1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)

100 445 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 854,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các công trình này chưa làm nổi bật được các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, với tư cách là hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ BÍCH HẰNG

TRáCH NHIệM HìNH Sự ĐốI VớI CáC TộI PHạM

Về CHứC Vụ TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ BÍCH HẰNG

TRáCH NHIệM HìNH Sự ĐốI VớI CáC TộI PHạM

Về CHứC Vụ TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS Lấ LAN CHI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Bích Hằng

Trang 4

HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các

tội phạm về chức vụ 8

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự 8 1.1.2 Khái niệm tội phạm về chức vụ và trách nhiệm hình sự đối

với tội phạm về chức vụ 13 1.1.3 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ 15

1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về

chức vụ 20 1.3 Khái quát quá trình phát triển các quy định của pháp luật

hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội

phạm chức vụ 27

1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 27 1.3.2 Giai đoạn từ Cách ma ̣ng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi

ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 32

1.4 Những quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội

phạm về chức vụ tại một số quốc gia khu vực ASEAN 38

Trang 5

Chương 2: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM

VỀ CHỨC VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 42 2.1 Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ

trong Bộ luật hình sự năm 1999 42

2.1.1 Khái quát các tội phạm về chức vụ trong Bộ luật hình sự năm

1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) 42 2.1.2 Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong

Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) 44

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm

1999 về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức

vụ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 56

2.2.1 Thực tiễn xét xử các tội phạm về chức vụ trên phạm vi cả

nước và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 56 2.2.2 Những tồn tại trong thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối

với các tội phạm về chức vụ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 63 2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong thực tiễn áp dụng trách

nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trên cả nước

nói chung và tại Phú Thọ nói riêng 67

Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ

CHỨC VỤ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG 71 3.1 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về trách nhiệm

hình sự đối với các tội phạm về chức vụ và một số vấn đề

cần tiếp tục hoàn thiện 71

3.1.1 Các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về trách nhiệm

hình sự đối với các tội phạm về chức vụ 71

Trang 6

3.1.2 Các định hướng tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình

sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về

chức vụ 75 3.1.3 Một số đề xuất tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật

hình sự năm 1999 liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với

các tội phạm về chức vụ 78

3.2 Một số giải pháp khác bảo đảm áp dụng quy định về trách

nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ 80

3.2.1 Giải pháp về nâng cao năng lực, quyết tâm chính trị của Tòa

án và các cơ quan bảo vệ pháp luật 80 3.2.2 Giải pháp về đảm bảo điều kiện tài chính cho hoạt động tố

tụng, bảo đảm điều kiện làm việc cho cán bộ tư pháp 83

KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra HĐXX: Hội đồng xét xử TAND: Tòa án nhân dân VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê việc quy định hình phạt chính trong các tội

chức vụ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến 2015 62 Bảng 2.6 Các hình phạt bổ sung được áp dụng đối với tội phạm về

chức vụ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến 2015 62

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Các tội phạm về chức vụ là các hành vi lệch chuẩn phát sinh từ những đối tượng là người có chức vụ, quyền hạn nhất định, là biểu hiện tha hoá của một bộ phận các quan chức được giao các thẩm quyền nhất định về quản lý Nhà nước đối với những ngành, lĩnh vực, địa phương nhất định, ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của bộ máy nhà nước, gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, xã hội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Những người phạm tội này cần phải bị áp dụng các loại, mức trách nhiệm hình sự thích đáng, như một sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước, một sự răn đe cần thiết để có thể ngăn chặn, khắc phục và giảm thiểu đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra hoặc

đe dọa sẽ xảy ra, đồng thời làm trong sạch bộ máy nhà nước, lấy lại uy tín của nhà nước đối với xã hội

Trong những năm vừa qua do tác động của nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm nói chung, tình hình tội phạm về chức vụ nói riêng diễn ra tương đối nghiêm trọng và phức tạp, để lại những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, trong năm 2015, mặc dù các tội phạm về tham nhũng có xu hướng giảm theo xu hướng của tình hình tội phạm (tổng thể), nhưng giá trị tài sản thiệt hại, thất thoát gây ra cho Nhà nước, cho xã hội lại có xu hướng tăng Điều này một phần xuất phát từ hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về chức vụ chưa cao, “một bộ phận” cán bộ, công chức bị tha hóa, biến chất có xu hướng lan rộng, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi hơn Mặt khác, từ phương diện pháp

lý, thực trạng trên còn có phần do pháp luật hình sự hiện hành còn tồn tại những hạn chế nhất định trong các quy định đối với một số tội phạm về chức

Trang 10

vụ, dẫn đến sự chưa thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật Quy định

về trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm này còn nhiều bất cập Mức hình phạt chưa thật sự nghiêm khắc và nhân văn, chưa đủ sức răn đe; hình phạt tiền, biện pháp tịch thu tài sản… còn hạn chế dẫn tới khó thi hành, khó thu hồi cho ngân sách Nhà nước, còn tồn tại nhiều bất cập về kỹ thuật lập pháp dẫn tới việc chưa phân hóa hợp lý trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp phạm tội Quá trình áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự cũng thể hiện những nhận thức chưa đúng về miễn trách nhiệm hình sự, về áp dụng án treo… dẫn tới bức xúc trong dư luận xã hội Những vấn đề trên đòi hỏi khoa học pháp lý hình sự phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện lý luận, từ đó đưa ra các cơ sở khoa học để cơ quan lập pháp tội phạm hóa kịp thời, hợp lý các vi phạm pháp luật của người có chức vụ và thiết kế các dạng, mức trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm

Vì vậy, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ nói chung và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, trong sự so sánh với cả nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn

thiện lý luận và lập pháp hình sự Do đó, học viên lựa chọn vấn đề: “Trách

nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm đề tài luận văn thạc

sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ mặc dù không phải là vấn đề mới, nhưng vẫn mang tính thời sự và ít nhiều được nghiên cứu trong khoa học luật hình sự Việt Nam Dưới góc độ các công trình nghiên cứu như luận án, luận văn, sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí đã được công bố

mà học viên tiếp cận được thì có thể đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

Trang 11

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về trách nhiệm hình sự và trách

nhiệm hình sự đối với một số nhóm tội, tội phạm cụ thể trong BLHS, điển hình là:

Luận án tiến sĩ luật học "Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình

sự Việt Nam" của Phạm Mạnh Hùng (2004) đã đưa ra khái niệm trách nhiệm

hình sự, mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm hình sự;

cơ sở của trách nhiệm hình sự ; luận án tiến sĩ luật học "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam" của

Trịnh Tiến Việt (2008) nghiên cứu những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự; các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm

sở hữu" của Nguyễn Ngọc Chí (2000), luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy" của Phạm Minh Tuyên (2006), luận

án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Nam (2008), luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường" của Dương Thanh An (2011)…: các luận án này đã đưa ra khái niệm,

đặc điểm chính sách và cơ sở trách nhiệm hình sự, các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các nhóm tội phạm tương ứng

Thứ hai, các công trình nghiên cứu tội phạm về chức vụ nói chung và

một số tội phạm cụ thể trong nhóm tội phạm này nói riêng, bao gồm:

(i) Các luận án, luận văn: Luận án tiến sĩ luật học “Các Tội phạm về tham nhũng trong Luật hình sự Việt Nam” của Trần Văn Đạt (2012); Luận

văn thạc sĩ luật học “Tội tham ô tài sản trong bộ luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Quang Sơn (2007);

Trang 12

(ii) Bài nghiên cứu đăng trên tạp chí chuyên ngành: “Trách nhiệm hình

sự đối với các tội phạm về chức vụ từ những quy định của pháp luật hình sự hiện hành đến thực tiễn áp dụng” của Nguyễn Ngọc Tính (Tạp chí Nghề Luật, số 1/2016, tr 31-37); “Một số ý kiến góp ý đối với phần các tội phạm về chức vụ trong Dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi)” của Hoàng Đình Thanh (Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2015, tr 55 – 60); “Một số ý kiến đóng góp về chương XXIII các tội phạm về chức vụ trong dự thảo Bộ Luật hình sự (sửa đổi)” của Trương Thế Nguyễn, Tạp chí Thanh tra, số 9/2015, tr 35-36);

“Góp phần hoàn thiện một số quy định đối với các tội phạm về chức vụ trong

Bộ luật hình sự năm 1999” của Nguyễn Ngọc Tính (Tạp chí Kiểm sát, số 22/2015, tr 23-29, 42); “Các tội đưa và nhận hối lộ của Luật hình sự Hoa Kỳ trong sự so sánh với Luật hình sự Việt Nam” của Trần Hữu Tráng, (Tạp chí

Luật học, số 12/2010, tr.51-60)…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần làm rõ được các vấn đề về cấu thành tội phạm các tội phạm về chức vụ, khát quát được một số nét lịch sử lập pháp và thực tiễn áp dụng trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, các công trình này chưa làm nổi bật được các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, với tư cách là hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với người có hành vi phạm tội thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ… từ đó, chưa đánh giá các quy định của BLHS năm 1999

về vấn đề này, phát hiện tồn tại, bất cập, qua đó kiến giải hoàn thiện pháp luật

và các vấn đề hữu quan trong thực tiễn áp dụng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

dụng quy định của BLHS Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: 1) Làm rõ khái niệm, đặc điểm trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ;

2) Phân tích cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ;

3) Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay và rút ra những so sánh, đánh giá;

4) Nghiên cứu quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội về chức

vụ trong BLHS một số nước ASEAN và rút ra những nhận xét, kinh nghiệm lập pháp đối với Việt Nam;

5) Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử và thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ (2011 – 2015) trên phạm vi cả nước và địa bàn tỉnh Phú Thọ, để trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản;

6) Đề xuất tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS Việt Nam năm

2015 đối với các tội phạm về chức vụ và trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, cũng như các giải pháp bảo đảm áp dụng hiệu quả các quy định tương ứng đó

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề trách nhiệm hình sự đối

với các tội phạm về chức vụ

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm

về chức vụ, đặc biệt qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 5 năm từ 2011-2015

Luận văn cũng tìm hiểu, so sánh pháp luật nước ngoài nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi một số nước ASEAN để so sánh, tìm ra những điểm tương đồng và những điểm khác biệt giữa pháp luật nước ta và các trong khu vực, từ đó, đề xuất những vấn đề cần điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lê nin, trên cơ sở đó, sử dụng những phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, so sánh, thống kê xã hội học nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu Phương pháp so sánh, đối chiếu với các quy định về vấn đề tương tự trong pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới cũng được sử dụng, từ đó phân tích, tổng hợp và đưa ra kiến nghị để hoàn thiện những quy định của BLHS đối vấn để trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ

6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Luận văn có những đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn qua một

số điểm mới sau:

- Nêu và phân tích khái niệm, đặc điểm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ;

- Khái quát quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ và so sánh với các tội phạm về chức vụ tại một số quốc gia trong khu vực

Trang 15

- Phân tích những bất cập còn tồn tại trong BLHS năm 1999, năm 2015

và các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các tội về chức vụ

- Phân tích các vấn đề thực tiễn liên quan đến áp dụng trách nhiệm hình

sự đối với các tội phạm về chức vụ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

- Đưa ra giải pháp hoàn thiện thiện quy định của pháp luật hình sự cũng như bảo đảm cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự các tội phạm về chức vụ

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội

phạm về chức vụ;

Chương 2: Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn áp dụng;

Chương 3: Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về

trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ và một số giải pháp bảo đảm áp dụng

Trang 16

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trong khoa học xã hội, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu là nghĩa vụ tất yếu phải hoàn thành hoặc việc gánh chịu hậu quả của hành vi gây ra hay vì một nguyên nhân nào đó Cụ thể, theo Từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất trách nhiệm là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” hay còn được hiểu là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước Nghĩa thứ hai, trách nhiệm là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả” hay có thể hiểu trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó [15, tr.102] Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, được dùng theo nghĩa thứ hai Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở phần chế tài trong các quy định pháp luật và bao gồm bốn loại: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm vật chất và trách nhiệm kỷ luật nhà nước Trong đó, trách nhiệm hình sự là hình thức trách nhiệm mà ở đó người phạm tội sẽ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi với mức độ nghiêm khắc nhất là hình phạt Dưới góc

Trang 17

độ khoa học pháp lý, khái niệm trách nhiệm hình sự được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới một số góc độ sau:

Theo GS.TSKH Đào Trí Úc:

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước [45, tr.41]

Theo GS TS Đỗ Ngọc Quang:

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án

áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi

mà người đó đã thực hiện [22, tr.14]

GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn có quan điểm:

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình

sự, chịu sự kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [29, tr.126]

GS.TSKH Lê Cảm cho rằng:

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [5, tr 122]

TS Trịnh Tiến Việt có quan điểm:

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định đối với người phạm tội [49, tr.224]

Trang 18

Như vậy, về bản chất, các quan điểm nói trên đều thống nhất khẳng định: (i) Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý; (ii) Trách nhiệm hình sự gắn liền với việc thực hiện hành vi phạm tội và (iii) Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước

Bên cạnh đó, để hiểu đúng thuật ngữ trách nhiệm hình sự, từ đó làm cơ

sở cho việc nhận thức đúng về trách nhiệm hình sự đối với một nhóm tội cụ thể, trong đó có trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, cần phân biệt khái niệm này với khái niệm nghĩa vụ pháp lý hình sự Về bản chất, nghĩa vụ pháp lý hình sự và trách nhiệm pháp lý hình sự là khác nhau Khi đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của một người là đề cập đến khả năng người đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn khi nói đến trách nhiệm pháp lý hình

sự của một người chính là nói đến việc buộc phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý của người đó Trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một người có thể phải chịu hậu quả pháp

lý bất lợi do việc người đó thực hiện tội phạm mà chính là việc phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước trong tình trạng bị cưỡng chế do việc người đó đã thực hiện tội phạm Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu phát sinh mối quan hệ pháp luật hình

sự giữa Nhà nước và người phạm tội Từ khi đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế, chịu trách nhiệm hình sự do Nhà nước áp dụng Nhưng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội sẽ không được thực hiện trên thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Người phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm

Trang 19

hình sự và có thể được miễn trách nhiệm hình sự Giống với người phải chịu trách nhiệm hình sự, người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã thực hiện tội phạm, nghĩa là đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định Từ thời điểm thực hiện tội phạm, người phạm tội có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm hình sự, nhưng vì có những căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự, người đó lại được miễn trách nhiệm hình sự Đối với người được miễn trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi đã không trở thành hậu quả bất lợi thực tế mà người đó phải chịu Như vậy, trách nhiệm hình sự chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội nhưng không có nghĩa người phạm tội nào cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự Trong nhiều trường hợp, theo quy định của pháp luật hình sự, người phạm tội không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự Do vậy, không thể đồng nhất nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hình sự mà một người phải chịu trên thực tế do việc thực hiện tội phạm

Mặt khác, trong các loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm pháp lý hình

sự là loại trách nhiệm pháp lý mà ở đó người phạm tội phải chịu hậu quả pháp

lý bất lợi, nghiêm khắc nhất, khi so sánh với các loại trách nhiệm pháp lý khác, bao gồm: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm vật chất và trách nhiệm

kỷ luật nhà nước, thì giữa chúng có những điểm giống và khác nhau Cụ thể: Trách nhiệm hình sự giống với các dạng trách nhiệm pháp lý khác ở chỗ chúng đều là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi vi phạm một hoặc nhiều quy định của ngành luật tương ứng; được xác định bằng một trình tự nhất định do ngành luật tương ứng quy định; được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trong một văn bản của cơ quan tương ứng

có thẩm quyền nhân danh nhà nước; chỉ do nhà nước mà đại diện là cơ quan (người) tương ứng có thẩm quyền áp dụng đối với người bị coi là có lỗi và có

Trang 20

năng lực chịu trách nhiệm pháp lý được quy định trong ngành luật tương ứng;

có các mức độ nặng hoặc nhẹ khác nhau tương ứng với tính chất và mức độ vi phạm cũng như các tình tiết cụ thể của vụ việc và nhân thân người vi phạm

Sự khác nhau của trách nhiệm hình sự với các dạng trách nhiệm pháp

lý khác: Thứ nhất, về cơ sở phát sinh: trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có

việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm; trong khi đó, các dạng trách nhiệm pháp lý khác phát sinh khi có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm đến một hoặc nhiều quy định của

ngành luật tương ứng Thứ hai, về hậu quả pháp lý của việc áp dụng trách

nhiệm pháp lý tương ứng: đối với trách nhiệm hình sự, chủ thể của hành vi vi phạm bị xử lý bằng chế tài pháp lý hình sự khác nhau và còn phải mang án tích trong một thời gian nhất định (nếu bị áp dụng hình phạt); ở các dạng trách nhiệm pháp lý khác, chủ thể của hành vi vi phạm bị xử lý bằng một hoặc nhiều chế tài pháp lý khác nhau do ngành luật tương ứng quy định và một số

hạn chế nhất định về quyền Thứ ba, mức độ nghiêm khắc của dạng trách

nhiệm pháp lý tương ứng: trách nhiệm hình sự là nghiêm khắc nhất so với tất

cả các dạng trách nhiệm pháp lý khác vì tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bao giờ cũng cao hơn cả; các dạng pháp lý khác thông thường ít nghiêm khắc hơn trách nhiệm hình sự vì tính nguy hiểm cho xã hội của vi phạm pháp

luật phi hình sự bao giờ cũng nhỏ hơn so với tội phạm Thứ tư, về chủ thể có

thẩm quyền áp dụng: chỉ có Nhà nước mà đại diện là cơ quan tư pháp hình sự

có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể; các dạng trách nhiệm pháp lý khác do nhà nước mà đại diện là cơ quan có thẩm quyền được

quy định trong từng ngành luật tương ứng Thứ năm, về đối tượng bị áp dụng

dạng trách nhiệm pháp lý tương ứng: trách nhiệm hình sự chủ yếu áp dụng đối với thể nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, pháp luật của một số quốc gia cũng quy định pháp nhân là đối

Trang 21

tượng bị áp dụng trách nhiệm hình sự nhưng chỉ với một số loại tội danh nhất định; với các dạng trách nhiệm pháp lý khác thì ngoài thể nhân còn có thể là pháp nhân, có năng lực và có lỗi trong việc thực hiện hành vi vi phạm luật

Thứ sáu, về trình tự xác định và văn bản mà trong đó thực hiện dạng trách

nhiệm pháp lý tương ứng: quá trình áp dụng trách nhiệm hình sự được xác định theo các thủ tục luật định của Bộ luật trách nhiệm hình sự và chủ yếu trong các bản án kết tội áp dụng hình phạt; các dạng trách nhiệm pháp lý khác được xác định tùy theo các quy định của ngành luật tương ứng và phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể là văn bản của cơ quan (người) có thẩm quyền xử

lý hành vi vi phạm của từng ngành luật phi hình sự

Từ việc làm rõ một số vấn đề lý luận nêu trên đó có thể hiểu “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, mà người phạm tội phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước, do người đó thực hiện tội phạm, được thể hiện bằng việc các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định”

1.1.2 Khái niệm tội phạm về chức vụ và trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về chức vụ

Nói một cách khái quát thì các tội phạm về chức vụ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Các tội phạm về chức vụ trực tiếp xâm hại sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, cũng có thể xâm hại đến quan hệ sở hữu Nhà nước

và xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân Trong đó, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật hoặc điều lệ quy định, những hoạt động này nhằm thực hiện chức năng và mục đích đã đề ra Có thể nói, những hoạt động đúng đắn

Trang 22

của cơ quan, tổ chức bị xâm phạm do các tội phạm về chức vụ gây ra - chính

là những quy định của pháp luật hoặc quy chế, điều lệ buộc phải làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm Trong nhóm tội phạm về chức

vụ, những hành vi do người có chức vụ (là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương) được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để

vụ lợi là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội và cần nghiêm trị bằng những hình thức và mức độ trách nhiệm hình sự thích đáng

Cũng giống như các tội phạm khác, người thực hiện các hành vi phạm tội thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ cũng phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi đó là bị áp dụng các hình thức của trách nhiệm hình sự như hình phạt, biện pháp tư pháp, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, án treo, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích… tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như khi

Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ được thể hiện trong sự tác động mang tính cưỡng chế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự nhất định theo quy định của

Trang 23

BLHS Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ được quy định trong BLHS là căn cứ pháp lý quan trọng để áp dụng trong xử lý các tội phạm

về chức vụ, với các ý nghĩa như sau: Thứ nhất, tạo cơ sở cho việc truy cứu

trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ, thực hiện nguyên tắc

"chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu

trách nhiệm hình sự" Thứ hai, bảo đảm pháp chế và xử lý thống nhất, công minh nghiêm minh, đúng pháp luật các tội phạm về chức vụ Thứ ba, bảo đảm

nguyên tắc công bằng, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không thoát khỏi trách nhiệm và sự tương xứng của trách nhiệm đối với hành vi phạm tội, dù người thực hiện hành vi phạm tội có quyền cao, chức trọng đến

đâu, thành tích, cống hiến trước đó to lớn đến đâu Thứ tư, răn đe những

người có chức vụ có ý định phạm tội, những người có chức vụ “chưa bị lộ” trong việc từ bỏ ý định phạm tội, cổ vũ, động viên nhân dân tin tưởng vào sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật để tố giác tham nhũng, đấu tranh phòng chống tội phạm về chức vụ

1.1.3 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ

Là một dạng của trách nhiệm pháp lý nói chung, trách nhiệm hình sự nói riêng, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ có những đặc điểm chung của trách nhiệm hình sự Cũng như trách nhiệm hình sự tương ứng đối với các loại tội phạm khác, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm

về chức vụ mang đặc điểm của cái riêng trong cái chung như sau:

1.1.3.1 Đặc điểm chung

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ là hậu

quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm về chức vụ Một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, khi đó trách nhiệm hình sự sẽ phát sinh đối với họ qua tiến trình truy cứu trách nhiệm hình

sự Nói cách khác khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị

Trang 24

coi là tội phạm, thì đồng thời trách nhiệm hình sự được đặt ra để giải quyết hậu quả của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng - khi hình phạt được áp dụng đối với họ, có thể họ bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền, lợi ích, thậm chí có thể bị tước bỏ cả tính mạng

Thứ hai, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ luôn

luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội Nhà nước có quyền truy tố, xét xử

và buộc người phạm tội phải chịu hình phạt nhất định tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm

Thứ ba, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ được xác

định bằng một trình tự đặc biệt bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, việc thực hiện trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định Khi một công dân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì chỉ có một số

cơ quan được pháp luật quy định rõ ràng với các chức năng và nhiệm vụ của mình mới có quyền tiến hành những thủ tục nhất định để áp dụng trách nhiệm hình sự Cụ thể các cơ quan này được Bộ luật tố tụng quy định rất cụ thể - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Bản thân các cơ quan này cũng không phải là có "siêu quyền", mà phụ thuộc vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hình sự có những quyền tương ứng, bản thân các cơ quan này cũng có sự phụ thuộc, kiểm chế, giám sát nhau

Thứ tư, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ được thể

hiện chủ yếu trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định Đặc điểm này của trách nhiệm hình

sự đã được Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự khẳng định: không ai bị coi

Trang 25

là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

1.1.3.2 Đặc điểm riêng

Đối với tội phạm về chức vụ, trách nhiệm hình sự có các đặc điểm riêng khá rõ nét sau đây:

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ thường

thể hiện chính sách hình sự nghiêm trị, kiên quyết đấu tranh với loại tội phạm làm tha hóa, mục rỗng bộ máy Nhà nước Trong số các loại hình phạt, hình phạt phổ biến nhất là hình phạt tù có thời hạn - hình phạt tước quyền tự do của người phạm tội, buộc họ phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định, cá biệt có tội phạm phải áp dụng hình phạt tù chung thân, tử hình Đây

là những điểm chung về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về chức vụ trong pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới

Thứ hai, việc phân hóa các loại hình phạt chính trong hệ thống hình

phạt có sự phân biệt giữa các tội phạm tham nhũng với các tội phạm về chức

- Đối với các tội phạm về chức vụ khác, không cần thiết áp dụng các loại hình phạt chính đặc biệt nghiêm khắc như tù chung thân, tử hình Hình

Trang 26

phạt tù có thời hạn ở khung cơ bản có mức khởi điểm thường tối thiểu là 3 tháng, khung tăng nặng có mức tối đa là mười năm Hình phạt chính nhẹ nhất được áp dụng là cảnh cáo Các hình phạt trong khung cơ bản thường thiết kế theo phương thức lựa chọn giữa hình phạt nhẹ hơn (như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ) và tù có thời hạn, ít thiết kế theo phương thức bắt buộc (tù có thời hạn)

Thứ ba, đối với những tội phạm về chức vụ, hình phạt tiền được áp

dụng tương đối phổ biến với tính chất là phạt bổ sung Phạt tiền là hình phạt

có tính chất trừng phạt về kinh tế, nhằm vào kinh tế của người phạm tội, khi

bị Tòa án tuyên phạt hình phạt tiền, người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước Hình phạt tiền được áp dụng tương đối phổ biến, bởi lẽ, lợi ích vật chất là loại lợi ích cơ bản mà người phạm tội hướng tới, điển hình là các tội phạm như tham ô, nhận hối lộ, lạm dụng chức

vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản… Ngoài việc trừng trị bằng cách tước đi quyền tự do, phạt tiền người phạm tội còn là “đánh vào” lợi ích vật chất, động

cơ phạm tội, qua đó cũng đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và còn

có tác dụng cảnh báo, răn đe đối với những người khác

Hình phạt bổ sung tịch thu tài sản cũng được đặt ra với ý nghĩa như trên, tài sản của người phạm tội nếu một phần hoặc toàn bộ là do tham ô –

“đục khoét, ăn cắp” của nhân dân, của tổ chức mà có, do chức vụ, quyền hạn

mà có Vì vậy, Tòa án có thể tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước khi tội phạm về chức vụ mà họ thực hiện là tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng

Hình phạt bổ sung khác là cấm đảm nhiệm chức vụ cũng cần được áp dụng phổ biến và phù hợp với người phạm tội như một biện pháp phòng ngừa, hạn chế những điều kiện phạm tội sau khi thi hành xong hình phạt chính hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo

Trang 27

Thứ tư, về miễn trách nhiệm hình sự:

- Trong một số trường hợp, miễn trách nhiệm hình sự thường được áp dụng khi người phạm tội tự thú trước khi bị phát giác, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự Cụ thể là đối với người đưa hối lộ đã chủ đông khai báo trước khi bị phát giác, quy định này nhằm động viên họ khai báo, giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra và xử lý loại tội phạm thường có khả năng “ẩn” rất cao này trong thực tiễn

- Trong một số trường hợp, miễn trách nhiệm hình sự thường được áp dụng từ các căn cứ sau: do người phạm tội là người có chức vụ, để có được chức vụ tại thời điểm phạm tội, họ thường có nhiều công trạng hoặc cống hiến nhất định, được nhà nước và xã hội thừa nhận, ghi nhận qua các bằng khen, giấy khen và bản thân việc bổ nhiệm họ cũng là một hình thức thừa nhận, ghi nhận cống hiến của họ; do người phạm tội là người có chức vụ nên họ cũng thường ở độ tuổi trung niên hoặc cao niên, sức khỏe kém, lại có trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật, họ có thể chuẩn bị các luận cứ, chứng cứ chứng minh bản thân có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội… Vì vậy, thực tiễn nhiều trường hợp đã miễn trách nhiệm hình sự ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố, thậm chí bị lạm dụng, bị hiểu sai để không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can mà chuyển sang xử lý bằng biện pháp khác

Thứ năm, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ chỉ

mang tính chất cá nhân (thể nhân) Hiện nay, BLHS năm 2015 mặc dù đã chính thức ghi nhận và quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, tuy nhiên, phạm vi các tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ thuộc về 31 tội phạm cụ thể chủ yếu thuộc về

Trang 28

các chương tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, về môi trường và một số tội phạm khác mà chưa bao gồm các tội phạm về chức vụ

1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ

Cơ sở của trách nhiệm hình sự là một trong những vấn đề phức tạp, quan trọng trong luật hình sự và liên quan mật thiết đến nội dung trách nhiệm hình sự, bởi lẽ, cơ sở của trách nhiệm hình sự chính là các căn cứ pháp lý để

từ đó, các cơ có thẩm quyền tiến hành tố tụng đặt ra vấn đề trách nhiệm hình

sự của người phạm tội - người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm Theo luật hình sự Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, chỉ người nào phạm tội được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS) Quy định này đặt ra 2 vấn đề: Thứ nhất, là chỉ người nào phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự Thứ hai là tội phạm đó phải được BLHS quy định Cơ sở của TNHS đối với các tội xâm phạm về chức vụ là cấu thành tội phạm của những tội phạm này được ghi nhận trong BLHS

Tội phạm – hành vi mà một người thực hiện thỏa mãn các điều kiện do BLHS quy định về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi, lỗi của người thực hiện hành vi làm phát sinh trách nhiệm hình sự Các điều kiện này chính là các dấu hiệu pháp lý cần và đủ của mỗi tội phạm được quy định trong BLHS được khoa học luật hình sự gọi là dấu hiệu cấu thành tội phạm Bởi vì, trước hết đó là những dấu hiệu mà BLHS quy định, hai là cần phải có đủ những dấu hiệu đó, thì hành vi mới bị coi là tội phạm, và ba là chỉ cần có đủ những dấu hiệu đó, thì hành vi đó mới coi là tội phạm Như vậy, suy cho cùng, thì cơ sở trách nhiệm hình sự là cấu thành tội phạm Đặc trưng cơ bản của tội phạm cho phép phân định nó với các vi phạm pháp luật khác là tính chất nguy hiểm cho

xã hội của nó Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định, trước hết bởi thiệt

Trang 29

hại mà hành vi tội phạm gây ra hoặc có khả năng gây ra cho các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ Nói cách khác, khách thể của tội phạm – các quan

hệ xã hội - với giá trị và tầm quan trọng của nó – là yếu tố không thể thiếu được của tội phạm Các quan hệ xã hội khách thể của tội phạm, chỉ có thể bị xâm hại thông qua hành vi cụ thể, bằng hành động hoặc không hành động, nhưng nhất thiết phải là sự biểu hiện bên ngoài thế giới khách quan Hơn nữa, thiệt hại do hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra những thông số biểu hiện hậu quả đã gây ra hoặc có khả năng xảy ra Bởi vậy, cũng không thể có tội phạm nếu không có hành vi và không có hậu quả - những dấu hiệu thuộc về phương diện khách quan của tội phạm

Một hành vi chỉ bị coi là nguy hiểm cho xã hội khi nó không phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, khi nó đi ngược lợi ích Nhà nước và xã hội Còn những hành vi phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, thì ngay

cả khi chúng gây ra những thiệt hại nhất định nào đó, về khách quan, các quan

hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ, thì cũng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội (theo quan hệ của giai cấp thống trị) Chẳng hạn, những hành vi được thực hiện trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết v v chỉ có thể nói đến tính chát nguy hiểm cho xã hội khi hành vi đó có lỗi, lỗi là phương diện chủ quan của tội phạm Do đó không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi nào nếu không xác định được yếu tố có lỗi

Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ được thể hiện dưới các phương diện sau:

(i) Cơ sở khách quan của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ - đó là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm cụ thể xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội

Hành vi xâm phạm đến cơ quan, tổ chức rất đa dạng và phong phú, nhưng các tội phạm về chức vụ chỉ xâm phạm đến các hoạt động đúng đắn của

Trang 30

các cơ quan, tổ chức và cũng chỉ xâm phạm đến một số lĩnh vực chứ không

phải xâm phạm hết tất cả các hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Hoạt

động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động theo chức năng, nhiệm

vụ do pháp luật hoặc điều lệ quy định, những hoạt động này nhằm thực hiện

chức năng và mục đích đã đề ra

(ii) Cơ sở hình thức của trách nhiệm hình đối với các tội phạm về chức

vụ là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do BLHS quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa vào đó để truy cứu trách nhiệm hình sự người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến khách thể bảo vệ của các tội phạm về chức vụ

(iii) cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức

vụ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể thuộc các tội phạm chức cụ được BLHS quy định

Khoa học luật hình sự xác định các yếu tố cấu thành tội phạm từ bốn bộ phận: khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm Cấu thành tội phạm về chức vụ được xem xét từ bốn bộ phận đó như sau:

a Về khách thể các tội phạm

Khách thể của tội phạm luôn mang tính giai cấp và là một phạm trù lịch

sử, phản ánh nội dung chính trị - xã hội của tội phạm ở từng thời kỳ Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước bao giờ cũng thiết lập một hệ thống các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của mình để bảo vệ bằng pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự

Khách thể của tội phạm là yếu tố không tách rời của tội phạm, tội phạm bao giờ cũng xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng luật hình sự, đồng thời còn là một căn cứ phân biệt tội phạm với những hành vi không phải là tội phạm Khách thể của tội phạm có ý nghĩa

là một trong các yếu tố bắt buộc và không thể thiếu trong cấu thành tội phạm

Trang 31

Khách thể (loại) của các tội phạm về chức vụ là những quan hệ xã hội đảm bảo cho hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức

xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức là những hoạt động và tổ chức xã hội là hoạt động đúng theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật hoặc điều lệ quy định, những hoạt động này nhằm thực hiện chức năng và mục đích đã đề ra Có thể nói, những hoạt động đúng đắn của cơ quan,

tổ chức bị xâm phạm do các tội phạm về chức vụ gây ra, chính là những quy định của pháp luật hoặc của điều lệ buộc phải làm mà không làm, cấm không được làm thì lại làm Những quy định cụ thể này được thể hiện trong từng hành

vi phạm tội cụ thể trong từng tội phạm về chức vụ trong chương này

Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, kể cả khu vực ngoài Nhà nước gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích của công dân

Ngoài ra, để bảo đảm sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, pháp luật hình sự từng bước ghi nhận các tội phạm về chức vụ trong lĩnh vực dân doanh với chính sách hình sự thể hiện trong BLHS năm 2015 là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô, nhận hối

lộ, thì bị xử lý như với người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước thực hiện hành vi này Như vậy, hành vi khách quan không thay đổi nhưng có sự mở rộng phạm vi chủ thể và khách thể, đó là sự xâm hại hoạt động đúng đắn của cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước

Trang 32

b Về mặt khách quan của các tội phạm

Tội phạm là hành vi nguy hiểm của con người, là thể thống nhất giữa những diễn biến tâm lý bên trong của con người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và những biểu hiện diễn ra bên ngoài mà ta có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan Những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, các dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội Tổng thể các biểu hiện đó tạo thành mặt khách quan của tội phạm Hành vi là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành tội phạm, "hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất", trong khi đó, các dấu hiệu khác chỉ được

quy định trong những cấu thành tội phạm nhất định mà thôi

Về hành vi khách quan, hành vi khách quan của các tội phạm về chức

vụ rất đa dạng, nhưng được đặc trưng bằng hành vi của người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình xâm phạm đến sự hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, gây

ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, xã hội, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu pháp lý

trong mặt khách quan của một số tội phạm như tội tham ô tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ, tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ Đối với những tội phạm này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu

quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc

c Về mặt chủ quan của các tội phạm

Luật hình sự Việt Nam cũng như đa số các nước trên thế giới không chấp nhận việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người mà chỉ căn cứ vào yếu tố khách quan - tức là chỉ dựa vào hành vi trên thực tế có gây thiệt hại

Trang 33

hay không, mức độ gây thiệt hại như thế nào, mà không xem xét đến thái độ chủ quan của chủ thể khi thực hiện hành vi đó Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu quả do hành vi ấy gây ra cho xã hội và được thể hiện bởi các yếu tố: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội

Trong đó lỗi là yếu tố quan trọng nhất

Đối với các tội phạm về chức vụ, đa số các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Tuy nhiên, với một số tội phạm vẫn được thực hiện với lỗi vô ý như: tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, tội vô ý làm lộ bí mật công

tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác

Động cơ phạm tội ở đa số các tội về chức vụ không là dấu hiệu pháp lý bắt buộc Động cơ tư lợi hoặc động cơ cá nhân khác là dấu hiệu pháp lý bắt buộc ở những tội phạm sau: tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành

công vụ, tội lạm quyền trong thi hành công vụ; tội giả mạo trong công tác

d Chủ thể của các tội phạm

Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm là hành vi của con người có tính nguy hiểm cho xã hội, chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình

sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do BLHS quy định

Đối với các tội phạm về chức vụ, chủ thể của các tội phạm về chức vụ thường là chủ thể đặc biệt – người có chức vụ Chủ thể của những tội phạm này ngoài 02 dấu hiệu thông thường là độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình

sự, thì bắt buộc phải có thêm dấu hiệu chức vụ Chủ thể đặc biệt là dấu hiệu bắt buộc trong nhóm tội phạm về tham nhũng trong số các tội phạm về chức

vụ, đó là những người có chức vụ, quyền hạn

Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương,

Trang 34

được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong

khi thực hiện nhiệm vụ Người do bổ nhiệm, do bầu cử có thể được coi họ là

cán bộ, công chức, những người do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, những người này tuy không phải là cán bộ, công chức, họ chỉ được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hợp đồng làm một công việc nhất định thường xuyên hay theo thời vụ hoặc trong một thời gian nhất định Những người này cũng được coi là người có chức vụ, quyền hạn Tuy nhiên, họ chỉ có thể thực hiện một số hành vi phạm tội nhất định

Ngoài ra, trong xu thế hội nhập quốc tế, pháp luật hình sự Việt Nam gần đây đã ghi nhận các tội phạm về chức vụ trong lĩnh vực tư Ví dụ, chủ thể của tội tham ô tài sản có thể là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước Chức vụ, quyền hạn của họ do được bầu, được bổ nhiệm, được hợp đồng giữ chức vụ, quyền hạn trong các loại hình

doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ…

Người có chức vụ, quyền hạn chỉ có thể trở thành chủ thể của các tội phạm về chức vụ khi hành vi phạm tội của hộ được thực hiện trong khi thi hành công vụ, nếu họ thực hiện hành vi phạm tội ngoài phạm vi thi hành công

vụ thì không thuộc trường hợp phạm tội về chức vụ Tuy nhiên, điều khẳng định này không bao gồm các trường hợp phạm tội có đồng phạm (nhiều người tham gia), trong đó có người không thực hiện hành vi phạm tội trong phạm vi thi hành công vụ, nhưng trong một vụ án cụ thể, tội phạm mà họ thực hiện

phải có người thực hiện hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ

Mặc dù các tội phạm về chức vụ là do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhưng không vì thế mà cho rằng trong một vụ án cụ thể chỉ có những người có chức vụ thực hiện tội phạm mà không có những người khác Những người có chức vụ nhất thiết phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nếu là vụ án có đồng phạm thì họ phải là người thực hành, còn

Trang 35

những người khác không có chức vụ có thể là người tổ chức, người xúi dục

hoặc người giúp sức

1.3 Khái quát quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình

sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm chức vụ

Lịch sử loài người đã chứng minh rằng tội phạm về chức vụ, đặc biệt các tội phạm tham nhũng là mặt trái của quyền lực nhưng song hành với quyền lực Chế độ tư hữu, giai cấp và Nhà nước đã tạo ra quyền lực với các loại chức tước, đẳng cấp, đặc quyền, đặc lợi Quyền lực đó không được giám sát chặt chẽ sẽ xảy ra hiện tượng độc quyền, cửa quyền, lạm quyền… là nguồn gốc của tham nhũng và các tội phạm về chức vụ khác Loại tội phạm này là một loại bệnh mãn tính của bộ máy nhà nước, qua các kiểu Nhà nước trong lịch sử nhân loại Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó và đã có một lịch sử lập pháp lâu dài ghi dấu những nỗ lực đấu tranh chống tham nhũng và các tội phạm về chức vụ khác như được ghi nhận dưới đây

Ở nước ta, ngay từ trong xã hội phong kiến, việc đấu tranh phòng, chống các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội đã được đặt ra như một yêu cầu tất yếu để bảo vệ chế độ và bộ máy nhà nước phong kiến đương thời Các đạo luật quan trọng trong lịch sử như: Bộ luật Hình thư (Nhà Lý), Bộ Quốc triều Hình luật (Nhà Trần), Bộ Quốc triều Hình luật (Nhà Lê),

Bộ luật Gia Long (Nhà Nguyễn) ít nhiều đều đã ghi nhận và trừng trị những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội của những người có chức

vụ, quyền hạn trong xã hội thời bấy giờ Nổi bật trong đó là Bộ Quốc triều Hình luật đã đặt ra các quy định trừng trị nhiều hành vi phạm tội tham nhũng, tội phạm liên quan đến chức vụ như: nhận hối lộ, đưa hối lộ, làm trung gian hối lộ, lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản Hành vi nhận hối lộ được Quốc triều Hình luật quy định chung tại Điều 138 - quan lại ăn hối lộ với khung hình phạt nghiêm khắc:

Trang 36

Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 quan đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức; từ 10 đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém Những bậc công thần, quý thần cùng những người có tài dự vào hạng bát nghị mà ăn hối lộ từ

1 quan đến 9 quan thì phạt tiền 50 quan; từ 10 đến 19 quan thì phạt tiền 60 quan đến 100 quan, từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ, những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho [47, tr.45]

Bên cạnh quy định chung này, Bộ luật còn có quy định về các hành vi nhận hối lộ trong lĩnh vực cụ thể như: Điều 170 về nhận hối lộ trong việc tuyển đinh, tráng vào quân đội; Điều 197 về nhận hối lộ trong khi mật tra của quan Liêm phóng; Điều 229 về nhận hối lộ để không tâu với quan trên về hành vi khinh nhờn Như vậy, có thể khẳng định rằng, những quy định này khá chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, xác định ra các mức khung hình phạt rạch ròi, từ thấp đến cao, tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi nhận hối lộ Tuy nhiên, đằng sau đó vẫn ẩn chứa tính bất bình đẳng khi ít nhiều nương nhẹ cho tầng lớp quý tộc, hoàng thân, quốc thích phạm tội bằng việc đặc cách cho áp dụng hình phạt tiền hoặc hình phạt nhẹ hơn quy định Đồng thời với trừng phạt hành vi nhận hối lộ, Quốc triều Hình luật cũng có những quy định tiến bộ về xử lý cả hành vi đưa hối lộ, trung gian, môi giới hối lộ Điều 137 quy định:

Những kẻ đến cầu cạnh với quan chủ ty việc trái pháp luật và

kẻ vì người khác mà đến cầu cạnh thay, đều xử tội biếm hay phạt; quan chủ ty nghe theo thì phải ghép vào tội làm trái pháp luật, việc chưa thi hành thì xử tội biếm hay phạt Việc làm trái pháp luật ấy thuộc về tội nặng thì quan chủ ty phải ghép tội ăn tiền mà xóa tội hay gán tội cho người ta trái sự thực; kẻ vì người mà đến cầu cạnh thì xử tội nhẹ hơn quan chủ ty ba bậc; tự mình có tội mà đến cầu cạnh thì

xử tội nhẹ hơn quan chủ ty hai bậc [47, tr 45]

Trang 37

Ngoài ra, Điều 140 quy định:

Những người đưa hối lộ mà xét ra việc của họ có trái lẽ thì theo việc của họ mà định tội Còn người nào thật oan khổ, vì muốn cho khỏi tội mà hối lộ thì được giảm tội Người nào không phải việc mình mà đi hối lộ thay người khác thì xử tội nhẹ hơn người ăn hối lộ hai bậc Những người thuộc hạ mà xúc xiểm quan trên thì cũng xử tội như thế Của hối lộ phải nộp vào kho [47, tr.46]

Những quy định này đã đặt ra những giả định rất cụ thể, sát với tình huống trong đời sống thực tế (hối lộ, giúp hối lộ, nhận hối lộ, đưa hối lộ vì muốn giải oan, nhận hối lộ nhưng chưa thực hiện việc được yêu cầu…); cũng như phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc tương ứng với từng loại chủ thể và tính chất của hành vi (người đưa hối lộ, người trung gian, người nhận hối lộ); thể hiện tinh thần nhân đạo với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hợp lý, hợp tình Ngoài hành vi nhận, đưa, trung gian đưa hối lộ, Quốc triều Hình luật còn quy định một số hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn khác để trục lợi như: quan giám quản tự tiện dùng dân đinh làm việc riêng cho mình (Điều 166); quan thu thuế giấu bớt thuế đã thu hoặc thu thêm thuế để làm của riêng (Điều 206); Như vậy, có thể nói rằng những quy định của Quốc triều Hình luật về các tội phạm về tham nhũng, chức vụ là một điểm sáng trong lịch sử lập pháp Việt Nam

Sau đó, Hoàng Việt luật lệ của triều Nguyễn mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc từ pháp luật phong kiến Trung Hoa nhưng cũng vẫn tiếp thu được một phần những tiến bộ đó trong quy định các tội phạm về tham nhũng, chức vụ Luật này quy định về các hành vi nhận hối lộ hoặc lợi dụng chức vụ nhũng nhiễu nhân dân và đều bị xử lý nghiêm khắc Chẳng hạn, Chương IX - Nhận hối lộ, Quyển XVII quy định chín điều luật để xử lý như: Điều 1 - Quan lại nhận tiền của; Điều

2 - Tọa tang chí tội; Điều 3 - Sau công việc mới nhận tiền; Điều 4 - Quan lại hứa

Trang 38

nhận tiền của; Điều 5 - Có công việc dùng tiền của cầu cạnh; Điều 6 - Làm quan lại sách nhiễu vay mượn tiền của của dân; Điều 7 - Cho người nhà sách nhiễu tiền của; Điều 8 - Nhận việc công bắt dân đóng góp và Điều 9 - Lưu giữ tang vật

ăn trộm Điều 1 quy định quan lại nhận tiền của nêu rõ:

Phàm quan lại mà nhận của thì tính hết tang vật mà định tội Quan thì bị truy thu bằng sắc và bị cấm không được dùng các danh hiệu quan chức hoặc phẩm hàm, lại thì bị bãi chức dịch, đều không được tiếp tục sử dụng Theo lệ thì các quan viên phạm tội từ phạt 100 trượng đều bị bãi chức, không được tiếp tục sử dụng, riêng phạm tội nhận hối lội chỉ từ 1 lạng trở xuống, nếu uổng pháp phạt 70 trượng, nếu bất uổng pháp phạt 60 trượng, đều bị bãi chức… [32, tr.105];

Điều 4 quy định về quan lại hứa nhận tiền của nêu:

Phàm quan lại đồng ý cho đem tiền của tới, tuy chưa tiếp nhận, nhưng nếu là trường hợp việc bị xử sai, chuẩn theo điều uổng pháp mà luận tội… [32, tr.106];

Điều 6 quy định về làm quan lại sách nhiễu, vay mượn tiền của dân nghiêm trị:

Phạm quan lại cấu kết với đồng bọn cường hào sách nhiễu, vay mượn tiền của của dân sở tại thuộc mình cai quản, thì tính toàn bộ tang, chuẩn theo điều bất uổng pháp mà luận tội Nếu là cưỡng mức thì chuẩn theo điều uổng pháp mà luận tội, tiền của trả lại cho chủ… [32, tr.107]

Điều 9 quy định trường hợp:

Phàm quan tuần bố đã bắt được bọn trộm cướp kèm theo tang vật mà lưu giữ tang vật không đưa lên quan thì phạt 40 roi Nếu bỏ túi tính tang thì lấy bất uổng pháp luận tội [32, tr.108]

Trang 39

Thậm chí, ngay cả các quan lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng dân đinh, phu thợ làm việc riêng cũng bị xử lý Điều 9 (Chương I - Hộ dịch, Quyển VI) quy định:

Phàm các quan ty sai khiến dân sở tại làm việc riêng cho mình

và quan giám công sai dân thợ làm việc riêng cho mình ở nơi xa ngoài 100 dặm hoặc sai khiến lâu ngày ở nhà mình, thì đối với quan

ti cứ sai khiến 1 tên dân là bị xử đánh 40 roi, cứ 5 tên lại tăng thêm một mức, tội nặng nhất cũng chỉ đánh 80 trượng… [47, tr.11]

Tiếp đến, cả việc gây khó dễ ở cửa quan, bến đò cũng bị xử lý nghiêm khắc Điều 3 (Chương III - Quan ải, Quyển XI) quy định:

Người và thuyền bè qua lại nơi cửa quan, bến đò mà thủ bá không lập tức xét hỏi, kiểm tra rồi quan đi qua mà vô cớ gây cản trở, thì cứ chậm một ngày bị xử phạt 20 roi, thêm một ngày thì xử tăng một mức, tội chỉ tới mức 50 roi Nếu nhận hối lộ thì chiếu theo

lệ quan lại làm việc nhận hối lộ thì người hữu sự, luận tội uổng pháp, tính theo số tang vật mà xử tội [32, tr.45]

Đặc biệt, để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, tham ô, Bộ luật còn quy định tại Ðiều 5 - Tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai quản (Chương II

- Ruộng đất, Quyển VI) nêu rõ: “Phàm quan lại đương chức không được mua tậu ruộng đất, nhà cửa ở khu vực mình cai quản Nếu vi phạm, xử phạt 50 roi, bãi nhiệm, ruộng đất nhà cửa đem sung công”; [47, tr.32] Điều 7 - Vay mượn

riêng tiền lương của công (Chương IV - Kho tàng, Quyển VIII) quy định:

Phàm giám thủ, chủ thủ đem các loại tiền lương của Nhà nước mượn riêng hoặc chuyển cho người khác vay mượn, tuy có văn tự, đều bị tính theo tang vật mà xử vào tội giám thủ tự lấy trộm Nếu đem đồ vật của mình thay thế đổi lấy đồ vật của Nhà nước thì cũng

xử tội như thế Đồ vật của riêng đó đem sung công [32, tr.63]

Trang 40

Tóm lại, trong xã hội phong kiến Việt Nam, việc đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng và các tội phạm về chức vụ đã được các triều đình quan tâm sâu sắc Mặc dù pháp luật phong kiến quy định về các tội phạm

mà đối tượng là quan lại hoặc những người có chức sắc nhất định có thể còn chứa đựng sự bất công, phân biệt đẳng cấp: “Hình không đến bậc trượng phu,

Lễ không đến thứ dân”, hoặc chịu ảnh hưởng chi phối của pháp luật Trung Hoa nhưng cơ bản đã đạt được các thành tựu nhất định trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà những điểm tiến bộ của chúng có thể

kế thừa để hoàn thiện pháp luật (hình sự) Việt Nam hiện đại

ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Nhận thức rõ muốn xây dựng được chính quyền trong sạch, vững mạnh và củng cố nền độc lập vừa giành được thì phải chú trọng việc ngăn chặn tệ nạn tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã sớm ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định và trừng phạt các hành vi tham nhũng Trước khi có BLHS năm 1985, phải kể đến một số các văn bản tiêu biểu có quy định trực tiếp hoặc gián tiếp các tội phạm về chức vụ như: Sắc lệnh 267/SL ngày 15/6/1946 quy định trừng trị những âm mưu và hoạt động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước; Sắc lệnh số 223/SL ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ; Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân được ban hành ngày 21/10/1970; Sắc luật 267/SL ngày 15/5/1956 về tội cố ý làm trái công tác phụ trách gây hậu quả nghiêm trọng; Sắc luật số 001/SL ngày 19/4/1957 về cấm

Ngày đăng: 02/03/2017, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh An (2011), Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường
Tác giả: Dương Thanh An
Năm: 2011
2. Ban Chấp hành Trung ương (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
3. Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2005
4. Ban Chấp hành Trung ương (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2005
5. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự (Tập III), NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự (Tập III)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2000
6. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
7. Lê Cảm (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
8. Lê Cảm (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
9. Nguyễn Ngọc Chí (2000), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu, Luận án tiến sỹ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2000
10. Trần Văn Đạt (2012), Các Tội phạm về tham nhũng trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Tội phạm về tham nhũng trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Đạt
Năm: 2012
11. Dương Ngọc Hải (2011), Đấu tranh phòng chống các tội phạm tham nhũng trong thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng chống các tội phạm tham nhũng trong thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Dương Ngọc Hải
Năm: 2011
12. Nguyễn Thị Hiên (2013), Chủ thể đặc biệt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ thể đặc biệt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên
Năm: 2013
13. Phạm Mạnh Hùng (2004), Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2004
14. Ngô Nhất Linh (2015), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Ngô Nhất Linh
Năm: 2015
15. Nguyễn Văn Nam (2008), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Nam
Năm: 2008
16. Trương Thế Nguyễn (2015), “Một số đóng góp về chương XXIII các tội phạm về chức vụ trong dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi)”, Tạp chí Thanh tra, (9), tr.35-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đóng góp về chương XXIII các tội phạm về chức vụ trong dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi)”, "Tạp chí Thanh tra
Tác giả: Trương Thế Nguyễn
Năm: 2015
17. Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2015), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội tham nhũng theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội tham nhũng theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Năm: 2015
18. Trần Công Phàn (2014), Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh tham nhũng, Viện Khoa học và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh tham nhũng
Tác giả: Trần Công Phàn
Năm: 2014
19. Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
20. Nguyễn Hải Phong (2008), Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hải Phong
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Thống  kê  việc  quy  định  hình  phạt  chính  trong  các  tội - Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)
Bảng 2.1. Thống kê việc quy định hình phạt chính trong các tội (Trang 8)
Bảng 2.1. Thống kê việc quy định hình phạt chính trong các - Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)
Bảng 2.1. Thống kê việc quy định hình phạt chính trong các (Trang 58)
Hình phạt chính qui định áp dụng cho các tội phạm này có: - Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)
Hình ph ạt chính qui định áp dụng cho các tội phạm này có: (Trang 59)
Bảng 2.5. Các hình phạt chính được áp dụng đối với tội phạm về chức vụ - Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)
Bảng 2.5. Các hình phạt chính được áp dụng đối với tội phạm về chức vụ (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm