1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của việt nam

80 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 631,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn vào bối cảnh thế giới, Việt Nam đã ký kết rất nhiều Điều Ước, Hiệp Định quốc tế, điển hình như gia nhập Tổ chức lao động quốc tế ILO vào năm 1994 với những nguyên tắc về tôn trọng q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐỨC NGỌC

QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT

PHÁ SẢN CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐỨC NGỌC

QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP

LUẬT PHÁ SẢN CỦA VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thị Hằng

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Đức Ngọc

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT KÝ HIỆU VIẾT TẮT TÊN CỦA KÝ HIỆU VIẾT TẮT

22

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU: 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Tình hình nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 6

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 8

1.1 Khái niệm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản 8

1.2 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản 14

1.3 Nội dung các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản 19

1.3.1 Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 19

1.3.2 Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ 21

1.3.3 Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền lợi khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp 22

1.3.4 Quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án 24

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CỦA VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 27 2.1 Lược sử phát triển các quy định về quyền của người lao động trong pháp

Trang 6

luật phá sản của Việt Nam và thực tiễn thực hiện 27 2.1.1 Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

và thực tiễn thực hiện giai đoạn năm 1993 đến trước năm 2004 28 2.1.2 Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

và thực tiễn thực hiện giai đoạn năm 2004 đến trước năm 2014 31 2.1.3 Đánh giá, nhận xét sự phát triển về quyền của người lao động

trong pháp luật phá sản giai đoạn từ năm 1993 đến trước năm 2014 36 2.2 Nội dung các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản hiện hành và thực tiễn thực hiện 40 2.2.1 Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 40 2.2.2 Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ 45 2.2.3 Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền lợi khi có quyết định tuyên

bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 49 2.2.4 Quyền đề nghị xem xét lại các quyết định của Tòa án nhân dân 52 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CỦA VIỆT NAM 59 3.1 Yêu cầu hoàn thiện các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản 59 3.1.1 Cần khắc phục những bất hợp lý của các quy định hiện hành 59 3.1.2 Cần đảm bảo sự phù hợp với phát triển của nền kinh tế trong

điều kiện đổi mới, đặc biệt là điều kiện hội nhập quốc tế 61 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người lao động

trong pháp luật phá sản của Việt Nam 64 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam 67 KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Xã hội được hình thành nên bởi rất nhiều các mối quan hệ, trong đó có quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ Trong mối quan hệ này, sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên ở mức độ nhất định chính là chìa khóa của sự bền vững

Nhìn vào bối cảnh thế giới, Việt Nam đã ký kết rất nhiều Điều Ước, Hiệp Định quốc tế, điển hình như gia nhập Tổ chức lao động quốc tế (ILO) vào năm 1994 với những nguyên tắc về tôn trọng quyền của NLĐ cùng với đó việc tham gia tuyên bố 1998 của ILO như một lời cam kết của Việt Nam về đảm bảo và thực hiện tốt hơn nữa quyền của người lao động Sáng ngày 04/02/2016 Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đã thay mặt Chính phủ ký xác thực lời văn hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực vực trong đó có quyền của NLĐ… Việc hội nhập sâu rộng với thế giới đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn về các quy định bảo vệ người lao động của pháp luật trong nước cũng như những quyền này nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế

Bối cảnh trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã dẫn tới sự phá sản của hàng chục nghìn DN từ những doanh nghiệp vừa và nhỏ đến những tổng công ty hay tập đoàn lớn, giai đoạn đen tối đó đã đẩy hàng tram nghìn NLĐ vào cảnh thất nghiệp, bị nợ lương….nhưng nhìn ở mặt tích cực của vấn đề đây cũng là cuộc thanh lọc giúp loại bỏ những DN yếu kém Và thực tế đã chứng minh, dù số lượng DN phá sản ở mức kỷ lục nhưng giai đoạn này cũng chứng kiến số DN thành lập mới tang đột biến, đặc biệt Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 đã tạo một hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho việc thành lập DN, từ đó vấn đề việc làm

Trang 8

của NLĐ cũng được giải quyết tốt hơn Nhìn chung, hiện tại là giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức ổn định, số DN thành lập mới tăng, việc làm cho NLĐ về cơ bản được đáp ứng, nhưng bên cạnh đó vẫn ẩn chứa những rủi ro cho NLĐ vì nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh khốc liệt, nền kinh tế thế giới biến đổi không ngừng tác động không nhỏ đến Việt Nam đây vừa là thách thức vừa là cơ hội nếu DN và NLĐ không muốn rơi vào cảnh phá sản hay mất việc làm Trong môi trường đầy tính cạnh tranh và khả năng rủi ro rất lớn này, thì

việc những DN, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là DN)

không đủ sức cạnh tranh và gánh chịu những rủi ro để rồi tụt lại phía sau và dẫn tới phá sản dường như là một điều khó tránh khỏi, nếu phá sản ở góc độ nào đó là một cơ hội để DN “hồi sinh”, một cứu cánh thì đối với NLĐ lại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro

Lý luận và thực tiễn đều cho thấy rằng, NLĐ tham gia quan hệ lao động khó có thể được đối xử bình đẳng với NSDLĐ Về mặt pháp lý, NSDLĐ có quyền tổ chức, quản lý quá trình lao động của NLĐ và NLĐ phải tuân thủ Bởi NSDLĐ là người có quyền sở hữu tài sản mà các yếu tố cấu thành nên quan hệ sản xuất luôn chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu Bên cạnh đó, NSDLĐ còn bỏ tiền ra để mua sức lao động của NLĐ, muốn cho việc sử dụng sức lao động đó đạt hiệu quả đòi hỏi NSDLĐ phải quản lý nó một cách khoa học và phù hợp Về mặt lợi ích kinh tế, giữa NSDLĐ và NLĐ vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất phụ thuộc lẫn nhau Ở khía cạnh nhất định, NSDLĐ luôn muốn giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí trong đó có vấn

đề tiền lương của NLĐ để tăng lợi nhuận Tuy nhiên, tiền lương và thu nhập trong quan hệ lao động lại là nguồn sống chủ yếu của NLĐ Trong quan hệ lao động, NLĐ được coi là bên yếu thế hơn bởi bị phụ thuộc nhiều vào NSDLĐ Khi DN phá sản mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ bị phá vỡ, hàng

Trang 9

loạt những vấn đề liên quan đến quyền lợi của NLĐ được đặt ra: chế độ bảo hiểm, tiền lương, phụ cấp, vấn đề trợ cấp thôi việc, vai trò của Công đoàn…

DN phá sản, bên cạnh sự thiệt hại của chủ nợ và con nợ, nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến những NLĐ

Quay trở lại với các quy định của pháp luật Việt Nam, về quyền của NLĐ đặc biệt là trong pháp luật phá sản đã cho phép họ được hưởng một số quyền lợi đặc biệt cụ thể trong luật Phá sản 2014 hay Bộ luật Lao động 2012, luật Công đoàn 2012, Luật Việc làm 2013, luật Bảo hiểm xã hội 2014 Tuy nhiên từ quy định đến thực tế thực hiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định của pháp luật phá sản như: quy định giữa các Luật, bộ Luật đôi khi còn chồng chéo; nhiều quy định cứng nhắc hoặc mang tính hình thức, quy định thiếu thực tế… quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản là một vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết, ở cái nhìn vĩ mô hơn nó còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự, kinh tế xã hội của đất nước Cần nhìn nhận quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản dưới góc độ pháp lý, từ đó đưa ra những phân tích, đánh giá cũng như giải pháp hoàn thiện nó sẽ giúp đảm bảo tối đa quyền của NLĐ Từ tất cả những lý do trên em quyết định lựa chọn đề tài: “Quyền của Người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam” là đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản của Việt Nam; nhận diện được những hạn chế, bất cập của chế định này và các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chúng Từ đó, tìm ra một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập, vướng mắc, tồn tại đã nhận diện, góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tế hiện nay

Trang 10

- Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận kết hợp với nghiên cứu, phân tích các

vụ việc cụ thể, đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật

và biện pháp tổ chức thực hiện nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật về Quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản của Việt Nam, cũng như việc áp dụng các quy này vào thực tiễn

Trong luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý, cơ sở

lý luận, thực tiễn và nội dung quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản của Việt Nam Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu này, tôi đưa ra những khuyến nghị

cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền của NLĐ trong trường hợp trên ở Việt Nam

Về không gian, luận văn giới hạn việc tìm hiểu, so sánh ở mức độ nhất định với pháp luật của một số quốc gia điển hình như: Hoa Kỳ- điển hình của trường phái Common Law và Trung Quốc- một quốc gia có nền kinh tế

Trang 11

chuyển đổi, cùng theo đuổi chủ nghĩa xã hội và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam

4 Tình hình nghiên cứu

Đề tài: “Quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt

chí luật học, tạp chí nghiên cứu khoa học như : Chính sách chế độ đối với lao động trong doanh nghiệp phá sản và giải thể, nxb Chính trị quốc Gia 1996; Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với việc bảo vệ quyền của người lao động, Phạm Thị Huyền Trang, tạp chí Thanh tra chính phủ số 10/2014; Bộ luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động, khóa luận tốt nghiệp Hồ Thu Phượng, 1997; Quyền của người lao động và thực thi quyền của người lao động trong quá trình giao kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn và chấm dứt hợp đồng lao động, khóa luận tốt nghiệp, Phạm Thị Lan Hương; Hoàn thiện pháp luật lao động bảo vệ lợi ích quyền của người lao động ở nước ta hiện nay,

Ngô Văn Nam, báo Dân chủ và pháp luật số 07/2012;

Đặc biệt, công trình “Pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam” luận văn thạc sỹ luật của tác giả Trần Huyền Trang, Khoa Luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội 2015 Có thể xem đây là công trình nghiên cứu mới nhất liên quan đến Quyền của NLĐ trong luật phá sản của Việt Nam, lần đầu tiên vấn đề quyền của người lao động trong pháp luật phá sản được tiếp cận dưới một góc nhìn mới khi không chỉ đề cập đến luật phá sản mà còn có sự liên hệ với pháp luật về việc làm, bảo hiểm

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên ra đời trước khi LPS 2014 có hiê ̣u lực, cho nên những công trình ấy chưa thể câ ̣p nhâ ̣t đầy đủ các quy đi ̣nh pháp luật mới cũng như những thay đổi khô ng ngừng của thực tiễn đời sống

Chính vì những lí do trên mà tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quyền của người lao

Trang 12

động trong pháp luật phá sản của Việt Nam” muốn góp phần làm sáng tỏ các

vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về quyền của NLĐ ở Việt Nam, nghiên cứ u kĩ những quy đi ̣nh mới để từ đó đề xuất một vài ý kiến nhằm

hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này làm luận văn thạc sĩ luật học

với mong góp phần làm sáng tỏ các vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản ở Việt Nam, nghiên cứ u kĩ những quy đi ̣nh mới để từ đó đề xuất một vài ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Đề tài “Quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt

Nam” tôi cho ̣n sẽ trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ các vấn đề sau:

- Nếu ra những quy định mới trong pháp luật Phá sản, từ những quy định này tiến hành phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp hoàn thiện

- Đưa ra các tiêu chí đánh giá mới về quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản, từ những tiêu chí đó sẽ áp dụng vào xuyên suốt quá trình phát triển

về quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản của Việt Nam cũng như có sự liên

hệ với thế giới

- Đặt vấn đề quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam với những thay đổi như vũ bão về kinh tế xã hội cũng như những thách thức trong thời đại mới

Trang 13

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền của người lao động trong pháp

luật phá sản và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng các quy định về quyền của người lao động trong pháp

luật phá sản của Việt Nam và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện

các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VÀ SỰ

ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Khái niệm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

Lịch sử phát triển kinh tế của loài người đã chứng kiến những bước nhảy vọt kinh ngạc từ buổi bình minh với những con đường tơ lụa ở Trung Đông xa xôi cho đến sự sụp đổ của gã khổng lồ Nokia ở thế kỷ 21 Điều đó cho ta thấy rằng xã hội luôn không ngừng phát triển và thay đổi, nền kinh tế cũng vậy bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các DN Tình trạng phá sản là hậu quả đương nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường giúp loại bỏ những DN yếu kém không kịp thích ứng đồng thời cũng là áp lực để các DN phải luôn đổi mới để có thể tồn tại trên thị trường Nhìn ở góc độ tích cực, nền kinh tế của mỗi quốc gia giống như một đoàn tàu với rất nhiều toa nối nhau, những DN phá sản là những toa phải bỏ lại phía sau để đoàn tàu về đích nhanh hơn Vì là một thủ tục tư pháp nên việc phá sản xảy ra khi các bên không thể thỏa thuận được với nhau về mặt lợi ích và hậu quả mà nó để lại có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội trong đó đối tượng bị động và có số lượng lớn nhất chính là NLĐ

Về pháp luật phá sản trên thế giới, Luật Phá sản đầu tiên của Anh do vua

Henry VIII ký vào năm 1542 Đây là đạo luật chống lại cá nhân gây ra phá sản

Trang 15

Trong nhiều thế kỷ, Luật Phá sản của Anh đã đưa nhiều con nợ vào tù, thậm chí treo cổ Còn tại Châu Âu lại có một thời kỳ dài chịu ảnh hưởng của Luật Phá sản Năm 1905, Nam Tư ban hành Luật cưỡng chế hòa giải phá sản Theo luật này, giữa các chủ nợ và con nợ không đạt được sự hoà giải thì được giải quyết bằng cách cưỡng chế Đến năm 1980 lại ban hành Luật "chỉnh đốn và đóng cửa

tổ chức lao động liên kết" và đây là Luật Phá sản hiện hành Trong Luật tố tụng dân sự của Liên Xô ban hành năm 1923 có điều nói về chế độ phá sản Năm

1925, các quốc gia Châu Âu cũng đã ban hành nguyên tắc chung về luật không

có khả năng thanh toán nhưng cho đến nay vẫn chưa có gì tiến bộ Các câu lạc

bộ kinh tế của EC hoặc giữa Mỹ và Canada cũng chưa có khả năng đi đến dự thảo một luật phá sản chung Do đó ngày nay, mỗi quốc gia đều ban hành một luật phá sản riêng, phù hợp hơn với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nước mình, như Luật Phá sản của Thụy Điển hiện nay là luật được ban hành năm 1972, Mỹ

từ năm 1978, của Ba Lan từ năm 1983, của Singapore từ năm 1985, của Hungary và Trung Quốc từ năm 1986 Đặc biệt Anh năm 1986 ban hành 2 đạo luật liên quan đến phá sản: Luật không có khả năng thanh toán và Luật treo giò giám đốc Cty [8]

Khái niệm phá sản xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển xã hội loài người từ thời La Mã cổ đại, Trung Cổ cho đến xã hội hiện đại ngày nay Thời La

Mã đó có nhiều con nợ thường bỏ trốn, để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La

Mã phải đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ Cách làm này chỉ thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người Nhưng khi cùng một lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì rất dễ xảy ra tranh chấp Bởi thế người ta thấy rằng, để các chủ nợ đều được đảm bảo trả nợ một cách công bằng

hợp lý, “Tốt nhất là tòa án địa phương (của con nợ) đứng ra quản lý số tài sản, rồi phân chia tài sản này cho các chủ nợ tuỳ theo vốn và lãi của mỗi người” [8].

Ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia pháp luật phá sản lại có những điểm khác

Trang 16

biệt, nhưng nhìn chung cách lý giải về bản chất của phá sản đều gặp nhau ở hai điểm chung đó là: (i)Một người hay một DN nào đó gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả, và có thể dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của DN đó (ii)Phá sản đương nhiên phải do pháp luật điều chỉnh và khi đặt trong cái nhìn về mặt pháp lý đây là một thủ tục tư pháp và một DN được kết luận là phá sản khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố một DN bị phá sản

Tuy nhiên tùy vào trình độ phát triển cũng như điều kiện kinh tế xã hội

mà mỗi quốc gia lại có những thay đổi về đối tượng, yếu tố định lượng hay

pháp luật điều chỉnh của phá sản Theo quy định tại Hướng dẫn quyền của NLĐ khi DN phá sản do Phòng Lao động Hồng Kông ban hành tháng

09/2014, khuyến nghị NLĐ cần thông báo cho cơ quan chức năng khi DN có

những biểu hiện sau: “Chủ sử dụng lao động không trả được nợ của DN bao gồm cả tiền khi đến hạn; Nguyên liệu thực vật, máy móc hoặc vật liệu khác được lấy ra khỏi nơi làm việc mà không có lý do chính đáng; Nơi làm việc đóng cửa mà không thông báo trước; Chủ DN đột nhiên biến mất” [18] qua

quy định này có thể thấy rằng các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa nặng về tính pháp lý mà chỉ là những biểu hiện bên ngoài để NLĐ kịp thời bảo vệ lợi ích của mình.Pháp luật phá sản một số quốc gia như Hoa Kỳ hay Singapore cho rằng phá sản không chỉ bó hẹp trong phạm vi DN mà còn có cả

cá nhân (không kinh doanh) Tại Singapore, một cá nhân có thể nộp đơn xin phá sản nếu nợ số tiền không có khả năng thanh toán tổng cộng ít nhất 10.000

đô la Singapore các điều kiện này sẽ được tòa án đánh giá và người này có thể tuyên bố phá sản trong vòng 4-6 tuần sau khi đệ đơn [19] Hoa Kỳ cho phép

cá nhân có thể đệ đơn khai phá sản một trong hai loại phá sản – Chương 7 “vỡ nợ” phá sản hay Chương 13 “trả nợ” phá sản, nếu cá nhân nộp đơn phá sản theo chương 7 kèm theo những điều kiện nhất định họ sẽ thoát khỏi khỏi

Trang 17

khoản nợ nhưng cũng bị tịch thu toàn bộ tài sản (trừ tài sản được miễn) còn nếu nộp đơn theo chương 13 cá nhân có thể giữ được lại tài sản của mình các

khoản nợ sẽ được chính phủ gia hạn trả trong nhiều năm [20] Theo Luật Phá

sản của 1966 của Úc, tại Điều 5 Giải thích các khái niệm có quy định Phá sản là tình trạng DN bị tịch thu tài sản theo lệnh và trở thành phá sản theo kiến nghị của chủ nợ, cũng tại điều 5 này quy định tất cả thủ tục và thẩm quyền về phá sản đều phải thực hiện theo quy định tại Luật Phá sản 1966 này Trong khi đó pháp luật phá sản Nhật Bản chế định phá sản quy định tại nhiều bộ luật với thời gian ban hành khác nhau: Luật Phá sản (năm 1922); Bộ luật thương mại (năm 1938); Luật về thoả hiệp (năm 1922; năm 2000); Bộ luật về phục hồi dân sự (năm 1999; năm 2000); Luật về tổ chức lại công ty (năm 1952) [4]

Pháp luật phá sản của Việt Nam trải qua trình phát triển gần 30 năm,

bắt đầu manh nha từ luật Công ty năm 1990 cho đến Luật phá sản 2014 pháp luật về phá sản của Việt Nam đã không ngừng phát triển và hoàn thiện để thích ứng với môi trường kinh doanh biến đổi không ngừng Nhưng dù cho có thay đổi thế nào thì pháp luật về phá sản vẫn luôn đảm bảo những giá trị cốt lõi đó là: Bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ; Bảo vệ lợi ích của người mắc nợ, tạo cơ hội để người mắc nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự; Góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của NLĐ; Góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn

Như vậy, pháp luật phá sản là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện mở TTPS; địa vị pháp lý, thẩm quyền, mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia TTPS; trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thanh lý tài sản DN; thi hành quyết định tuyên bố phá sản; các vấn đề khác phát sinh trong quá trình giải quyết

vụ việc phá sản Trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt

Trang 18

Nam hiện nay chế định phá sản được quy định trong Luật Phá sản 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngoài ra các vấn đề liên quan đến quyền lợi của NLĐ được quy định tại: Bộ luật lao động 2012, Luật Việc làm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Công Đoàn 2012 cùng các văn bản hướng dẫn

Có thể thấy, phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước và Tòa

án có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các DN với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo

Khi DN phá sản, ngoài lợi ích của chủ nợ bị ảnh huởng thì không thể không nhắc đến quyền lợi của NLĐ – đối tượng dễ bị tổn thương nhất Tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội (BHXH) của nhiều DN, DN ngừng hoạt động các chế độ BHXH của NLĐ cũng không được đảm bảo cụ thể đó là: không được trả lương, phụ cấp theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đầy

đủ và đúng thời hạn; không được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ cấp thôi việc…cuối cùng là tình trạng thất nghiệp, như đã phân tích ở trên khi DN “phá sản hàng loạt” thì tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng cao gây ra bất ổn cho xã hội

Quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản trong các văn bản pháp lý quốc

tế, các quyền của NLĐ nói chung và NLĐ trong pháp luật Phá sản nói riêng

được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và các khuyến nghị của Tổ chức lao động thế giới (ILO)

Đến nay, ILO đã thông qua 189 công ước và 203 khuyến nghị, đây chính là những công cụ pháp lý chủ yếu, quan trọng nhằm khuyến trợ công

Trang 19

bằng xã hội và bảo đảm các quyền cho NLĐ Theo các văn bản này, quyền của NLĐ gồm các quyền: Quyền làm việc, quyền công đoàn độc lập, quyền không bị ép làm việc không lương, quyền nam nữ hưởng lương bằng nhau, quyền không bị phân biệt đối xử, quyền không bị phân biệt đối xử nếu có con cái, quyền được giúp đỡ và có việc làm thích hợp nếu bệnh tật, quyền được đào tạo, bồi dưỡng có ăn lương, quyền không bị đuổi việc, quyền được trả lương bằng tiền, quyền hưởng lương trên hoặc bằng mức tối thiểu, quyền

được trả lương nếu chủ sử dụng lao động bị phá sản [7]

C Mác cho rằng, con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội, trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Vì vậy con người phải có được các quyền trên nhiều lĩnh vực khác nhau và các quyền này thường đan xen với nhau Nhu cầu

về quyền hiểu theo nghĩa chung nhất là như nhau cho tất cả mọi đối tượng Từ căn nguyên này, giúp chúng ta tìm hiểu được về quyền của NLĐ nói chung và trong pháp luật phá sản nói riêng Vì lợi ích của NSDLĐ và lợi ích của NLĐ phải có sự hài hoà Quan hệ giữa họ không mâu thuẫn gay gắt với nhau mà được chuyển hoá để kết hợp thành một thể thống nhất, tạo hợp lực chung vì

sự phát triển của xã hội Quyền của NLĐ khi DN phá sản cần hiểu là những lợi ích mà họ được nhận nó không mâu thuẫn với quyền lợi của DN

Qua các văn bản pháp luật quốc tế cũng như quan điểm của các nhà lý luận, quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản là một trong những quyền hết sức quan trọng của con người thuộc nhóm các quyền có việc làm, được trả công và đảm bảo các chế độ, điều kiện lao động Các quyền này không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế (tuyên ngôn, công ước, khuyến nghị), mà còn được cụ thể hóa và quy định trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp, Bộ luật, Luật và được thể hiện dưới các khía cạnh: địa vị pháp lý (được tham gia vào các thủ tục tố tụng với tư cách giống

Trang 20

như chủ nợ của DN), thẩm quyền, các quyền về tài sản…của NLĐ Để bảo đảm các quyền của NLĐ các quốc gia buộc phải ban hành các quy định về nghĩa vụ thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy việc thực hiện các quyền của NLĐ, đồng thời phải đưa ra các quy định mang tính chế tài xử lý khi các quyền này bị xâm phạm

Như vậy, về bản chất, NLĐ cũng là một chủ nợ của DN với sợi dây ràng buộc là hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể Vì vậy quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản là những lợi ích, ưu tiên, hỗ trợ và sự công nhận mà Nhà nước dành cho NLĐ trong lĩnh vực phá sản được cụ thể hóa bằng luật, trong suốt quá trình từ trước, trong và sau khi DN bị tuyên bố phá sản Đó là các quy định về: Quyền tham gia TTPS, các quyền liên quan đến tài chính (lương, BHXH, trợ cấp ), các quyền hỗ trợ Cùng với đó là quan điểm cách nhìn nhận của mỗi quốc gia về thứ tự ưu tiên thanh toán tài sản của DN phá sản cũng như chính sách hỗ trợ và các chế tài đảm bảo thực thi các quy định trên

1.2 Sự cần thiết phải bảo đảm quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

Về mặt lý luận, trong mối quan hệ với NSDLĐ, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế

hơn, có sự phụ thuộc và chịu sự quản lí, điều hành của NSDLĐ Chính pháp luật cũng thừa nhận điều đó Với việc thừa nhận của pháp luật nên trên thực tế, xảy

ra hiện tượng lạm quyền của NSDLĐ và dẫn tới những thiệt thòi cho NLĐ Từ

đó, muốn tạo ra quan hệ lao động được bình đẳng hơn pháp luật nói chung và pháp luật phá sản nói riêng đã có những quy định để bảo vệ NLĐ, qua đó hạn chế sự lạm quyền của NSDLĐ NLĐ nhận thức được quyền của mình và DN tôn trọng cũng như thực hiện các nghĩa vụ của mình với NLĐ Phá sản ảnh hưởng trực tiếp đến NLĐ khiến họ lâm vào tình cảnh thất nghiệp vì vậy đảm bảo quyền

Trang 21

của NLĐ khi DN phá sản là cách hạn chế mức độ thấp nhất những thiệt hại mà

họ có thể gặp phải, có ý nghĩa lớn đối với NLĐ và ổn định xã hội

Về mặt thực tiễn, mỗi năm thị trường lao động Việt Nam đón nhận

thêm hơn 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, trình độ tay nghề của NLĐ cũng không ngừng được nâng cao, áp lực việc làm và cạnh tranh trong thị trường giữa những NLĐ là rất lớn, nên khi tham gia thị trường lao động, NLĐ thường có tâm lý có được công việc bằng mọi giá Kể cả khi đã có việc làm

ổn định, cuộc sống của họ cũng dễ bị ảnh hưởng bởi khó khăn phát sinh như: Tương quan cung – cầu lao động trên thị trường, vấn đề thất nghiệp do nhiều nguyên nhân Vì vậy, người lao động khó có điều kiện thỏa thuận bình đẳng thực sự với bên sử dụng lao động như yêu cầu Họ cần được bảo vệ để hạn chế những bất lợi, những sức ép do điều kiện khách quan mang lại cũng như nhận thức đối với quyền của mình của phần lớn NLĐ chưa cao

Khi một DN phá sản, NLĐ là người chịu ảnh hưởng đầu tiên và nặng nề nhất, họ có thể không được thanh toán lương, bị mất việc làm Nếu không có

sự bảo vệ của pháp luật thì với hiểu biết của mình NLĐ sẽ khó được đảm bảo được những quyền lợi của mình

Trong quá trình hội nhập, việc Việt Nam tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) nói chung và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nói riêng đã đặt ra nhiều yêu cầu mới về đảm bảo quyền của NLĐ nói chung và trong pháp luật phá sản nói riêng, bởi những tổ chức hay Hiệp định quốc tế Việt Nam tham gia quyền của NLĐ luôn được đề cao với những yêu cầu rất khắt khe Đảm bảo quyền của NLĐ trong luật phá sản cũng

là đảm bảo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới

Cơ sở pháp lý, quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản là một quyền

qung trọng, cơ bản của NLĐ Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế

có thể thấy rằng, các quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản là một trong

Trang 22

những quyền hết sức quan trọng của con người thuộc nhóm các quyền về kinh

tế, xã hội và văn hóa Các quyền của NLĐ có vai trò quan trọng đối với NLĐ hoặc tập thể NLĐ Các quyền này không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế (tuyên ngôn, công ước, khuyến nghị), mà còn được cụ thể hóa và quy định trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp, bộ luật, luật và được thể hiện dưới hai khía cạnh là quyền và nghĩa vụ, bởi để bảo đảm các quyền của NLĐ các quốc gia buộc phải ban hành các quy định về nghĩa

vụ thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy việc thực hiện các quyền của NLĐ, đồng thời phải đưa ra các quy định mang tính chế tài xử lý khi các quyền này bị xâm phạm

Quyền của NLĐ trong hoàn cảnh DN lâm vào tình trạng phá sản từ trước đến nay vẫn được các văn bản pháp luật chuyên ngành phá sản và lao động của các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm điều chỉnh bởi khi DN phá sản thì sẽ làm cho khối lượng lớn NLĐ bị thất nghiệp, nhu cầu về việc làm cũng trở nên cấp thiết, việc làm không ổn định, không thường xuyên và phù hợp dẫn tới thu nhập bấp bênh, cuộc sống không đảm bảo, tệ nạn và tội phạm xã hội tăng đáng kể, đồng nghĩa với việc tăng gánh nặng đối với kinh

tế, xã hội của quốc gia, khu vực

Đảm bảo quyền lợi của NLĐ chính là một bước trong tiến trình xây dựng, phát triển nền kinh tế bởi ở bất kỳ một đất nước nào, lực lượng lao động luôn đông đảo chiếm đa số đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển NLĐ có thể là cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý, những công nhân, thợ kỹ thuật… họ có ở khắp mọi nơi, làm việc để có được thu nhập (bao gồm tiền lương, tiền thưởng, các chế độ an sinh…) nhằm mục đích đảm bảo cuộc sống của mình và đóng thuế cho nhà nước bằng nhiều hình thức, họ chính là lực lượng tạo ra và cũng chính là lực lượng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng bằng nhiều cách

Trang 23

Tuỳ theo chế độ chính trị - xã hội và định hướng mà pháp luật từng quốc gia trên thế giới theo đuổi, quan điểm của nhà nước trong việc ưu tiên bảo vệ lợi ích của nhóm chủ thể nào mà chức năng bảo vệ các nhóm quyền lợi của pháp luật phá sản có những quy định mang tính đặc thù Trong pháp luật phá sản hiện đại, vấn đề bảo vệ quyền lợi NLĐ được đặc biệt quan tâm Khẳng định quyền của NLĐ trong TTPS cũng chính là tôn trọng nhân quyền, mục đích mà bất kỳ một đất nước văn minh nào nói riêng và nhân loại tiến bộ hiện nay đều đang hướng tới Pháp luật của hầu hết các nước đều ghi nhận quyền của NLĐ trong suốt quá trình tố tụng và bình đẳng với các chủ nợ khác bởi việc đảm bảo quyền của họ là thực sự cần thiết Pháp luật phá sản ở một số nước theo chủ nghĩa xã hội và đang phát triển như Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhóm NLĐ, là những thành phần yếu thế nhưng lại đóng vai trò chủ chốt trong xã hội và nền kinh tế, quyền lợi của họ lại càng đặc biệt được bảo vệ

Quyền của NLĐ trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

DN ngày càng được phát triển và thừa nhận một cách rộng rãi, thể hiện ở các quyền như: quyền trả lương, các khoản nợ khác; quyền tham gia HNCN, quyết định sự tồn tại của DN; quyền giám sát DN được áp dụng thủ tục phục hồi, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương và các khoản tiền hợp pháp khác

Pháp luật phá sản nước nào trên thế giới cũng quy định các quyền để NLĐ có thể tham gia tự bảo vệ lợi ích của mình Cần nhận thấy rằng khi một

DN “mất khả năng thanh toán” các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh thì NLĐ bị nợ lương, phụ cấp khác theo hợp đồng lao động sẽ vừa là chủ nợ và cũng sẽ là nạn nhân Cơ sở đầu tiên để họ thực hiện quyền của mình, dù là ở tư cách nào đi nữa, trước hết vẫn là quyền nộp đơn lên cơ quan

tư pháp có thẩm quyền, cụ thể là Tòa án

Trang 24

Hiện nay, pháp luật phá sản trên thế giới phân chia chủ nợ thành ba loại: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm Pháp luật cho phép các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS đối với DN, áp dụng thủ tục thanh lý toàn bộ tài sản còn lại của DN để trả nợ cho các chủ nợ NLĐ trong trường hợp này sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS DN với

tư cách là chủ nợ không có bảo đảm

NLĐ có thể trực tiếp hoặc thông qua đại diện của chính mình tham gia HNCN với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm, gián tiếp giám sát thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN hoặc thủ tục thanh lý tài sản của DN phá sản thông qua quản tài viên Nhóm quyền lợi này có thể tạm gọi là quyền tham gia TTPS NLĐ cũng như các chủ nợ khác trong HNCN, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến lợi ích của mình, có quyền thông qua hay không thông qua kế hoạch phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của con nợ

Ngoài ra, cũng cần đặc biệt lưu ý về quyền liên quan đến quan hệ lao động, đặc biệt là quyền được thanh toán tiền lương trong DN phá sản bởi đây

là một vấn đề phức tạp bao gồm nội dung nghĩa vụ thanh toán như tiền lương, phụ cấp, trợ cấp thôi việc… quyền ưu tiên thanh toán: được thanh toán sau các chủ nợ có bảo đảm… Về lý thuyết, rất khó để tìm thấy bất cứ ý kiến nào phản đối quan niệm NLĐ được bồi thường tiền lương và các quyền lợi khác mà họ đáng được hưởng khi DN phá sản sau khi DN thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ thường không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ với NLĐ

Hậu phá sản DN, vấn đề đặt ra cấp bách nhất là quyền có việc làm Đây

là yếu tố cơ bản để bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người, đồng thời cũng

Trang 25

là yếu tố để bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của NLĐ Quyền có việc làm được coi là quyền hiến định trong pháp luật quốc tế, cụ thể, Tuyên ngôn

toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm ” So với quyền của NLĐ khi DN phá sản,

quyền có việc làm hẹp hơn, tuy nhiên, đây lại là một quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động việc làm và hậu phá sản Quyền có việc làm chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện các quyền khác của NLĐ nói riêng và các quyền của con người nói chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá Chỉ khi quyền có việc làm được đảm bảo thực hiện, thì các quyền khác của con người mới có ý nghĩa Luật việc làm 2013 của Việt Nam đã bước đầu thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề này

1.3 Nội dung các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản

1.3.1 Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Về khái niệm, quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS của NLĐ là quyền mà

NLĐ được tham gia vào TTPS của DN, cụ thể ở đây là NLĐ trực tiếp nộp đơn (hoặc thông qua đại diện của NLĐ, Công đoàn) đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (TAND) để cơ quan đó thụ lý xem xét có quyết định mở TTPS hay không đối với DN mà NLĐ nộp đơn đang làm việc Về chủ thể, người nộp đơn yêu cầu mở TTPS phải trực tiếp là NLĐ đang làm việc tại DN hoặc Công đoàn, người đại diện cho họ, người nộp đơn phải đại diện và bảo vệ lợi ích tuyệt đối cho NLĐ Xác định đúng chủ thể NLĐ nộp đơn vừa đảm bảo đúng thủ tục pháp luật vừa đảm bảo những mong mỏi,tâm tư nguyện vọng của NLĐ được thực hiện; Nếu là đại diện cho NLĐ thì cần có biên bản họp hoặc

bỏ phiếu của tập thể NLĐ cử đại diện Về thời điểm nộp đơn, bắt đầu từ thời điểm khi quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ bị xâm phạm: DN chậm trả lương hoặc không thực hiện nghĩa vụ tài chính khác đối với NLĐ Về nghĩa

Trang 26

vụ chứng minh việc quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thuộc về NLĐ, khi nộp đơn họ cũng đồng thời phải đưa ra chứng cử đủ thuyết phục để Tòa án đồng ý ra quyết định thụ lý đơn Về mặt pháp lý, đây là quyền được luật hóa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật và được đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Tùy thuộc vào mỗi quốc gia, quy định về quyền này sẽ có sự thay đổi, quy định chi tiết hơn như: thời gian DN nợ lương, thời điểm NLĐ được phép nộp đơn, số tiền nợ lương tối thiểu để NLĐ có thể nộp đơn…nhưng dù có quy định khác nhau thì pháp luật phá sản luôn phải giữ được tinh thần của quyền này đó là: trao quyền tận tay NLĐ, đưa NLĐ ngang hàng với các chủ nợ khác nhằm để NLĐ được làm chủ vận mệnh của mình

Thực tiễn cho thấy, pháp luật phá sản trên thế giới còn hạn chế về quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS của NLĐ Điều 4 Luật phá sản của Lào năm 1994 quy định: “Khi một DN không có khả năng trả nợ, chủ nợ có quyền nộp đơn hoặc DN tự có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án xem xét tuyên

bố phá sản.” [ Điều 4, 21] pháp luật phá sản của Lào không quy định NLĐ hay đại diện của họ được nộp đơn yêu cầu mở TTPS, cũng như không đồng nhất địa vị pháp lý của NLĐ như một chủ nợ đối với DN để có thể hiểu chủ

nợ bao gồm NLĐ Còn trong pháp luật phá sản của Trung Quốc “Trường hợp con nợ là một trong các trường hợp quy định tại Điều 2 của Luật này, có thể làm đơn đến tòa án nhân dân tổ chức lại, thỏa hiệp hoặc thanh lý phá sản Trường hợp con nợ không thể trả hết các khoản nợ của mình, các chủ

nợ có thể làm đơn đến Toà án nhân dân tổ chức lại hoặc phá sản thanh lý tài sản của con nợ.” [Điều 7, 22] Chúng ta không đặt ra vấn đề rằng trao quyền

hay không trao quyền cho NLĐ quy định nào ưu việt và tiến bộ hơn mà cần phải đặt nó trong điều kiện của từng quốc gia Đối với những quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, quy định một cách đầy đủ quyền của NLĐ, luôn

Trang 27

đảm bảo các chế độ, quyền lợi cho họ ở mức tốt nhất thì việc trao cho NLĐ quyền tự mình nộp đơn yêu cầu mở TTPS là không thật sự cần thiết bởi đã

có một bộ máy tư pháp hoàn chỉnh luôn vận hành đảm bảo những quyền lợi tốt nhất cho họ Về phía NLĐ cũng cần có sự hiểu biết nhất định về pháp luật, vì khi thực hiện quyền của mình họ đương nhiên cũng phải gánh vác những nghĩa vụ tương đương nên nếu không có đủ thời gian và kiến thức họ

sẽ tự gây ra thiệt hại cho bản thân cũng như DN

1.3.2 Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ

Về khái niệm, HNCN được hiểu là cuộc họp của các chủ nợ do Thẩm

phán triệu tập và chủ trì để thảo luận và quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN Về mặt trình tự, đây là thủ tục mang tính trung gian sau khi Tòa án đã mở TTPS và trước khi ra quyết định

có tuyên bố DN phá sản hay không Thành phần tham gia HNCN thường bao gồm: Chủ nợ (không có đảm bảo hoặc đảm bảo một phần), NLĐ, con nợ (người đại diện theo pháp luật hoặc ủy quyền của DN) nhưng việc biểu quyết

để đưa ra quyết định cuối cùng thuộc về chủ nợ và NLĐ Việc tham gia HNCN với tư cách là người nộp đơn yêu cầu mở TTPS hay đại diện của NLĐ

đã trao cho NLĐ quyền định đoạt số mệnh pháp lý của DN: cải tổ, phục hồi hoạt động kinh doanh hay biến mất mãi mãi trên thương trường

Pháp luật phá sản Trung Quốc quy định “Một chủ nợ tham dự đại diện cho NLĐ và công đoàn của các con nợ, người có thể bày tỏ quan điểm của

họ về các vấn đề có liên quan” [Điều 59, 22] và “Nghị quyết do Đại hội đồng chủ nợ được chấp nhận bởi hơn một nửa số chủ nợ đó tham dự cuộc họp, có quyền bỏ phiếu, và đại diện cho một nửa hoặc nhiều hơn tổng số tiền của các khiếu kiện không có bảo đảm, trừ trường hợp quy định của Luật này” [Điều

64, 22] Luật phá sản 1994 của Lào cũng công nhận quyền tham gia HNCN của NLĐ thông qua đại diện của mình, đại diện Công Đoàn và thông qua

Trang 28

Nghị quyết khi có đại diện của ít nhất 2/3 số nợ biểu quyết tán thành [Điều 19; Điều 25, 21] Việc lựa chọn tương lai nào cho DN sẽ quyết định số tiền

nợ mà NLĐ có thể đòi được, đó là tiền lương, BHXH, trợ cấp thôi việc….nhưng có phải NLĐ thực sự nắm trong tay quyền định đoạt DN khi

mà việc thông qua Nghị quyết của HNCN lại bằng cách biểu quyết dựa trên đại diện cho tổng số nợ Vì một khi DN lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn dẫn đến phá sản thì số nợ đó chắc chắn sẽ lớn hơn rất nhiều số tiền nợ lương cùng các trợ cấp khác cho NLĐ Nhưng không thể phủ nhận việc trao quyền tham gia HNCN là cách để NLĐ nhận thức rõ hơn về quyền của mình, giúp họ có thêm những hiểu biết về pháp luật, đặc biệt là nắm rõ được diễn biến, tình hình phá sản của DN

Trong những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế hoặc việc phá sản xảy

ra ở những Tổng công ty, tập đoàn lớn với hàng nghìn nhân viên nếu việc phá sản xảy ra không những quyền lợi của NLĐ không được đảm bảo mà tình trạng thất nghiệp xảy ra dẫn đến cả bất ổn về xã hội Với những trường hợp như vậy HNCN sẽ ra quyết định phục hồi hoạt động kinh doanh, với việc cũng là một thành viên có quyền biểu quyết của Hội nghị NLĐ đã nắm trong tay chìa khóa để tự cứu lấy mình Tinh thần này được thể hiện rất rõ trong luật phá sản Pháp, “Luật Phá sản sửa đổi năm 1994 cũng thể hiện xu hướng thay đổi trong pháp luật phá sản của Pháp Mục tiêu của pháp luật phá sản “hướng vào người mắc nợ” rất rõ nét với quan điểm rõ ràng là trong tình trạng thất nghiệp cao, khả năng về việc làm và sản xuất phải được đảm bảo bằng mọi biện pháp” [4]

1.3.3 Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền lợi khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Về khái niệm, sau khi DN bị tuyên bố là phá sản tài sản của DN sẽ được

dùng để thanh toán cho các chủ nợ Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền

Trang 29

lợi khi có quyết định tuyên bố phá sản DN được hiểu là khi có nhiều chủ nợ chờ được thanh toán khoản nợ của mình thì NLĐ được xếp ở nhóm thanh toán đầu tiên, có thể là được ưu tiên thanh toán đầu tiên hoặc thứ hai, thứ ba nhưng chắc chắn sẽ không bị xếp ở nhóm được thanh toán cuối cùng Quyền

ưu tiên này đặc biệt có ý nghĩa khi số tài sản của DN không đủ để trả hết cho các chủ nợ, lúc này các đối tượng xếp cuối danh sách thanh toán sẽ có nguy

cơ không được thanh toán đủ số nợ của mình thậm chí là không được thanh toán Việc sắp xếp NLĐ được ưu tiên thanh toán là việc làm có chủ đích của nhà làm luật, bởi không giống như những chủ nợ khác mối quan hệ của NLĐ với DN là mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ và nó không có sự công bằng

về ý chí giữa hai bên và tiền lương, BHXH, trợ cấp thôi việc mà DN trả là nguồn thu nhập duy nhất họ có Như đã phân tích ở trên thì khi xảy ra phá sản NLĐ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất, bị động nhất cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ Trao quyền ưu tiên thanh toán cho NLĐ thể hiện cái nhìn nhân văn của nhà làm luật đồng thời phản ánh đúng thực tiễn cuộc sống

Luật Phá sản mới của Trung Quốc có hiệu lực kể từ 01/06/2007 Luật phá sản cũ của Trung Quốc được ban hành vào năm 1986 và chỉ áp dụng cho công ty quốc doanh nên gây khó khăn rất lớn cho các công ty tư nhân khi bị phá sản.Về thứ tự các khoản thanh toán khi DN phá sản, trước đây những NLĐ bị mất việc làm khi công ty phá sản sẽ được thanh toán trước, nhưng

theo luật mới thì các chủ nợ sẽ được ưu tiên “Một chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản cụ thể của phá sản được hưởng các ưu tiên được hoàn trả tài sản cụ thể” sau đó đến NLĐ “Các tài sản phá sản, sau khi chi phí cho TTPS được đài thọ và các khoản nợ phát sinh cho lợi ích chung của các chủ nợ đều được hoàn trả đầu tiên, sau đó thanh lý theo trình tự sau đây: (i) tiền lương, trợ cấp cho điều trị y tế, thương tích và tàn tật và lương hưu cho người khuyết tật

Trang 30

và gia đình của người đã khuất mà phá sản nợ, phí bảo hiểm tuổi già cơ bản

và tiền đóng bảo hiểm y tế cơ bản mà không nhập vào tài khoản cá nhân của nhân viên, và việc bồi thường cần được trả cho NLĐ theo quy định của pháp luật có liên quan và các quy định hành chính; (ii) bảo hiểm xã hội mà phá sản

không trả được, các loại thuế chưa thanh toán; ” [Điều 110; Điều 113, 22]

Các chuyên gia kinh tế Trung Quốc cho rằng Phá sản không chỉ là mối quan

hệ giữa chủ nợ và người đi vay, mà nó còn động chạm tới các vấn đề xã hội như tình trạng thất nghiệp và NLĐ nhưng pháp luật nước này chưa lưu ý đến [3] Trong một thời gian dài, nhiều tòa án địa phương tại Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận tình trạng phá sản, ngay cả các chính quyền địa phương cũng không cho phép họ phá sản Vấn đề của Trung Quốc theo tôi có lẽ là do các nhà cầm quyền chưa chịu lắng nghe thị trường mà vẫn còn đặt nặng yếu

tố chính trị lên Luật phá sản, mà một trong những bộ phận bị ảnh hưởng đó là NLĐ

1.3.4 Quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án

Dưới góc độ pháp lý, khiếu nại được hiểu là: Việc công dân, cơ quan,

tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Như chúng ta đã phân tích ở phần đầu, phá sản là một thủ tục tư pháp và do Tòa án tổ chức thực hiện theo trình tự, quy định của pháp luật Và ở mỗi bước của phá sản Tòa án sẽ ra các quyết định hoặc thông báo để làm cơ sở thực hiện các bước tiếp theo như: Thông báo trả lại đơn yêu cầu mở TTPS, thông báo mở TTPS, Gửi nghị quyết chủ nợ đến các bên liên quan tương ứng với mỗi thủ tục đó là quyền khiếu nại của NLĐ với các

Trang 31

quyết định của Tòa án Quyền khiếu nại là một quyền cơ bản trong những vụ việc tố tụng nó cũng thể hiện sự dân chủ và mối quan hệ hai chiều giữa người dân và cơ quan nhà nước, trong trường hợp này là giữa NLĐ và TAND

Luật Phá sản DN năm 2006 của Trung Quốc quy định quyền ưu tiên cho các khiếu nại lien quan đến NLĐ, khiếu nại đối với nợ thuế và các khiếu nại chung khác Quy định này phù hợp với đất nước có nền kinh tế thương mại phát triển, với số lượng lao động đông đảo nhất thế giới, dù không trao quyền trực tiếp cho NLĐ khiếu nại các quyết định của Tòa án nhưng pháp luật Trung Quốc cũng đã có quy định phù hợp để bảo vệ lợi ích của NLĐ

Pháp luật một số nước châu Á không công nhận quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án của NLĐ vì ngay từ chủ thể nộp đơn yêu cầu mở TTPS pháp luật các nước này đã không trao quyền cho họ Luật Phá sản Lào quy

định “Các chủ nợ, chủ DN hoặc đại diện có quyền yêu cầu kháng nghị đối với quyết định của tòa án về phá sản DN trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận quyết định đó”[Điều 37, 21]

Kết luận chương, quyền của NLĐ nói chung và đặc biệt là trong pháp

luật phá sản nói riêng đã được pháp luật của Việt Nam cũng như thế giới ghi nhận rất đầy đủ Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp ….Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và

Trang 32

khách quan thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa

DN và NLĐ Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và NLĐ pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội Như vậy, quyền của NLĐ trong pháp luật phá sản

có vai trò vô vùng quan trọng và nó đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật tuy quy định ở mỗi quốc gia có những khác biệt nhất định nhưng vẫn giữ chung tinh thần là bảo vệ lợi ích chính đáng của NLĐ, hạn chế mức thấp nhất những hậu quả mà họ có thể gặp phải

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT PHÁ SẢN CỦA VIỆT

NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

2.1 Lược sử phát triển các quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản của Việt Nam và thực tiễn thực hiện

Pháp luật phá sản ở Việt Nam xuất hiện đầu tiên trong giai đoạn thực

dân Pháp đô hộ “Ở Việt Nam pháp luật phá sản đã có từ thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ, nhưng Luật này phần lớn được áp dụng ở niền Nam và trên thực

tế dường như rất ít được áp dụng Cũng như các nước thuộc địa khác, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật thực dân Những quy định về khánh tận, thanh toán tư pháp phá sản cũng đã có trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn” [6] Phá sản là một hiện tượng kinh tế khách quan trong

nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh Giai đoạn trước năm 1986, trong hệ thống pháp luật tại Việt Nam khái niệm phá sản hầu như không được đề cập bởi sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết

đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Từ năm 1986 đến trước khi LPSDN

1993 ra đời, đây được coi là giai đoạn chuyển tiếp của nền kinh tế kéo theo đó

là sự thay đổi của pháp luật, với những bước đi đầu tiên đặt nền móng cho pháp luật phá sản Việt Nam Những phác thảo đầu tiên về phá sản trong pháp luật Việt Nam trong giai đoạn này bắt đầu từ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987; Luật Công ty 1990 và Luật DN tư nhân 1990, pháp luật quy định hai loại hình là công ty và DN tư nhân trong hai văn bản luật khác nhau

Trang 34

nhưng tất cả các vấn đề liên quan đến phá sản thì chỉ nằm ngắn gọn trong duy nhất một điều: Điều 24 (Luật Công ty 1990); Điều 17 (Luật DN tư nhân 1990), nội dung các quy định này mang tính bao quát không cụ thể cũng như không có văn bản hướng dẫn về vấn đề này (sau này khi LPSDN 1993 ra đời trong văn bản sửa đổi của Luật DN tư nhân quy định phá sản thực hiện theo quy định của LPSDN 1993) Do các quy định trong pháp luật lúc này còn rất

sơ sài nên không có bất kỳ một cơ chế liên quan đến quyền của NLĐ khi DN, công ty phá sản

Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2014, sự ra đời của LPSDN năm 1993

và LPS 2004 đã đánh dấu một bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp của Việt Nam cũng như là cột mốc bước sang giai đoạn mới của nền kinh tế, nền kinh

tế thị trường với các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước Dù là những đạo luật đầu tiên nhưng LPSDN 1993 và LPS 2004 đều rất chú trọng đảm bảo các quyền của NLĐ, để thực hiện được điều này pháp luật phá sản đã quy định cho họ một số quyền như: quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS, quyền tham gia trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán

2.1.1 Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản và thực tiễn thực hiện giai đoạn năm 1993 đến trước năm 2004

Năm 1993, LPSDN 1993 ra đời được nhìn nhận như là sự tiếp nối lôgic trong việc thể chế chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta LPSDN 1993 là đạo luật về phá sản đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành trong khoảng thời gian ngắn ngủi khi chúng ta mới bước vào nền kinh tế thị trường Kinh nghiệm của chúng ta về kinh tế thị trường nói chung và về phá sản nói riêng còn rất hạn chế, ít ỏi

Kinh nghiệm lập pháp về phá sản hoàn toàn không có “Có thể nói LPSDN

1993 được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài.” [1]

Trang 35

Về quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS của NLĐ

Theo LPSDN năm 1993 thì NLĐ cũng có quyền đệ đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố phá sản với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm LPSDN

1993 cho phép đại diện NLĐ nơi chưa có tổ chức Công đoàn hoặc đại diện công đoàn có quyền đệ đơn yêu cầu Tòa án giải quyết nếu DN mắc nợ không thể trả được lương cho NLĐ trong 3 tháng liên tiếp Khác với các chủ nợ khác NLĐ không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.[ Điều 8, 13] Đại diện Công đoàn chỉ được nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản khi có đủ điều kiện: (i)DN không trả đủ lương cho NLĐ theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp; (ii) Có nghị quyết của công đoàn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản DN [Điều 9, Mục V, 12]

Việc ghi nhận quyền được nộp đơn yêu cầu mở TTPS của NLĐ trong văn bản chính thức đầu tiên về Phá sản cho thấy cái nhìn tiến bộ của nhà làm luật, cũng như thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước dành cho đối tượng này Tuy nhiên, so sánh với những quy định của pháp luật lao động hiện hành thì quy định này lại có sự không đồng nhất Bởi Bộ luật lao động thời điểm đó quy định: “Ở những doanh nghiệp đang hoạt động chưa có tổ chức công đoàn thì chậm nhất sau sáu tháng, kể từ ngày Bộ Luật Lao động có hiệu lực

và ở những doanh nghiệp mới thành lập thì chậm nhất sau sáu tháng, kể từ ngày doanh nghiệp bắt đầu hoạt động, Liên đoàn lao động cấp tỉnh phải thành lập tổ chức công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động và tập thể lao động” (Điều 153, Bộ luật

lao động năm 1994) pháp luật Lao động chỉ công nhận tổ chức công đoàn cơ

sở hoặc Ban Chấp hành công đoàn lâm thời là người đại diện duy nhất cho NLĐ tại DN và không công nhận đại diện của tập thể lao động hoặc một tổ chức khác bên cạnh Công đoàn Điều đó cho thấy: Luật Phá sản DN năm

1993 cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về đại diện

Trang 36

NLĐ nơi chưa có tổ chức công đoàn là ai, vì vậy, đã gây khó khăn cho NLĐ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Về quyền tham gia HNCN

Quyền tham gia HNCN của NLĐ trong LPSDN 1993: “…Đại diện công đoàn hoặc đại diện NLĐ nơi chưa có tổ chức công đoàn được quyền tham dự hội nghị chủ nợ, nhưng không có quyền biểu quyết, trừ trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật này.”[ Điều 25, 13] Chi tiết về quyền biểu quyết của NLĐ đó là“ đại diện công đoàn hoặc đại diện NLĐ nơi chưa có tổ chức công đoàn cũng có quyền biểu quyết trong trường hợp họ nộp đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản DN.” [11] Đại diện Công đoàn ở đây được

hiểu là: Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn hoặc người được Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn uỷ quyền bằng văn bản [Khoản 1; Điều 8, Mục V, 12]

Từ những quy định trên có thể thấy rằng LPSDN 1993 chưa coi NLĐ ngang hàng với chủ nợ, hay nói cách khác địa vị pháp lý của NLĐ chưa được nhìn nhận một cách thống nhất trong luật Nếu NLĐ bị nợ lương, BHXH đó cũng là những khoản “nợ đến hạn” theo định nghĩa về phá sản tại Điều 2 của LPSDN 1993 nên NLĐ cũng cần có địa vị pháp lý như chủ nợ Chỉ khi NLĐ nộp đơn yêu cầu mở TTPS họ mới được quyền biểu quyết tại HNCN nhưng quy định để họ thực hiện việc nộp đơn lại còn nhiều bất cập (đã nêu ở trên)

Vì vậy, quy định về quyền tham gia HNCN của NLĐ trong luật vẫn mang tính lý luận và thiếu tính thực tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi NLĐ

Quyền được ưu tiên thanh toán các quyền lợi khi có quyết định tuyên bố phá sản DN

LPSDN 1993 quy định ưu tiên thanh toán các khoản nợ khi DN phá sản cho NLĐ chỉ sau chi phí phá sản [Khoản 2, Điều 39, 13] Đây là quy định mà

Trang 37

nội dung của nó không thay đổi qua các luật phá sản 1993, 2004 và 2014 Nếu nói bản chất của thủ tục Phá sản là ”đòi nợ tập thể” thì kết quả mà họ nhận được khi thực hiện theo quy định này khiến NLĐ không mấy mặn mà: bởi thứ nhất họ mất việc làm; Thứ 2 là khoản nợ lương, BHXH, trợ cấp thôi việc, trợ cấp khác có thể không được thanh toán đủ, nếu thanh toán thời gian chờ thi hành cũng rất lâu

Quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án

NLĐ trong LPSDN 1993 có các quyền khiếu nại sau: Quyền khiếu nại

về quyết định không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN [điều 13]; Quyền khiếu nại với thẩm phán về danh sách chủ nợ [Điều 25, 13]; Quyền khiếu nại về quyết định tuyên bố DN phá sản [khoản 1, Điều 40, 13], Quyền khiếu nại lên Trưởng phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp về quyết định tuyên bố phá sản của DN [Điều 40, 13] nếu không đồng ý có quyền khiếu nại lên cục trưởng Cục quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp [Điều 40, 13]

2.1.2 Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật phá sản và thực tiễn thực hiện giai đoạn năm 2004 đến trước năm 2014

LPS 2004 ra đời được đánh giá như là một cố gắng mới của các nhà lập pháp nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với hiện tượng kinh tế khách quan có vai trò không nhỏ này trong đời sống kinh

tế bằng việc khắc phục những hạn chế, bất cập của LPSDN 1993, bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 9 năm áp dụng LPSDN

1993, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa chính sách kinh tế của

Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Quy định của LPS năm 2004, NLĐ được quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS DN, hợp tác xã, khi có đủ hai điều kiện sau đây: (i)DN, hợp tác xã nợ

Trang 38

lương NLĐ hoặc các khoản nợ khác như: nợ tiền phụ cấp, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…(ii)DN, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.[ Khoản 1 Điều 14, 14] Điều kiện cho NLĐ nộp đơn yêu cầu mở TTPS phải là số đông NLĐ trong DN, hợp tác xã và việc nộp đơn phải được thông qua người đại diện của họ hoặc đại diện công đoàn NLĐ cử người đại diện thay mặt NLĐ nộp đơn bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký Người đại diện cho NLĐ được cử hợp pháp sau khi được quá nửa

số NLĐ trong DN, hợp tác xã tán thành.[ Khoản 1 Điều 14, 14]

Nếu điều kiện để NLĐ nộp đơn trong LPSDN 1993 là DN nợ lương 03

tháng liên tiếp thì ở LPS 2004 là “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.” [Điều 3, 14] và tại Khoản 2 Mục 1 Nghị quyết

số 03/2005/NQ-HĐTP giải thích “chủ nợ” ở đây là chủ nợ không có đảm bảo hoặc đảm bảo một phần Như vậy, LPS 2004 gây khó khăn hơn cho NLĐ khi xác định thời điểm mình có thể nộp đơn yêu cầu mở TTPS bởi họ phải xác định được thời điểm các khoản nợ đến hạn, và biết được yêu cầu trả nợ bằng văn bản của chủ nợ Thực tiễn áp dụng, đối với NLĐ trong trường hợp DN không trả được lương, các khoản nợ khác cho NLĐ thì NLĐ phải được xem như

là chủ nợ không có bảo đảm và có các quyền, nghĩa vụ như chủ nợ không bảo đảm Nhưng LPS 2004 lại quy định NLĐ không được tự nộp đơn mà cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn để nộp đơn Thủ tục cử người đại diện cho NLĐ được quy định trong Luật Phá sản rất phức tạp đối với NLĐ Do vậy, Luật Phá sản hiện hành vô hình chung đã hạn chế và gần như vô hiệu hóa quyền nộp đơn của NLĐ trong DN

Trình tự, thủ tục quy định người đại diện cho NLĐ như sau: “Đại diện cho NLĐ được cử hợp pháp sau khi được quá nửa số NLĐ trong DN, hợp tác

xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký; đối với DN, hợp tác xã

Trang 39

quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diện cho NLĐ được cử hợp pháp phải được quá nửa số người được cử làm đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành.”[ Khoản 1 Điều 14, 14] Nếu như LPSDN 1993 không quy

định về “người đại diện cho NLĐ” khiến họ khó khăn trong nộp đơn thì việc quy định như trong LPS 2004 còn khiến việc nộp đơn trở nên khó khăn hơn, nếu như DN có quy mô nhỏ quy định này sẽ dễ thực hiện, nhưng với Tổng công ty, tập đoàn lớn với hàng nghìn NLĐ thì ai sẽ đủ thẩm quyền đứng ra lấy

ý kiến của những NLĐ cũng như thực hiện theo quy định này rất phức tạp LPS 2004 lại không có quy định người đại diện hợp pháp cho NLĐ cần phải chứng minh mình là người được cử hợp pháp khi nộp đơn yêu cầu mở TTPS khi nộp đơn, điều này dễ dẫn đến tiêu cực và không thể hiện được hết nguyện vọng của NLĐ nếu người đại diện đươc chọn sai về trình tự

Thực tiễn áp dụng, qua năm năm thi hành LPS năm 2004, có nhiều ý kiến cho rằng chínhviệc quy định điều kiện về thủ tục cử người đại diện phức tạp

và khó thực thi nêu trên là một rào cản lớn để NLĐ thực hiện quyền yêu cầu

mở TTPS của mình Do vậy, Luật Phá sản năm 2004 vô hình trung đã hạn chế

và gần như vô hiệu hóa quyền nộp đơn của NLĐ trong DN, hợp tác xã “Thực

tế là trong gần năm năm thực hiện Luật Phá sản năm 2004, ngành Toà án nhân dân chưa thụ lý, giải quyết việc phá sản nào xuất phát từ đơn yêu cầu của người lao động trong doanh nghiệp.” [2]

Về quyền tham gia vào HNCN

HNCN theo quy định của LPS không còn là thủ tục bắt buộc trong tiến trình giải quyết đơn yêu cầu mở TTPS như LPSDN 1993 Khi tiến hành TTPS thẩm phán có thể không cần triệu tập HNCN nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 78 LPS 2004 LPS 2004 quy định khắt khe hơn, cao hơn về điều kiện hợp lệ của HNCN [Điều 65, 14] Bổ sung căn cứ để Tòa án ra quyết định đình

Trang 40

chỉ tiến hành TTPS khi người nộp đơn yêu cầu mở TTPS rút đơn yêu cầu [Điều 67, 14]

Về quyền tham gia HNCN của NLĐ LPS 2004 quy định: “Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động uỷ quyền Trong trường hợp này đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn có quyền, nghĩa vụ như chủ nợ” [khoản 2, Điều 62, 14] hoặc NLĐ cũng có quyền tham gia HNCN với tư cách người nộp đơn “Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại các điều 15, 16, 17 và 18 của Luật này có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ.” [khoản 1 Điều 63, 14]

LPS đã xóa bỏ những hạn chế của LPSDN 1993 về quyền tham gia HNCN của NLĐ, trao cho họ (người đại diện cho NLĐ) địa vị pháp lý như chủ nợ Trong quy định về điều kiện hợp lệ của HNCN luật không chỉ quy

định về số lượng chủ nợ mà còn căn cứ vào số nợ “Quá nửa số chủ nợ không

có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên tham gia” [Điều 65, 14] Vì vậy nếu số nợ của NLĐ đủ lớn thì chỉ cần sự có

được hưởng quy định tại Điều 2 Nghị định 94/2005/NĐ-CP về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và hợp tác xã bị phá sản Như

vậy, pháp luật về phá sản xác định cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ lợi ích hợp pháp và hạn chế thiệt thòi vật chất mà sự phá sản đem lại cho NLĐ

Theo điểm b Điều 37 Luật Phá sản, khi thứ tự phân chia tài sản thì các khoản BHXH được ưu tiên thanh toán cùng với khoản nợ lương và trợ cấp

Ngày đăng: 02/03/2017, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Thái Phúc, Luật Phá sản 2004 – Những tiến bộ và hạn chế, ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Phá sản 2004 – Những tiến bộ và hạn chế
2. Đặng Thành Vinh, Tìm hiểu các quy định của Luật phá sản 2004 về nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tập 1 Tr 20 -40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các quy định của Luật phá sản 2004 về nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
3. Trung Quốc: Xử lý DN “xác sống”, tình trạng phá sản tăng vọt, Báo đầu tư chứng khoán ngày 24/06/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc: Xử lý DN “xác sống”, tình trạng phá sản tăng vọt
4. Phan Thị Thu Hà (2010), “Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới”,Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu luật phá sản, Tập 1, tr. 86-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới"”,"Chuyên đề khoa học xét xử: Tìm hiểu luật phá sản
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Năm: 2010
5. Khuất Thị Thu Hiền, “Phá sản và pháp luật phá sản ở Việt Nam”, Tìm hiểu luật phá sản, (Chuyên đề khoa học xét xử), Tập 1, tr. 3-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phá sản và pháp luật phá sản ở Việt Nam”, Tìm hiểu luật phá sản
7. Ths. Trần Thị Tuyết Nhung, “Quyền có việc làm của NLĐ - Tiếp cận dưới góc độ quyền con người”, Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền có việc làm của NLĐ - Tiếp cận dưới góc độ quyền con người
8. Hồ Thúy Ngọc (2008), Lịch sử Luật phá sản, www.dddn.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Luật phá sản
Tác giả: Hồ Thúy Ngọc
Năm: 2008
9. Quyết định 959/QĐ-BHXH năm 2015 Quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế do Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 959/QĐ-BHXH năm 2015
10. Công văn 856/LĐTBXH-BHXH năm 2013 vướng mắc trong quá trình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 856/LĐTBXH-BHXH năm 2013
13. Quốc hội (1993), Luật phá sản doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1993
14. Quốc hội (2004), Luật phá sản doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
15. Quốc hội (2014), Luật phá sản doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
17. Quốc hội (1999), Luật doanh nghiệp 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1999
18. Chính sách chế độ đối với lao động trong doanh nghiệp phá sản và giải thể, nxb Chính trị quốc Gia 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chế độ đối với lao động trong doanh nghiệp phá sản và giải thể
Nhà XB: nxb Chính trị quốc Gia 1996
19. Phạm Thị Huyền Trang “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với việc bảo vệ quyền của người lao động”, tạp chí Thanh tra chính phủ số 10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với việc bảo vệ quyền của người lao động
20. Hồ Thu Phượng “Bộ luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động” khóa luận tốt nghiệp 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bộ luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động
22. Ngô Văn Nam “Hoàn thiện pháp luật lao động bảo vệ lợi ích quyền của người lao động ở nước ta hiện nay” , báo Dân chủ và pháp luật số Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật lao động bảo vệ lợi ích quyền của người lao động ở nước ta hiện nay”
12. Nghị định 189-CP năm 1994 hướng dẫn Luật phá sản doanh nghiệp Khác
21. Phạm Thị Lan Hương “Quyền của người lao động và thực thi quyền của người lao động trong quá trình giao kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn và chấm dứt hợp đồng lao động, khóa luận tốt nghiệp Khác
24. A Guide on Employee‟s Rights in Bankruptcy, Winding-up and Receivership; Labour Department 09/2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w