1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở việt nam

91 466 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 638,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành đặc biệt là Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và có hiệu lực từ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ QUỐC BẢO

PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO

NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ QUỐC BẢO

PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO

NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thúy Nga

Hà nội – 2016

[

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

ĐỖ QUỐC BẢO

Trang 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

5.2 Phương pháp nghiên cứu 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

13

1.1 Sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 13

1.2 Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 23

1.3 Kinh nghiệm một số nước về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật và gợi

mở cho Việt Nam

2.2 Thực trạng thực thi pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 53

Trang 5

2.2.4 Xử lý vi phạm trong chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật 64

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM

3.2.4 Tạo điều kiện nhân lực, vật lực cho hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, bởi vậy mà vấn đề làm thế nào để có một sức khỏe tốt, không có bệnh tật, đảm bảo sống lâu, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là mong muốn của tất cả mọi người Vì thế mà nhu cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu quan trọng và tất yếu của con người, điều đó càng cần được quan tâm với đối người khuyết tật Do người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc tinh thần nên những khiếm khuyết này gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chăm sóc cho bản thân mình so với người bình thường Cần phải tạo điều kiện để họ vượt qua những khó khăn về tật hay bệnh mới có thể giúp họ hướng tới những cơ hội khác một cách lâu dài Chính vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật là vấn đề cần được quan tâm trong xã hội ngày nay

Chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật mang một truyền thống nhân đạo

to lớn.Người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6 năm 1991) đã khẳng định “Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh… Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và mồ côi” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ

rõ “Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ

xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người gặp khó khăn Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới và cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội”

Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 đều khẳng định người khuyết tật là công dân, được hưởng đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, được chung hưởng thành quả xã hội Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) khẳng định

“Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn hóa và học

Trang 7

nghề phù hợp (Điều 59), “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” (Điều 67) Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển

hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Điều 59), “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề” (Điều 61)

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành đặc biệt là Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, bao gồm 10 chương, 53 điều trong đó có chương III với nội dung “Chăm sóc sức khỏe” đã tạo hành lang pháp lý đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bảo đảm quyền lợi của người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Người khuyết tật nói chung và pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật nói riêng nảy sinh nhiều bất cập Hệ thống văn bản pháp luật thiếu thống nhất Có nhiều nội dung văn bản pháp luật quy định nhưng không thực hiện được Ví dụ, vấn đề quy định ưu đãi đối với các doanh nghiệp sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hưởng ưu đãi (Điều 3 thông tư 26/2012 TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), thực chất nhiều năm qua không có doanh nghiệp nào đạt được con số này Hay việc tiếp cận kỹ thuật tin học, phương tiện, công trình giao thông, công trình kiến trúc có lẽ còn lâu mới đạt được lộ trình mà Luật Người khuyết tật năm 2010 đề ra tại Điều 40

Để Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước về quyền của người khuyết tật, Quốc hội khoá XIII đã phê chuẩn Công ước tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2014) Từ góc độ pháp lý, có thể nhận thấy được một số công việc quan trọng đã và đang đặt ra với những thuận lợi, khó khăn, thách thức nhất định,

từ đó cũng gợi mở việc tìm kiếm hướng giải quyết phù hợp Đặc biệt là công tác

Trang 8

rà soát, chỉ rõ những điểm còn chưa thống nhất giữa quan điểm, đường lối, chính sách chung của Đảng, Nhà nước về người khuyết tật với các quy định cụ thể của pháp luật về người khuyết tật; chỉ rõ những điểm chưa thống nhất giữa các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành với Luật Người khuyết tật, làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về người khuyết tật Theo nghiên cứu, có thể thấy các quy định và tinh thần chung của Công ước hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam trong việc chăm sóc, bảo vệ người khuyết tật Một số quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thể hiện sự quan tâm, trợ giúp người khuyết tật cao hơn so với quy định của Công ước Tuy vậy, một số nguyên tắc và quy định nêu trong Công ước lại chưa được khẳng định đầy

đủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam trên quan điểm tiếp cận toàn diện các quyền con người của người khuyết tật như: quyền bình đẳng, tiếp cận tư pháp, tiếp cận đời sống chính trị, cộng đồng, văn hoá, giải trí Công ước có những quy định cao hơn pháp luật Việt Nam, đặc biệt là về quyền giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giải trí, tiếp cận tư pháp, tham gia các hoạt động chính trị và cộng đồng Vì vậy, khi đã phê chuẩn Công ước, trách nhiệm của Việt Nam

là cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng bảo đảm, bảo vệ đầy đủ, toàn diện, thống nhất các quyền của người khuyết tật theo quy định của Công ước

Qua đó cũng có thể đánh giá được những thuận lợi và khó khăn cần phải giải quyết trong việc thực thi nghĩa vụ thành viên công ước Thuận lợi lớn nhất là dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống nhân ái, thương yêu đùm bọc, trợ giúp, nâng đỡ người khuyết tật Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo phát triển các quyền con người nói chung, trong đó có quyền của người khuyết tật Hiến pháp mới đặt cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo đảm và phát triển các quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền của người khuyết tật Với tư cách là thành viên Liên Hợp Quốc, thành viên Hội đồng nhân quyền thế giới, Việt Nam cam kết mạnh mẽ việc bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền của người khuyết tật Công tác chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật vươn lên hoà nhập cuộc sống cộng đồng trong thời gian qua ở Việt

Trang 9

Nam đã thu được nhiều kết quả khả quan, cuộc sống của nhiều người khuyết tật

đã được cải thiện… Tất cả những yếu tố đó tạo thành điều kiện thuận lợi căn bản cho việc phê chuẩn và triển khai thực thi nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước Nhưng bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn Trước hết, đó là nhận thức chung của người khuyết tật, của xã hội về quyền con người nói chung, về vấn đề khuyết tật và quyền của người khuyết tật (quan điểm tư duy dựa trên quyền con người) vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, phần đông người Việt Nam chưa quen với quan điểm tiếp cận này, thậm chí cả chính người khuyết tật cũng chưa thật sự hiểu biết, nắm bắt và tự ý thức được các quyền của mình Tiếp đến, kiểu tư duy bao cấp vẫn còn dai dẳng, nhiều người vẫn quan niệm mọi gánh nặng, các nguồn lực đổ dồn hết lên vai ngân sách Nhà nước mà chưa thấy được tiềm năng to lớn ở ngay chính xã hội Cũng từ đó, nhà thiết kế chính sách pháp luật dễ từ chối việc bảo đảm quyền cho người khuyết tật theo tinh thần Công ước Trong khi thực sự thì quyền là giá trị chung, không phụ thuộc vào việc công nhận hay không công nhận nhưng việc thực thi bảo đảm quyền bằng pháp luật quốc gia lại có ý nghĩa thực tế vô cùng quan trọng, nếu không thì quyền của người khuyết tật không thể được hiện thực hoá

Nước ta là một thành viên tham gia vào công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật, việc hoàn thiện thể chế pháp luật về người khuyết tật nói chung, pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay Hơn nữa việc thực hiện tốt pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật còn góp phần to lớn vào chính sách an sinh

xã hội của đất nước

Nhằm giải quyết các vấn đề chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách

có hệ thống, hiệu quả, tôi chọn đề tài “Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho

người khuyết tật ở Việt Nam” với mong muốn góp phần vào việc nâng cao ý

nghĩa cuộc sống xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề thực hiện pháp luật về người khuyết tật liên quan đến nhiều Bộ, ngành, nhiều cấp chính quyền, nhiều lĩnh vực do vậy trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật cũng như thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Cụ thể

Nguyễn Thị Báo (2009), Luận án tiến sỹ Luật học “Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp hoàn thiện”

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Quyền của người khuyết tật là mối quan tâm không chỉ của riêng một quốc gia nào Tôn trọng và bảo đảm quyền của người khuyết tật là vấn đề mang ý nghĩa nhân đạo, từ thiện, đồng thời còn mang ý nghĩa kinh tế, xã hội và pháp lý Nội dung luận án phân tích thực trạng pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay trên các phương diện dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá; nêu bật những ưu điểm, hạn chế cơ bản và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó; trên cơ sở

đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật

ở Việt Nam hiện nay

Hà Thị Lan (2014), Luận văn thạc sĩ luật học đề tài “Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”

khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật lao động Việt Nam và những vướng mắc trên thực tế để có thể đưa ra những phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật lao động về bảo vệ quyền của người khuyết tật trên thực tế Việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau: (1) Làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của người khuyết tật mà trong đó tập trung vào các biện pháp bảo vệ quyền của người khuyết tật; (2) Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật lao động về bảo vệ quyền của người khuyết tật và thực tiễn thực hiện;

Trang 11

Đỗ Thị Thu Phương (2013), Luận văn thạc sĩ công tác xã hội đề tài “Chăm

Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Luâ ̣n văn đã đưa ra đươ ̣c thực tra ̣ng chăm sóc sức khỏe sinh sản của phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t ta ̣i Hà Nô ̣i , những mă ̣t ma ̣nh và yếu kém , các cơ hội và thách thức của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ khuyết tật Nhâ ̣n thức về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản của phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t hiê ̣n nay vẫn còn rất ha ̣n chế , chính vì vâ ̣y mà phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t đánh giá rất thấp tầm quan tro ̣ng của viê ̣c chăm sóc sức khỏe sinh sản Ngoài ra luận văn còn đánh giá những trở nga ̣i , khó khăn của phụ nữ khuyết

tâ ̣t trong vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản , bao gồm những khó khăn khách quan như điều kiê ̣n về vâ ̣t chất , trang thiết bi ̣ ta ̣i các cơ sở khám , chữa bê ̣nh thiếu thân thiê ̣n, sự kì thi ̣ của cán bô ̣ y tế làm viê ̣c trong mảng chăm sóc sức khỏe sinh sản và xã hội ; những yếu tố chủ quan từ chính nhâ ̣n thức và thái đô ̣ của phu ̣ nữ khuyết tâ ̣t trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe sinh sản Bên cạnh đó luận văn đưa ra các vai trò của công tác xã hội nhằm hỗ trợ phụ nữ khuyết tật trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản như vai trò kết nối nguồn lực , vai trò tham vấn , vai trò hỗ trơ ̣, vai trò biê ̣n hô ̣ và mô ̣t số các vai trò khác Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lươ ̣ng các di ̣ch vu ̣ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phu ̣ nữ khuyết

tâ ̣t nói riêng và người khuyết tâ ̣t nói chung

Bên cạnh đó còn có một số bài báo, bài nghiên cứu, dự án, hội thảo có liên quan như :

Dự án: “Dự án phân tích, đánh giá chính sách pháp luật chăm sóc và bảo

vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”, năm 1999 của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội

“Đánh giá việc thực hiện Bộ luật Lao động đối với lao động là người tàn tật và pháp lệnh người tàn tật” - Nguyễn Diệu Hồng - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Nguyễn Thị Hoàng Yến (chủ nhiệm đề tài), Nguyễn Xuân Hải, Đỗ Thị

Thảo, Trần Thị Minh Thành, Nguyễn Nữ Tâm An, Đinh Nguyễn Trang Thu và

Trang 12

Đào Thị Bích Thủy, “Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỉ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn 2011 -2020”

Nguyễn Thị Hoàng Yến, Dự án “Tăng cường số lượng trẻ khuyết tật trí tuệ tiếp cận giáo dục”, Hợp tác với tổ chức JICA và trường Đại học Riumeikan

3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, Đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Đánh giá thực trạng pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những hạn chế và các nguyên nhân của các hạn chế

đó

Đề xuất các định hướng, kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Cụ thể là các quy định về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động

2012, Luật Người khuyết tật 2010, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 và các văn bản hướng dẫn

Trang 14

Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, nghiên cứu các chủ thể có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và các nội dung về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật: Được sử dụng để phân tích làm

rõ sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, trên cơ sở đó rút ra các kết luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

6 Kết cầu của luận văn

Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn

có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người

khuyết tật

Chương 2 Thực trạng pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết

tật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam

Chương 3 Một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và

nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật ở Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm người khuyết tật

Khái niệm người khuyết tật là cơ sở công nhận ai là người khuyết tật, từ

đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật, phụ thuộc rất nhiều vào phong tục tập quán, điều kiện kinh tế xã hội và chính sách pháp luật của mỗi quốc gia Cho nên không có khái niệm chung về người khuyết tật cho tất cả các nước

Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật định nghĩa: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với người khác” [12, Điều 1] Với định nghĩa này có thể thấy công ước đã đưa ra những tiêu chí bị suy giảm cụ thể là thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan để đánh giá một người có phải là người khuyết tật hay không? Việc liệt kê ra những tiêu chí này sẽ giúp việc đánh giá một người có phải là người khuyết tật hay không dựa trên sự suy giảm của người đó Tuy nhiên, với cách liệt kê như vậy sẽ không có sự đánh giá một cách tổng quát và có

sự chồng chéo Nhiều ý kiến cho rằng việc suy giảm về giác quan cũng chính là suy giảm về thể chất, hay suy giảm về trí tuệ hay thần kinh đều là suy giảm về khả năng nhận thức của người khuyết tật Do vậy có thể dẫn đến bỏ sót nhiều đối tượng không được liệt kê vào như trẻ tự kỷ cần được đánh giá là người khuyết tật nhưng không thuộc bất kỳ dạng suy giảm nào trong các tiêu chí trên Một điểm

mà công ước nhấn mạnh trong định nghĩa này đó là việc suy giảm của đối tượng diễn ra trong một thời gian dài Đây là một điểm nổi bật bởi nếu sự suy giảm này diễn ra trong thời gian ngắn thì có thể gây nhầm lẫn với đối tượng gặp tai nạn và

bị suy giảm thức năng tạm thời thì không thể được coi là người khuyết tật Do vậy, việc suy giảm phải là dạng suy giảm kéo dài hoặc có chu trình lặp lại nhiều lần thì mới được coi là khuyết tật Định nghĩa cũng đưa ra hậu quả của việc suy

Trang 16

giảm chức năng này là có ảnh hưởng đến các rào cản và làm cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật Như vậy, công ước không chỉ đánh giá việc người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội hay không

mà còn đánh giá trên hiệu quả của việc tham gia đó Đây là một điểm rất thiết thực đối với người khuyết tật trên cơ sở đánh giá bình đẳng với người khác bởi nếu một đối tượng chỉ có thể thực hiện đầy đủ các hoạt động xã hội mà không đạt được hiệu quả cao thì cũng cần được hưởng những chính sách đối với người khuyết tật Có thể điểm qua khái niệm về người khuyết tật của một số quốc gia

Trung Quốc: Tại điều 2 Luật Bảo vệ Người khuyết tật ban hành năm 1990 quy định: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường; là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và khuyết tật khác.” [12, Điều 2] Định nghĩa của Trung Quốc về người khuyết tật liệt kê rất chi tiết về các dạng tật để đánh giá một người có phải

là người khuyết tật hay không giúp cho việc xác định người khuyết tật dễ dàng và chính xác Tuy nhiên, định nghĩa này không nêu lên hậu quả của việc suy giảm chức năng của người khuyết tật là sự tham gia vào các hoạt động xã hội của người khuyết tật bị hạn chế hoặc không hiệu quả, mà coi sự tham gia bị hạn chế

là một tiêu chí để đánh giá

Đạo luật về người khuyết tật năm 1990 của Hoa Kỳ: “Người khuyết tật là người có sự suy yếu về mặt thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” [23, 42 U.S.C § 12101] Với định nghĩa này tiêu chí đưa ra khá tổng quát và việc xác định người khuyết tật sẽ phụ thuộc chủ yếu và hội đồng xác định mức độ khuyết tật Định nghĩa cũng nêu ra sự ảnh hưởng của sự suy yếu về thể chất hay tinh thần đến cuộc sống hàng ngày của người khuyết tật Tuy nhiên, khái niệm này lại không đề cập đến việc thời gian suy giảm của đối tượng có thể dẫn đến hiểu nhầm với những đối tượng do tai nạn dẫn đến thương tật nhưng hậu quả không kéo dài

Trang 17

Vương quốc Anh: Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.” [25, part I, 1] Với định nghĩa này Quốc hội Anh đã đưa ra những tiêu chí rất khái quát về việc đánh giá một người có phải là khuyết tật hay không cả về mặt hình thức suy giảm lẫn thời gian suy giảm chức năng, đồng thời cũng chỉ ra hậu quả của việc suy giảm chức năng dẫn đến đối với người khuyết tật

Tóm lại, có thể thấy mỗi quốc gia đều có cách định nghĩa khác nhau về người khuyết tật, nhưng nhìn chung thì cũng có những điểm chung nhất định về cách nhìn nhận đối với các đối tượng này Người khuyết tật có thể do bẩm sinh hoặc do tai nạn, làm cho họ bị khiếm khuyết đi một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hay suy giảm chức năng nào đó và làm cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Do đó, Luật Người khuyết tật của Việt Nam đã đưa ra khái niệm về người khuyết tật thay thế cho khái niệm người tàn tật dựa trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh

về người tàn tật năm 1998 và thể hiện quan điểm tiếp cận về mặt xã hội theo tinh thần của Công ước về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã ký kết [14]

Việc nghiên cứu để đưa ra một định nghĩa chung về người khuyết tật cho mọi quốc gia là không khả thi do những mô hình của khuyết tật chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, điều kiện kinh tế – xã hội và các tiêu chí xác định khuyết tật

ở mỗi quốc gia khác nhau Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về người khuyết tật, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội

Và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người Với cách tiếp cận đó, có thể khái niệm người khuyết tật như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng về thể chất hoặc tinh thần dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ vào hoạt động xã hội trên cơ

sở bình đẳng với những chủ thể khác.”

Trang 18

Xuất phát từ đặc điểm khuyết tật, người khuyết tật thường có những đặc điểm sau:

Trình độ văn hóa hạn chế

Với sự giới hạn của người khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động bị ảnh hưởng ít hơn Người khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết, điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về

cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường Do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập lên cao hầu như là không thể

Theo tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, 90% trẻ

em khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đưa đến trường Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc cho biết 30% số thanh niên đường phố là do khuyết tật Về trình độ học vấn nghiên cứu của chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hợp Quốc thực hiện năm 1998, tỷ lệ biết đọc biết viết ở người trưởng thành bị khuyết tật toàn cầu là dưới 3% Ở những nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ cao vẫn chưa nhiều mặc dù con số này đang có xu hướng tăng [26]

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn của người khuyết tật ở Việt nam rất thấp 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc, biết viết; 19.5% học hết cấp 1; 2.75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ nghề và ít hơn 0.1% có trình độ đại học hoặc cao đẳng Nhìn chung chỉ

có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn và chỉ có 4% người có việc làm ổn định Hiện có trên 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo

Người khuyết tật ít có cơ hội tìm kiếm việc làm

Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) có khoảng 386 triệu người trên thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết tật Tỷ lệ thất nghiệp của người khuyết tật ở một số quốc gia lên đến 80% bởi thông thường người sử dụng lao động cho rằng nguời khuyết tật không thể tiếp cận được với công việc

Trang 19

Năm 2004, cuộc điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy có 35% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm (mặc dù con số này cũng đã khá cao so với các nước khác), trong khi đó có 75% người không khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm Hai phần ba trong số người khuyết tật thất nghiệp nói rằng họ muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm

Nghiên cứu của Đại học Rutgers năm 2003 cho biết một phần ba số người

sử dụng lao động được khảo sát cho rằng người khuyết tật có thể không có hiệu quả thực hiện công việc theo yêu cầu Sau nữa lý do phổ biến cho việc không thuê người khuyết tật là sự sợ hãi phải đầu tư các trang thiết bị tốn kém

Người khuyết tật gặp khó khăn với hôn nhân

Người khuyết tật khó lập gia đình hơn người bình thường, điều này có nhiều nguyên nhân Theo nguyên lý chung con người có xu hướng chọn bạn đời

có bộ gien tốt, do vậy người khuyết tật thường bị cho là lựa chọn “dưới tiêu chuẩn” Đối với phụ nữ khuyết tật việc lập gia đình còn khó khăn hơn Sự mặc cảm của chính người khuyết tật, đây là một rào cản rất lớn đối với người khuyết tật khi mà nhiều người trong số người khuyết tật luôn cảm thấy tự ti về bản thân mình, tránh tiếp xúc với xã hội do đó ít có cơ hội để tìm được một người bạn đời

lý tưởng Việc gia đình không chấp nhận cho hôn nhân của con cái mình với người khuyết tật cũng là một trong những lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng khó khăn trong hôn nhân của người khuyết tật bởi nhiều gia đình không muốn con gái của mình kết hôn với một người có dị tật hay khiếm khuyết Ngoài ra còn rất nhiều lý do dẫn đến tình trạng khó khăn trong hôn nhân đối với người khuyết tật như: hoàn cảnh kinh tế khó khăn không cho phép tiến hành việc cưới xin, không được tạo điều kiện từ nhiều phía như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội; không hài lòng với đời sống tình dục do nguyên nhân về tật hay bệnh…

Người khuyết tật thường có tâm lý mặc cảm, tự ti

Tâm lý khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân

Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được chẳng hạn bị khuyết tật chi, họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú ý quá mức đến khiếm khuyết có thể đến nỗi gây khổ đau lớn – mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc

Trang 20

cảm ngoại hình không thường xuất hiện ở người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cường điệu chúng lên Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần nhìn nhận đến là ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu, gặp gỡ ở chỗ đông người

1.1.2 Phân loại khuyết tật

Phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe còn được gọi là IFC (International Classification of Functioning, Disability and Health) là một phân loại của chức năng và khuyết tật cấu thành sức khỏe Hội đồng Y tế thế giới

đã phê duyệt phân loại này vào ngày 22 tháng 5 năm 2001 Các dạng khuyết tật bao gồm cả khuyết tật về thể chất và tinh thần có thể gây cản trở hoặc làm giảm hiệu quả của những hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người khuyết tật Các dạng khuyết tật theo phân loại này bao gồm:

Khuyết tật thể trạng và vận động: Dạng khuyết tật này ở người khuyết tật

có nhiều mức độ khác nhau như: Khuyết tật chi trên; khuyết tật chi dưới; khả năng sử dụng tay; khuyết tật khả năng phối hợp giữa các bộ phận của cơ thế Khuyết tật vận động có thể do bẩm sinh hoặc do tuổi già, tác dụng phụ của bệnh đều được liệt vào dạng khuyết tật này

Khuyết tật tủy sống như: Chấn thương tủy sống đôi khi có thể dẫn đến liệt suốt đời Loại khuyết tật này chủ yếu do tai nạn nghiêm trọng gây ra, chấn thương có thể gây ra trên một phần hoặc toàn bộ tủy sống, khiến chức năng của tủy sống không thể thực hiện được dẫn đến trạng thái liệt Một số trường hợp cột sống bị khuyết tật có thể dẫn đến dị tật

Chấn thương đầu – khuyết tật não: Dạng khuyết tật này xảy ra do chấn thương não, dẫn đến việc mất chức năng của một số bộ phận của cơ thể Cũng có thể dẫn đến những dạng khuyết tật về thần kinh khác Dạng khuyết tật này được chia thành 2 nhóm bao gồm khuyết tật khả năng thu nhận tín hiệu của não khiến não không nhận được thông tin hoặc không xử lý được thông tin dẫn đến tình trạng tâm thần Nhóm thứ 2 là chấn thương não dẫn đến mất chức năng bộ phận

cơ thể đối khi có thể kéo dài vĩnh viên

Trang 21

Khiếm thị: là triệu chứng mất khả năng cảm nhận thị giác một phần hoặc hoàn toàn (mù) Người khiếm thị là người sau khi được điều trị hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối do giác mạc bị trầy xước, vết trầy xước trên củng mạc, khô mắt…

Khiếm thính là những trường hợp bị điếc một phần hoặc hoàn toàn Những người điếc một phần có thể sử dụng máy trợ thính để hỗ trợ Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến khiếm thính như chấn thương ở tai, hoặc viêm màng não có thể gây tổn tại đến dây thần kinh thính giác hoặc ốc tai

Khuyết tật về nhận thức hoặc học hỏi: Khuyết tật về nhận thức là loại khuyết tật ở những người đang mắc chứng khó đọc và khó khăn khác nhau học tập khác và bao gồm các rối loạn lời nói Đây là dạng tật rất khó phát hiện sớm nên cách điều trị cũng gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống thực tế

Rối loạn tâm lý: Bao gồm rối loạn nhân cách và tâm thần phân liệt, dạng khuyết tật này có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống hàng ngày của người khuyết tật Những người khuyết tật thuộc dạng này thường gặp phải rào cản khó khăn rất lớn và chủ yếu dựa vào người than giúp đỡ

Khuyết tật vô hình là dạng tật mà không phải ngay lập tức có thể được nhìn nhận từ người khác Ước tính rằng 10% số người Mỹ được cân nhắc về vấn

đề khuyết tật vô hình này

Ngoài ra có nhiều cách phân loại người khuyết tật dựa trên các tiêu chí khác nhau tuy nhiên có hai tiêu chí phổ biến thường được sử dụng

Phân loại theo dạng khuyết tật: Để dễ thống kê điều tra cơ bản, người ta chia khuyết tật ra 3 nhóm: (1) Khuyết tật rối loạn tâm thần, kể cả trẻ em bị chậm phát triển trí tuệ; (2) Khuyết tật thể chất bao gồm: Khuyết tật do bệnh cơ quan vận động, Khuyết tật giác quan; Khuyết tật do bệnh các cơ quan nội tạng (3) Người có một hoặc nhiều cơ quan mất chức năng, ngăn cản người đó thực hiện vài trò của mình trong xã hội như

Phân loại theo mức độ khuyết tật

Trang 22

(1) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày (2) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày (3) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại 2 trường hợp trên

1.1.3 Ý nghĩa chăm sóc sức khỏe người khuyết tật

Với con người, sức khỏe là vốn quý nhất, có sức khỏe người ta mới có thể lao động, làm việc, tạo ra của cải vật chất xã hội Có sức khỏe mới tạo ra những sản phẩm trí tuệ, chinh phục mọi đỉnh cao của khoa học… Cho nên sống lâu, sống vui, sống khỏe, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội là mong muốn cao nhất của tất cả mọi người Mong muốn đó muốn trở thành hiện thực phải có chế độ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, tránh mọi bệnh tật Người khuyết tật như ta đã biết vì khuyết tật mà sức khỏe của họ bị suy giảm thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe đối với họ lại càng quan trọng Có giúp họ vượt qua những khó khăn về tật, bệnh mới có thể giúp họ hướng tới những hoạt động xã hội, cộng đồng một cách hữu hiệu, bền vững

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe toàn dân nói chung và người khuyết tật nói riêng mà mọi quốc gia trên thế giới đều có chiến lượng chăm sóc sức khỏe toàn dân Từ việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật dựa vào người thân trong gia đình hoặc lòng hảo tâm của các cá nhân, tổ chức tôn giáo (nhà thờ, nhà chùa…) đã được thể chế hóa bằng pháp luật, bằng trách nhiệm công và cộng đồng Hầu hết các nước đã có luật bảo vệ quyền của người khuyết tật, trong đó có nội dung chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật Tuy nhiên cho đến nay chưa có văn bản nào đưa ra định nghĩa thật đầy đủ về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe con người nói chung và người khuyết tật nói riêng

Tổ chức Y tế thế giới WHO định nghĩa về sức khỏe “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật” Với định nghĩa này, người khuyết tật

do bệnh, tật, sức khỏe suy giảm nên khó có thể đạt được sự “thoải mái toàn

Trang 23

diện” Chính vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho họ cần tập trung vào việc phục hồi, ổn định các chức năng bị khuyếm khuyết để họ có thể thực hiện được các hoạt động hàng ngày cho bản thân, dần dần sức khỏe được nâng cao để họ có thể tham gia vào các hoạt động xã hội, cộng đồng Vì thế có thể hiểu sức khỏe của người khuyết tật là tình trạng ổn định toàn diện về cả ba mặt là sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội

Công ước của tổ chức y tế thế giới cũng như pháp luật của các nước, trong

đó có Việt Nam đã đặt ra 5 quan điểm cơ bản chăm sóc sức khỏe con người nói chung Trong đó có người khuyết tật: 1 Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; 2 Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển; 3 Thực hiện chăm sóc toàn dân; 4 Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe; 5 Phát triển nhân lực y tế chăm sóc sức khỏe

Như thế ta có thể hiểu chăm sóc sức khỏe người khuyết tật gồm hai mặt: chăm sóc y tế và chăm sóc ngoài y tế Chăm sóc y tế gồm phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng… Do ngành y tế đảm nhiệm; chăm sóc ngoài y tế bao gồm tập luyện thể dục thể thao, dinh hưỡng, vệ sinh môi trường, tiếp cận các dịch vụ xã hội, công trình giao thông, công trình công cộng… do các ngành khác đảm nhiệm

Như vậy chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật là mối liên hệ nhiều ngành, nhiều yếu tố, không chỉ bó hẹp trong vấn đề chăm sóc y tế, người khuyết tật được chăm sóc toàn diện để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần Cũng với quan điểm này mà công tác chăm sóc sức khỏe người khuyết tật thực hiện xã hội hóa dễ dàng, phổ cập và bền vững Đây thực sự là quan điểm chăm sóc sức khỏe hiện đại, nó mang lại nhiều lợi ích, phù hợp với đường lối chính sách của Đảng

và Nhà nước ta

Thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội trước hết nó thể hiện pháp luật là cơ sở tổ chức

và hoạt động của Nhà nước, pháp luật là công cụ quản lý xã hội, là phương tiện

xử sự của mọi công dân Đường lối quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhu cầu khách quan của xã hội phải được phản ánh thông qua hệ thống

Trang 24

pháp luật Thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống, khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Không thể phủ nhận sự song hành của người khuyết tật trong đời sống xã hội và điều đó có nghĩa rằng nhà nước cần thiết phải có trách nhiệm đối với việc bảo đảm quyền tiếp cận mọi mặt của đời sống xã hội Khi người khuyết tật được tiếp cận đầy đủ mọi mặt của đời sống xã hội cũng chính là quyền của người khuyết tật được bảo đảm và họ sẽ được xã hội công nhận và tôn trọng Từ đó việc thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật có một ý nghĩa rất to lớn đối với mọi quốc gia:

Ý nghĩa nhân văn: Chăm sóc sức khỏe người khuyết tật thể hiện một cách sâu sắc lòng nhân đạo, tương thân tương ái, sự chia sẻ, cảm thông với những người bất hạnh, yếu thế do những rủi ro nào đó gây ra Sự giúp đỡ về các điều kiện vật chất và tinh thần trong quá trình chăm sóc sức khỏe

Ý nghĩa pháp lý: Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là bảo đảm quyền được sống, quyền được hưởng thụ thành quả xã hội, mà quyền cao nhất của người khuyết tật là quyền được chăm sóc sức khỏe Thực hiện pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật cùng với các pháp luật chuyên ngành khác còn thể hiện sự công bằng xã hội, thể hiện đúng chức trách của các ngành, các cấp

Ý nghĩa kinh tế: Thực hiện chăm sóc sức khỏe giúp người khuyết tật vượt qua bệnh tật, hòa nhập cộng đồng, tham gia một cách đầy đủ vào các hoạt động

xã hội, xây dựng cuộc sống tự lập, tự tạo hoặc tìm kiếm việc làm mang lại thu nhập để tự nuôi sống bản thân Với lực lượng khá đông, nếu được chăm sóc sức khỏe phù hợp, hiệu quả, người khuyết tật sẽ trở thành nguồn nhân lực đáng kể cho đất nước.như ta đã biết, người khuyết tật khi tham gia vào bất kỳ sự kiện nào

họ đều là những người say mê, tận tụy và ý chí vươn lên trong công việc

Ý nghĩa xã hội: Người khuyết tật được chăm sóc đầy đủ cũng thể hiện đạo đức xã hội Hơn nữa người khuyết tật được chăm sóc, sức khỏe được nâng cao,

họ tham gia vào các hoạt động xã hội còn là những tấm gương vượt khó cho mọi người kể cả người bình thường noi theo

Trang 25

1.2 Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.2.1 Khái niệm pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Trong hệ thống các chế độ đối với người khuyết tật, chế độ chăm sóc sức khỏe là chế độ quan trọng Do vấn đề người khuyết tật được pháp luật quốc tế mới đề cập tới vào những năm cuối thế kỷ XX, nên từ đó, cũng như các chế độ khác (chế độ giáo dục, dạy nghề, việc làm, bảo trợ xã hội, văn hóa, thể thao…), chế độ về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật cũng mới được quan tâm điều chỉnh Lần đầu tiên, năm 1989, trong Công ước về quyền trẻ em, Tổ chức Liên hợp quốc quy định vấn đề bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe (Điều 23) Sau đó, năm 1991, Liên hợp quốc thông qua văn kiện về Các nguyên tắc bảo vệ người bị bệnh tâm thần và tăng cường chăm sóc sức khỏe tâm thần Đến năm 2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc đánh dấu bước ngoặt quan trọng của việc khẳng định quyền người khuyết tật nói chung, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nói riêng bằng việc thông qua Công ước quốc tế về quyền người khuyết tật Tại Công ước này, ngoài việc đưa ra các định nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc thống nhất nhận thức về người khuyết tật, quy định các nguyên tắc chỉ đạo chung, công ước đã liệt kê các quyền con người có ý nghĩa quan trọng với người khuyết tật, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe quy định tại các Điều 25 (Y tế), Điều 26 (Hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng)

Người khuyết tật mặc dù chỉ là một nhóm thiểu số trong xã hội nhưng họ

là một bộ phận dân cư cấu thành nên cộng đồng xã hội Trong suốt một thời gian dài, người ta vẫn cho rằng tình trạng bất lợi, thiệt thòi của người khuyết tật là hậu quả không tránh khỏi của sự sút kém về tinh thần, thể chất của người khuyết tật Đến nay, cùng với sự thay đổi của cộng đồng quốc tế trong nhận thức và hành động về vấn đề này, hệ thống pháp luật có những quy định tương thích có hiệu lực cao để đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật dưới góc độ quyền con người Điều này thể hiện một chân lý đơn giản nhưng quan trọng rằng người nào cũng là con người và họ phải được tôn trọng, bình đẳng như nhau Tương ứng với các quyền của từng cá nhân, cần phải có trách nhiệm

Trang 26

bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền con người Do đó việc tiếp cận nội dung pháp lý liên quan đến người khuyết tật cần được giải quyết hài hòa trong mối tương quan về quyền và nghĩa vụ của họ Tuy nhiên, về phương diện lý luận và

từ quan điểm tiếp cận so sánh có thể xem xét khái niệm luật người khuyết tật dưới góc độ đặc thù của đối tượng là người khuyết tật

Người khuyết tật – trước hết là một con người, nhưng so với những người bình thường họ có những khiếm khuyết cơ thể riêng biệt Do đó, pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật vừa đảm bảo cái chung đồng thời chứa đựng cái riêng Theo nghĩa chung, pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo cho người khuyết tật được tiếp cận đầy đủ dịch vụ y tế, giúp người khuyết tật đạt được trạng thái thoải mái toàn diện nhằm bảo đảm cuộc sống bình thường của họ trong môi trường cộng đồng Như vậy, pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật theo nghĩa chung là một lĩnh vực pháp luật bao gồm các quy phạm được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau (Hiến pháp, hành chính, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, an sinh xã hội, tài chính, hình sự…) điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền được chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật với tư cách là các quyền con người Theo nghĩa riêng, pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bao gồm các quy phạm nhằm điều chỉnh các quan hệ trực tiếp làm phát sinh cũng như cách thức thực thi và đảm bảo các quyền và trách nhiệm cụ thể về chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật Cụ thể đó là các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo sự chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Như vậy, có thể khái niệm pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết

tật như sau: “Pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật là tổng thể những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật, đảm bảo cho người khuyết tật được tiếp cận đầy đủ dịch vụ y tế, nhằm giúp người khuyết tật đạt được trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và

xã hội.”

Trang 27

Quan hệ xã hội do pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật điều chỉnh: Khuyết tật thường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người khuyết tật,

do đó nhu cầu chăm sóc và được chăm sóc sức khỏe là nhu cầu thường xuyên của người khuyết tật Tuy nhiên, do những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần hay trí tuệ, người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe Trở ngại lớn nhất trong quan hệ này là từ tâm lý mặc cảm của người khuyết tật và sự

kỳ thị của cộng đồng Vì vậy, chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là quan hệ về trách nhiệm của nhiều chủ thể liên quan được pháp luật điều chỉnh Do đó, quan

hệ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là mối quan hệ giữa nhà nước, cộng đồng

xã hội và người khuyết tật trong việc thực hiện các hoạt động phòng bệnh, khám chữa bệnh, chỉnh hình, phục hồi chức năng nhằm giúp người khuyết tật vượt qua những khó khăn của bệnh tật, vươn lên hòa nhập cộng đồng

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật là những cách thức, biện pháp mà các quy phạm pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật tác động lên các đối tượng thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật Các biện pháp này chủ yếu là các mệnh lệnh hành chính, quy định quyền và nghĩa vụ của những đối tượng có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật như gia đình người khuyết tật, y bác sĩ, cơ sở phục hồi chức năng, các tổ chức xã hội, các cơ quan chức năng quản lý về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.2.2 Các nguyên tắc pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.2.2.1 Đa dạng hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật khác với việc chăm sóc sức khỏe người không khuyết tật Chính sự thiếu hụt, bất thường về bộ phận hoặc chức năng nào đó của cơ thể đã cản trở người khuyết tật thực hiện vai trò, nhiệm

vụ của mình, trong khi đó những người khác cùng tuổi, giới tính, hoàn cảnh có thể thực hiện được, cho nên việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật rất khó khăn và phức tạp Ngoài rào cản lớn nhất là sự kỳ thị của xã hội và cộng đồng, thì tâm lý mặc cảm, tự ti, bi quan của người khuyết tật trong quá trình khám, chữa bệnh cũng làm ảnh hưởng tới quá trình chăm sóc sức khỏe Bản thân người

Trang 28

khuyết tật luôn bị ám ảnh bởi bệnh, tật, luôn coi mình là gánh nặng của gia đình,

xã hội, vì thế thường ít có sự hợp tác đầy đủ trong quá trình tư vấn hay chữa trị

Vì thế, hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật luôn được cộng đồng xã hội quan tâm và được thực hiện bằng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau để mang lại hiệu quả cao nhất có thể

Hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được thực hiện ở tầm vĩ

mô như: lồng ghép các yêu cầu chăm sóc sức khỏe người khuyết tật trong các chính sách về kinh tế – xã hội, các chương trình, dự án phát triển sản xuất, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo Ở tầm vi mô, chăm sóc sức khỏe người khuyết tật được thực hiện đồng bộ các hoạt động về chăm sóc y tế và các hoạt động chăm sóc ngoài y tế Thực hiện đa dạng các loại hình, các cơ sở chăm sóc sức khỏe Khai thác các nguồn đầu tư khác để tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe người khuyết tật như: bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ hoặc các sản phẩm bảo hiểm khác Đặc biệt chú trọng các hoạt động giúp đỡ người khuyết tật tham gia hội nhập xã hội như: giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt, cải thiện nhà ở, phương tiện giao thông…

1.2.2.2 Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Các nguyên nhân gây ra khuyết tật vô cùng đa dạng nên dẫn đến các dạng tật và mức độ khuyết tật không giống nhau, trong khi đó người khuyết tật lại có hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe… khác nhau

Vì thế, để đáp ứng nhu cầu cần thiết của người khuyết tật cũng như đảm bảo mục đích chăm sóc sức khỏe toàn diện, pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật quy định các “kênh” khác nhau để thực hiện hoạt động này

Xuất phát từ chức năng xã hội của mình, Nhà nước thống nhất quản lý nhà nước và quản lý chuyên môn về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật Hàng năm, nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật Ngoài ra, nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, trợ giúp

về tài chính, kỹ thuật, vật chất để thực hiện hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, đồng thời quy định trách nhiệm của gia đình người khuyết tật thực

Trang 29

hiện các biện pháp giáo dục sức khỏe, ngăn ngừa và giảm thiểu khuyết tật, khuyến khích sự vươn lên của chính bản thân người khuyết tật

Hiện nay, các hoạt động chăm sóc sức khỏe người khuyết tật mang tính toàn cầu, mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới, được chính phủ các nước, các

tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ đặc biệt quan tâm

1.2.2.3 Ưu tiên hợp lý trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe người khuyết tật là nhằm giúp người khuyết tật có đủ điều kiện để tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản, thiết yếu theo nhu cầu khuyết tật của mình Dựa vào mức độ khuyết tật cũng như đặc điểm đặc thù của người khuyết tật mà pháp luật quy định đối tượng ưu tiên trong lĩnh vực này gồm: người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai, người khuyết tật

có công với cách mạng Chế độ ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe được thực hiện bằng các hình thức khác nhau như: miễn phí, giảm phí, ưu tiên về thứ tự khám bệnh, cấp thuốc… Đối với trường hợp bắt buộc phải chữa bệnh như người mắc bệnh tâm thần ở trạng thái kích động, trầm cảm, có ý tưởng, hành vi tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác thì ngoài các chế độ trên còn được hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại và chi phí điều trị trong thời gian điều trị bắt buộc

Ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe người khuyết tật còn thể hiện sự công bằng xã hội Bởi công bằng không có nghĩa là cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đồng đều cho mọi người khuyết tật, mà trước hết và cần thiết phải ưu tiên cho trường hợp người khuyết tật rơi vào hoàn cảnh mà bản thân họ không tự giải quyết được hoặc thực sự khó khăn khi giải quyết nó

1.2.3 Nội dung pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

1.2.3.1 Chăm sóc sức khỏe ban đầu

Khái niệm “chăm sóc sức khỏe ban đầu”do Hội nghị sức khỏe thế giới họp tại Alma – Ata nước Cộng hòa Kajacstan năm 1978 định nghĩa: “Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những chăm sóc thiết yếu, dựa trên những phương pháp và

kỹ thuật thực hành, đưa đến tận cá nhân và từng gia đình trong cộng đồng, được mọi người chấp nhận thông qua sự tham gia đầy đủ của họ, với giá thành mà họ

Trang 30

có thể chấp nhận được nhằm đạt được mức sức khỏe cao nhất có thể được” Như vậy nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu sẽ không hoàn toàn giống nhau ở mỗi nước trong cùng một thời điểm và ngay trong một nước các vùng và các thời điểm cũng khác nhau Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu cần được thay đổi theo thời gian hoặc theo địa lý để phù hợp với tình hình sức khỏe, bệnh tật và trình độ văn hóa cũng như hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước, mỗi địa phương trong từng thời điểm khác nhau

Đối với Việt Nam, chăm sóc sức khỏe ban đầu là một trong những lĩnh vực hoạt động của hệ thống y tế cơ sở và được coi là chìa khóa để đạt được mục tiêu sức khỏe cho mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao cho những người khuyết tật Chăm sóc sức khỏe ban đầu nhấn mạnh đến những biện pháp tăng cường sức khỏe, phòng bệnh Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu được thực hiện ở địa phương phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật ở địa phương do hệ thống y tế cơ sở đảm nhận Nguyên tắc

cơ bản của chăm sóc sức khỏe ban đầu theo tuyên ngôn Alma – ata năm 1978

Một là tiếp cận rộng rãi và phổ cập các nhu cầu cơ bản Đây là nguyên tắc nền tảng của chăm sóc sức khỏe ban đầu Mọi người trên thế giới cần được tiếp cận với những dịch vụ y tế hiện có để đảm bảo cho mọi người dân có sức khỏe đầy đủ

Hai là sự tham gia và tự lực của cá nhân và cộng đồng Để đạt được sự tham gia và tự lực của mọi người cần phải giáo dục và xây dựng ý thức của mỗi người đối với sức khỏe của mình và cộng đồng

Ba là phối hợp liên ngành trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Ngành y tế cần phối hợp với các ngành khác như giáo dục, truyền thông… và với các tổ chức xã hội và đặc biệt là chính quyền địa phương để đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe không phải là chỉ là việc của riêng ngành y tế mà là của toàn xã hội

Bốn là kỹ thuật thích ứng và hiệu quả, chi phí phù hợp với nguồn lực có thể dựa vào thực tế của địa phương mà có thể đưa ra những kỹ thuật chăm sóc phù hợp, hiệu quả, huy động được sự tham gia tích cực của cộng đồng [21]

Trang 31

Chưa dừng lại ở đó, nhận thức được tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe ban đầu không chỉ là nâng cao sức khỏe, chăm sóc sức khỏe mà còn là tìm cách ngăn ngừa thương tích và bệnh tật Điều đó quan trọng hơn các dịch vụ chăm sóc y tế, giúp cho con người luôn khỏe mạnh và ở trạng thái tốt nhất về sức khỏe Năm 1986 tại Ottawa thủ đô nước Canada, WHO đã tổ chức hội nghị quốc

tế đầu tiên về vấn đề tăng cường sức khỏe con người trong đó vẫn lấy chăm sóc sức khỏe ban đầu là cốt lõi của việc đạt được sức khỏe toàn diện Tại đây một tài liệu chuyên đề được gọi là Hiến chương Ottawa được đưa ra vạch một kế hoạch hành động để “đạt được sức khỏe cho tất cả vào năm 2000 và xa hơn nữa” trong

đó xác định năm nguyên tắc chỉ đạo cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu bổ sung cho 4 nguyên tắc được tuyên bố Alma-ata đề cập như sau:

Tiếp cận – Đảm bảo các dịch vụ y tế có sẵn luôn sẵn sàng, giá cả hợp lý

và cung cấp đồng đều cho tất cả mọi cá nhân không phân biệt giới tính, tuổi tác, sắc tộc hay vị trí của họ, hướng tới việc tiếp cận toàn diện về sức khỏe là quyền của tất cả cá nhân bất kể khả năng chi trả của họ

Sự tham gia của cộng đồng – Sử dụng mọi nguồn lực sẵn có từ phía cộng đồng trong việc phát triển sức khỏe và giải quyết các vấn đề về sức khỏe từ cấp

cơ sở, hướng tới một cộng đồng nhận thức được rõ tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe ban dầu và thực hiện chăm sóc trong cộng đồng một cách hiệu quả

Nâng cao sức khỏe – Trợ giúp cộng đồng tăng cường, phát triển các điều kiện kinh tế xã hội góp phần cải thiện sức khỏe cho người dân Hiến chương Ottawa xác định các điều kiện tiên quyết cho sức khỏe như chỗ ở, giáo dục, thực phẩm, thu nhập, tài nguyên bền vững, công bằng xã hội và sự bình đẳng Hướng tới sự toàn diện cho mỗi cá nhân cả về điều kiện sống của họ

Sử dụng công nghệ thích hợp – Sử dụng các công nghê y tế và ngoài y tế một cách thích hợp và phù hợp với từng địa phương, giá cả hợp lý, khả thi và có thể được chấp nhận về mặt văn hóa cho cá nhân và cộng đồng

Phối hợp liên ngành – Thừa nhận rằng sức khỏe của bất kỳ cộng đồng nào không chỉ phụ thuộc vào các dịch vụ chăm sóc y tế hiệu quả Chính phủ các nước, các doanh nghiệp và các tổ chức trong các lĩnh vực khác cũng góp phần

Trang 32

quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và tự chủ của cộng đồng [27, Chương 7]

Nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu Theo tuyên ngôn Alma-Ata, nội dung gồm 8 điểm: Giáo dục sức khỏe; Phòng chống các bệnh dịch lưu hành tại địa phương; Bảo vệ bà mẹ trẻ em – kế hoạch hóa gia đình; Chương trình tiêm chủng mở rộng; Cung cấp thuốc thiết yếu; Cung cấp lương thực, thực phẩm và cải thiện bữa ăn; Điều trị và phòng bệnh; Cung cấp đủ nước sạch và thanh khiết môi trường

Việt Nam chấp nhận nội dung 8 điểm trên và bổ sung thêm 2 điểm thành nội dung 10 điểm cho phù hợp với hoàn cảnh của nước ta hiện nay Hai điểm bổ sung là: Quản lý sức khỏe; Kiện toàn mạng lưới y tế

Tất cả các nội dung trên đều hàm chứa tính phổ thông, đại chúng mà mọi người khuyết tật có thể tiếp cận

1.2.3.2 Khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật

Theo quy định của công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật về khám bệnh chữa bệnh cho người khuyết tật, các Quốc gia phải thừa nhận người khuyết tật có quyền thụ hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cao nhất có thể mà không có sự phân biệt đối xử vì lý do bị khuyết tật, cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận được các dịch vụ y tế mang tính nhạy cảm giới, bao gồm phục hồi chức năng có liên quan đến vấn đề y

tế Cụ thể:

(1) Cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ và chương trình chăm sóc y

tế có chất lượng đảm bảo, đủ tiêu chuẩn và miễn phí hoặc có thể chi trả được tương tự như các dịch vụ và chương trình cung cấp cho các đối tượng khác bao gồm các chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản và các vấn đề sinh lý và các chương trình y tế công cộng về vấn đề dân số;

(2) Cung cấp các dịch vụ y tế như trên khi người khuyết tật có nhu cầu đặc biệt là vì lý do bị khuyết tật của họ kể cả các biện pháp phù hợp về xác định sớm

và can thiệp sớm và cung cấp các dịch vụ được thiết kế để giảm thiểu và ngăn

ngừa các dạng khuyết tật khác kể cả cho trẻ em và người già;

Trang 33

(3) Cung cấp các dịch vụ y tế như vậy càng gần cộng đồng dân cư càng tốt, kể cả ở các vùng nông thôn;

(4) Yêu cầu các cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật như chăm sóc sức khỏe cho những người khác, kể cả các dịch vụ miễn phí, chưa kể đến các dịch vụ khác, đồng thời nâng cao nhận thức về quyền, nhân phẩm, quyền

tự quyết và nhu cầu của người khuyết tật thông qua tập huấn, và ban hành các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề y trong cả lĩnh vực dịch vụ y tể công và dịch vụ y tể tư;

(5) Nghiêm cấm cấm phân biệt đối xử đối với người khuyết tật khi cung cấp bảo hiểm y tế, và bảo hiểm nhân thọ được luật pháp của Quóc gia thành viên cho phép, và các loại hình bảo hiểm này phải được cung cấp một cách hợp lý và công bằng;

(6) Nghiêm cấm việc từ chối mang tính phân biệt đối xử trong công tác chăm sóc sức khỏe, cung cấp các dịch vụ y tế, thực phẩm và đồ uống vì lý do khuyết tật [11, Điều 25]

Trên cơ sở đó pháp luật các nước cũng tương thích với quy định của công ước Có thể điểm qua pháp luật của một số nước là thành viên của công ước như:

Philipine: Nhà nước bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người khuyết tật thông qua nhiều cách tiếp cận tích hợp làm cho dịch vụ y tế thiết yếu dành cho họ với chi phí hợp lý nhằm nâng cao sức khỏe cho người khuyết tật Chính phủ quốc gia sẽ cung cấp một dịch vụ y tế tích hợp cho người khuyết tật trong đó sẽ bao gồm những điều sau đây: (1) Phòng ngừa khuyết tật thông qua tiêm chủng, dinh dưỡng, bảo tồn, bảo vệ môi trường, tư vấn di truyền, phát hiện sớm khuyết tật và can thiệp sớm, vô hiệu hóa nguyên nhân gây ra khuyết tật (2) Sở Y tế bố trí chuyên viên y tế điều trị và phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại tuyến tỉnh và tuyến thành phố nếu khả thi Đào tạo nhân viên y tế trong lĩnh vực chăm sóc y tế cho người khuyết tật Tiếp tục đảm bảo các đơn vị y tế có khả năng cung cấp các thiết bị cần thiết và phù hợp như chân, tay giả và dụng cụ chỉnh hình cho người khuyết tật [22, Chapter 3]

Trang 34

Hòa Kỳ: Người khuyết tật tâm thần hoặc phát triển có quyền được chăm sóc y tế và điều trị Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe như bác sĩ, nhân viên xã hội học, tâm lý học, vật lý trị liệu và y tá phải được cấp phép bởi tiểu bang và phải chịu kỷ luật nếu có bất kỳ hành vi phân biệt đối xử với những người khuyết tật Bác sĩ cố tình vi phạm bất kỳ quyền của người khuyết tật về tâm thần khi họ không tự nguyện hoặc có hành xử thiếu chuyên nghiệp, vi phạm đạo đức nghề nghiệp sẽ phải chịu kỷ luật [20]

Có thể thấy Công ước quốc về quyền người khuyết tật cũng như pháp luật các nước trên thế giới đều có hướng tới sự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho người khuyết tật Điển hình có thể điểm qua những điểm chung nhất bao gồm quyền được khám bệnh chữa bệnh của người khuyết tật ở cấp cơ sở, đồng thời được tạo điều kiện để tiếp cận với dịch vụ y tế bằng những dụng cụ đặc biệt

do sự đặc thù của khuyết tật như xe lăn, nạng, chân tay giả…; Đảm bảo không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong quá trình khám bệnh chữa bệnh vì sự khuyết tật của họ; Được ưu tiên trong khám bệnh chữa bệnh trong những trường hợp đặc biệt như người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng hay trong các tình huống khẩn cấp khác

1.2.3.3 Chỉnh hình, phục hồi chức năng người khuyết tật

Trong các nội dung chăm sóc sức khỏe người khuyết tật thì nội dung chỉnh hình phục hồi chức năng giữ vai trò rất quan trọng vì người khuyết tật được chỉnh hình phục hồi chức năng mới giúp họ hoạt động độc lập, ít phụ thuộc vào người khác Theo quy định của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật thì các quốc gia phải cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp và hiệu quả, kể

cả hỗ trợ đồng đẳng, để hỗ trợ người khuyết tật có thể đạt được và duy trì tối đa khả năng độc lập, khả năng học nghề, khả năng xã hội, trí lực, thể lực và sự tham gia và hoà nhập đầy đủ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Để đạt được mục tiêu này, Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tổ chức, củng cố và mở rộng các dịch vụ và chương trình phục hồi chức năng, đặc biệt trong các lĩnh vực

y tế, việc làm, giáo dục, và dịch vụ xã hội, theo cách mà các dịch vụ và chương trình này:

Trang 35

(1) Bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất và dựa trên đánh giá chặt chẽ về nhiều mặt về nhu cầu và thể lực cá nhân;

(2) Hỗ trợ sự tham gia và hoà nhập cộng đồng và mọi mặt của xã hội, và

sự hỗ trợ này phải tự nguyện, và sẵn có cho người khuyết tật và sự hỗ trợ này càng gần cộng đồng càng tốt, kể cả vùng nông thôn

Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy việc xây dựng các chương trình đào tạo ban đầu và đào tạo thường xuyên cho các chuyên viên và cán bộ làm việc trong lĩnh vực phục hồi chức năng

Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thúc đẩy khả năng sẵn

có, kiến thức và việc sử dụng công nghệ và thiết bị hỗ trợ được thiết kế cho người khuyết tật vì các công nghệ và thiết bị hỗ trợ này có liên quan đến phục hồi chức năng [11, Điều 26]

Pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật của các nước trên thế giới cũng rất coi trọng nội dung này Chẳng hạn, Nhật Bản quy định mục riêng (mục 12) về dịch vụ chăm sóc và y tế trong đó đặc biệt chú trọng vấn đề phục hồi chức năng đối với người khuyết tật [24, Section 12]; Trung Quốc quy định một chương riêng về phục hồi chức năng người khuyết tật (chương II từ Điều 13 đến Điều 17) [12, Chương II], Hoa Kỳ quy định rải rác trong các nội dung chăm sóc

y tế…[23]

Chính vì vậy pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam rất coi trọng nội dung này Nội dung chỉnh hình phục hồi chức năng cho người khuyết tật được hiểu bao gồm biện pháp y học và biện pháp giáo dục xã hội Về mặt y học, người khuyết tật được phẫu thuật chỉnh hình, được cung cấp các dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết

bị trợ giúp hoạt động sinh hoạt, được thực hiện các hoạt động trị liệu như vật lý trị liệu, vận động trị liệu ở các cơ sở y tế hoặc tại gia đình Về mặt giáo dục người khuyết tật được giáo dục kỹ năng sống độc lập, kỹ năng tự tập luyện nâng cao sức khỏe, cùng với nó là giúp người khuyết tật tiếp cận với văn hóa như dạy chữ nổi cho người mù, dạy giao tiếp thông qua ngôn ngữ ký hiệu đối với người câm điếc… Về mặt xã hội giúp người khuyết tật tham gia vào các hoạt động hòa

Trang 36

nhập cộng đồng như văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí, các sự kiện của người khuyết tật từ đó giúp họ tăng cường sức khỏe cơ thể và trí não

Như vậy phục hồi chức năng theo quan điểm hiện đại không chỉ đơn thuần

về mặt y tế mà cần mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác và phải được xã hội hóa cao

độ Việc chỉnh hình phục hồi chức năng cho người khuyết tật theo quan điểm hiện đại không chỉ có sự tham gia của các nhân viên y tế mà còn là sự tham gia của xã hội như chính quyền, đoàn thể, gia đình và bản thân người khuyết tật Với quan điểm này thì phục hồi chức năng cho người khuyết tật bao gồm: phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình phục hồi chức năng và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng

Cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng đối với người khuyết tật là cơ sở cung cấp dịch vụ chỉnh hình, phục hồi chức năng cho người khuyết tật Trước đây, việc thực hiện chỉnh hình, phục hồi chức năng cho người khuyết tật chủ yếu được tiến hành tại các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng của nhà nước, do nhà nước thành lập, quản lý và đảm bảo từ ngân sách cho các chế độ của người khuyết tật, trong đó chủ yếu thực hiện với các đối tượng là người có công, đã phần nào làm hạn chế quyền được chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật.Với việc quy định

đa dạng các loại hình, phong phú các hình thức, mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng, pháp luật không chỉ đảm bảo quyền hiến định, mà thể hiện trách nhiệm sâu sắc của nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cho những người kém may mắn trong xã hội, đảm bảo mục đích an sinh xã hội

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Cộng đồng được hiểu là những người cùng sống và sinh hoạt với nhau tại một địa phương, đơn vị hành chính nhỏ nhất Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là biện pháp thực hiện tại nơi, với những người mà người khuyết tật cùng sinh sống, nhằm chuyển giao kiến thức về vấn đề khuyết tật, kỹ năng phục hồi và thái độ tích cực đến người khuyết tật, gia đình của họ và cộng đồng, tạo sự bình đẳng về cơ hội và hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật

Trang 37

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng hình thành trên cơ sở hợp nhất các dịch vụ y tế vào các dịch vụ xã hội Theo quan điểm cũ, hoạt động phục hồi chức năng chỉ được thực hiện tại các cơ sở y tế, do những người có chuyên môn và sử dụng những thiết bị do ngành y tế cung cấp, đã không đạt được hiệu quả như mong muốn, lại tốn kém thời gian, tiền bạc, không phù hợp với nhu cầu và đời sống của người khuyết tật Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế – xã hội, ngành y học đã luôn đổi mới về phương pháp phục hồi chức năng, tăng cường các hoạt động chăm sóc tại nhà hoặc để người khuyết tật tự chăm sóc dưới

sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn Hiệu quả của phương pháp này cao hơn rất nhiều trong việc giúp người khuyết tật vượt qua những khó khăn của khuyết tật trong môi trường xã hội bình thường

Hiện nay, theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam đã triển khai hoạt động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, với sự phối hợp chung của chính bản thân người khuyết tật, gia đình họ và cộng đồng bằng những dịch vụ y tế, giáo dục và xã hội thích hợp

1.2.3.4 Xử lý vi phạm trong chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Điều 16 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật quy định về những hành vi về bóc lột, bạo hành và lạm dụng như sau: 1 Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp về lập pháp, hành chính, xã hội, giáo dục phù hợp và các biện pháp khác để bảo hộ người khuyết tật, cả ở trong gia đình và ngoài xã hội, khỏi các hình thức bị bóc lột, bị bạo hành

và bị lạm dụng, kể cả những yếu tố có liên quan đến vấn đề giới; 2 Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết áp dụng các biện pháp phù hợp để ngăn chặn những hình thức bóc lột, bạo hành và lạm dụng bằng cách đảm bảo, chưa kể đến các biện pháp khác, các hình thức hỗ trợ và trợ giúp mang tính nhạy cảm về tuổi tác và nhạy cảm về giới cho người khuyết tật, gia đình và những người chăm sóc của họ bao gồm cả việc cung cấp thông tin và giáo dục về cách phòng tránh, nhận biết và tố cáo các vụ việc bóc lột, bạo hành và lạm dụng Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng các công tác bảo hộ phải mang tính nhạy cảm về giới, tuổi tác và khuyết tật; 3 Để ngăn chặn sự xuất hiện

Trang 38

của các hình thức bóc lột, bạo hành và lạm dụng, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo rằng tất cả các phương tiện và chương trình được thiết kế phục vụ người khuyết tật phải được một cơ quan độc lập giám sát một cách hiệu quả.; 4 Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao khả năng phục hồi về mặt tâm lý, nhận thức

và thể chất, phục hồi chức năng và khả năng tái hoà nhập xã hội của người khuyết tật, những người là nạn nhân của bất kỳ hình thức bóc lột, bạo hành hay lạm dụng nào Các biện pháp này phải bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ bảo hộ Việc phục hồi chức năng và tái hoà nhập nêu trên cần phải được thực hiện trong môi trường mà ở đó khuyến khích chăm sóc sức khỏe, chăm lo đến hạnh phúc, khuyến khích lòng tự tôn, tôn trọng phẩm giá và khả năng tự quyết của một cá nhân khuyết tật và có tính đển nhu cầu cụ thể về giới và tuổi tác; 5 Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết sử dụng các chính sách và pháp luật hiệu quả kể cả những chính sách và luật pháp tập trung vào trẻ em và phụ nữ để đảm bảo rằng những trường hợp bóc lột, lạm dụng và bạo hành đối với người khuyết tật được xác minh, điều tra và truy tố nếu phù hợp

Trên cơ sở đó pháp luật các nước sẽ xây dựng những quy định pháp lý phù hợp với Công ước nhằm bảo vệ người khuyết tật trước những hành vi vi phạm pháp luật đối với người khuyết tật Luật Bảo vệ Người khuyết tật của Trung Quốc năm 1990 có một mục riêng (Chương VIII, từ Điều 49 đến Điều 52) quy định về trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật với người khuyết tật trong đó có các biện pháp xử lý từ hành chính, trách nhiệm hình sự đến bồi thường thiệt hại Cụ thể Điều 51 quy định: “Người nào xâm phạm quyền

và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật, gây tổn thất hoặc gây thiệt hài vệ tài sản hoặc thiệt hại khác phải bồi thường những tổn thất hoặc thiệt hại theo pháp luật hoặc chịu các trách nhiệm dân sự khác.”; Điều 52: “Người nào xâm phạm quyền cá nhân hay các quyền hợp pháp khác của người khuyết tật bằng cách lợi dụng các khuyết tật của họ và cấu thành tội phạm thì bị áp dụng hình phạt nặng hơn theo các quy định của Luật Hình sự”

Trang 39

Pháp luật Hoa Kỳ cũng có những quy định về các biện pháp xử lý đối với những hành vi vi phạm quyền của người khuyết tật rải rác trong các văn bản pháp luật của các bang như Luật về quyền công dân của bang California quy định: Bác sĩ cố tình vi phạm bất kỳ quyền của người khuyết tật hạn chế về tâm thần mà có hành vi thiếu chuyên nghiệp phải chịu trách nhiệm kỷ luật; Khiếu nại

có thể được nộp cho Phòng Chất lượng y tế của Hội đồng đảm bảo chất lượng y

tế

1.2.4 Vai trò của pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật

Bằng việc quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật, pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật đã tạo cơ sở để người khuyết tật thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe trên các lĩnh vực bao gồm chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám bệnh chữa bệnh, chỉnh hình phục hồi chức năng một cách toàn diện Đảm bảo cho người khuyết tật đạt được trạng thái sức khỏe tốt, không bệnh tật, được giáo dục tuyên truyền các phương thức, lối sống, biện pháp phòng ngừa khuyết tật, tiêm chủng tại địa phương nhằm hạn chế các bệnh, tật có thể phát sinh Khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật Có thể hiểu người khuyết tật được quyền khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với tình trạng khuyết tật, được quyền lựa chọn dịch vụ khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện kinh tế của mình Người khuyết tật được bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong khám bệnh, chữa bệnh Người khuyết tật được ưu tiên thực hiện các dịch vụ y tế trên cơ sở dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật Đồng thời người khuyết tật được phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dụng cụ chỉnh hình, các phương tiện thiết bị trợ giúp sinh hoạt, đồng thời được thực hiện các biện pháp điều trị khác như vật lý trị liệu, vận động trị liệu… Về mặt giáo dục, người khuyết tật được sử dụng những công nghệ phù hợp như dạy chữ nổi cho người

mù, dạy ngôn ngữ ký hiệu bằng động tác ngón tay cho người câm… Về mặt xã hội, người khuyết tật được hòa nhập xã hội, tham gia các hoạt động giáo dục, dạy nghề, việc làm, vui chơi giải trí… Theo quy định của pháp luật về người khuyết tật nội dung phục hồi chức năng người khuyết tật bao gồm: phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình; phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Trang 40

Pháp luật quy định trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, đặc biệt là ngành y

tế trong việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật Trách nhiệm của các cơ sở

y tế bao gồm: Tuyên truyền, giáo dục kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, các biện pháp phòng ngừa khuyết tật; các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện phù hợp trong phạm vi chuyên môn Giúp ngăn ngừa khuyết tật xảy ra

do loại bỏ hoặc hạn chế được các yếu tố có hại cho sức khỏe từ thức ăn, nước uống, môi trường… Ngoài ra việc phát hiện sớm khuyết tật sẽ giúp cơ quan chuyên môn có biện pháp điều trị kịp thời để khắc phục khuyết tật, hạn chế các hậu quả do khuyết tật gây ra Pháp luật quy định quyền được khám bệnh, chữa bệnh cho người khuyết tật, đảm bảo được sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp và được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện các biện pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với khuyết tật Được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh với các đối tượng khuyết tật nặng, đặc biệt nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai, người khuyết tật có công với cách mạng Pháp luật quy định phục hồi chức năng cho người khuyết tật không chỉ bó hẹp trong phạm vi các biện pháp y học mà bao gồm cả các biện pháp ngoài y tế, quy định trách nhiệm của cộng đồng trong công tác phục hồi chức năng cho người khuyết tật Giúp người khuyết tật được phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

1.3 Pháp luật một số nước về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật và những gợi mở cho Việt Nam

1.3.1 Nhật Bản

Nhật Bản là nước có nhiều chính sách an sinh xã hội tiêu biểu, đặc biệt là chính sách an sinh đối với người khuyết tật Tại đây họ quan niệm rằng chăm sóc sức khỏe người khuyết tật cần phải được xuất phát từ những điều kiện sống của con người để đảm bảo hạn chế đến mức tối thiểu nhất có thể việc sinh ra bệnh Với quan điểm này Nhật Bản xây dựng những chính sách về dịch vụ y tế, phúc lợi chăm sóc điều dưỡng hoặc phục hồi chức năng để hỗ trợ cho người khuyết tật nhận được sự chăm sóc ở nơi gần nhất Đặc biệt các địa phương hỗ trợ cung cấp hoặc cho vay những thiết bị hỗ trợ hay chó hỗ trợ người khuyết tật và các biện pháp cần thiết khác để giúp người khuyết tật tham gia vào đời sống xã hội [24,

Ngày đăng: 02/03/2017, 13:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Báo (2009), Luận án tiến sỹ Luật học “Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp hoàn thiện” Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2009
9. GS.TS. Trương Việt Dũng (chủ biên), TS. Nguyễn Duy Luật (2007), Tổ chức và quản lý y tế, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý y tế
Tác giả: GS.TS. Trương Việt Dũng (chủ biên), TS. Nguyễn Duy Luật
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
10. Hà Thị Lan (2014), Luận văn thạc sĩ luật học đề tài “Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Hà Thị Lan
Năm: 2014
15. PGS.TS. Trần Trọng Hải (chủ biến) (2010), Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: PGS.TS. Trần Trọng Hải (chủ biến)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
17. Văn phòng tổ chức lao động quốc tế (2010), Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật
Tác giả: Văn phòng tổ chức lao động quốc tế
Năm: 2010
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Luật người khuyết tật và Đề án trợ giúp người khuyết tật tháng 11 năm 2015 Khác
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo đánh giá tình hình triển khai thực hiện Luật người khuyết tháng 11 năm 2015 Khác
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015) Báo cáo tình hình thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2015 tháng 11 năm 2015 Khác
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo Hội nghị giao ban các đơn vị chỉnh hình, điều dưỡng – phục hồi chức năng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội năm 2015 Khác
6. Bộ Y tế (2011), Báo cáo Hội nghị chuyên đề tiêm chủng mở rộng năm 2011 Khác
7. Bộ Y tế (2015), Báo cáo kết quả thực hiện Luật người khuyết tật và Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2015 tháng 7 năm 2015 Khác
8. Hà Đình Bốn (2010), Đề cương tuyên truyền Luật người khuyết tật, Bộ lao động thương binh – xã hội Khác
11. Liên Hợp Quốc, Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 Khác
12. Luật Bảo vệ Người khuyết tật nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1990 sửa đổi bổ sung năm 2008 Khác
13. Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội - Báo cáo Hội nghị giao ban các đơn vị chỉnh hình, điều dưỡng – phục hồi chức năng năm 2015 Khác
14. Nghị Quyết số 84/2014/QH13 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật Khác
16. Tổ chức lao động quốc tế, Công ước số 159 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật năm 1983 Khác
19. Law of the people’s Republic of China on the Protection of Disabled persons 1990 Khác
20. Persons with disabilities – California Department of Justice, November 2003 with Sections revised April 2006 Khác
21. Report of the International conference on Primary health care Alma-ata, USSR, 6-12 September 1978 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w