MỞ ĐẦUCó thể nói biến đổi khí hậu đã và đang tác động rất mạnh mẽ đến con người, kinh tế xã hội, môi trường của Việt Nam, là khó khăn mà đất nước chúng ta phải vượt qua trong công cuộc x
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG 2
I.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2
I.1.1 Vị trí địa lý 2
I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 2
I.1.3 Đặc điểm địa chất 3
I.1.4 Đặc điểm khí hậu, chế độ thủy, hải văn tỉnh Sóc Trăng 3
I.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM 2006 – 2010 TỈNH SÓC TRĂNG 4
I.2.1 Tốc độ tăng trưởng – chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4
I.2.2 Về phát triển văn hóa – xã hội, thể thao và du lịch 6
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÃ HỘI VÀ ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ 8
II.1 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÃ HỘI 8
II.1.1 Tác động đến công tác xóa đói giảm nghèo, di dân 8
II.1.2 Tác động do mất các khu di tích lịch sử, văn hóa; các khu bảo tồn và các điểm du lịch 9
II.1.3 Ảnh hưởng đến vấn đề giáo dục 10
II.2 ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ 10
II.2.1 Hiệu quả về xã hội 10
II.2.2 Kế hoạch ứng phó 10
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Có thể nói biến đổi khí hậu đã và đang tác động rất mạnh mẽ đến con người, kinh tế xã hội, môi trường của Việt Nam, là khó khăn mà đất nước chúng ta phải vượt qua trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước Tại tỉnh Sóc Trăng, biến đổi khí hậu là một nguy cơ, rủi ro cần tính đến trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển
KT - XH, phát triển ngành và địa phương Hậu quả của BĐKH là thách thức nghiêm trọng đối với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, mục tiêu thiên nhiên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước
Điều này khiến hiện tượng di dân và thay đổi chổ ở mang tính cơ học gia tăng nếu không có biện pháp đối phó, đồng thời khó khăn trong quy hoạch sắp xếp lại dân
cư khắc phục hậu quả khu vực bị thiên tai và phòng tránh thiên tai Vì vậy, việc
“Đánh giá các tác động đến xã hội và đề xuất kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu tại tỉnh Sóc Trăng” là việc làm cấp thiết.
Trang 3CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH SÓC TRĂNG
I.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
I.1.1 Vị trí địa lý
Sóc Trăng là tỉnh ven biển nằm ở phía Nam cửa sông Hậu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Diện tích tự nhiên 3.311,76 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL Dân số trung bình năm 2009 là 1.293.165 người
Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thành phố Sóc Trăng và các huyện Châu Thành, Kế Sách, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Long Phú, Mỹ Xuyên, Ngã Năm, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Trần Đề, trong đó thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa xã hội của tỉnh
Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 4 tỉnh trong vùng ĐBSCL:
- Phía Tây – Bắc giáp tỉnh Hậu Giang
- Phía Đông – Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long qua sông Hậu
- Phía Tây – Nam giáp tỉnh Bạc Liêu
- Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 72 km
I.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Sóc Trăng có địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, địa hình bao gồm phần đất bằng xen kẽ những vùng trũng và các giồng cát Toàn bộ tỉnh Sóc Trăng nằm ở phía Nam của vùng cửa sông Hậu, cao độ biến thiên không lớn, chỉ từ 0,2 – 2m so với mực nước biển, vùng nội đồng có cao độ trung bình từ 0,5 – 1,0m Địa hình của tỉnh
có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong,
từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông, biển
Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:
- Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vào mùa mưa
- Vùng địa hình cao ven sông Hậu và ven biển, gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề, Long Phú, Cù Lao Dung, cao trình từ 1,2 – 2 m, giồng cát cao đến 2m
- Vùng địa hình trung bình: gồm có thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách Với địa hình thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch và kênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất là vào mùa khô
Địa hình vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng có sự phân bậc rõ rệt ở 3 mức độ sâu:
Trang 4- Độ sâu từ 0 – 10m nước: nhìn chung địa hình khá thoải và bằng phẳng Khu vực cửa sông có địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sông biển, có nhiều cồn và doi cát ngầm đan xen với các luồng lạch
- Độ sâu từ 10 – 20m nước: địa hình có dạng sườn dốc Địa hình khu vực cửa sông (phía Đông Bắc) dốc hơn phía Tây Nam Đây là giới hạn ngoài của khu vực lắng đọng trầm tích hiện đại và vì thế địa hình thường thay đổi theo thời gian
- Độ sâu 20 – 30m nước: địa hình khá thoải và rộng, có nhiều sóng cát, một số khu vực phân bố các cồn ngầm thoải
I.1.3 Đặc điểm địa chất
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng được hình thành bởi các loại trầm tích nằm trên nền đá gốc Mezoic xuất hiện từ độ sâu gần mặt đất ở phía Bắc đồng bằng cho đến độ sâu khoảng 1.000 m ở gần bờ biển Các dạng trầm tích có thể chia thành những tầng chính sau:
- Tầng Holocene: nằm trên mặt, thuộc loại trầm tích trẻ, bao gồm sét và cát Thành phần hạt từ mịn tới trung bình
- Tầng Pleistocene: có chứa cát sỏi lẫn sét, bùn với trầm tích biển
- Tầng Pliocene: có chứa sét lẫn cát hạt trung bình
- Tầng Miocene: có chứa sét và cát hạt trung bình
I.1.4 Đặc điểm khí hậu, chế độ thủy, hải văn tỉnh Sóc Trăng
I.1.4.1 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu tỉnh Sóc Trăng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 26,6°C (năm 2008) Nhiệt độ cao nhất
trong năm vào tháng 4 (28,2°C) và nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 (25,4°C)
- Nắng: Tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 – 150
kcal/cm2 Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2.292,7 giờ (khoảng 6,28 giờ/ngày), cao nhất thường vào tháng 3 là 282,3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141,5 giờ
- Mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.660 – 2.230 mm, chênh lệch lớn
theo mùa, mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa, mùa khô rất ít, có tháng không mưa
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình cả năm là 84% (cao nhất 89% vào mùa mưa, thấp
nhất 75% vào mùa khô)
- Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng
gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm hai mùa rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc là chủ yếu với tốc độ gió trung bình là 1,77m/s
- Các yếu tố khác: Tỉnh Sóc Trăng nằm trong khu vực rất ít gặp bão Theo tài
liệu về khí tượng thủy văn ghi nhận, trong 100 năm qua chỉ có 2 cơn bão đổ bộ vào Sóc Trăng (năm 1952, 1997) gây thiệt hại rất lớn
Trang 5Những năm gần đây, lốc thường xảy ra ở Sóc Trăng Lốc tuy nhỏ nhưng cũng gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
I.1.4.2 Đặc điểm chế độ thủy, hải văn
Sông rạch tỉnh Sóc Trăng đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, cao độ mực nước của hai đỉnh triều và hai chân triều không bằng nhau Đỉnh triều cao nhất là 160 cm (vào tháng 10, 11), thấp nhất là 123 cm (vào tháng
5, 8), chân triều cao nhất là -24 cm (tháng 11), thấp nhất là -103 cm (tháng 6), biên độ triều trung bình từ 194 – 220 cm
Nguồn nước trên hệ thống sông rạch tỉnh Sóc Trăng là kết quả của sự pha trộn giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nước thượng nguồn sông Hậu đổ về Dòng cửa sông Hậu khá mạnh vào mùa mưa, ảnh hưởng ra xa quá 4 hải lý, đây cũng là thời kỳ mùa lũ ở sông Hậu Dòng tổng hợp ven bờ khoảng 1m/s Dòng hải lý theo mùa và dòng chảy ven bờ lấn át dòng chảy sông tại vùng cửa Định An – dòng chảy theo hướng Tây – Nam là chủ yếu trong mùa khô và theo hướng Đông – Bắc trong mùa mưa
Do ảnh hưởng bởi dòng thủy triều và hải triều nên nước trên sông trong năm có thời gian bị nhiễm mặn vào mùa khô, vào mùa mưa nước sông được ngọt hóa, có thể
sử dụng cho tưới nông nghiệp Phần sông rạch giáp biển bị nhiễm mặn quanh năm, do
đó không thể phục vụ tưới cho nông nghiệp, nhưng bù lại nguồn nước mặn, lợ ở đây lại tạo thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản
I.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM 2006 – 2010 TỈNH SÓC TRĂNG
I.2.1 Tốc độ tăng trưởng – chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I.3.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Quy mô GDP (giá so sánh năm 1994)
+ Năm 2006 là 7.586 tỷ đồng (khu vực I là 4.456 tỷ đồng, khu vực II là 1.462 tỷ đồng và khu vực III là 1.668 tỷ đồng)
+ Ước thực hiện năm 2009 là 10.296 tỷ đồng (khu vực I là 5.283 tỷ đồng, khu vực II là 2.204 tỷ đồng và khu vực III là 2.808 tỷ đồng)
- Kế hoạch năm 2010 là 11.222 tỷ đồng (khu vực I là 5.450 tỷ đồng, khu vực II là 2.466 tỷ đồng và khu vực III là 3.305 tỷ đồng)
- Tốc độ tăng trưởng GDP (giá so sánh năm 1994): năm 2006 là 12,86%, ước thực hiện năm 2009 là 8,5% dự kiến năm 2010 là 9%
- GDP bình quân đầu người: Năm 2006 là 524 USD, ước thực hiện năm 2009 là
819 USD, kế hoạch năm 2010 là 880 USD (giá hiện hành)
Trang 6Bảng: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 – 2010
ST
T Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2010
Tốc độ phát triển bình quân 2006 – 2010(%) Tổng số Triệu đồng 6.722.522 11.222.883 110,79
Nguồn: Dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 tỉnh Sóc
Trăng, UBND tỉnh Sóc Trăng, năm 2009
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm (giai đoạn 2006 – 2010) là 10,79%, so với chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ là 13 – 14%, thấp hơn 3 – 4% Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 6,21%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,08% và khu vực dịch vụ tăng 18,53%
Nếu tính theo giá thực tế thì GDP bình quân đầu người tăng nhanh, từ 455 USD năm 2005 tăng lên 880 USD năm 2010 (Nghị quyết là 900 USD/người/năm, đạt 97,78% so với Nghị quyết) Đồng thời, nếu ước dân số theo sơ bộ điều tra 01/04/2009 thì GDP bình quân đầu người đạt 915 USD vào năm 2010, vượt so với Nghị quyết đầu nhiệm kỳ đề ra
I.3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ước thực hiện năm 2009, cơ cấu 3 khu kinh tế như sau: khu vực I chiếm 46,31%, khu vực II chiếm 20,51% và khu vực 3 chiếm 33,18%; kế hoạch năm 2010 cơ cấu kinh tế 3 khu vực tương ứng là 43,48% - 20,97% – 35,55% So với năm 2005 (với
tỷ lệ lần lượt của 3 vùng tương ứng là 57,70%, 19,76% và 22,54%) thì sau 5 năm, khu vực I giảm 14,22%, khu vực II tăng 1,21% và khu vực III tăng 13,01% Mục tiêu Nghị quyết cơ cấu GDP khu vực I, II, III tương ứng là 39 – 40%; 30 -31% và 29 – 30%, như vậy đến năm 2010 khả năng chuyển dịch cơ cấu khu vực I khó đạt chỉ tiêu đề ra
Bảng: Số liệu cơ cấu kinh tế 2005 - 2010
STT Chỉ tiêu ĐVT TH 2005 TH 2008 UTH 2009 KH 2010
% 100,00 100,00 100,00 100,00
Nguồn: Dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 tỉnh Sóc
Trăng, UBND tỉnh Sóc Trăng, năm 2009
- Khu vực I chiếm trên 50% cơ cấu kinh tế Giá trị sản xuất bình quân trên một
ha đất nông nghiệp năm 2005 là 34,3 triệu đồng/ha tăng lên 59 triệu đồng/ha vào năm
2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 11,46% (mục tiêu Nghị quyết giá trị sản xuất bình quân trên một ha đất nông nghiệp đạt 50 triệu đồng trở lên)
Trang 7- Khu vực II: giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17,41%; trong đó ngành công nghiệp địa phương tăng trưởng khá và đóng góp tích cực hơn trong cơ cấu kinh tế tỉnh (tăng trưởng bình quân 14,05%)
- Khu vực III: ổn định tăng trưởng bình quân trên 18,5% trong nền kinh tế tỉnh Đây là khu vực phát triển ổn định và tăng trưởng khá nhanh ở một số ngành như: thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, tài chính – tín dụng, giao thông, Mặt khác, trong giai đoạn này Nhà nước thực hiện chương trình cải cách tiền lương đối với cán
bộ, công chức, góp phần tăng thu nhập và tạo điều kiện cho một số ngành dịch vụ phát triển
I.2.2 Về phát triển văn hóa – xã hội, thể thao và du lịch
Giáo dục đào tạo của tỉnh đã có nhiều cố gắng và có bước phát triển đáng kể Ước thực hiện năm 2009, tỉ lệ huy động học sinh trong độ tuổi ở các cấp học đều tăng
so với năm 2008 (từ 0,1% - 6,45%); dự kiến đến năm 2010, huy động trẻ em đến nhà trẻ so với dân trong độ tuổi là 8%, (không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 10%), Mẫu giáo đạt 75% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 70% - 75%), tiểu học đạt 99,5% (chỉ tiêu Nghị quyết là 99%); THCS đạt 85% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết là 85% - 90%), THPT đạt 50% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 50% - 55%) Tỷ lệ tốt nghiệp cấp tiểu học và THCS hàng năm (2005 – 2009) đạt rất cao, từ 98% - 100%, dự kiến năm 2010 là từ 97% - 100%; xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia luôn được quan tâm, năm 2005 chỉ
có 2,33% trường đạt chuẩn, ước thực hiện năm 2009 đạt 12,33% và dự kiến năm 2010
là 15%, tốc độ tăng bình quân là 45,13%/năm Ngoài ra, các chế độ chính sách ưu đãi đối với giáo viên , học sinh vùng sâu, vùng dân tộc được giải quyết kịp thời, công tác kiểm tra, thanh tra luôn được tăng cường đã góp phần củng cố dưa quy chế của ngành
đi vào nề nếp
Công tác phòng bệnh được tập trung thực hiện tốt, đã khống chế được cơ bản các bệnh dịch nguy hiểm, không để xảy ra dịch bệnh lớn; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ngày càng giảm, từ 23,5% năm 2005 xuống còn 18% năm 2009, dự kiến năm 2010 xuống còn 17% (đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra là 17%) Ổn định giảm tỉ lệ sinh ở mức 0,3‰; tốc độ tăng dân số tự nhiên ước năm 2009 là 1,21% (giảm 0,04% so với năm 2008), dự kến đến năm 2010 tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1,18% ( không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 1,17%)
Mạng lưới y tế ngày càng được mở rộng và củng cố, nhất là mạng lưới y tế cơ
sở, ước đến năm 2009 có 88/106 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế (vượt chỉ tiêu nghị định
đề ra là 87 xã); 80/106 xã có bác sĩ; 106/106 xã có nữ hộ sinh trung học hoặc y sĩ sản nhi, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế
Về giải quyết việc làm và dạy nghề: hàng năm giải quyết việc làm mới cho trên
20.000 lao động, trong giai đoạn này xuất khẩu lao động bình quân khoảng 430 người, riêng năm 2009 ước thực hiện xuất khẩu lao động 300 người, dự kiến năm 2010 cũng xuất khẩu 300 lao động Bên cạnh đó, công tác dạy nghề luôn được quan tâm, lao động được học nghề mỗi năm đều tăng (năm 2006 dạy nghề cho 10.463 lao động, năm 2008 cho hơn 23.000 lao động và ước thực hiện năm 2009 là 23.000, dự kiến năm 2010 dạy nghề cho 24.500 lao động), góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 12,51% năm 2005 lên 23% năm 2009, dự kiến năm 2010 là 25% (trong đó đào tạo nghề năm
2005 là 10,15%, năm 2009 là 18,79% và dự kiến năm 2010 là 22%); tỷ lệ thất nghiệp
ở thành thị giảm đáng kể từ 6,18% năm 2005 xuống còn 4,2% năm 2009, dự kiến năm
Trang 82010 là 4%; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn tăng từ 81% năm 2005 lên 84% năm 2009, dự kiến năm 2010 lên 85%
Về công tác giảm nghèo, giai đoạn 2006 – 2009 đã giảm được 40.142 hộ nghèo,
dự kiến năm 2010 giảm thêm 8.000 hộ nghèo; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí 2005) từ 28,52% năm 2005 xuống còn 14,01% năm 2009 và năm 2010 còn 11,04%
Lĩnh vực văn hóa: Luôn quan tâm thực hiện các hoạt động tuyên truyền phục vụ
nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ kỷ niệm, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn - lao động, phòng chống cháy nổ, phòng chống ma túy Các hoạt động tuyên truyền, cổ động đã phát huy tốt vai trò động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển xã hội, ổn định chính trị; giáo dục thẩm mỹ, tuyên truyền lối sống lành mạnh, truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, tạo không khí vui tươi, phấn khởi nhằm làm mọi người hăng hái thi đua lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đẳng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XI
Ngành thể dục thể thao tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng Phong trào rèn luyện thể dục thể thao thu hút ngày càng nhiều, từ 170.000 người năm 2005 lên 240.000 người năm 2009, dự kiến năm 2010 là 251.000 người; còn số hộ gia đình thể thao từ hơn 4.600 hộ năm 2005 lên 5.800 hộ năm 2009 và đến năm 2010 dự kiến là 7.000 hộ tham gia thể thao Đối với thể thao thành tích cao, trong 5 năm qua ngành thể thao của tỉnh đã mang về cho địa phương khá nhiều huân chương các loại; vận động viên cấp cao và cấp kiện tướng ngày càng tăng, tù 48 vận động viên cấp cao và 19 kiện tướng năm 2005 tăng lên 68 vận động viên cấp cao và 45 cấp kiện tướng, dự kiến năm
2010 có 69 vận động viên cấp cao và 55 cấp kiện tướng
Lĩnh vực du lịch: Đến năm 2009, toàn tỉnh có 27 cơ sở lưu trú du lịch với trên
700 phòng (trong đó có 01 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 7 khách sạn 2 sao, 10 khách sạn 1 sao), tăng 14 khách sạn so với thời điểm năm 2005 Hiện nay tỉnh có 02 dự án khách sạn đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ để đưa vào triển khai thực hiện Sóc Trăng hiện nay có 03 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, trong đó có 01 doanh nghiệp
lữ hành quốc tế (Công ty cổ phần Thương mại Du lịch Sóc Trăng)
Năm 2009 thu hút khách tham quan du lịch ước đạt 595.000 lượt khách đến tham quan (tăng 1,24%so với năm 2008), trong đó khách quốc tế là 6.800 lượt (giảm 11,11%); dự kiến đến năm 2010 thu hút được 620.000 lượt khách, tăng bình quân hơn 8% so với giai đoạn 2001 – 2005, trong đó khách quốc tế là 7.800 lượt (tăng bình quân 6,54%/năm) Tổng số ngày lưu trú của khách năm 2009 ước đạt 77.800 lượt (tăng gần 2% so với năm 2008), trong đó lưu trú của khách quốc tế là 5.000 lượt (giảm 4,76%), Tổng doanh thu từ du lịch năm 2009 ước đạt 51,5 tỷ đồng (tăng 1,56% so với năm 2008); dự kiến năm 2010 đạt 60,7 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân là 10,33%/năm
Trang 9CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÃ HỘI VÀ ĐỀ XUẤT KẾ
HOẠCH ỨNG PHÓ
II.1 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÃ HỘI
II.1.1 Tác động đến công tác xóa đói giảm nghèo, di dân
Tác động BĐKH có thể làm cho nền kinh tế chậm phát triển, đời sống và chất lượng cuộc sống của con người giảm đi kéo theo là sự gia tăng dân số, đồng thời là sự mất cân đối về dân số sẽ xảy ra Mặt khác, khi nước biển dâng, triều cường dâng cao
sẽ làm thu hẹp diện tích khu dân cư sinh sống ven biển, ven sông trực tiếp đe dọa đến cuộc sống người dân, người dân phải di cư vào sâu trong nội địa, đô thị và giữa các vùng, làm mất nguồn sinh kế và xáo trộn cuộc sống người dân Gây ra hiện tượng quy hoạch đô thị bị phá vỡ, môi trường đô thị sẽ bị xấu đi do sự gia tăng cơ học về dân số
BĐKH, nước biển dâng làm suy giảm diện tích canh tác, thiếu lương thực, nơi
ở và nghèo kiệt tài nguyên thiên nhiên sẽ có chuyển dịch dòng di cư của nông dân nghèo vùng nông thôn, vùng trũng tại các huyện Ngã Năm, Long Phú, Mỹ Tú, Thạnh Trị; vùng ven biển như Cù Lao Dung, Vĩnh Châu, Trần Đề… bị tổn thương Đặc biệt, hiện nay khu vực nông thôn toàn tỉnh đang có 3.655 căn nhà làm trên cọc, trong đó huyện chiếm số lượng cao nhất là huyện Mỹ Tú 804 hộ, kế đến là huyện Thạnh Trị
678 hộ, huyện Mỹ Xuyên 505 hộ, huyện Vĩnh Châu 498 hộ, các căn nhà không kiên cố ngoài đê cũng đang chiếm số lượng lớn Điều này khiến hiện tượng di dân và đổi chỗ ở mang tính cơ học gia tăng nếu không có biện pháp đối phó, đồng thời khó khăn trong quy hoạch sắp xếp lại dân cư khắc phục hậu quả khu vực bị thiên tai và phòng tránh thiên tai
Hình: Tác động đến văn hóa xã hội từ việc di dân, nguồn: TS Lê Anh Tuấn,
Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
Tóm lại, BĐKH tác động rất lớn đến vấn đề xã hội của tỉnh Sóc Trăng Nếu các
Trang 10với BĐKH thì trong những năm tới mức độ ảnh hưởng đến xã hội sẽ cao hơn, về thu nhập bình quân đầu người giảm, tỷ lệ hộ nghèo tăng lên, tình trạng đói kém, thiếu lương thực sẽ thường xuyên, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh lây lan không thể kiểm soát được là những yếu tố kìm hãm sự phát triển của xã hội
II.1.2 Tác động do mất các khu di tích lịch sử, văn hóa; các khu bảo tồn và các điểm du lịch.
Sóc Trăng là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, bản sắc văn hoá đa dạng nơi hội tụ của 3 dòng văn hoá người Kinh, người Khmer và người Hoa Ngoài những nét đặc thù chung của ĐBSCL, Sóc Trăng còn có những đặc trưng riêng, có thể gọi vùng đất này là xứ sở của những ngôi chùa, của những lễ hội đậm đà bản sắc văn hóa
ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer
Toàn tỉnh có gần 400 chùa, đình, thánh thất, miếu mạo, nơi lưu giữ hàng trăm di vật, cổ vật có giá trị lâu đời, có khoảng 90 ngôi chùa Khmer, 47 chùa Hoa và trên 30 chùa Việt Trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Dơi, chùa Khleng, được
Bộ VHTT công nhận là Di tích lịch sử văn hóa; chùa Đất Sét, Đại Giác, chùa Long Hưng (chùa Một Cột), của người Việt, người Hoa
Dưới tác động của BĐKH và nước biển dâng sẽ làm tổn hại đến các công trình
di tính lịch sử, đặc biệt là các ngôi chùa đã được bảo tồn, bảo dưỡng từ lâu đời Thời tiết khắc nghiệt, nhiệt độ cao, bão lũ xảy ra kèm theo gió lốc làm tổn hại đến các công trình kiến trúc của những ngôi chùa, đổ ngã và dễ bị hư hỏng nặng tại khu vực ven biển Theo kịch bản BĐKH tỉnh, tại vùng trũng thấp, mực nước dâng cao khi triều lên
sẽ gây ngập đa số các ngôi chùa tại khu vực, tùy thuộc vào thời gian ngập dài hay ngắn
và có thể gây thiệt hại hoàn toàn, diện tích bị thu hẹp hoặc mất đi nét độc đáo của những ngôi chùa cổ kính lưu giữ từ ngàn xưa… Đồng thời, làm gia tăng chi phí cho việc cải tạo, di chuyển và bảo dưỡng khó có thể trở lại vẻ nguyên vẹn ban đầu
Không chỉ nổi tiếng với những ngôi chùa, Sóc Trăng còn có nhiều lễ hội truyền thống 3 dân tộc Kinh - Hoa - Khmer, chỉ riêng người Khmer có đến hàng chục lễ hội hàng năm Lớn nhất là tết Cốl Chnam Thmay (giữa tháng 4 dương lịch hàng năm), lễ Dolta (tháng 7 âm lịch), lễ hội Oc Om Boc - đua ghe Ngo (rằm tháng 10 âm lịch), v.v Nền văn hóa vốn kết tinh từ vùng sông nước này rất nhạy cảm với BĐKH Khí hậu cực đoan, gió lốc, nắng mưa thất thường, ngập lũ diện rộng… sẽ cản trở việc hội tụ của ba dòng văn hóa với nhau, nước ngập ảnh hưởng đến sức khỏe con người (đặc biệt
là những vùng sâu, ven biển, cù lao) bị cô lập hạn chế việc tham gia các lễ hội truyền thống như đua ghe Ngo của dân tộc Khmer, giảm dần không khí náo nhiệt, sôi nổi vốn
có
Là lợi thế nằm cuối nguồn sông Hậu, tỉnh Sóc Trăng còn được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh đẹp là những cù lao (cồn) lớn nhỏ trên sông như: Cồn
Mỹ Phước, Cồn Phong Nẫm, Cù Lao Dung Ngoài ra, còn có sự ưu đãi này của thiên nhiên có hàng ngàn ha rừng ngập mặn ven biển, khu du lịch sinh thái, vườn cò… như khu du lịch sinh thái Hồ Bể (ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu); Vườn cò Tân Long – Thạnh Trị cũng là nơi dễ bị ảnh hưởng bởi triều cường, nước biển dâng, bão lũ sẽ gây cô lập bởi các ốc đảo, làm giảm số lượng cũng như độ đa dạng của một
số loài thủy sản, rừng mặn hiện có bị thu hẹp