thì Kiểm sát viên còn tiến hành kiểm sát hoạt động xét xử của tòa án và của những người tham gia tố tụng Hoạt động kiểm sát này nhằm đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh, hoạt động xét xử đúng người, đúng tội, quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng được tôn trọng

Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành quy định của pháp luật về giới hạn xét xử của Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm; kiểm sát việc chấp hành thủ tục xét hỏi Trường hợp Hội đồng xét xử có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên phải yêu cầu Hội đồng xét

xử chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng nhằm đảm bảo việc xét xử được toàn diện, đầy đủ, khách quan Kiểm sát viên phải kiểm sát việc đảm bảo của Hội đồng xét xử về thủ tục và quyền tranh luận tại phiên tòa của những người tham gia phiên tòa; kiểm sát thủ tục nghị án, kiểm tra việc lập biên bản phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án

Kiểm sát viên kiểm sát việc chấp hành pháp luật của những người tham gia

tố tụng tại phiên tòa, đảm bảo họ phải có mặt tại phiên tòa khi được Tòa án triệu tập theo đúng quy định của pháp luật Trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt không có lý do chính đáng gây trở ngại cho việc xét xử và Hội đồng xét xử không

áp dụng biện pháp áp giải hoặc dẫn giải thì Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử

áp dụng các biện pháp trên

Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên kiểm tra biên bản phiên tòa, kiểm tra việc giao bản án, quyết định của Tòa án; kiểm tra bản án, quyết định của Tòa án Sau khi tuyên án hoặc sau khi kiểm tra bản án, quyết định của Tòa án,

Trang 39

nếu phát hiện có vi phạm và có căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo VKS để kháng nghị

Thứ sáu, Kiểm sát viên kiểm sát việc thi hành án

Hoạt động kiểm sát việc thi hành án của Kiểm sát viên nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án được thi hành trên thực tế Tuy nhiên, hiện nay do có nhiều quan điểm về việc phân chia giai đoạn của quá trình giải quyết

vụ án hình sự nên việc tiếp cận vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền trong giai đoạn thi hành án cũng có sự khác nhau

Theo quan điểm thứ nhất hiểu giải quyết vụ án hình sự theo nghĩ rộng, bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và toàn bộ giai đoạn thi hành án thì vai trò kiểm sát việc thi hành án được mở rộng hơn Kiểm sát viên trực tiếp kiểm sát việc thi hành án hình sự, chủ động lập hồ sơ, sổ theo dõi người bị kết án; phối hợp với Tòa án, cơ quan thi hành án, chính quyền địa phương để kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, tổ chức thi hành án ở địa phương Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án ra quyết định thi hành án phạt tù khi bản án đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc Tòa án giao quyết định cho cơ quan thi hành án; kiểm tra nội dung quyết định thi hành án có phù hợp với bản án, quyết định của Tòa án hay không Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình; ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án phạt tù; miễn, giảm thời hạn chấp hành án… Ngoài ra, Kiểm sát viên kiểm sát hoạt động thi hành án của các cơ quan có trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Tòa án (bao gồm: Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an; Cơ quan thi hành án hình sự các cấp; Trại giam; Trại tạm giam; Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan,

tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc) Kiểm sát viên kiểm sát việc những cơ quan kể trên, cá nhân có thẩm quyền của những cơ quan đó có chấp hành đúng và nghiêm chỉnh bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án của người bị kết án hay không?, có tuân thủ các quy định của pháp luật về thi hành án không? Kiểm sát viên có quyền kiến nghị, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt, khắc phục

vi phạm trong thi hành án hình sự; xử lý nghiêm minh người vi phạm

Trang 40

Theo quan điểm thứ hai hiểu giải quyết vụ án hình sự theo nghĩa hẹp, giải quyết vụ án hình sự chỉ dừng lại ở phân đoạn đầu tiên của giai đoạn thi hành án hình

sự thì vai trò kiểm sát thi hành án của Kiểm sát viên được thu hẹp lại Kiểm sát viên chỉ kiểm sát việc ra quyết định thi hành án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án; kiểm sát nội dung quyết định thi hành án của chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS Hoạt động kiểm sát thi hành án của kiểm sát viên dựa trên các quy định của BLTTHS Những hoạt động khác của Kiểm sát viên nói riêng và của VKS nói chung ở phân đoạn kế tiếp trong giai đoạn thi hành án hình sự chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án hình sự

1.3 Vai trò của Kiểm sát viên trong một số mô hình tố tụng trên thế giới

1.3.1 Vai trò của Công tố viên trong mô hình tố tụng tranh tụng

Tố tụng tranh tụng được hình thành và phát triển ở những nước theo hệ thống pháp luật Common law mà Anh quốc luôn được xem là quê hương và TTHS Hoa

Kỳ được coi là chuẩn mực của mô hình tố tụng tranh tụng [9, tr 5]

Ở các nước theo mô hình tố tụng tranh tụng, Công tố viên có vai trò đại diện cho Viện công tố thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giải quyết vụ

án hình sự Vai trò đó của Công tố viên được thể hiện rõ nét nhất trong giai đoạn truy tố và xét xử vụ án hình sự Công tố viên thực hành quyền công tố thông qua việc truy tố; tham gia phiên tòa, đọc cáo trạng, đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, đối đáp, tranh luận với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng

Công tố viên của Viện công tố quyết định truy tố các vụ án hình sự đã được cảnh sát tiến hành điều tra Giai đoạn truy tố được thực hiện bắt đầu từ khi cơ quan cảnh sát chuyển các chứng cứ, hồ sơ phạm tội đến cơ quan công tố để xem xét có buộc tội được người bị tình nghi phạm tội về một tội nào đó hay không Luật tư pháp hình sự Anh, Giới thiệu 1, Mục 6.5 – 6.8 quy định rõ Công tố viên quyết định việc truy tố dựa trên cơ sở chứng cứ và lợi ích công [67, tr 17] Công tố viên xem xét những chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập và lưu giữ đã đủ điều kiện để đưa vụ

án ra xét xử hay chưa Các chứng cứ do cảnh sát thu thập phải đảm bảo tính hợp pháp, tính khách quan và tính liên quan Công tố viên không giám sát quá trình điều

Ngày đăng: 02/03/2017, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2006), Sổ tay kiến thức pháp luật của Điều tra viên, NXB Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kiến thức pháp luật của Điều tra viên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2006
2. Dương Thanh Biểu (2007), “Bàn về tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm”, Tạp chí Kiểm sát, (13), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Năm: 2007
3. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
Năm: 2007
4. Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sách chuyên khảo), NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sách chuyên khảo)
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2016
5. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
6. Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tài chính – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2013), Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Tác giả: Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tài chính – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2013
7. Lê Lan Chi (2005), Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Lan Chi
Năm: 2005
8. Lê Lan Chi (2007), “Bàn về khái niệm xử lý vụ án hình sự và một số khái niệm liền kề”, Tạp chí nghề luật, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm xử lý vụ án hình sự và một số khái niệm liền kề”, "Tạp chí nghề luật
Tác giả: Lê Lan Chi
Năm: 2007
9. Nguyễn Ngọc Chí (2014), Cơ sở lựa chọn mô hình tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách ở Việt Nam, Tài liệu giảng dạy Môn học Những vấn đề chung về Luật tố tụng hình sự, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lựa chọn mô hình tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2014
14. Nguyễn Chí Dũng (2015), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, website VKSND tỉnh Hà Giang, (http://vks.hagiang.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xét hỏi và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2015
15. Đỗ Văn Dương (2005), “Viện Công tố Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý, (5 + 6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Công tố Cộng hòa Pháp”, "Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý
Tác giả: Đỗ Văn Dương
Năm: 2005
16. Đỗ Văn Dương (2008), “Cần phân định rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm và quyền hạn tố tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí kiểm sát, (18), tr. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần phân định rõ thẩm quyền hành chính với trách nhiệm và quyền hạn tố tụng trong tố tụng hình sự”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Đỗ Văn Dương
Năm: 2008
17. Trần Văn Độ (1999), Một số vấn đề về quyền công tố, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ" “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1999
18. Trần Mạnh Đông (2009), Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự - Một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự - Một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam
Tác giả: Trần Mạnh Đông
Năm: 2009
19. Nguyễn Duy Giảng (2013), “Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát và một số kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Kiểm sát, (05), tr.45 – 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát và một số kiến nghị hoàn thiện”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Duy Giảng
Năm: 2013
20. Phạm Hồng Hải (1999), Bàn về quyền công tố, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ" “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
21. Nguyễn Thị Hạnh (2015), Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2015
22. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1996), Từ điển Bách khoa toàn thư, NXB Từ điển Bách khoa toàn thƣ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa toàn thư
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa toàn thƣ
Năm: 1996
24. Lê Mạnh Hùng (2015), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên, website VKSND Đà Nẵng, Đà Nẵng, http://vksdanang.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên
Tác giả: Lê Mạnh Hùng
Năm: 2015
25. Nguyễn Thị Hương (2006), “Hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (10), tr. 58 – 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w