1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)

106 401 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/………… ……/……

ĐẮK LẮK - NĂM 2016

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Thị Hương

ĐẮK LẮK - NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Học viên

Phạm Minh Trung

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH 8

1.1 Khiếu nại về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai 8

1.2 Giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh 26

1.3 Kinh nghiệm giải quyết khiếu nại về đất đai của một số địa phương và bài học kinh nghiệm 37

Chương 2 45

TÌNH HÌNH KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI 45

2.1 Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Gia Lai 45

2.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh

Gia Lai 51

Chương 3 69

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI 69

3.1 Quan điểm bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân

tỉnh Gia Lai 69

3.2 Giải pháp bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân

tỉnh Gia Lai 77

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng hợp diện tích đất được cấp GCNQSD đất của tỉnh Gia Lai tính

đến tháng 12/2015 46

Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến đất

đai của tỉnh Gia Lai từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến năm 2011… 49

Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo của tỉnh Gia Lai giai đoạn

2011-2015 50

Bảng 2.4: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của

tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2015 51

Bảng 2.5: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực hành

chính của UBND tỉnh Gia Lai tiếp nhận giai đoạn 2011-2015 51

Bảng 2.6: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại về đất đai và kết quả giải quyết

khiếu nại của UBND tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2015 52

Bảng 2.7: Tổng hợp số liệu cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Gia Lai có

trình độ sau đại học tính đến ngày 30/6/2014 66

Bảng 2.8: Tổng hợp số liệu công chức kiêm nhiệm làm nhiệm vụ tham mưu

giải quyết khiếu nại về đất đai cho UBND tỉnh Gia Lai 67

Trang 7

Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và là thành

quả cách mạng của cả dân tộc Việt Nam C.Mác đã chỉ rõ: “Đất là không gian,

yếu tố cần thiết của tất thảy mọi quá trình sản xuất và mọi hoạt động của loài người” [13; tr.473,474] Bất kỳ quốc gia nào, nếu biết quản lý, sử dụng hợp lý

đất đai thì nguồn tài nguyên này được bảo vệ và mang lại hiệu quả, lợi ích to lớn, thiết thực phục vụ cho mỗi con người và cả cộng đồng

Đất đai có vai trò quan trọng như vậy nên Đảng và Nhà nước ta giành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề đất đai Chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chính sách, pháp luật đất đai trở thành cơ sở pháp lý hết sức quan trọng huy động nguồn lực đất đai để phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Vì vậy, quản lý nhà nước bằng pháp luật

về đất đai ngày càng hoàn thiện, đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản

lý nhà nước về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy tính tự chủ của địa phương

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình quản lý và sử dụng đất đai hiện nay đang có những yếu kém Vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa

có tính chiến lược lâu dài và ổn định hoặc thiếu tính khả thi; cơ chế quản lý về đất đai thiếu hiệu quả; cơ quan quản lý đất đai các cấp nhìn chung còn nhiều yếu kém Chính vì thế tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai có

xu hướng diễn biến phức tạp Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn chưa kịp thời, thiếu hiệu quả Những yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng đất nói chung cũng như những yếu kém trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất

Trang 9

đai nói riêng có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng từ sự hạn chế, bất cập của chính sách, pháp luật đất đai và việc giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhận tại Điều 30: “Mọi

người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [22; tr.7]

Thực hiện quyền khiếu nại là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp

để nhân dân tham gia hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước Khiếu nại là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết khiếu nại không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước và công dân

Khiếu nại đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội; đặc biệt khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai - những giá trị vốn có thì tranh chấp, khiếu nại đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp

về mặt nội dung Tuy nhiên, khiếu nại đất đai kéo dài với số lượng ngày càng đông người dân tham gia thì lại là vấn đề rất đáng quan tâm, tìm hiểu nguyên

nhân nảy sinh để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp, nhằm “tháo ngòi nổ” xung đột không để phát sinh trở thành “điểm nóng” gây mất ổn định chính trị,

tình hình trật tự an toàn xã hội Tính phức tạp của khiếu nại đất đai, khiếu nại kéo dài không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai… mà còn do những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ

Trang 10

Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở khu vực phía bắc Tây Nguyên, được đánh giá là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh

tế, quốc phòng, an ninh, với diện tích tự nhiên là 15.495,7 km2 (lớn thứ hai cả nước); có 90 km đường biên giới giáp với Campuchia; dân số hơn 1,3 triệu người, trong đó có hơn 44% dân số là người đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Jrai, chiếm tỷ lệ 29,2% và dân tộc Bahnar, chiếm tỷ lệ 11,9%) Với đặc thù đó, việc tìm hiểu thực trạng và tìm giải pháp để giải quyết tốt công tác khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở tỉnh Gia Lai là một chuyên đề hay và cấp thiết, nó giúp cho chúng ta có được cái nhìn tổng quát về thực tiễn giải quyết khiếu nại ở địa phương; những bất cập giữa pháp luật hiện hành với thực tiễn; những vấn đề bức xúc, tồn đọng trong việc giải quyết khiếu nại về đất đai ở địa phương và tìm ra những giải pháp khắc phục

Nhận thức những vướng mắc cần phải được chấn chỉnh, tháo gỡ cũng như tầm quan trọng của việc giải quyết khiếu nại về đất đai nói chung và của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Gia Lai nói riêng Đồng thời đó cũng là những trăn trở của

tác giả được đúc kết từ thực tiễn và quá trình học tập, vì thế tôi chọn đề tài “Giải

quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai” làm luận văn của

mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Hiện nay theo tôi tìm hiểu và được biết thì số lươ ̣ng các công trình nghiên

cứ u về công tác giải quyết khiếu nại nói chung và giải quyết khiếu nại về lĩnh vực đất đai nói riêng đã có nhiều tác giả thực hiện Những năm gần đây đã có nhiều công trình khoa học được công bố liên quan đến khiếu nại và giải quyết khiếu nại, được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể chia các công trình thành

02 nhóm vấn đề sau:

- Các tài liệu chuyên khảo, giáo trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy có

đề cập đến khiếu nại và giải quyết khiếu nại như: “Đặc san tuyên truyền pháp luật

số 9”, của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính

Trang 11

phủ (2009); “Hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở

Việt Nam”, Nxb Chính trị - Hành chính Hà Nội (2012); “Cơ chế bảo đảm và bảo

vệ quyền con người”, của GS.TS Võ Khánh Vinh - Viện khoa học xã hội Việt

Nam; "Giải đáp Luật hành chính Việt Nam, Chương XIX", của TS Phạm Hồng Thái và TS Đinh Văn Mậu, Nxb thành phố Hồ Chí Minh (1996); "Giáo trình

Luật hành chính Việt Nam, Chương XXI, Chương XXII", của Đại học Quốc gia Hà

Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); "Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố

cáo", của PGS.TS Phạm Hồng Thái (Chủ biên), Nxb thành phố Hồ Chí Minh

(2003)

- Luận văn và Luận án tốt nghiệp như: “Giải quyết khiếu nại đất đai trên

địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ quản lý công của Nguyễn

Thị Thúy Hằng; “Giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà

nước về đất đai ở nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công

của Trương Tiến Dũng; “Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác

giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”, Luận văn Thạc sỹ luật học của Phạm

Văn Long; “Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thành phố Buôn Ma

Thuột, tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công của Nguyễn

Quang Huy; “Giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thanh tra tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn Thạc sỹ quản lý công của Vũ Văn Hưng; “Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền

khiếu nại hành chính của công dân ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sỹ của

nghiên cứu sinh Nguyễn Tuấn Khanh; "Tăng cường hiệu lực của pháp luật trong

việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến

sĩ luật học của Nguyễn Thế Thuấn

Mỗi công trình nghiên cứu chọn cách tiếp cận ở những góc độ khác nhau Mặt khác, công tác giải quyết khiếu nại ở các địa phương khác nhau và trong những giai đoạn khác nhau sẽ có những đặc thù khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu và phân tích thực trạng giải quyết khiếu nại về lĩnh vực đất đai của UBND tỉnh Gia Lai Vì vậy, việc nghiên

Trang 12

cứu đề tài “Giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai” là

và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của công dân trong thời kỳ đổi mới

- Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của UBND tỉnh Gia Lai thời gian qua, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những mặt tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu

- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh Gia Lai hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh Gia Lai

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu hoạt động giải quyết khiếu nại về đất đai trong phạm

vi những vấn đề được quy định trong Luật Khiếu nại, Luật Đất đai và một số văn bản pháp luật liên quan đến đất đai

Trang 13

Với mục đích đặt ra của đề tài, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sâu việc

giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh Gia Lai trong giai đoạn từ năm

- Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; phương pháp thống kê; phương

- Về thực tiễn: Qua phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu

nại về đất đai của UBND tỉnh Gia Lai, luận văn đánh giá thực trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của UBND tỉnh Gia Lai; nhận diện, phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu nại trong quản lý và sử dụng đất;

những tồn tại, hạn chế trong công tác giải quyết Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm

làm giảm các nguy cơ phát sinh khiếu nại và nâng cao trách nhiệm giải quyết khiếu nại trong quản lý và sử dụng đất thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

Trang 14

Luận văn có thể cung cấp cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ, nhân dân trên địa bàn tỉnh một số hiểu biết cơ bản về thực trạng khiếu nại

và giải quyết khiếu nại về đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành, qua đó tạo điều kiện tốt hơn cho việc tuyên truyền, phổ biến và vận động cán bộ, nhân

dân chấp hành pháp luật về lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy

ban nhân dân tỉnh

Chương 2: Tình hình khiếu nại và thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai

của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai

của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

1.1 Khiếu nại về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai

1.1.1 Quan niệm về khiếu nại và khiếu nại về đất đai

1.1.1.1 Khiếu nại và quyền khiếu nại của công dân

Nhà nước ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua việc sử dụng nhà nước, giai cấp thống trị đã điều hòa được những mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, bảo vệ được quyền lợi của giai cấp mình Tuy nhiên, bất kì nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải an dân và ổn định xã hội Bởi, nếu không có dân thì cũng không có nhà nước Do vậy, trong hoạt động của mình, mọi nhà nước đều có những quy định trong luật việc bảo vệ công dân của mình

Về phía người dân, dù người có hiểu biết cao đến hiểu biết thấp đều nhận thức rằng: dưới sự bảo hộ của nhà nước thì mọi quyền lợi của mình mới được bảo đảm, được bảo vệ Song, do bản chất của mỗi kiểu nhà nước khác nhau nên mức độ bảo

hộ cũng có khác nhau Mặt khác, bản thân nhà nước cũng luôn mong muốn bộ máy do mình lập ra, trong đó có đội ngũ quan chức nhà nước phải tuân thủ sự điều khiển, quản lý của nhà nước, không muốn bất kì ai, tổ chức nào trong bộ máy nhà nước lại phá vỡ những quy định (pháp luật) mà nhà nước đã đặt ra Thế nhưng, trong thực tiễn, từ nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn, từ sự chi phối của lợi ích, của tình cảm hay từ sự yếu kém trong quản lý mà một bộ phận nào đó đã vô tình hoặc cố ý làm sai, thậm chí vi phạm nghiêm trọng những quy định của pháp luật, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội Những sai lầm, vi phạm đó rất khó giữ kín Ở góc độ khác, mỗi công dân trong hoạt động thực tiễn của mình, dù ít, dù nhiều đều có quan hệ với bộ máy chính quyền nhà nước, với tổ chức xã hội và các công dân khác Trong các quan hệ đó, có lúc, có nơi với nhiều lý do khác nhau, những người trong bộ máy

Trang 16

công quyền cũng đã vi phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, và như vậy xuất hiện khiếu nại

Trong đời sống xã hội, khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước, người dân có quyền khiếu nại các cơ quan nhà nước để đòi lại sự công bằng cho bản thân, đó là lẽ đương nhiên mà bất kỳ người nào, thời đại nào cũng hiểu Trong xã hội cũ, những hành vi vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội có một số người cho qua, bởi họ không tin vào sự phân

xử công bằng của nhà nước Nhưng cũng có không ít người với trách nhiệm công dân đã dũng cảm ra khiếu nại hành vi sai trái đó để bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của bản thân, tập thể và xã hội Chính vì lẽ đó mà khiếu nại xuất hiện trong xã hội có giai cấp, có nhà nước là một tất yếu khách quan

Về mặt tâm lý, khiếu nại xuất hiện trong ý chí chủ quan của người đi khiếu nại Trước hết những hành vi, hiện tượng vi phạm đó tác động vào nhận thức của người ta và chỉ khi người ta thấy ức chế, cần giải tỏa bằng cách bày tỏ với cơ quan nào đó để hy vọng được giải quyết thì họ mới yên lòng Yếu tố tâm lý này cũng lớn dần theo thời gian nếu như những khiếu nại đó không được xem xét giải quyết kịp thời Tuy nhiên, trong nhận thức của mỗi người, do trình độ bản thân, nhãn quan, tư duy về vấn đề mà có người cho là vi phạm trầm trọng, có người cho là không vi phạm Mặt khác, nhiều trường hợp do không ở trong hoàn cảnh cụ thể nên có người không hiểu được bản chất vấn đề, mới thấy hiện tượng đã suy luận

ra bản chất theo tư duy cá nhân của mình Trong xã hội có người nhút nhát, ngại

va chạm, thậm chí đúng là lợi ích của mình bị vi phạm nhưng cũng không dám lên tiếng phản đối Ngược lại, cũng có những người luôn tưởng rằng, cho rằng mọi người đều sai, lợi ích của mình đã bị xâm phạm Chính vì vậy mà khiếu nại còn là yếu tố tâm lý của con người

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “khiếu nại” được hiểu là: “thắc mắc, đề nghị

xem lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã chuẩn y” [28;

tr.904]

Trang 17

Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học thì “khiếu nại” là: Những đề

nghị của công dân, cơ quan, tổ chức với cơ quan nhà nước hoặc người có chức vụ

về sự vi phạm hoặc cho là vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của họ; khiếu nại được thể hiện dưới hình thức viết hoặc trình bày miệng Nếu là khiếu nại viết thì đơn khiếu nại phải được ký bởi chính người có quyền hoặc lợi ích bị vi phạm hoặc người giám hộ của người đó, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ (hoặc nơi công tác, học tập) [53; tr.3]

Dưới góc độ chính trị - pháp lý, khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện bởi bộ máy nhà nước Ở nước ta, từ năm 1959, Hiến pháp đã chính thức ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân Cụ thể, Điều 29

Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền

khiếu nại và tố cáo bất kỳ cơ quan nào của nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước Các khiếu nại, tố cáo cần phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại do những việc làm trái pháp luật gây ra có quyền được bồi thường” [18; tr.7]

Theo thời gian, các quy định về quyền khiếu nại của công dân ngày càng

được hoàn thiện Nếu như Hiến pháp 1959 chỉ quy định “Công dân… có quyền

khiếu nại và tố cáo bất kỳ cơ quan nào của nhà nước về những việc làm vi phạm pháp luật của cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước…”, thì Hiến pháp 1980, Hiến

pháp 1992, Hiến pháp (sửa đổi) 2013 đã mở rộng phạm vi quyền khiếu nại của công dân, đó là công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp

luật của “cơ quan, tổ chức, cá nhân” Ngoài ra, Hiến pháp 1992, Hiến pháp (sửa

đổi) 2013 còn quy định rõ ràng, cụ thể hơn về vấn đề khiếu nại; theo đó, Hiến

pháp các giai đoạn trước quy định công dân được khiếu nại ở “bất cứ cơ quan

nhà nước nào” thì Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [21; tr.16], Hiến pháp (sửa

đổi) 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức,

Trang 18

cá nhân có thẩm quyền” [22; tr.7] Điều buộc cơ quan nhà nước phải có sự phân

định rõ ràng thẩm quyền giải quyết khiếu nại của công dân theo từng ngành, từng cấp một cách có hệ thống

Như vậy, có thể khẳng định rằng quyền khiếu nại là một trong những quyền

cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp; là một trong những phương tiện để công dân, tổ chức sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

là “quyền để bảo vệ quyền”, là phương tiện đấu tranh để đảm bảo các quyền khác

của công dân Mặt khác, khiếu nại còn được coi là công cụ để công dân, tổ chức giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước Thông qua khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và hoàn thiện hoạt động quản lý của mình Có thể nói, khiếu nại và giải quyết khiếu nại là chính là cầu nối giữa công dân với Đảng, Nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dặn: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại

hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm đến quyền và lợi ích của họ, do đó mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được tốt hơn”

Tóm lại, pháp luật về khiếu nại nước ta không ngừng phát triển, hoàn thiện

về cả nội dung và hình thức Đặc biệt, trong công cuộc đẩy mạnh cải cách nền hành chính thì việc đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại của công dân và hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại là cơ sở quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

1.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm khiếu nại về đất đai

a) Khái niệm khiếu nại về đất đai

Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch

sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Nếu không có đất đai

Trang 19

thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn tại của loài người Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông và các công trình, dự án khác

Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội… Vì vậy, hiện nay đất đai là vấn đề quan tâm chung của toàn xã hội, là vấn đề bức xúc nhất đối với người dân, do liên quan đến lợi ích của từng cá nhân, cũng như tổ chức và cộng đồng xã hội, đồng thời là lĩnh vực xảy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại nhất

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định chung thống nhất về thuật ngữ khiếu nại đất đai Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2,

Luật Khiếu nại năm 2011, thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc

cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [39; tr.1] Theo quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 thì: Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai [44; tr.119,120]

Trên cơ sở Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Đất đai năm 2013 và các văn

bản hường dẫn thi hành, thì khái niệm khiếu nại đất đai được hiểu như sau: Việc

công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính

Trang 20

nhà nước trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó

là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

b) Đặc điểm khiếu nại về đất đai

Là một hiện tượng xã hội nên khiếu nại có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, quyền khiếu nại của công dân là quyền khiếu nại hành chính Khiếu nại về đất đai là một dạng đặc biệt của khiếu nại hành chính, nên bên cạnh những đặc điểm chung của khiếu nại hành chính, khiếu nại về đất đai còn mang những đặc trưng riêng khác với các khiếu nại thuộc các lĩnh vực khác

Xuất phát từ quan niệm khiếu nại về đất đai có thể nhận thấy chủ thể, khách thể và đối tượng phát sinh trong quan hệ khiếu nại đất đai:

- Chủ thể khiếu nại về đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và

quyền sử dụng đất, mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của nhà nước, được nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng Như vậy, chủ thể của khiếu nại về đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất

Theo Điều 5, Luật Đất đai 2013 thì người sử dụng đất được xác định gồm

07 nhóm đối tượng [44; tr.3,4]:

Thứ nhất, các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính

trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức

sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ được nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;

Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao đất, cho thuê

đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất;

Trang 21

Thứ ba, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên

cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;

Thứ tư, cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện,

trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất;

Thứ năm, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại

diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;

Thứ sáu, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn

hóa, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;

Thứ bảy, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật

về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất

- Khách thể của khiếu nại về đất đai là sự bảo đảm của nhà nước đối với

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

- Đối tượng của khiếu nại về đất đai là các quyết định hành chính hoặc

hành vi hành chính về quản lý đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Tuy nhiên, không phải tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý và sử dụng đất đai đều là đối tượng của khiếu nại về đất đai Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về khiếu nại hành chính nói chung và khiếu nại về đất đai nói riêng, thì đối tượng khiếu nại về đất đai được xác định như sau:

Trang 22

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định

về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể

Như vậy, quyết định hành chính về đất đai là những quyết định bằng văn bản do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, được

áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể, như: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất); quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất; quyết định giải quyết khiếu nại hay

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người

có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực

hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật [39; tr.2]

Khác với quyết định hành chính phải được thể hiện bằng văn bản, thì hành

vi hành chính trong lĩnh vực đất đai được biểu hiện bằng hành động hoặc không hành động của cán bộ, công chức có thẩm quyền liên quan đến đất đai, tức không thực hiện nhiệm vụ của mình theo quy định pháp luật, qua đó xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì vẫn là đối tượng khiếu nại hành chính

Những trường hợp sau bị xem là vi phạm Luật Đất đai [9; tr.87,88]:

Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc địa giới hành chính bao gồm các hành vi sau: Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành

chính; cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa

Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: Không tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kịp thời theo

Trang 23

quy định; không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không công bố việc điều chỉnh hoặc hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất mà sau

03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất; không báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất không đúng vị trí và

diện tích đất trên thực địa; giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; giao lại đất, cho thuê đất trong khu công nghệ cao, khu kinh tế, cảng hàng không, sân bay dân dụng không phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Vi phạm quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm các hành vi sau: Không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi theo quy định

tại Điều 67 của Luật Đất đai; không công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa Thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng với quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền phê duyệt

Vi phạm quy định về trưng dụng đất bao gồm các hành vi sau: Thực hiện

bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, thời hạn bồi thường cho người có đất bị trưng dụng; trưng dụng đất không đúng các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 72 của Luật Đất đai

Trang 24

Vi phạm quy định về quản lý đất do được nhà nước giao để quản lý bao gồm các hành vi sau: Để xảy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng

đất tạm thời mà sử dụng đất sai mục đích; sử dụng đất sai mục đích; để đất bị lấn,

bị chiếm, bị thất thoát

Vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và

sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: Không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy đủ, không

hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ sơ, gây phiền hà đối với người nộp hồ sơ, nhận

hồ sơ mà không ghi vào sổ theo dõi; tự đặt ra các thủ tục hành chính ngoài quy định chung, gây phiền hà đối với người xin làm các thủ tục hành chính; giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, trì hoãn việc giao các loại giấy

tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người xin làm thủ tục hành chính; giải quyết thủ tục hành chính chậm so với thời hạn quy định; từ chối thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định của pháp luật về đất đai đã

đủ điều kiện để thực hiện; thực hiện thủ tục hành chính không đúng thẩm quyền; quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ không đúng quy định gây thiệt hại hoặc tạo điều kiện cho người xin làm thủ tục hành chính gây thiệt hại cho nhà nước, tổ chức và công dân; làm mất, làm hư hại, làm sai lệch nội dung hồ sơ

- Cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính là các cơ quan nhà nước thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ

sở hữu toàn dân về đất đai, bao gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp và các cá nhân có thẩm quyền tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp

1.1.1.3 Các loại khiếu nại về đất đai

Nội dung khiếu nại về đất đai rất đa dạng và phức tạp Theo đó, hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không

Trang 25

đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất; đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ

là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất) Tất nhiên, khi nội dung quản lý

và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý, sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn

Nội dung khiếu nại về đất đai của các tổ chức, cá nhân rất đa dạng, phức tạp, nhưng chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:

- Khiếu nại về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định

cư Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước đã tiến hành thu

hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án Tuy nhiên, vấn đề bồi thường

và hỗ trợ, tiến hành tái định cư cho những đối tượng bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc; tập trung chủ yếu ở 02 dạng sau:

+ Khiếu nại việc nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trước khi có Luật Đất đai năm 2003 Các vụ việc khiếu nại này thường đã được các ngành, các cấp giải quyết nhiều lần nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại Phần lớn những trường hợp này người dân có bị thiệt thòi do chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, song chưa giải quyết thỏa đáng hoặc do có sai phạm trong quá trình thu hồi đất giải phóng mặt bằng, nay khiếu nại đòi bồi thường theo giá mới

+ Khiếu nại việc nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trước để làm các dự án sau khi có Luật Đất đai năm 2003 Sau khi có Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất có sự thay đổi đáng kể theo hướng có lợi cho người có đất bị thu hồi Tuy nhiên, do quá trình thực hiện, nhiều địa phương định giá thấp hơn so với giá thị trường hoặc nhiều trường hợp không vận dụng thực hiện quy định về thỏa thuận mức giá bồi thường giữa người có đất bị thu hồi với người được giao

Trang 26

đất mới, thậm chí có những dự án thu hồi đất của người dân thấp hơn hàng chục, hàng trăm lần so với giá đất chủ đầu tư chuyển nhượng lại cho người khác, nên dẫn đến phát sinh khiếu nại rất gay gắt của công dân có đất bị thu hồi Công dân thường tập trung vào việc khiếu nại yêu cầu nâng giá bồi thường (đòi bồi thường theo giá thị trường), bồi hoàn thành quả lao động trên đất, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, yêu cầu cấp đất sản xuất

- Khiếu nại về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đây là

dạng khiếu nại rất phổ biến hện nay, phát sinh một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền, như: Cấp GCNQSD đất có sai sót; trường hợp không cấp GCNQSD đất mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng; quá trình giải quyết

hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu

- Khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản

lý, sử dụng đất đai Nội dung này có nguyên nhân từ một bộ phận người dân

không nắm rõ về Luật Đất đai nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp lấn đất, chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích Bên cạnh đó, cũng có phần nguyên nhân từ các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc trái pháp luật; việc ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật; hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan

- Khiếu nại việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của các cơ quan nhà nước, như: Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp đòi lại đất cũ; khiếu nại việc giải

quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, thừa kế tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất; khiếu nại việc giải quyết tranh chấp ranh giới sử dụng đất; khiếu nại

việc giải quyết tranh chấp nhà đất do đã cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ

- Khiếu nại đòi lại đất trước đây đưa vào hợp tác xã nông nghiệp hay tập đoàn sản xuất nông nghiệp, đã giao khoán cho các hộ khác sử dụng, khi hợp tác

xã, tập đoàn sản xuất tan rã có tình trạng ruộng đất của ai, người đó lấy lại sử dụng, nhưng một bộ phận nông dân không lấy lại được ruộng đất vì người khác

Trang 27

đang sử dụng hoặc chính quyền đã sử dụng vào mục đích khác; đòi lại đất chính quyền chế độ cũ lấy để sử dụng, sau giải phóng, nhà nước tiếp quản hoặc giao cho người khác sử dụng; đòi lại đất có nhà ở khu vực đô thị trong quá trình cải tạo công thương nghiệp nhà nước đã quản lý nhưng không làm đầy đủ thủ tục; đòi lại đất tôn giáo đã hiến, cho, cho mượn hoặc chính quyền đã sử dụng làm nhà trẻ, trường học, mẫu giáo, nhà văn hóa

1.1.2 Giải quyết khiếu nại về đất đai

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm giải quyết khiếu nại về đất đai

a) Khái niệm

Giải quyết khiếu nại về đất đai là một dạng hoạt động của quản lý nhà

nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tiến hành theo phạm vi, chức năng, thẩm quyền Tuy nhiên, tùy thuộc vào sự lựa chọn của người khiếu nại mà vụ việc sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng của hệ thống cơ quan Tòa án hoặc theo thủ tục hành chính, kết quả giải quyết có thể là một bản án, quyết định của Tòa án hoặc bằng một quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền

Khoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Giải quyết khiếu

nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại” [39;

tr.2]

Như vậy, giải quyết khiếu nại về đất đai là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật Thông qua các hồ sơ, tài liệu lưu trữ mà các cơ quan cung cấp, chứng cứ, dấu hiệu, hành vi, tình tiết thực tế của từng vụ việc, cơ quan nhà nước

có thẩm quyền hoặc nhà chức trách có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định được đúng, sai, tính chất của nội dung khiếu nại, yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ hoặc chấm dứt hiệu lực của quyết định hành chính hay hành vi hành chính bị khiếu nại, buộc bồi thường thiệt hại (nếu có), khôi phục uy tín, danh dự đã bị xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Nhưng dạng áp dụng pháp luật này không phải xuất phát từ ý chí đơn phương

Trang 28

ban đầu của nhà nước như trong xử lý vi phạm hành chính hay các dạng áp dụng pháp luật khác, mà nó chỉ xảy ra khi có yêu cầu của chủ thể bị áp dụng pháp luật, hay nói cách khác là phát sinh trên cơ sở ý chí của chủ thể khiếu nại về đất đai Song, để có đủ tư cách pháp lý tham gia khiếu nại về đất đai, thì chủ thể khiếu nại

về đất đai chỉ có thể thuộc trong 07 nhóm đối tượng đã được pháp luật xác định

Về cơ sở pháp lý, để giải quyết một quan hệ pháp luật về đất đai như giải quyết khiếu nại về đất đai thì trước khi ban hành một văn bản áp dụng pháp luật (quyết định hành chính), yêu cầu có tính bắt buộc đầu tiên là xem xét tất cả quá trình diễn biến, các yếu tố, tình tiết sự việc một cách khách quan, toàn diện, sau

đó người có thẩm quyền phải dựa vào các quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp điều chỉnh quan hệ pháp luật đó để ban hành quyết định bác bỏ hay công nhận nội dung khiếu nại của đương sự là đúng hay sai, cũng như công nhận quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý của người khiếu nại nếu có, đảm bảo cho người khiếu nại

có quyền khiếu nại tiếp hay không

Trên cơ sở nghiên cứu những quy định chung về giải quyết khiếu nại và các quy định liên quan đến quản lý đất đai, thì giải quyết khiếu nại về đất đai có thể

được hiểu như sau: Giải quyết khiếu nại về đất đai là việc cơ quan hành chính

nhà nước, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước xem xét, đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền của mình, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại

b) Đặc điểm giải quyết khiếu nại về đất đai

Thứ nhất, giải quyết khiếu nại về đất đai là hoạt động mang tính quyền lực

nhà nước, thể hiện:

Trong hoạt động giải quyết khiếu nại về đất đai, chủ thể giải quyết phải do người đứng đầu của cơ quan quản lý hành chính nhà nước tiến hành Trong quá trình giải quyết, mọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải được xem xét cẩn trọng và

Trang 29

dựa trên cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạm pháp luật đã được xác định để

ra quyết định cụ thể

Việc giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước không xuất phát từ ý chí đơn phương của nhà nước như những trường hợp xử lý vi phạm hành chính hay những trường hợp áp dụng pháp luật khác, mà chỉ được áp dụng khi có sự yêu cầu của người khiếu nại, tức khi họ cho rằng quyết định hoặc hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Nội dung này không chỉ thể hiện quyền hạn mà còn là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước đối với người sử dụng đất trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về đất đai

Giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước có tính bắt buộc đối với mọi chủ thể bị áp dụng pháp luật và các chủ thể khác có liên quan Điều này thể hiện ở chỗ dù việc áp dụng pháp luật được thể hiện dưới hình thức nào thì quyết định hành chính (văn bản áp dụng pháp luật) cũng chỉ do các chủ thể có thẩm quyền ban hành, nên về nguyên tắc là buộc các chủ thể phải nghiêm chỉnh thực hiện khi quyết định đó phát sinh hiệu lực pháp luật Trong những trường hợp cần thiết nó được đảm bảo thực hiện thông qua việc cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước Trong hoạt động quản lý nhà nước, quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước là hết sức đa dạng và phức tạp nhằm điều chỉnh rất nhiều quan hệ xã hội với những phạm vi, lĩnh vực

và với nhiều chủ thể khác nhau Vì vậy pháp luật đòi hỏi là trong quá trình áp dụng pháp luật, cơ quan hành chính nhà nước, người có chức năng, thẩm quyền phải hết sức cẩn trọng trước khi ban hành quyết định Nếu vi phạm tùy theo mức

độ có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình

sự Điều này cho thấy, nếu pháp luật là hiện thân của ý chí nhà nước thì áp dụng pháp luật là sự nối tiếp, là “cánh tay nối dài” của ý chí nhà nước trên hiện thực đời sống xã hội, nên có thể nói áp dụng pháp luật còn mang ý nghĩa chính trị,

Trang 30

phục vụ cho những mục đích chính trị nhất định Vì vậy, việc giải quyết khiếu nại

về đất đai không những phải phù hợp với pháp luật thực định mà còn phải phù hợp với chủ trương, chính sách của nhà nước trong từng giai đoạn cách mạng khác nhau với những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội khác nhau

Thứ hai, giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước là

hoạt động phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định

Giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chất đặc thù do người đứng đầu cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện và phải tuân theo những hình thức, thủ tục chặt chẽ theo quy định của pháp luật Bởi vì, xuất phát từ tầm quan trọng của đất đai cũng như công tác giải quyết khiếu nại về đất đai, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi ích rất lớn hoặc chịu những hậu quả nghiêm trọng do hành vi áp dụng pháp luật gây ra Mặt khác, việc quy định một cách chặt chẽ hình thức, trình

tự, thủ tục và thẩm quyền sẽ tạo ra cơ sở pháp lý, công cụ quan trọng để cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay quản lý xã hội bằng pháp luật thì việc quy định và công khai hóa những vấn đề trên là hết sức cần thiết Những quy định này

sẽ góp phần tạo sự minh bạch trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đây cũng là cơ sở để cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình trong quản lý nhà nước về đất đai; đồng thời, nó cũng là căn cứ để xã hội thực hiện sự giám sát quá trình thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước

Thứ ba, giải quyết khiếu nại về đất đai là hoạt động áp dụng pháp luật trong

giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước, là hoạt động mang tính cá biệt, cụ thể Tính cụ thể và cá biệt thể hiện ở chỗ việc áp dụng này được thực hiện và có hiệu lực với từng chủ thể, từng tình huống cụ thể và chỉ có giá trị pháp lý đối với chủ thể xác định được nêu trong văn bản áp dụng, với các chủ thể khác nó không làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý

Trang 31

Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước có đối tượng là những quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh trong lĩnh vực khiếu nại về đất đai cần đến sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể trên cơ sở những mệnh lệnh chung là các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khiếu nại Trên cơ sở các quy định chung của các quy phạm pháp luật về khiếu nại đất đai, cơ quan hành chính nhà nước sẽ phân tích, đánh giá và lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng đối với những tình huống cụ thể

Bốn là, giải quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước đòi

hỏi tính sáng tạo Bởi vì đó là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật) để giải quyết các việc riêng lẻ, cụ thể Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền

áp dụng pháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng rất phong phú,

đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển nên không phải lúc nào pháp luật cũng dự liệu hết được mọi tình huống trong thực

tế nảy sinh Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa rõ ràng thì yêu cầu chủ thể áp dụng pháp luật phải biết vận dụng một cách sáng tạo linh hoạt, không dập khuôn máy móc bằng cách áp dụng tương tự pháp luật Để đạt tới điều đó đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải

có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao Song, việc vận dụng pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc là việc vận dụng pháp luật đó phải đảm bảo được lợi ích của nhà nước, của xã hội; bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội

1.1.2.2 Vai trò của giải quyết khiếu nại về đất đai

Hoạt động giải quyết khiếu nại có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước, việc giải quyết tốt vấn đề này có vai trò thúc đẩy sự hoàn thiện về cơ chế hành chính, cụ thể:

- Hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước dựa trên sự tồn tại hệ thống quy phạm pháp luật khiếu nại Tôn trọng tính tối cao của

Trang 32

Hiến pháp trong việc cụ thể hóa quyền khiếu nại của công dân, nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống các quy phạm pháp luật khiếu nại, là cơ sở để thiết lập trật tự pháp luật, củng cố và tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước

- Việc thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại không những bảo đảm quyền khiếu nại của công dân, phát huy dân chủ XHCN và sức mạnh, trí tuệ của nhân dân trong việc tham gia quản lý hành chính nhà nước mà còn đảm bảo kỷ cương, kỷ luật, tăng cường pháp chế XHCN trong quản lý hành chính nhà nước Hơn nữa, hiện nay chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, trọng tâm là bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, theo đó giải quyết khiếu nại thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, đây cũng là đặc trưng của nền pháp quyền

- Hoạt động giải quyết khiếu nại là cơ sở đảm bảo các cơ quan hành hành chính nhà nước và những người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải tự giác nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quy định của pháp luật khiếu nại, bởi nó có ý nghĩa ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm pháp chế XHCN

- Việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan có thẩm quyền còn tạo cơ sở cho việc phát hiện những kẽ hở của luật qua thực tiễn giải quyết, sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản luật Công tác giải quyết khiếu nại nếu được thực hiện tốt sẽ có tác dụng làm giảm tình trạng tham nhũng, cửa quyền, quan liêu

- Hoạt động kiểm tra hoạt động giải quyết khiếu nại, nhằm phát hiện những mặt tích cực để biểu dương, đồng thời cũng phát hiện những sai phạm, yếu kém

để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời, bảo đảm trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế XHCN và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

- Trong hoạt động giải quyết khiếu nại, nếu cơ quan hành chính nhà nước vi phạm vi phạm pháp luật khiếu nại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng pháp chế XHCN, làm suy giảm lòng tin nhân dân đối với chính quyền Vì vậy, yêu cầu của pháp chế xã hội trong hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành

Trang 33

chính nhà nước là phải xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật khiếu nại của những người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, không kể người vi phạm là ai, giữ cương vị công tác như thế nào

1.2 Giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh

Giải quyết khiếu nại về đất đai được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai về tính hợp pháp và tính hợp lý, từ đó đưa ra các giải pháp

xử lý Với quan niệm đó, có thể đưa ra khái niệm giải quyết khiếu nại về đất đai

của UBND tỉnh như sau: Giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh là việc

Chủ tịch UBND tỉnh theo quy định của pháp luật thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết lần đầu đối với quyết định (văn bản) hành chính, hành vi hành chính của mình và giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố hoặc đã hết thời hạn giải quyết lần đầu nhưng không được giải quyết

Với cách hiểu này, giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, cơ sở giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh là khiếu nại

về đất đai theo quy định của pháp luật Khiếu nại về đất đai là biểu hiện của tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan quản lý hành chính nhà nước khi cá nhân,

tổ chức cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai Giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh chỉ được triển khai khi có khiếu nại Và giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh cũng là nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể ở đây là UBND tỉnh nhằm mục đích chính là bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước

Trang 34

những hành vi vi phạm, sai trái của cơ quan nhà nước; sự lạm quyền của các cán

bộ, công chức nhà nước

Thứ hai, đối tượng xem xét khi giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND

tỉnh là quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai bị khiếu nại Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý thực hiện quản lý hành chính nhà nước theo chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật quy định nhằm duy trì, bảo vệ, củng cố trật tự quản lý hành chính nhà nước Việc ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính hợp pháp là một trong những hoạt động quản lý của chủ thể quản lý, vừa là biểu hiện của việc thiết lập trật tự quản lý, vừa là biểu hiện duy trì trật tự quản lý hành chính nhà nước Quyết định hành chính, hành vi hành chính bất hợp pháp không những không thiết lập, duy trì trật tự quản lý, phá vỡ trật tự quản lý mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Vì thế khi giải quyết khiếu nại về đất đai, đối tượng xem xét chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại Kết quả giải quyết khiếu nại chính là việc khẳng định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại

Thứ ba, giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh được giải quyết theo

thủ tục hành chính - thủ tục giải quyết khiếu nại Giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết về tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính

do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành khi thực hiện hoạt động quản lý nhà nước Đây là một quá trình phức tạp và đòi hỏi khách quan trong quá trình giải quyết, vì vậy cần phải được tiến hành theo thủ tục pháp luật quy định

Thứ tư, kết quả của giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh là việc

xem xét lại tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai Quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh là kết quả của việc đối chiếu, xem xét một cách toàn diện giữa yêu cầu của người khiếu nại và kết quả thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan giải quyết khiếu

Trang 35

nại Vì vậy, việc ra quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai là một hoạt động đặc biệt, quan trọng vì thông qua hoạt động này các yêu cầu của người khiếu nại được thỏa mãn toàn bộ hay từng phần hoặc bị bác bỏ Ngoài ra, thông qua việc giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh để bảo đảm quyền khiếu nại của công dân, phát hiện những sai sót trong công tác quản lý để kịp thời bổ sung, sửa đổi, tạo niềm tin trong nhân dân Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật và việc thi hành quyết định trên thực tế nhằm mục đích bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi bị xâm hại và chấm dứt khiếu nại, đảm bảo công lý, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

1.2.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 và các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Xây dựng thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai được xác định trên nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nền hành chính theo đơn vị hành chính, lãnh thổ (cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh) - nơi ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính bị khiếu nại

Trách nhiệm của chủ thể giải quyết khiếu nại khi nhận được hồ sơ khiếu nại phải kiểm tra, xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; nếu thấy trái pháp luật phải kịp thời sửa chữa, khắc phục Trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì quá trình giải quyết phải lắng nghe ý kiến của nhân dân, không được thiên vị, bao che; và phải nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, đảm bảo đầy đủ các trình tự, thủ tục như kiểm tra, xác minh, tổ chức đối thoại, có thể mời luật sư, trợ giúp viên pháp

lý tư vấn và cuối cùng phải công khai kết quả giải quyết khiếu nại theo quy định pháp luật

Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết phải hướng dẫn người khiếu nại hoặc làm văn bản chuyển giải quyết đến cơ quan nhà nước có thẩm

quyền Khoản 1, Điều 5, Luật Khiếu nại năm 2011 đã quy định: Cơ quan, tổ chức,

Trang 36

cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết khiếu nại được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình [39; tr.3]

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, thì thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND cấp huyện là: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của Giám đốc sở và cấp tương

đương: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh được quy định

tại Điều 21, Luật Khiếu nại năm 2011 như sau: Giải quyết khiếu nại lần đầu đối

với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình [39; tr.12]

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 204, Luật Đất đai năm 2013 thì: Trình tự,

thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai

Trang 37

thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại [44; tr.119,120] Cụ thể, theo

quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì:

- Giải quyết khiếu nại lần đầu, trình tự, thủ tục được thực hiện như sau:

Bước 1: Tiếp nhận và thụ lý đơn khiếu nại: Người khiếu nại phải gửi đơn

và các tài liệu liên quan (nếu có) đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Trong trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung khiếu nại, có chữ ký của người khiếu nại Trong trường hợp việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy

tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện (giấy ủy quyền theo quy định)

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại tham mưu ra văn bản thụ lý để giải quyết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì có văn bản trả lời nêu rõ lý do

Bước 2: Xác minh, kết luận nội dung khiếu nại: Khi chưa có cơ sở kết luận

nội dung khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải quyết khiếu nại

Bước 3: Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu: Người giải quyết

khiếu nại đất đai ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản và gửi quyết định cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan,

cơ quan quản lý cấp trên, công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định Quyết định giải quyết khiếu nại phải chứa đựng các nội dung theo yêu cầu của khoản 2 Điều 31 Luật Khiếu nại năm 2011 Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày

Trang 38

- Giải quyết khiếu nại lần hai, trình tự, thủ tục được thực hiện như sau:

Bước 1: Tiếp nhận và thụ lý đơn khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ

ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết; trường hợp không thụ

lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do

Bước 2: Xác minh, kết luận nội dung khiếu nại: Đối với vụ việc khiếu nại

phức tạp, nếu thấy cần thiết, người giải quyết khiếu nại lần hai thành lập Hội đồng

tư vấn để tham khảo ý kiến giải quyết khiếu nại

Quy trình xác minh, làm rõ các nội dung khiếu nại giống như giải quyết khiếu nại lần đầu Tuy nhiên, để làm rõ các vấn đề trong đơn khiếu nại, Luật Khiếu nại năm 2011 quy định việc đối thoại giữa các bên liên quan là yêu cầu bắt buộc trong quy trình giải quyết khiếu nại lần hai

Bước 3: Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần hai: Kết quả của quá

trình xác minh, làm rõ nội dung khiếu nại, trong thời hạn không quá 45 ngày (trừ trường hợp đặc biệt), người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết giải quyết khiếu nại lần hai Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai bao gồm các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Khiếu nại năm 2011 Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày,

kể từ ngày ban hành; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày

* Các hành vi bị nghiêm cấm trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Trang 39

Để tránh việc lợi dụng khiếu nại về đất đai hoặc quyền công dân để gây rối làm mất ổn định xã hội hoặc cố tình khiếu nại do lợi ích chưa thỏa đáng, cũng như chủ thể giải quyết khiếu nại không thực hiện hết trách nhiệm, không đúng trình tự, thủ tục nhà nước quy định cấm một số hành vi của các chủ thể tham gia vào quan

hệ khiếu nại, giải quyết khiếu nại; nếu vi phạm điều này thì sẽ bị xử lý hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định về bồi thường nhà nước Có 09 hành vi bị nghiêm cấm, gồm: Cản trở, gây phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai lệch các thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố ý giải quyết khiếu nại trái pháp luật Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định Bao che cho người bị khiếu nại; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại Cố tình khiếu nại sai sự thật Kích động, xúi giục, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác tập trung đông người khiếu nại, gây rối an ninh trật tự công cộng Lợi dụng việc khiếu nại để tuyên truyền chống nhà nước, xâm phạm lợi ích của nhà nước; xuyên tạc, vu khống, đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự của

cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, người thi hành nhiệm

vụ, công vụ khác Vi phạm quy chế tiếp công dân Vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại

* Các trường hợp không thụ lý giải quyết khiếu nại

Hiến pháp đã xác lập quyền khiếu nại của công dân, tuy nhiên người khiếu nại phải đảm bảo tuân thủ theo các quy định của pháp luật, việc khiếu nại phải có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước là trái pháp luật, xâm hại trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trường hợp khiếu nại không tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật hoặc không đủ căn cứ thì sẽ không được giải quyết

Có 09 trường hợp không được giải quyết, gồm: Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ,

Trang 40

công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của

cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp Người đại diện không hợp pháp thực hiện khiếu nại Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại Thời hiệu, thời hạn khiếu nại

đã hết mà không có lý do chính đáng Khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ

lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án, trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án

1.2.3 Các điều kiện bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh

a) Đảm bảo về kinh tế

Dưới góc độ lý luận và thực tiễn, các điều kiện bảo đảm về kinh tế luôn là yếu tố tiền đề cho các điều kiện bảo đảm khác Chẳng hạn, trong mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, thì kinh tế luôn giữ vai trò quyết định vì pháp luật là một trong những yếu tố của kiến trúc thượng tầng xã hội, nó luôn có quan hệ chặt chẽ với kinh tế, chịu sự tác động của kinh tế và cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế Kinh tế không chỉ là nhân tố quyết định sự ra đời của phát luật mà còn quyết định nội dung, hình thức, cơ cấu, sự phát triển và cơ chế điều chỉnh của pháp luật Mọi sự thay đổi của kinh tế - xã hội sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong hệ thống pháp luật của đất nước

Ngày đăng: 02/03/2017, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư (2002), Về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay, Chỉ thị số 09/CT-TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2002
2. Bộ Chính trị (2008), Về giải quyết khiếu nại, tố cáo, Thông báo kết luận số 130-TB/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
3. Bộ Chính trị (2014), Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo , Chỉ thị số 35/-CT-TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
4. Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ (2012), Quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, Thông tư số 46/2012/TT-BTC-TTCP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
Tác giả: Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ
Năm: 2012
6. Chính phủ (2011), Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thanh tra, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thanh tra
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
7. Chính phủ (2012), Quy định chi tiết một số điều Luật Khiếu nại, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết một số điều Luật Khiếu nại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
8. Chính phủ (2012), Quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Tố cáo, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Tố cáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
9. Chính phủ (2014), Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
11. Chính phủ (2014), Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
12. Chính phủ (2014), Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
13. C.Mác- Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 25, phần 2, Nxb Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác- Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị
Năm: 1993
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần VIII Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần VIII Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
25. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
26. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
27. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (2009), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 9, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san tuyên truyền pháp luật số 9
Tác giả: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ
Năm: 2009
29. Nguyễn Quang Huy, Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
30. Nguyễn Thế Thuấn (2012), Hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thế Thuấn
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp diện tích đất được cấp GCNQSD đất - Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)
Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích đất được cấp GCNQSD đất (Trang 53)
Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến  đất đai của tỉnh Gia Lai từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến năm 2011 - Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)
Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến đất đai của tỉnh Gia Lai từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến năm 2011 (Trang 56)
Bảng 2.4: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại và kết quả  giải quyết khiếu nại của tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2015 - Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)
Bảng 2.4 Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2015 (Trang 58)
Bảng 2.5: Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực  hành chính của UBND tỉnh Gia Lai tiếp nhận giai đoạn 2011-2015 - Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)
Bảng 2.5 Tổng hợp số liệu đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực hành chính của UBND tỉnh Gia Lai tiếp nhận giai đoạn 2011-2015 (Trang 58)
Bảng 2.7: Tổng hợp số liệu cán bộ, công chức, viên chức  của tỉnh Gia Lai có trình độ sau đại học tính đến ngày 30/6/2014 - Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)
Bảng 2.7 Tổng hợp số liệu cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh Gia Lai có trình độ sau đại học tính đến ngày 30/6/2014 (Trang 73)
Bảng 2. 8: Tổng hợp số liệu công chức kiêm nhiệm làm nhiệm vụ - Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ)
Bảng 2. 8: Tổng hợp số liệu công chức kiêm nhiệm làm nhiệm vụ (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm