1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)

130 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích nghiên cứu đã đặt ra ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đặt ra các vấn đề sau: Thứ nhất, nghiên cứu và đưa ra khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN MINH THU

TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN MINH THU

TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG VĂN HÙNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Minh Thu

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1 Khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 9

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 12

1.2.1 Khách thể của tội phạm 12

1.2.2 Chủ thể của tội phạm 15

1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm 15

1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm 18

1.3 Vài nét lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 20

1.3.1 Pháp luật thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 21

1.3.2 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực 24

1.3.3 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến trước khi Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực 26

1.3.4 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1999 đến nay 28

Trang 5

1.4 Những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong pháp luật Hình sự của một số nước trên thế giới 32 Kết luận chương 1 41 Chương 2 CÁC HÌNH THỨC PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 43 2.1 Các hình thức pháp lý đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có theo Bộ luật Hình sự 1999 43

2.1.1 Hình phạt đối với người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có 43 2.1.2 Các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 57

2.1.3 Vấn đề miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt đối với người phạm

tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 60

2.2 Phân biệt giữa tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với một số tội phạm khác 64

2.2.1 Phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tội che giấu tội phạm 64 2.2.2 Phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tội không tố giác tội phạm 66 2.2.3 Phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tội rửa tiền 69 2.2.4 Phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với trường hợp đồng phạm cùng tội phạm nguồn 72

Kết luận Chương 2 74 Chương 3 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 76

Trang 6

3.1 Khái quát số vụ án đã thụ lý về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm gần

đây 76

3.2 Thực tiễn xét xử tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2015 79 3.2.1 Số liệu thống kê về thực tiễn xét xử tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2015 79

3.2.2 Một số vấn đề trong thực tiễn với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có những năm gần đây 87

3.3 Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực tiễn với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 97

3.3.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 97

3.3.2 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân với những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 101

3.3.3 Một số giải pháp khác 105

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 117

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật Dân sự

BLHS: Bộ luật Hình sự

BLTTHS: Bộ luật Tố tụng Hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm TNHS: Trách nhiệm Hình sự TAND: Tòa án nhân dân

VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

68

Bảng 3.1

Thống kê số liệu vụ án và bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã thụ lý trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2011- 2015

78

Bảng 3.2

Thống kê số liệu số vụ án, bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được giải quyết trên địa bàn thành phố Hà Nội từ 2011- 2015

81

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, trước sự thay đổi, phát triển của các điều kiện kinh tế- xã hội, tình hình các loại tội phạm nói chung có nhiều diễn biến phức tạp Đặc biệt là các tội xâm phạm quyền sở hữu có chiều hướng gia tăng Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ việc bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân trong đó có quyền sở hữu Liên quan đến các tội phạm xâm hại về

sở hữu, tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có trở thành vấn đề đáng lưu tâm, đang gây nhiều lo lắng cho người dân Tính chất của tội phạm cũng góp phần gây khó khăn trong hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử các tội phạm xâm phạm sở hữu

Trong giai đoạn nền kinh tế của đất nước đang phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tình trạng người dân chạy theo tiếng gọi của lợi nhuận thực hiện các hoạt động kinh doanh, mua bán các loại hàng hoá, tài sản dù biết là do người khác phạm tội mà có là tình trạng đáng cảnh báo Việc công dân dù biết tài sản mình đang chứa chấp hoặc tiêu thụ do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm kiếm lời khiến cho việc xử lý các loại tội phạm xâm hại sở hữu như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, càng thêm khó khăn trong công tác điều tra, truy tố tội phạm do tài sản khó được xác minh, tìm kiếm Đứng trước thực trạng cũng như diễn biến của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu như vậy, một số công dân sẵn sàng chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản của công dân, tài sản của Nhà nước do người khác phạm tội mà có có giá trị lớn do mua rẻ, bán đắt gây ra thiệt hại lớn cho người dân, cũng như cho tài sản của Nhà nước Điều này gây cản trở không nhỏ đến hoạt động đúng đắn của cơ quan có thẩm quyền trong việc điều tra, xử lý tội phạm Hơn thế nữa, hành vi này còn gián tiếp khuyến

Trang 10

khích các hành vi phạm tội, phạm tội nhiều lần của người khác, gây ra ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội, khiến tình hình tội phạm thêm phức tạp, gây khó khăn cho công tác phòng ngừa tội phạm

Khi nghiên cứu về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có những năm gần đây (giai đoạn 2010- 2015), nhiều vấn đề về mặt lý luận cũng như thực tiễn cần tìm hiểu kỹ càng Đặc biệt, trên địa bàn thành phố Hà Nội- thủ đô của đất nước, việc nghiên cứu các vấn đề tội phạm này càng cần thiết hơn bởi lẽ Hà Nội là thành phố đi đầu trong quá trình phát triển, mức sống của người dân có đòi hỏi cao; vì thế, đây cũng là nơi thu hút nhiều loại tội phạm về sở hữu, gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa trong đó có tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tội phạm này có sự xuất phát từ những tội phạm nguồn gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc gia tăng tỷ lệ tội phạm về sở hữu Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu những năm gần đây, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có lại ít được nghiên cứu đầy đủ

và cụ thể Việc xác định rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện nay hay trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng chưa được đi sâu nghiên cứu, bám sát tình hình thực tiễn Thực tiễn đặt

ra rằng, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khá phức tạp dưới nhiều hình thức, thủ đoạn đơn giản có, tinh vi có nhằm hợp pháp hóa tài sản phạm tội để đưa ra tiêu thụ trên thị trường Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc gia tăng phức tạp tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung, cũng như đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có

Vì lẽ đó, việc nghiên cứu tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đặt ra vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nhằm

Trang 11

đáp ứng đòi hỏi của xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện tinh thần cải cách tư pháp theo định hướng của Đảng và tinh thần của Nghị quyết

số 48-NQ/TW ngày 24-05-2005 của Bộ Chính trị "Về chiến lưc xây dng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, đnh hưng đến năm 2020" Hơn thế nữa, về mặt lý luận, việc nghiên cứu đưa ra các dấu hiệu cũng

như cơ sở pháp lý cụ thể góp phần làm sáng tỏ các hành vi tội phạm, tạo tiền

đề cho công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung Từ các cơ sở nêu

trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Luật Hình sự Việt Nam” (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài, tội chứa chấp hoặc tiêu thụtài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm có tính tinh vi và diễn biến tội phạm phức tạp Loại tội phạm này đã được một số nhà luật học nghiên cứu, đề cập trong một số giáo trình, sách, báo, bài viết gần đây gồm có:

- Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần

các tội phạm) của Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia

Hà Nội, Hà Nội; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm)- tập

9 của ThS Đinh Văn Quế, Nxb Tp Hồ Chí Minh; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm) của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn

Luyện, LS ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001 Các công trình nói trên các tác giả đã đề cập nội dung về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc bình luận

và đưa ra các khái niệm, dấu hiệu một cách đơn giản, khái quát làm khuôn mẫu nghiên cứu mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và

Trang 12

có hệ thống về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có dưới góc độ pháp lý hình sự

- Đề tài: “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có trong Luật Hình sự Việt Nam”- Luận văn Thạc sỹ năm 2007 của tác giả Trần Thị Thu Nam; Đề tài: “Thực tiễn tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An”- khóa luận tốt

nghiệp năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh: Các đề tài trên đều đã đề cập đến tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có dưới góc độ luật Hình sự và Tội phạm học Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu

đã cách đây khá xa, vì vậy, tình hình tội phạm và các dấu hiệu, điều kiện phạm tội hiện nay đã có nhiều biến đổi Ngoài ra, đề tài cũng chưa đi sâu làm

rõ vấn đề các hình thức trách nhiệm hình sự của tội phạm Vấn đề về tội phạm nguồn chưa được đưa ra Hơn nữa, các đề tài mới chỉ đưa ra phân tích chung hoặc trên một địa bàn huyện của tỉnh Mà thực tế, địa bàn thành phố Hà Nội lại là một điểm nóng của tội phạm lại chưa được đi sâu nghiên cứu

- Các bài viết “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Luật Hình sự Việt Nam”- Tạp chí Luật học số 05.2004 của Thạc sỹ Phạm Văn Báu; “Mt số vấn đề về tội cha chp hoc tiêu thụ tài

sn do ngưi khác phm ti mà có” - Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 tháng 9 năm 2007 của tác giả Trần Quang Tiệp; “Yếu tố định lượng đối với tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”- Trang thông tin TAND tối cao 2013 của tác giả Hồ Vĩnh Phú, “Bàn về Điều 250 Bộ luật Hình sự”- Tạp chí Tòa án nhân dân số 11 tháng 6/2004 của tác giả Lê Văn Luật

cũng đã đề cập về tội phạm này dưới góc độ Luật Hình sự và Tội phạm học Các bài viết mới chỉ đưa ra một cách khái quát về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, một số vấn đê cần lưu ý nhưng chưa đi

Trang 13

vào phân tích chuyên sâu các vấn đề về tội phạm cũng như thực tiễn xét xử của tội phạm

Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu được trình bày ở trên, vấn

đề về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội còn bỏ ngỏ Đến thời điểm

này, đề tài “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có theo Luật Hình sự Việt Nam” (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) vẫn có tính mới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mc đích nghiên cu

Mục đích nghiên cứu mà luận văn hướng tới là trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử của tội phạm góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận chuyên sâu đối với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Cũng qua đó hình thành cái nhìn từ thực tiễn xét xử các vụ án về tội phạm làm cơ sở cho việc nhận thức cũng như

áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự xử lý về tội phạm Ngoài ra, trên cơ

sở nghiên cứu, luận văn cũng đề xuất những giải pháp mới nhằm hoàn thiện

và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cu

Với mục đích nghiên cứu đã đặt ra ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đặt ra các vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu và đưa ra khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội

chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Thứ hai, làm rõ các hình thức pháp lý đối với tội phạm chứa chấp

Trang 14

hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; so sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với một số tội phạm khác

Thứ ba, phân tích, làm rõ vấn đề thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố

Hà Nội về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án Từ đó, đưa ra đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam dưới góc độ pháp lý hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian 5 năm

từ năm 2011 đến năm 2015

Tại thời điểm người viết nghiên cứu đề tài này, Bộ luật Hình sự 2015 vẫn chưa có hiệu lực Các quy định hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có được tiến hành theo Bộ luật Hình sự 1999

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đê tài

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phương pháp được tác giả lựa chọn làm cơ sở nghiên cứu luận văn Ngoài ra, tác giả dựa trên các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh

Trang 15

vực trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, …

6 Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Những đóng

góp mới về mặt khoa học của luận văn có thể kể đến:

- Phân tích, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, đưa ra vấn đề về tội phạm nguồn, phân tích sự phát triển các quy định về tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong lịch sử, đối chiếu các quy định của Bộ luật Hình sự 1999 và Bộ luật Hình sự 2015 và so sánh các quy định tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới

- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có, các hình thức pháp lý của tội phạm và thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội, nêu lên những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như cả nước nói chung

7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Về mặt lý luận, luận văn có ý nghĩa cung cấp thêm cơ sở lý luận góp

Trang 16

các bài viết, công trình nghiên cứu, bài giảng có liên quan

Về mặt thực tiễn, luận văn đưa ra thực tiễn, đánh giá, dự báo diễn biến tình hình tội phạm và đề xuất những giải pháp hợp lý, có ý nghĩa trong việc xử lý tội phạm nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và ở nước ta nói chung

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có theo quy định của luật Hình sự Việt Nam

Chương 2: Các hình thức pháp lý đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài

sản do người khác phạm tội mà có theo quy định của Bộ luật Hình sư 1999

Chương 3: Thực tiễn xét xử tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do

người khác phạm tội mà có trên địa bàn thành phố Hà Nội và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ THEO QUY ĐỊNH

CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Theo từ điển luật học, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

là "(hành vi) cất giấu hoặc tạo điều kiện cho việc cất giấu những tài sản mình biết rõ là tài sản do hành vi phạm tội của người khác mà có" [51, tr.275] Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là "(hành vi) mua, trao đổi, nhận hoặc giúp cho việc mua bán, trao đổi tài sản mình biết rõ là tài sản do hành vi phạm tội của người khác mà có" [51, tr.781]

Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 Thông tư số BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ban hành ngày 30/11/2011 Hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội rửa tiền (Sau đây gọi tắt là Thông tư 09/2011) quy định:

09/2011/TTLT-BCA-BQP-Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó và tiêu thụ tài sản là một trong các hành vi sau đây: mua, bán, thuê, cho thuê, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc thực hiện các hành vi đó

Hiểu một cách chung nhất, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản so người khác phạm tội mà có là hành vi cất giấu, tạo điều kiện cho việc cất giấu hoặc mua, trao đổi, nhận, giúp cho việc mua bán, trao đổi tài sản mình biết rõ

là tài sản do hành vi phạm tội của người khác mà có

Trang 18

Cũng theo từ điển này, tài sản được hiểu:

Là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác Tài sản bao gồm: vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa, lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thoả thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản [51, tr.778]

Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản"

Đối với vật là đối tượng tác động của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải là vật có thực, vật đang tồn tại, có giá trị và nằm trong sự chiếm hữu của con người, “đối tượng của tội tiêu thụ tài

sản do người khác phạm tội mà có chỉ có thể là tài sản (các đối tượng vật chất, hàng hóa, tiền) do phạm tội mà có trừ các đối tượng vật chất là hàng cấm ) do phạm tội mà có”[2, tr.6].

Tiền và giấy tờ có giá cũng là những đối tượng tài sản của tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tuy nhiên, đối với giấy tờ có giá cần lưu ý bởi nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Giấy tờ có giá được chia làm hai loại gồm: Giấy tờ có giá ghi danh và Giấy tờ

có giá vô danh Với đối tượng là tài sản trong tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì giấy tờ có giá ghi danh sẽ không thỏa mãn được là đối tượng tác động của tội phạm bởi loại giấy tờ này chỉ chủ sở hữu đứng tên mới có khả năng thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến

nó Giấy tờ có giá vô danh "là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá" (Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá

của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 04/01/2005) Với giấy tờ có giá vô

Trang 19

danh, người phạm tội có thể tự thực hiện các giao dịch dân sự Do đó, giấy tờ

có giá vô danh sẽ là đối tượng tác động của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

Thông tư số 09/2011, tại Khoản 3 Điều 1 có hướng dẫn về "tài sản" bao

gồm: "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; bất động sản, động sản, hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật chùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và quyền tài sản"

Như vậy, những "tài sản" được pháp luật ghi nhận, thuật ngữ "tài sản" trong tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có sự tương ứng với quy định về "tài sản" trong Bộ luật Dân sự 2005

Từ khái niệm tội phạm được ghi nhận tại Điều 8 BLHS, định nghĩa khoa học về tội phạm với những dấu hiệu được phân tích ở trên, tác giả xin đưa ra khái niệm Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

Trang 20

pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Căn cứ quy định cụ thể về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, những yếu tố đặc trưng của cấu thành tội phạm (CTTP) tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được thể hiện như sau:

1.2.1 Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và

bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các

quan hệ xã hội đó [47, tr 86]

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013- đạo luật cơ

bản của nước ta ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu của công dân: "1 Mọi người

có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác 2 Quyền

sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ"

Từ đây, nền tảng cơ bản về quyền sở hữu của công dân được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ Mọi sự xâm phạm sẽ được bảo vệ bởi ngành luật tương ứng Tội phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có biết rõ tài sản mà mình chứa chấp hoặc tiêu thụ là tài sản có được từ hành vi phạm pháp, tuy không có sự hứa hẹn trước với người có tài sản do phạm tội mà có, nhưng vẫn chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó vì mục đích vụ lợi Hành vi của người phạm tội đã xâm phạm trật tự công cộng, trật

tự xã hội, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, khuyến khích việc thực hiện tội phạm cũng như gây khó khăn cho hoạt động tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm

Việc xác định khách thể của tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

Trang 21

do người khác phạm tội mà có là căn cứ quan trọng để định tội cũng như phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác; khách thể của tội phạm sẽ cho thấy

rõ bản chất, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Khách thể chung là "tổng hợp các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật Hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe doạ gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [6, tr 351] Khách thể chung của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài do người

khác phạm tội mà có là trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Xác định khách thể chung của tội phạm sẽ đưa ra cơ sở pháp lý chung khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có là hành vi phạm tội bị pháp luật hình sự cấm

Khách thể trực tiếp là "một quan hệ xã hội cụ thể được một quy phạm pháp luật hình sự cụ thể bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của một tội phạm nhất định nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe doạ gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [6, tr 351] Khách thể trực tiếp của tội chứa chấp hoặc

tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có do tội phạm này có tác động xấu gây ảnh hưởng đến hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm, cũng như gây khó khăn cho hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm

Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể tội phạm bị người thực hiện hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [47, tr 94] Đối tượng tác động của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tài sản do (người khác) phạm tội mà có Đó có thể là bất kỳ tội phạm nào được quy định trong Bộ luật Hình sự mà kết quả trực tiếp của nó

là chủ thể có được tài sản một cách bất hợp pháp Nếu tài sản do người khác phạm tội mà có là đối tượng phạm tội của tội khác thì người có hành vi chứa

Trang 22

chấp, tiêu thụ tài sản đó bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng mà BLHS quy định đối với hành vi tàng trữ, tiêu thụ các loại tài sản đó [27, tr.307] Khi nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm này cần lưu tâm đến các loại tài sản do phạm tội mà có gồm những loại tài sản nào như đã phân tích ở phần khái niệm trên

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa được pháp luật Hình sự bảo vệ Tuy nhiên, loại tội phạm này lại được hình thành chỉ khi có tội phạm nguồn tạo ra đối tượng tác động cho tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Sở dĩ có thể khẳng định như vậy vì bản thân điều luật 250 BLHS về tội phạm đã thể hiện, hành vi phạm tội của tội phạm cấu thành khi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là

do người khác phạm tội mà có Tuy nhiên, vấn đề "Tội phạm nguồn" lại chưa

được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về tội phạm này

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về tội phạm Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tác giả đưa ra khái niệm về tội phạm nguồn:

"Tội phạm nguồn là tội phạm tạo ra các loại tài sản từ đó có thể trở thành đối tượng tài sản của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"

Xuất phát từ tội phạm nguồn, cùng với các yếu tố cấu thành tội phạm khác, tội phạm Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có mới đủ căn cứ hình thành Như vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là một loại tội phạm phái sinh, có thuộc tính tự nhiên phụ thuộc vào tội phạm nguồn Nếu không có tội phạm nguồn thì không

có tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Tội phạm nguồn là một trong những căn cứ quan trọng để xác định cấu thành

Trang 23

tội phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Đây cũng là căn cứ để phân biệt giữa hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do vi phạm pháp luật (không phải là tội phạm) mà có với tội phạm

tù (khoản 4) Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 sửa đổi 2009, quy định về tuổi chịu TNHS tại Điều 12, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị truy cứu TNHS khi thực hiện hành vi thuộc một trong các tình tiết định khung tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 250 BLHS là trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể bị truy cứu TNHS về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

theo quy định của các khung từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 250 BLHS 1999

1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm

Theo khoa học luật hình sự, mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý là: hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội; các dấu hiệu không bắt buộc (thủ đoạn, phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội) [6, tr.365-366]

Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có, hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện là hành vi "chứa chấp" hoặc "tiêu thụ" tài sản do người khác thực hiện các hành vi phạm tội khác mà

Trang 24

có như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, Thế nào là hành vi chứa chấp hoặc hành vi tiêu thụ tài sản tại Điều 250 BLHS 1999 không liệt kê

rõ Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 09/2011 đưa ra quy định về hai hành vi được đề cập trong cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có:

Chứa chấp tài sản là một trong các hành vi sau đây: cất giữ, che giấu, bảo quản tài sản; cho để nhờ, cho thuê địa điểm để cất giữ, che dấu, bảo quản tài sản đó và tiêu thụ tài sản là một trong các hành vi sau đây: mua, bán, thuê, cho thuê, trao đổi, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc thực hiện các hành vi đó

Tuy nhiên, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ chỉ thuộc hành vi khách quan của tội phạm khi người thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ nhận tài sản từ người phạm tội và biết đó là tài sản do phạm tội mà có, có thể nói, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ không có tác động đến việc thực hiện tội phạm của người có tài sản do phạm tội mà có Người có tài sản do phạm tội

mà có là tội phạm nguồn của tội phạm Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Việc thực hiện hành vi khách quan chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản không nằm trong mối quan hệ nhân quả với tội phạm có tài sản do phạm tội mà có [22, tr.42] Trường hợp người thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản nhưng không nhận tài sản từ người phạm tội (tội phạm nguồn) thì hành vi của họ không phạm tội tại Điều 250 BLHS mà

có thể phạm tội khác được quy định trong BLHS

Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải là hành vi được tiến hành không có sự hứa hẹn trước với người phạm tội

có được tài sản Đây là điểm khác so với hành vi giúp sức trong đồng phạm Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản mà có sự hứa hẹn trước với người có

Trang 25

tài sản do phạm tội là hành vi có tác động trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm của người có tài sản do phạm tội mà có và bị coi là hành vi giúp sức trong đồng phạm

Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản là hành vi khách quan của tội phạm Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ khi hành vi đó là trái pháp luật, hay nói cách khác, chỉ hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự mới có thể là tội phạm Điều này cũng có nghĩa là cấm

áp dụng nguyên tắc tương tự Trường hợp người mua tài sản do phạm tội mà

có trong trường hợp nhà nước phát mại, bán đấu giá để sung công quỹ do không tìm được chủ sở hữu hoặc người có quyền bảo quản tài sản thì đó là hành vi hợp pháp, không phạm vào tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có [62]

Cần lưu ý, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có được quy định tại Điều 250 BLHS 1999 sửa đổi 2009 có quy định hai hành vi khách quan trong một cấu thành tội phạm "chứa chấp", "tiêu thụ" Do

đó, người phạm tội thực hiện hành vi khách quan chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản thì chỉ bị truy cứu TNHS về một hành vi mình phạm phải "tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có" hoặc "tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi được Điều 250 BLHS quy định thì sẽ bị truy cứu TNHS về cả hai hành vi đó [1, tr.12-13]

Hậu quả của tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có:

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội là khách thể được bảo vệ bởi luật hình

sự [47, tr.110] Về nguyên tắc, chỉ những hậu quả mang tính xác định được mới được quy định trong cấu thành tội phạm Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài

Trang 26

sản do người khác phạm tội mà có do mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi nên được luật Hình sự quy định là tội phạm có cấu thành hình thức Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc Việc người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không căn cứ vào hậu quả của tội phạm, tội phạm đã được coi là hoàn thành Tuy nhiên, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng là cơ sở để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội về mặt chính trị- xã hội Tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có gây ra những hậu quả xấu đối với trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Nó không những gây khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động điều tra, xử lý các tội phạm xâm hại sở hữu mà còn gián tiếp khuyến khích một số tội phạm chiếm đoạt tài sản gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội

1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích [47, tr.134] Trong mọi cấu thành tội phạm, dấu hiệu lỗi luôn được phản ánh thể hiện mặt chủ quan của tội phạm; dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội tuỳ từng cấu thành tội phạm cụ thể được thể hiện với ý nghĩa pháp lý hình sự nhất định

"Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý" [47, tr.136] Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài

sản do người khác phạm tội mà có, hình thức lỗi thuộc mặt chủ quan của người phạm tội là lỗi cố ý Ở tội phạm này, người phạm tội biết rõ tài sản mình chứa chấp hoặc tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có, tức là, người phạm tội nhận thức rõ hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi mình thực hiện xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, nếu họ mong muốn hậu quả xảy ra thì đó

Trang 27

là lỗi cố ý trực tiếp; nếu họ tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng vẫn

có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra là lỗi cố ý gián tiếp Tuy nhiên, để xác định họ có biết rõ hay không phải dựa vào các tình tiết khách quan mà đặc biệt là nhân thân và mối quan hệ giữa họ với người có tài sản do phạm tội mà có; việc giao dịch giữa người chứa chấp, tiêu thụ với người

09/2011 thì biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có “là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội”

Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy quyết tâm của người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm [6, tr.381] Động cơ phạm tội đối với tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi phân tích các dấu hiệu của tội phạm này

có thể thấy động cơ phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có xuất phát từ việc tư lợi, do ham muốn những lợi ích có được

từ hoạt động phi pháp, hoặc do cả nể Việc xác định động cơ phạm tội có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhằm phân hoá TNHS được rõ hơn

Mục đích phạm tội là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được trong tương lai bằng việc thực hiện hành vi phạm tội [6, tr.382] Mục đích của tội phạm hình thành trong ý chí chủ quan của người phạm tội trước khi bắt đầu thực hiện tội phạm Mục đích phạm tội khác với hậu quả của tội phạm Hậu quả của tội phạm nằm trong mặt khách quan của tội phạm có liên hệ với mục đích của tội phạm trong một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm [47, tr.154] Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do

Trang 28

người khác phạm tội mà có, mục đích của chủ thể phạm tội là mong muốn có được những lợi ích nhất định bằng hành vi bất chính Do đó, dù người phạm tội biết rõ hành vi của mình gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa nhưng vì mục đích hưởng lợi của bản thân, chủ thể vẫn cố ý thực hiện tội phạm Mục đích của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc được quy định trong cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng nó cũng có ý nghĩa trong việc xem xét vấn đề TNHS, đảm bảo việc cá thể hoá và phân hoá TNHS một cách chính xác

Trong cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mặt chủ quan của tội phạm thể hiện rõ nhất ở quy định về lỗi

cố ý được thể hiện trong cấu thành tội phạm Các dấu hiệu về động cơ, mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Tuy nhiên, tất cả các dấu hiệu vẫn có mối liên hệ, tương tác lẫn nhau phản ảnh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nghiên cứu các dấu hiệu này giúp cho việc xác định tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được chính xác hơn, tránh việc quy tội khách quan đối với tội phạm và đảm bảo tính phân hoá TNHS được cụ thể hơn

1.3 Vài nét lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Lịch sử lập pháp hình sự các quy định về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có do đã bị thất lạc nhiều nên chưa thể khẳng định chính xác sự ra đời của các quy định về tội phạm này Tuy nhiên, nghiên cứu tiến trình lập pháp hình sự từ thời kỳ pháp luật phong kiến đến nay, với các tên gọi khác nhau được đưa ra, tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có thể nói đã được quy định từ rất sớm Có thể thấy, lịch

sử quá trình hình thành tư tưởng lập pháp, các triết lý hình sự từ xưa đã xác

Trang 29

định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này, sự cần thiết có các quy định

về tội phạm Chính sách hình sự từ thời kỳ phong kiến đến nay, các quy định

về tội phạm này đều được pháp luật hình sự đề cập và ghi nhận xuyên suốt trong lịch sử Vì vậy, tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã đi vào theo suốt quan điểm lập pháp hình sự của pháp luật nước ta

1.3.1 Pháp luật thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Từ thời kỳ pháp luật phong kiến, lưu hành trong hai bộ Hình luật cổ

được đánh giá là "hai bộ luật tổng hợp có quy mô lớn và nội dung phong phú"

[24, tr.3] là Quốc Triều Hình luật, hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức năm 1483

và Hoàng Việt Luật lệ, hay còn gọi là Bộ luật Gia Long năm 1812, quy định về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đều đã được

đề cập dưới các góc độ khác nhau

Trong Quốc Triều Hình luật, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chưa được quy định trong điều luật riêng Tuy nhiên, bản hình thư này có mô tả hành vi phạm tội này tại nhiều điều luật Dẫn chiếu Điều

429 Quốc Triều Hình luật quy định: "Giữa ban ngày ăn cắp vặt cũng xử tội đồ,

đã lấy được của thì phải bồi thường một phần tang vật Những kẻ chứa chấp thì đều bị tội nhẹ hơn một bậc và bắt bồi thường một phần ba tang vật Kẻ biết việc

mà không cáo giác bị tội nhẹ hơn hai bậc" [54, tr.159] Theo quy định này, nhà

làm luật đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có so với hành vi ăn cắp vặt và hành vi không cáo giác (không tố giác tội phạm) Theo đó, hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có được đánh giá có tính nguy hiểm cho xã hội ít hơn so với tội phạm có hành vi ăn cắp vặt (bị tội nhẹ hơn một bậc và bắt bồi thường một phần ba tang vật); so sánh với hành vi không cáo giác (không tố giác tội phạm) thì hành vi chứa chấp lại được đánh giá có tính nguy hiểm cao hơn

Trang 30

(không cáo giác bị tội nhẹ hơn hai bậc)

Điều 456 Quốc Triều Hình luật quy định: " Nếu chủ giấu giếm nhận của

ăn trộm, ăn cướp thì phải đồng tội Đã báo quan mà sau lại bao dung những đày

tớ ăn cướp, ăn trộm ấy thì xử như tội biết việc mà không trình" [54, tr.165]

Theo đó, hành vi giấu giếm nhận của có thể hiểu tương đương hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có Quốc Triều Hình luật quy định hành vi này của người chủ sẽ bị coi là đồng phạm với người đày tớ về tội trộm cắp tài sản hoặc tội cướp tài sản

Điều 460 Quốc Triều Hình luật quy định:

Những kẻ nhận tài vật của kẻ ăn trộm, thay đổi hình dạng rồi đem bán, thì xử nhẹ hơn tội ăn trộm một bậc Nếu vì nhầm mà nhận những đồ vật ấy, thì chỉ phạt 60 trượng, biếm, biếm hai tư Nếu không biết mà mua phải đồ vật ấy, thì truy số tiền mua ở người bán

mà trả cho; còn đồ vật thì phải trả lại chủ mất [54, tr.166]

Theo quy định tại điều luật, hành vi tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có được các nhà Hình luật đánh giá có mức độ nguy hiểm cho xã hội ít hơn hành

vi trộm cắp (xử nhẹ hơn tội ăn trộm một bậc) [22, tr.16] Ngoài ra, các nhà Hình luật còn quy định rõ với hành vi chứa chấp đồ vật do phạm tội mà có nhưng do nhầm lẫn thì phạt mức 60 trượng, biếm, biếm hai tư; còn việc mua phải tài sản do trộm cắp mà có nhưng ngay tình được đánh giá không phải tội phạm, người mua được lấy lại số tiền đã mua từ người bán còn đồ vật thì phải trả lại cho người mất Quy định này đã thể hiện một trình độ lập pháp cao của các nhà làm luật thời bấy giờ

Ngay từ chế độ phong kiến, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được ghi nhận, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội với các mức phạt nghiêm khắc tương đương

Trong Hoàng Việt Luật lệ, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người

Trang 31

khác phạm tội mà có cũng đã được đề cập Điều 7, quyển thứ 13 Hoàng Việt Luật lệ ghi nhận tội phạm này với tên gọi đạo tặc oa trữ:

Phàm có thâm ý trộm bạo, chứa đồ gian, dù chính bản thân không thực hiện, chỉ chia phân tang vật thì cũng xử chém Nếu cùng thực hiện thì không nói đến việc chia tang vật, không chia tang vật, chỉ theo bọn mà làm cho có của tiền thì không chia thủ, tòng đều bị chém cả Nếu không biết việc trộm nọ, chỉ là chứa tạm thì không buộc tội

Nếu không cùng đi ăn trộm và cũng không chia tang vật thì phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm

Về mưu kế, kẻ chứa đồ gian chưa có thâm ý lập mưu, chỉ là cùng biết mưu kế của giặc và cùng thực hiện nhưng không chia tang vật hay có chia tang vật nhưng không cùng thực hiện vụ trộm, thì đều xử chém cả Nếu không làm, không chia tang vật, thì phạt

100 trượng [22, tr.18]

Theo quy định của Hoàng Việt Luật lệ, hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có liên quan mật thiết với hành vi trộm cắp tài sản Nếu người phạm tội cố ý cùng thực hiện hành vi trộm cắp, chứa chấp tài sản do trộm cắp mà có, dù chỉ là hình thức giúp sức, có phân chia tang vật là tài sản bị chiếm đoạt thì đều bị xử chém như người có hành vi trộm cắp Nếu cùng thực hiện hành vi trộm cắp, chứa chấp tài sản, dù không chia tang vật cũng đều bị

xử chém Trường hợp người chứa chấp tài sản do trộm cắp mà có, không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không được chia tang vật trộm cắp thì bị phạt

100 trượng, lưu 3000 dặm Trường hợp người chứa chấp tài sản do phạm tội

mà có tuy chưa có ý lập mưu, biết việc phạm tội, cùng thực hiện tội phạm trộm cắp nhưng không chia tang vật hay có chia tang vật nhưng không cùng thực hiện tội phạm đều bị xử chém Nếu biết việc nhưng không làm, không chia

Trang 32

tang vật thì bị phạt 100 trượng Có thể nói, quy định này của Hoàng Việt Luật

lệ thể hiện tính răn đe, nghiêm khắc cao của pháp luật thời bấy giờ

Ngoài ra, trong Hoàng Việt Hình luật ban hành ngày 31/7/1933, tại Khoản 6 Điều 351, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có cũng được mô tả như sau:

Người nào tri tình mà oa trữ một phần hay toàn phần của trộm cướp, hoặc của lừa gạt hoặc của gì do sự phạm tội đại hình hay trừng trị mà lấy được Nếu xét quả của oa trữ ấy do sự phạm tội đại hình mà lấy được, thời người oa trữ sẽ bị phạt một nửa tội danh

mà luật đã định phạt về tội đại hình ấy và về trọng hình trong tội đại hình ấy mà người oa trữ đã tri tình Tuy nhiên, nếu tội danh ấy là tử hình hay khổ sai chung thân, thời người oa trữ sẽ bị phạt khổ sai từ

6 năm đến 20 năm [53, tr.108]

Theo Hoàng Việt Hình luật, tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có đã được cụ thể hoá hơn so với hai bộ Hình luật Quốc Triều Hình luật và Hoàng Việt Luật lệ Tại đây, loại tội phạm này đã được quy định không chỉ liên quan đến tội phạm trộm cắp tài sản mà còn có liên quan đến các tội phạm khác Hình phạt cũng được nhà làm luật xem xét với tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm so với tội phạm liên quan [22, tr.21]

Dù vẫn chưa đưa ra định nghĩa pháp lý cụ thể đối với tội phạm này nhưng có thể thấy những quy định trên đã thể hiện trình độ tiến bộ đáng kể về

kỹ thuật lập pháp hình sự đối với tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Như vậy, ngay từ thời kỳ phong kiến, mặc dù kỹ thuật lập pháp còn nhiều hạn chế nhưng các quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được lồng ghép vào các điều luật với các hình phạt tương ứng khá nghiêm khắc

1.3.2 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

Trang 33

mà có theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực

Giai đoạn Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền non trẻ nước ta thời kỳ bấy giờ phải đối mặt với nhiều thách thức Để bảo vệ chế độ mới, pháp luật được ban hành với các quy định nhằm bảo vệ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1945 quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nhằm trừng trị nghiêm khắc những kẻ phá hoại cầu cống, đường giao

thông, dây điện thoại, Điều thứ hai: "Những kẻ oa trữ các dây điện thoại hay dây điện tín cũng bị phạt như những kẻ ăn trộm các đồ vật ấy" [10, Điều 2]

Với quy định này, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bị coi là đồng phạm với những kẻ trộm cắp tài sản không phân biệt người phạm tội có hứa hẹn trước hay không hứa hẹn trước [1, tr.7]

Đến giai đoạn 1970, nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa

và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970, trong đó tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được ghi nhận tại Điều khoản riêng Cụ thể:

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ghi nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại Điều 17 như sau:

1 Kẻ nào biết rõ tài sản xã hội chủ nghĩa đã bị chiếm đoạt

mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm 2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b Có tổ chức; c Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản với số lượng lớn hay là tài sản có giá trị đặc biệt; d Dùng tài sản chứa chấp vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác, thì bị phạt tù từ

Trang 34

3 năm đến 12 năm [49, Điều 17]

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân tại Điều 13 quy định:

1 Kẻ nào biết rõ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm 2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b Có tổ chức; c Chứa chấp hoặc tiêu thụ một số lớn tài sản, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm [48, Điều 13]

Có thể thấy trong cả hai Pháp lệnh, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có đã được các nhà làm luật quy định rõ với tính chất là tội phạm độc lập với khung hình phạt riêng Vấn đề xác định hành vi phạm tội còn phụ thuộc vào việc xác định rõ ý thức chủ quan của người phạm tội Nếu người đó không biết được là tài sản bị chiếm đoạt do hành vi phạm tội mà có thì không cấu thành tội phạm Khung hình phạt đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có sự khác nhau căn

cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với từng loại tài sản bị chiếm đoạt

1.3.3 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến trước khi Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực

Khi nhà nước xã hội chủ nghĩa dần đi vào ổn định, đứng trước tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành dẫn đến nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ Nhằm hướng đến việc thể hiện một cách toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đặt ra, Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986

Trang 35

Tại đây, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có được ghi nhận và quy định thành tội danh riêng tại Điều 201 Cụ thể:

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt bị phạt tù

từ sáu tháng đến năm năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a Có tổ chức; b Tài sản có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn; c Tái phạm

nguy hiểm

Theo quy định này, đối tượng tác động của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không tách riêng là tài sản xã hội chủ nghĩa hay tài sản riêng của công dân như hai Pháp lệnh ban hành năm 1970

mà được quy định là các tài sản nói chung Vấn đề trách nhiệm hình sự (TNHS) quy định bằng hai khung hình phạt cụ thể đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thành một khung cơ bản và một khung tăng nặng

Bộ luật Hình sự (BLHS) 1985 còn quy định Hình phạt bổ sung đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại Khoản 2,

3 Điều 218 Cụ thể, người phạm tội có thể bị quản chế hoặc cấm cư trú từ một đến năm năm; bị phạt tiền từ một nghìn đồng (1.000 đồng) đến năm mươi nghìn đồng (50.000 đồng) và có thể bị tịch thu một phần tài sản

Trong tiến trình hoàn thiện hệ thống luật pháp, BLHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung Trong đó, lần sửa đổi bổ sung năm 1991, tính phân hoá trách nhiệm hình sự đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được thể hiện một cách rõ ràng hơn Điều 201 của BLHS

1985 được sửa đổi, bổ sung với ba khung hình phạt với một khung cơ bản và hai khung tăng nặng với các tình tiết được bổ sung:

Điều 201 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác

Trang 36

phạm tội mà có

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b) Tài sản, vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn;c) Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm

So với quy định trước, luật sửa đổi, bổ sung đã có mức quy định mới về hình phạt, thể hiện tính phân hoá trách nhiệm hình sự cao hơn Ngoài ra, cùng với việc sửa đổi, bổ sung hình phạt chính, hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại Điều 218 cũng thay đổi từ một nghìn đồng đến năm mươi nghìn đồng thành từ một triệu đồng đến năm mươi triệu đồng

Với sự kế thừa, đúc rút kinh nghiệm lập pháp từ các văn bản quy phạm pháp luật hình sự trước, trong BLHS 1985, quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có sự tiến bộ trong kĩ thuật lập pháp Các quy định đối với tội phạm này đã được khái quát cao hơn, mang nội hàm rộng và chính xác hơn [22, tr.29] Ngoài ra, tính phân hoá trách nhiệm hình sự đã được thể hiện ngay trong điều luật với các tình tiết tăng nặng định khung cụ thể Điều này góp phần không nhỏ cho quá trình vận dụng và áp dụng pháp luật, tạo điều kiện cá thể hoá trách nhiệm hình sự được

rõ ràng hơn Các hình phạt bổ sung cũng được các nhà làm luật quy định rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý khi áp dụng pháp luật một cách vững chắc

1.3.4 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1999 đến nay

Để phù hợp với sự phát triển của xã hội, việc kiện toàn hệ thống pháp luật trong đó có Bộ luật Hình sự là đòi hỏi khách quan của hoạt động lập

Trang 37

pháp Kế thừa và phát huy những quan điểm lập pháp hình sự từ những giai đoạn trước, BLHS 1999 đã ra đời đáp ứng đòi hỏi theo yêu cầu của xã hội với những điểm mới đáng ghi nhận Trong đó, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 250 BLHS 1999, thuộc chương XIX Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng:

Điều 250 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn; d) Thu lợi bất chính lớn; đ) Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì

bị phạt tù từ năm năm đến mười năm: a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn; b) Thu lợi bất chính rất lớn 4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn;b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn 5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền

từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này

BLHS 1999 đã có những điểm mới đáng kể, đưa ra các quy định nhằm phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường ngày một phát triển nhằm xác định tội phạm chính xác, khách quan, không bỏ lọt tội phạm So với BLHS 1985, quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được sửa đổi, bổ sung những điểm sau:

Trang 38

Thứ nhất, đối với cấu thành tội phạm cơ bản, điều luật bổ sung thêm

hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng Ngoài ra, hình phạt cải tạo không giam giữ được sửa đổi nâng lên đến ba năm và nâng mức hình phạt tù có thời hạn khởi điểm lên sáu tháng tù [22, tr.31] Điều này cho thấy cái nhìn khách quan của các nhà làm luật ứng dụng trong thời kỳ mới, nâng cao tính phòng ngừa, giáo dục tội phạm

Thứ hai, về cơ cấu điều luật tại Điều 250, ngoài hình phạt bổ sung được

quy định tách riêng tại Khoản 5, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được cấu tạo với bốn khoản tương ứng với bốn khung hình phạt thể hiện rõ ràng tính phân hoá trách nhiệm hình sự Các tình tiết định khung hình phạt cũng được các nhà làm luật quy định cụ thể Tình tiết

"Tài sản, vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn" được bỏ đi và thay thế bằng tình tiết "Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn, rất lớn, đặc biệt lớn" tương ứng trong từng khung hình phạt Bổ sung thêm tình tiết "Thu lời bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn" tương ứng trong từng khung hình phạt

Trong BLHS 1999, hình phạt bổ sung được quy định ngay tại một khoản của điều luật nhấn mạnh sự răn đe, phòng ngừa tội phạm chung

Đến giai đoạn hiện nay, sau mười sáu năm áp dụng BLHS 1999, đứng trước thực tiễn xã hội có nhiều biến chuyển, tình hình kinh tế, bối cảnh hội nhập thay đổi không ngừng đặt ra đòi hỏi cần tiếp tục kiện toàn, đổi mới để pháp luật phù hợp và điều chỉnh được hết các quan hệ xã hội mới phát sinh Điều này dẫn đến yêu cầu việc ban hành Bộ luật Hình sự phù hợp với tình hình mới là vấn đề tất yếu Do đó, Bộ luật Hình sự 2015 đã ra đời Tại đây, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 323 với những sửa đổi nhằm thể hiện rõ tính răn đe, giáo dục đối với tội phạm trong thực tiễn:

Điều 323 Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác

Trang 39

phạm tội mà có

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; đ) Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm: a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng 4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên 5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền

từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Điều 323 BLHS 2015 vẫn duy trì 5 khoản đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với một khung cơ bản, một khung hình phạt bổ sung và ba khung tăng nặng trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, đối với mỗi khoản, BLHS 2015 đã có sự thay đổi để tăng tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm, thể hiện sự phân hoá trách nhiệm hình sự cao hơn Cụ thể:

So với quy định của BLHS 1999, lần thay đổi này, hình phạt tiền được quy định ở khung cơ bản đã tăng lên mức từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng

Trang 40

Tại các khoản 2; 3; 4 Điều 323, mức hình phạt tù đã được sửa đổi nhằm

xác định rõ tính phân loại tội phạm lần lượt là "phạt tù từ 03 năm đến 07 năm" (khoản 2)- tội phạm nghiêm trọng; "phạt tù từ 07 năm đến 10 năm" (khoản 3) và

"phạt tù từ 10 năm đến 15 năm" (khoản 4)- tội phạm rất nghiêm trọng

Thay đổi quy định về "tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn, rất lớn, đặc biệt lớn" cũng như quy định về "thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn" cụ thể, rõ ràng về mức độ ngay trong điều khoản bằng giá trị tài sản cũng

như trị giá thu lời bất chính cụ thể là bao nhiêu Điều này đã khắc phục hạn chế trong việc tra cứu, áp dụng pháp luật qua các văn bản hướng dẫn Người

áp dụng pháp luật có căn cứ chính xác ngay trong điều luật quy định Nó đã góp phần kiện toàn và thống nhất quy định trong hệ thống pháp luật hơn so với trước kia

Đối với hình phạt bổ sung, ngoài việc tăng mức phạt tiền "từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng", điều luật còn cụ thể hình phạt bổ sung có thể bị

áp dụng với việc sử dụng từ nối "hoặc" giữa mỗi hình phạt, bỏ quy định nửa chừng "hoặc một trong hai hình phạt này" của luật cũ Điều này giúp việc vận

dụng pháp luật được rõ ràng, minh bạch, chính xác hơn

Có thể nói, quá trình ra đời và hoàn thiện các quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đúc kết nhiều tinh hoa từ lịch sử lập pháp Quy định đối với tội phạm này có sự thay đổi theo từng giai đoạn để phù hợp với bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội Đồng thời, các quy định

về tội phạm này ngày càng hoàn thiện về kĩ thuật lập pháp, đầy đủ trong việc

mô tả hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

1.4 Những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong pháp luật Hình sự của một số nước trên thế giới

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được

Ngày đăng: 02/03/2017, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Lan Anh (2009), Thực tiễn tôi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tôi mà có trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn tôi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tôi mà có trên địa bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh
Năm: 2009
2. Phạm Văn Báu (2004), “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngư ờ i khác phạm tội mà có”, Tạp chí luật học, (5), tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, "Tạp chí luật học
Tác giả: Phạm Văn Báu
Năm: 2004
4. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, một số vấn đề cơ bản của Phần chung, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, một số vấn đề cơ bản của Phần chung
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
5. Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt (2004), “Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt” Tạp chí KHPL, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt” "Tạp chí KHPL
Tác giả: Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt
Năm: 2004
6. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Lê Cảm (chủ biên), Nguyễn Ngọc Chí (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên), Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
9. Chính phủ (2005), Nghị định số 150/2005/NĐ- CP ban hành ngày 12/12/2005 Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 150/2005/NĐ- CP ban hành ngày 12/12/2005 Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bố Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bố Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Nguyễn Ngọc Hòa (2007), “Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học”, Tạp chí luật học, (06), tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học”, "T"ạ"p chí lu"ậ"t h"ọ"c
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Hoàn (người dịch), Uông Chu Lưu (người hiệu đính) (1994), Ban dự thảo Bộ luật hình sự sửa đổi, Bộ Tư pháp, Bộ luật hình sự Nhật Bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban dự thảo Bộ luật hình sự sửa đổi, Bộ Tư pháp, Bộ luật hình sự Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn (người dịch), Uông Chu Lưu (người hiệu đính)
Năm: 1994
16. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5 cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5 cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
Năm: 2006
17. Lê Văn Hưu, Phan Phu tiên, Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, tập II
Tác giả: Lê Văn Hưu, Phan Phu tiên, Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
18. Phạm Quốc Huy (2010), “Công tác xét xử tội phạm và đổi mới hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong 12 năm qua góp phần thực hiện hiệu quả chương trình cải cách tư pháp”, Toà án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xét xử tội phạm và đổi mới hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong 12 năm qua góp phần thực hiện hiệu quả chương trình cải cách tư pháp”
Tác giả: Phạm Quốc Huy
Năm: 2010
20. Lê Văn Luật (2004), “Bàn về Điều 250 Bộ luật Hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (11), tr.23-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Điều 250 Bộ luật Hình sự”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Văn Luật
Năm: 2004
21. Vũ Văn Mẫu (1974), Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử, quyển 1 – tập I, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam thông khảo và tư pháp sử, quyển 1 – tập I
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Năm: 1974
23. Hồ Vĩnh Phú (2013), Yếu tố định lượng đối với tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, Trang thông tin TAND Tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố định lượng đối với tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tác giả: Hồ Vĩnh Phú
Năm: 2013
24. Vũ Thị Phụng (2008), “Những bộ luật cổ Việt Nam và một số giá trị đối với đương đại”, Hội thảo Quốc tế Việt Nam học, lần thứ III Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bộ luật cổ Việt Nam và một số giá trị đối với đương đại”, "Hội thảo Quốc tế Việt Nam học
Tác giả: Vũ Thị Phụng
Năm: 2008
25. Đinh Văn Quế (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999, tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999, tập 2
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH SỰ VIỆT NAM  (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) - Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
r ên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) (Trang 1)
HÌNH SỰ VIỆT NAM  (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) - Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
r ên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) (Trang 2)
Bảng 2.1. So sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm - Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.1. So sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm (Trang 76)
Bảng 2.2. So sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm - Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 2.2. So sánh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm (Trang 80)
Bảng 3.1. Thống kê số liệu vụ án và bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc tiêu  thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã thụ lý trên địa bàn thành phố - Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)
Bảng 3.1. Thống kê số liệu vụ án và bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã thụ lý trên địa bàn thành phố (Trang 86)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm