1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO sự kết hợp các mặt đối lập TRONG TIẾN TRÌNH xây DỰNG KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ hội CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

82 457 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 131,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn) có vị trí là hạt nhân, là nội dung quan trọng nhất, vì nó nói lên nguồn gốc và động lực của mọi sự vận động, phát triển. Nắm vững nội dung quy luật mâu thuẫn, đặc biệt là nắm vững các nguyên tắc biện chứng của việc giải quyết mâu thuẫn là cơ sở quan trọng nhất cho chúng ta xây dựng các phương pháp thực tiễn đúng đắn và hiệu quả.

Trang 1

“Sự kết hợp các mặt đối lập trong tiến trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”

Trong phép biện chứng duy vật, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn) có vị trí là hạt nhân, là nội dung quan trọngnhất, vì nó nói lên nguồn gốc và động lực của mọi sự vận động, phát triển Nắmvững nội dung quy luật mâu thuẫn, đặc biệt là nắm vững các nguyên tắc biệnchứng của việc giải quyết mâu thuẫn là cơ sở quan trọng nhất cho chúng ta xâydựng các phương pháp thực tiễn đúng đắn và hiệu quả

Cuộc sống tiến lên thông qua những mâu thuẫn và những mâu thuẫn của bảnthân cuộc sống thì phong phú hơn rất nhiều so với cái mà trí tuệ con người cảmthấy Trong công cuộc xây dựng và phát triển toàn diện nước ta hiện nay, nhữngmâu thuẫn hiện thực lại càng trở nên đa dạng và phong phú Có những mâu thuẫntất yếu của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có những mâu thuẫn trongchặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, có những mâu thuẫn của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, có những mâu thuẫn do sự biến đổi phức tạp,nhanh chóng của thời đại, của quan hệ quốc tế, của khu vực… Sự vận động tiếnlên của đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung, trong lĩnhvực kinh tế nói riêng diễn ra với tốc độ như thế nào là tuỳ thuộc vào khả năngchúng ta phát hiện và giải quyết một cách kịp thời tất cả những mâu thuẫn đó.Bấy lâu nay, khi đề cập đến mâu thuẫn xã hội và phương pháp giải quyết mâuthuẫn xã hội người ta hay nhấn mạnh đấu tranh giữa các mặt đối lập mà thường ítbàn về sự thống nhất của chúng Điều đó cũng từng dẫn đến sự ngộ nhận rằng,trong quan hệ giữa các mặt đối lập chỉ có đấu tranh mà ít hoặc thiếu sự thống nhất,hoặc dẫn đến việc giải quyết mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn có lúc duy ýchí, chủ quan và hậu quả là mâu thuẫn không được giải quyết trên thực tế, đã gây

ra tình trạng trì trệ và khủng hoảng nghiêm trọng cho nền kinh tế Khi xem xét yếu

tố thống nhất các mặt đối lập đòi hỏi chủ thể - con người cần phải biết khai thácnhững điểm chung, tương đồng giữa các mặt để từ đó vận dụng thực hiện việc kết

Trang 2

hợp các mặt đối lập một cách biện chứng nhằm thúc đẩy sự phát triển Có thể nói,vận dụng sự kết hợp các mặt đối lập là một trong những cách thức tự giác để chủthể thúc đẩy tiến trình giải quyết mâu thuẫn khách quan Trong hiện thực xã hội, ởcác mâu thuẫn, bên cạnh sự trái ngược nhau về tính chất hay xu hướng, giữa cácmặt đối lập còn có những nét tương đồng, phù hợp nhau, cân nhau, thuộc về cùngmột bản chất Đó chính là cơ sở khách quan của lý luận và phương pháp kết hợpcác mặt đối lập trong thực tiễn của chủ thể nhằm giải quyết một cách có hiệu quảcác mâu thuẫn xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội Dĩ nhiên, không thể tiến hành kếthợp các mặt đối lập một cách tùy tiện, vô nguyên tắc mà phải căn cứ vào tính chất,

xu hướng khách quan của chúng, căn cứ vào yêu cầu thực tiễn và mục tiêu thựctiễn của chủ thể Sự kết hợp đó phải luôn tuân theo nguyên tắc tôn trọng tính kháchquan của mâu thuẫn, sự kết hợp nhằm để đưa cuộc đấu tranh của các mặt đối lậptới một hình thức khác, tạo điều kiện cho mâu thuẫn được giải quyết tốt hơn, có lợicho chủ thể Tránh nhận thức sai lầm coi đây là hành động hoà tan hai mặt đối lập,

là thủ tiêu đấu tranh, thủ tiêu mâu thuẫn chứ không phải là giải quyết mâu thuẫn.Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng ởnước ta hiện nay, tồn tại nhiều mâu thuẫn với tính chất, mức độ phức tạp khácnhau, đang diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnh vựckinh tế Việc tìm ra mâu thuẫn và phương thức giải quyết chúng phù hợp với từnggiai đoạn cụ thể đang là vấn đề cấp bách Đảng và Nhà nước ta đã vận dụngphương pháp kết hợp các mặt đối lập vào giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong

cơ chế thị trường đang vận hành hiện nay và mang lại nhiều tiến bộ đáng kể trênmọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp xây dựng và vận hành một cơ chế kinh tếngày càng hợp lý, đồng bộ Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng việc kết hợp các mặtđối lập trong nền kinh tế nước ta hiện nay, cũng tiềm ẩn những nguy cơ không thểxem thường, thận trọng quá mức, thiếu tỉnh táo sẽ bỏ lỡ thời cơ nhưng thiếu chủđộng, kết hợp một cách vô nguyên tắc cũng sẽ dẫn đến những sai lầm đáng tiếc

Vì vậy vấn đề “Sự kết hợp các mặt đối lập trong tiến trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, có ý nghĩa lí luận

và thực tiễn cao

Trang 3

Đã có rất nhiều công trình tiếp cận và nghiên cứu trên nhiều phương diện,khía cạnh và ở nhiều mức độ khác nhau về quy luật mâu thuẫn nói chung và sự kếthợp các mặt đối lập trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội nói riêng.

Trong cuốn sách Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyếttrên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giảPhạm Ngọc Quang, đã làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về vai trò của mâu thuẫn đối với sự phát triển nói chung và sự pháttriển của xã hội nói riêng, từ đó đề xuất hình thức và một số giải pháp giải quyếtcác mâu thuẫn cơ bản ở Việt Nam phù hợp với xu thế của thời đại và thực tế pháttriển đất nước theo định hướng XHCN

Trong sách Thử vận dụng lí luận về mâu thuẫn vào thời kỳ quá độ ở nước ta,tác giả Phạm Ngọc Quang đã trình bày mâu thuẫn xã hội với tư cách là một phạmtrù cơ bản của phép biện chứng duy vật, xác định mâu thuẫn cơ bản và phân tích vềmặt phương pháp luận các mâu thuẫn kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam Từ đó, đề xuất những biện pháp tổ chức giải quyết những mâuthuẫn đó trên thực tế

Trong cuốn sách Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam (Vũ Hồng Tiến chủ biên), tập thể tác giả đã tập trung làm

rõ những quan điểm đó là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, trên cơ sở đa dạng hóa hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế, thựchiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, giải quyết tốt mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế với phát triển dân số, môi trường, xóa đói giảm nghèo,đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội

Với cuốn sách Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giảNguyễn Cúc, đã đề cập đến những vấn đề mới trong quá trình chuyển sang nềnkinh tế thị trường ở nước ta như xu hướng phát triển, các nhân tố định hướng, cácgiải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước vàphát huy tiềm năng con người

Bên cạnh những công trình chủ yếu trên, vấn đề mâu thuẫn cũng được bànnhiều trong các luận án, luận văn như Về phương pháp kết hợp các mặt đối lập đểgiải quyết mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ (2008) của Trần Nguyên Kí, Lí

Trang 4

luận mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930

-1945 (2008) của Trần Thị Hiền, Vấn đề giải quyết mâu thuẫn trong cách mạngMiền Nam giai đoạn 1954 - 1975 (2008) của Nguyễn Thị Kim Oanh, Tư duy biệnchứng mác xít với tiến trình đổi mới nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vềcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội (2006) của Nguyễn Công An, Quy luật mâuthuẫn và vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trên con đường tiến lên xã hộichủ nghĩa (2006) của Nguyễn Hồng Thanh v.v

Ngoài các công trình đã bàn luận trên một cách tương đối có hệ thống, vấn đềgiải quyết mâu thuẫn, nhất là vấn đề kết hợp các mặt đối lập cũng được bàn luậntrong nhiều bài viết đăng trên tạp chí Triết học như bài "Lí luận của Lênin về sựkết hợp các mặt đối lập và cách mạng Việt Nam hiện nay" (số 3, 1987) của PhạmNgọc Quang, bài "Mấy suy nghĩ về vấn đề giải quyết mâu thuẫn" (số 2, 1996) củaNguyễn Tấn Hùng, bài "Kết hợp các mặt đối lập trong giải quyết mâu thuẫn xãhội" (số1, 2004) của Trần Thành v.v

đã khẳng định "Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cảmọi sự sống" [35, tr.47] Đứng trên lập trường duy vật, kế thừa một cách có phêphán tất cả những thành tựu có giá trị trong toàn bộ lịch sử triết học, dựa trênnhững thành tựu có tính chất vạch thời đại của khoa học hiện đại và thực tiễn lúcbấy giờ, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn trên cơ sở

Trang 5

quan điểm duy vật biện chứng, khoa học và sau này Lênin coi học thuyết đó là hạtnhân của phép biện chứng.

Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến và là nguồn gốc của mọi sự vận động vàphát triển Do đó, việc phát hiện mâu thuẫn, chấp nhận mâu thuẫn và lựa chọnphương thức giải quyết nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp chủ thể thựchiện được mục đích đề ra và tạo điều kiện cho những bước phát triển tiếp theo của

sự vật, hiện tượng hàm chứa mâu thuẫn; ngược lại nếu sử dụng cách thức khôngphù hợp thì chẳng những không giải quyết được mâu thuẫn mà thậm chí còn làmcho mâu thuẫn trở nên gay gắt hơn, vượt khỏi tầm kiểm soát của chủ thể sẽ để lạihậu quả vô cùng nghiêm trọng

Năm 1847 đánh dấu sự trưởng thành về tư tưởng của C.Mác với tác phẩm Sựkhốn cùng của triết học Trong tác phẩm này, ông đã nêu ra tư tưởng về sự cầnthiết phải kết hợp các mặt đối lập trong thực tiễn xã hội khi cho rằng, Pruđôngchưa thấy được mâu thuẫn của chế độ tư hữu, tốt và xấu, thiện và ác, chưa thấyđược sự thống nhất vốn có của các mặt đối lập này nhằm tái hiện sự thống nhất củachúng trong nhận thức và hành động thực tiễn Vì vậy, phương pháp của Pruđông

là đem đối lập, tách rời chúng và cuối cùng là giải pháp của ông mang tính chấtsiêu hình: hiện thực là thủ tiêu mặt xấu giữ lại mặt tốt Theo C.Mác, điều đó khôngphải là giải quyết mâu thuẫn mà là thủ tiêu mâu thuẫn Đề xuất việc kết hợp cácmặt đối lập, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Mác và Ăngghen cũng chorằng, người cộng sản cần có thái độ sẳn sàng hợp tác với các đảng phái đối lập vìlợi ích của phong trào công nhân

Phê phán quan điểm duy tâm khách quan của Hêghen bàn về các mặt đối lậpcủa mâu thuẫn biện chứng, C.Mác đã khẳng định sự tồn tại của hai loại đối lập,trên cơ sở đó phân loại thành hai mâu thuẫn cơ bản tồn tại trong hiện thực đó làmâu thuẫn của tồn tại và mâu thuẫn của bản chất Tương ứng với hai loại mâuthuẫn cơ bản đó là hai cách giải quyết hợp lý, đem lại hiệu quả cao nhất TheoMác, mặt đối lập biện chứng phải là những mặt (bộ phận, yếu tố, thuộc tính,khuynh hướng ) khác biệt trong cùng một bản chất xác định của sự vật, hiệntượng, quá trình của thế giới khách quan Những mặt này, vừa có đặc điểm chunggiống nhau lại vừa có đặc điểm riêng biệt và vì thế, giữa chúng vừa có mối liên hệ

Trang 6

ràng buộc, quy định lẫn nhau vừa có sự bài trừ, phủ định nhau Hai mặt đối lậpbiện chứng trong cùng một bản chất xác định của sự vật, hiện tượng và quá trìnhliên hệ với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng; các mặt đối lập biện chứng trongnhững điều kiện nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau.

Mác phân chia làm hai loại đối lập: đối lập của sự tồn tại bao gồm những mặt(bộ phận, yếu tố, thuộc tính ) có cùng một bản chất; chẳng hạn, cực Bắc và cựcNam của thanh nam châm, nam giới và nữ giới của loài người Theo ông, "cực Bắc

và cực Nam cũng đều là những cực; bản chất chúng là đồng nhất cũng vậy, namgiới và nữ giới tạo thành cùng một loài, cùng một bản chất - bản chất con người"[26, tr.26] Với quan niệm đó C.Mác đi đến khẳng định: "mặt đối lập là những quyđịnh đối lập của cùng một bản chất, là những khác biệt của cùng một bản chất ởmức độ phát triển cao nhất của nó chúng là bản chất được phân hóa ra" [26, tr.26]

Từ đấy, ông khẳng định: tương tác của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực chomọi sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Còn đối lập của bản chất đó

là hai mặt đối lập có bản chất khác nhau nhưng cùng tồn tại trong một chỉnh thể sựvật, hiện tượng

Mác cũng đưa ra cách giải quyết thích hợp cho hai loại đối lập trên, nếu là đốilập của tồn tại thì cách giải quyết duy nhất là kết hợp các mặt đối lập với nhau Bởi

vì, các mặt đối lập trong mâu thuẫn của tồn tại về thực chất là cùng một bản chấtnhư nhau, tồn tại không tách rời nhau, luôn luôn phải nương tựa vào nhau, nếuthiếu mặt này thì mặt kia cũng sẽ không thể tồn tại và hệ quả tất yếu là quá trìnhphát triển của sự vật, hiện tượng hàm chứa mâu thuẫn sẽ không thể diễn ra bìnhthường, thậm chí là sự vật sẽ bị diệt vong

Khi sử dụng phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫnbiện chứng, chúng ta cần xem xét đến hai cấp độ khác nhau: Thứ nhất, sự kết hợpcác mặt đối lập diễn ra một cách khách quan tự nó; Thứ hai, sự kết hợp các mặt đốilập diễn ra một cách có ý thức, theo chủ đích của con người

Chúng ta thấy rằng, sự kết hợp các mặt đối lập theo nghĩa chung nhất phảiđược hiểu là bao gồm cả sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, không cóthống nhất thì không có đấu tranh và thống nhất là tiền đề của đấu tranh Mặt khác,cần hiểu rằng đấu tranh là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập cấu thành mâu thuẫn,

Trang 7

chứ không phải dùng một lực lượng nào đó bên ngoài để triệt tiêu đi một mặt đốilập thì đó không phải là đấu tranh giữa các mặt đối lập theo đúng nghĩa của nó.C.Mác khẳng định rằng, cái cấu thành bản chất của sự vận động biện chứng chính

là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh của hai mặt ấy là sựdung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới Ông còn nhận xét: "chỉ với việc

tự đề ra cho mình vấn đề loại bỏ mặt xấu, người ta cũng đã chặn đứng sự vận độngbiện chứng rồi" [35, tr.48]

Như vậy, trong mâu thuẫn biện chứng có lúc tự bản thân nó đã thiết lập một

sự kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn đang tồn tại mà không cần đến

sự can thiệp của chủ thể Đó chính là quá trình kết hợp các mặt đối lập mang tínhkhách quan, tự nó Quá trình này diễn ra phổ biến trong tự nhiên, chẳng hạn nhưđồng hóa và dị hóa, di truyền và biến dị là những mặt đối lập tạo nên những mâuthuẫn vốn có trong bản thân sinh vật, sự kết hợp những mặt đối lập này là yếu tốđảm bảo cho sự sống diễn ra bình thường

Đồng hóa và dị hóa là hai quá trình có xu hướng trái ngược nhau, là nhữngmặt đối lập của nhau nhưng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất - cơ thể sống.Nếu đồng hóa là quá trình nạp và bổ sung những chất thiết yếu nuôi cơ thể thì dịhóa là quá trình đào thải những chất đó sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ ra khỏi cơthể, ra môi trường bên ngoài Trong cơ thể sống, nếu không có quá trình đồng hóathì quá trình dị hóa cũng không thể diễn ra và ngược lại Mỗi khi mà một trong haiquá trình ấy diễn ra không bình thường thì ngay lập tức tác động xấu đến sự pháttriển của sinh vật Vì vậy, để cơ thể sinh vật phát triển bình thường đòi hỏi hai quátrình này phải luôn luôn kết hợp nhịp nhàng với nhau, luôn bổ sung, nương tựa vàonhau để cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Hay như hiện tượng di truyền vàbiến dị, xảy ra trong quá trình tiến hóa của các sinh vật trong tự nhiên Đây là hiệntượng phổ biến và cũng chính là một ví dụ điển hình về sự tồn tại không thể táchrời nhau của các mặt đối lập trong cùng một mâu thuẫn Trong quá trình tiến hóacủa các loài sinh vật, những cá thể thuộc thế hệ sau bao giờ cũng có sự kế thừanhững đặc điểm cơ bản của những cá thể cùng loài thuộc thế hệ trước, đó chính làhiện tượng di truyền ở các loài sinh vật Nhưng cũng chính trong quá trình tiến hóa

ấy lại xảy ra hiện tượng ngược lại, đó là các cá thể cùng loài thuộc thế hệ sau,

Trang 8

không phải bao giờ cũng sao chép nguyên bản thế hệ trước mà xuất hiện đột biến ởmột vài đặc điểm cơ bản nào đó hoặc thậm chí là khác biệt hoàn toàn với thế hệ tổtiên của nó, người ta gọi hiện tượng này là biến dị Biến dị là hiện tượng xảy ra chủyếu do sự biến đổi tự thân của các loài sinh vật để thích nghi tốt hơn trước sự thayđổi của môi trường Ngoài ra, ở các sinh vật sống còn xảy ra hiện tượng đột biếngen, hiện tượng này không phải là do sự điều chỉnh để thích nghi mà là do sự độtbiến ngẫu nhiên nào đó ở các loài sinh vật, song đây chỉ là hiện tượng xảy ra khôngphổ biến ở các loài sinh vật Nếu hiện tượng di truyền đảm bảo cho các thế hệ cùngloài có những đặc điểm cơ bản giống nhau, dù quá trình tiến hóa đó diễn ra như thếnào chúng ta vẫn xác định được tên (gắn liền với đặc trưng cơ bản) của loài sinhvật ấy như buổi đầu nó xuất hiện, thì biến dị lại làm cho các thế hệ cùng loài có sựkhác nhau và nếu không tìm tòi, nhiên cứu kỹ chúng ta sẽ rất khó xác định đượcchính xác tổ tiên của các thế hệ sinh vật đó là thuộc loại nào Hai mặt đối lập nhau,nhưng lại không tách rời nhau trong quá trình sinh tồn của một loài, di truyền vàbiến dị luôn đồng hành cùng nhau trong quá trình tiến hóa của các loài sự vật Dùtrải qua nhiều biến đổi song vẫn đảm bảo cho loài đó dù ít hay nhiều cũng có kếthừa đặc điểm của thế hệ trước, đồng thời tạo cho nó một khả năng thích nghi tốthơn trước sự biến đổi thường xuyên của môi trường

Trong xã hội, sự kết hợp các mặt đối lập được chủ thể tức con người nhậnthức và thực hiện để giải quyết các mâu thuẫn biện chứng của hiện thực lịch sử Sựkết hợp các mặt đối lập ở đây được coi là hành động tự giác, tích cực của chủ thểxuất phát từ nhu cầu và nhằm theo đuổi các lợi ích của mình Dựa trên cơ sở kháchquan của mâu thuẫn xã hội đó là các mặt đối lập trái ngược nhau nhưng về cơ bảnlại có những điểm chung, tương đồng Đồng thời, mặc dù có biểu hiện trái ngượcnhưng các mặt đối lập ấy lại tồn tại trong một chỉnh thể của sự vật, hiện tượng chonên chúng có cùng một bản chất, chúng mang bản chất của sự vật, hiện tượng chứađựng chúng Chính điều đó cho phép con người với tư cách là chủ thể nhận thức vàthực hiện kết hợp những mặt đối lập nhất định vào giải quyết những mâu thuẫn xãhội cụ thể Dĩ nhiên, sẽ thật sự sai lầm khi cứ đơn giản nghĩ rằng có thể kết hợp bất

kỳ mặt đối lập nào trong bất kỳ điều kiện nào, trái lại việc kết hợp các mặt đối lậpphải được xem là hoạt động của con người trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã

Trang 9

hội cụ thể, phải tiến hành một cách tự giác, có chọn lọc, đáp ứng được nhu cầu, lợiích của chủ thể Hơn nữa, kết hợp phải luôn tôn trọng tính khách quan của mâuthuẫn, có nghĩa là sự kết hợp đó phải nhằm để đưa cuộc đấu tranh của các mặt đốilập tới các hình thức khác nhau, tạo điều kiện cho mâu thuẫn được giải quyết tốthơn, có hiệu quả hơn cho việc đạt được mục đích của chủ thể Đặc biệt, cần tránhthái độ và hành động hòa tan các mặt đối lập, vì nếu làm thế có nghĩa là chúng tađang thủ tiêu đấu tranh, thủ tiêu mâu thuẫn chứ không phải là giải quyết mâuthuẫn Như vậy, việc kết hợp các mặt đối lập cho việc giải quyết mâu thuẫn hoàntoàn khác với hành động có tính chất triết trung, cũng như khác hoàn toàn với việckết hợp có tính cải lương, vô nguyên tắc các mặt đối lập

Mâu thuẫn của tồn tại biểu hiện phong phú và đa dạng trong đời sống xã hội

và với chúng, chủ thể có thể dùng cách kết hợp các mặt đối lập để triển khai và giảiquyết nhằm thúc đẩy sự phát triển Trong lịch sử đã có nhiều bài học rút ra từ việc

sử dụng phương pháp giải quyết mâu thuẫn loại này, nếu lựa chọn phương phápgiải quyết phù hợp sẽ thành công và ngược lại sẽ gánh hậu quả khôn lường Thấtbại của Công xã Pari (1871) là một bài học xương máu đối với những người cáchmạng trong việc lựa chọn phương pháp giải quyết mâu thuẫn Công xã Pari là mộttrong những sự kiện nổi bật của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thế kỷXIX Khi phong trào mới nổ ra, quần chúng cách mạng đã thu được một số thắnglợi, nhưng sau đó bọn phản cách mạng lại quay lại phản công và cuối cùng lựclượng cách mạng không chống đỡ nổi, toàn bộ thành quả cách mạng bị mất, phongtrào bị dìm trong biển máu Sự thất bại của Công xã Pari có nhiều nguyên nhânnhưng trong đó phải kể đến nguyên nhân chủ quan vô cùng quan trọng đó là donhững người lãnh đạo phong trào đã không xây dựng được khối liên minh côngnông Công nhân đại diện cho chế độ công hữu, còn nông dân lại gắn liền với chế

độ tư hữu, nhưng trong chế độ tư bản chủ nghĩa thì họ đều là những người laođộng làm thuê, đều bị bóc lột, bị áp bức như nhau Do đó, họ có chung một kẻ thù

đó là giai cấp tư sản, nên trong điều kiện lịch sử cụ thể này, họ là hai mặt đối lậpcùng bản chất Do không biết kết hợp sức mạnh của hai giai cấp thống khổ nhất đó,

do phạm vi của phong trào tương đối hẹp (chỉ tập trung ở Pari và một số vùng lậncận) lực lượng ít, không đủ mạnh nên Công xã Pari đã thất bại Lịch sử ghi lại

Trang 10

rằng, khi công nhân Pari tiến hành đấu tranh rầm rộ trong các nhà máy, xí nghiệp,trên đường phố thì cách đó không xa những người nông dân vẫn thản nhiên làmviệc trên các cánh đồng, hoặc những nơi gần trung tâm phong trào, nông dân hầunhư không biết chuyện gì xảy ra Giữa công nhân và nông dân không hề có sự liên

hệ nào trong suốt quá trình diễn ra phong trào, vì vậy công nhân Pari phải đơn độcchiến đấu với kẻ thù mạnh hơn họ gấp nhiều lần mà không có những người bạnđồng minh đáng tin cậy đó là nông dân Theo Mác, thất bại của Công xã Pari là tấtyếu Từ Công xã Pari, Mác rút ra bài học là để cách mạng thành công là cần phảithiết lập được khối liên minh công nông vững chắc, làm nồng cốt để liên hiệp vớicác giai cấp và giai tầng khác trong xã hội tạo ra một sức mạnh to lớn, đủ sức chiếnđấu và chiến thắng kẻ thù

Quan điểm này của Mác, sau này được Lênin vận dụng có hiệu quả đã làmnên Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công rực rỡ, trở thành một trongnhững sự kiện vĩ đại nhất thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới cho xã hội loài người.Chính sự tài tình của Lênin và Đảng Bônsêvích Nga trong việc xây dựng và củng

cố khối liên minh công nông vững chắc, đã thu hút các lực lượng khác vào Mặttrận cách mạng, tăng cường sức mạnh cho lực lượng cách mạng, đủ sức lật đổ sựthống trị của chuyên chế Nga hoàng, bọn tư sản cá mập và bọn Cu lắc (địa chủ ởnông thôn), đem lại quyền làm chủ hoàn toàn cho người lao động Trong xã hộinước Nga tư bản lúc bấy giờ, công nhân và nông dân là hai giai cấp gắn liền vớihai chế độ sở hữu khác nhau thậm chí đối lập nhưng họ lại cùng chung số phận làgiai cấp bị thống trị, bị áp bức, bị bóc lột Vì vậy, họ có chung một kẻ thù là bọnphong kiến, tư sản Do đó, họ đoàn kết chặt chẽ với nhau để cùng đánh thắng kẻthù Lênin cũng nhận thấy "nông dân với tư cách là người lao động = bạn đồngminh; với tư cách là người tư hữu và đầu cơ = kẻ thù" [35, tr.49], từ đấy ông đãcùng những người cộng sản Nga giác ngộ họ, đưa họ vào khối liên minh công nông

và lấy liên minh này làm nồng cốt của cách mạng Thắng lợi của Cách mạng thángMười Nga đã chứng minh quan điểm đúng đắn của phép biện chứng mácxít vềphương thức kết hợp các mặt đối lập trong việc giải quyết mâu thuẫn của tồn tại.Như vậy, mâu thuẫn của tồn tại diễn ra phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tưduy con người và việc giải quyết mâu thuẫn loại này cũng là việc làm thường

Trang 11

xuyên, cần thiết nhằm thúc đẩy sự vận động, phát triển của sự vật nhưng khônglàm cho mâu thuẫn mất đi Giải quyết mâu thuẫn thuộc loại này trong phần lớntrường hợp, không phải là loại bỏ mâu thuẫn mà là tìm kiếm con đường và phươngpháp kết hợp các mặt đối lập với nhau trong cùng một bản chất, sao cho có thể tạođiều kiện thuận lợi để mâu thuẫn trở thành động lực thực sự của sự phát triển Đối với mâu thuẫn của bản chất đây là mâu thuẫn mà các mặt đối lập có bảnchất khác nhau nhưng tồn tại trong một chỉnh thể Một trong hai mặt đối lập luôntìm cách phủ định, bài trừ mặt kia để vươn lên trở thành bản chất đối lập Mác chorằng, phương thức duy nhất để giải quyết hiệu quả mâu thuẫn loại này là thủ tiêumột trong hai mặt đối lập, chỉ khi một trong hai mặt đối lập kia mất đi thì mâuthuẫn mới thực sự được giải quyết Loại mâu thuẫn này xuất hiện chủ yếu tronglĩnh vực xã hội, có thể nói đây là loại mâu thuẫn mà quá trình hình thành, tồn tại vàgiải quyết nó được thực hiện trong hoạt động của con người Chính hoạt động củacon người đẩy nhanh sự chín muồi hoặc làm chậm quá trình phát triển của mâuthuẫn Việc kết hợp các mặt đối lập trong hiện thực xã hội, đòi hỏi chủ thể phải thểhiện được tính định hướng rõ ràng trong hành động, kết hợp làm sao cho mặt đốilập đại diện cho cái tích cực, cái tiến bộ sẽ dần chiến thắng mặt đối lập kia đại diệncho cái tiêu cực, lạc hậu.

Mâu thuẫn của bản chất biểu hiện tập trung trong mâu thuẫn giai cấp của xãhội như mâu thuẫn giữa giai cấp nô lệ và chủ nô, nông dân và địa chủ, vô sản và tưsản Điều cần chú ý đối với mâu thuẫn loại này là, phải xác định được giai đoạntồn tại của mâu thuẫn để đưa ra cách giải quyết hợp lý, đem lại hiệu quả trong thựctiễn Chủ thể bằng ý thức của mình tìm ra những phương thức giải quyết ở từnggiai đoạn cụ thể của mâu thuẫn, có như vậy mới tạo ra động lực cho sự phát triểncủa xã hội

Thường thì, trong giai đoạn đang triển khai và phát triển, việc giải quyếtmâu thuẫn không phải là sự thủ tiêu đối lập, mà phải nâng sự đối lập lên trình độhay nấc thang cao hơn Để giải quyết mâu thuẫn ở giai đoạn này, phương thức kếthợp các mặt đối lập được coi là phương pháp tối ưu và hiệu quả nhất Phân tíchquá trình giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,tồn tại những mâu thuẫn của xã hội quá độ được tạo nên bởi hai mặt đối lập có sự

Trang 12

khác nhau về bản chất Ở mâu thuẫn này, mặt đối lập thứ nhất thường hướng vềchủ nghĩa xã hội và mặt đối lập thứ hai thường hướng về chủ nghĩa tư bản Việcgiải quyết mâu thuẫn cần phải được tiến hành trên những lĩnh vực khác nhau nhưkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong lĩnh vực kinh tế của thời kì quá độ, tồntại nhiều yếu tố thuộc về các phương thức sản xuất khác nhau, "trong đó cái mớikhông thể tức khắc mọc ngay lên được còn cái cũ cũng không thể tiêu tan đi trongchốc lát" [27, tr.27] Lênin cho rằng, trong trạng thái kinh tế như thế, chế độ kinh

tế duy nhất có thể thực hiện được là kết hợp những đặc điểm của cả hai chế độkhác nhau đó, kết hợp dưới nhiều hình thức và hành động khôn ngoan nhất là kếthợp các lực lượng thuộc các quan hệ khác nhau trong các hình thức kinh tế quá độ,dưới sự chi phối của lực lượng kinh tế quốc doanh và nhà nước xã hội chủ nghĩa.Điều đó, sẽ dẫn chúng ta đi từ nền kinh tế tiểu nông tiến lên chủ nghĩa xã hội thôngqua chủ nghĩa tư bản nhà nước Vậy, để xóa bỏ mâu thuẫn giai cấp trong xã hộichủ nghĩa khi mà nó chưa phát triển đến độ chín muồi, khi mà xã hội chưa đủ điềukiện để trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa thực sự hay khi đang ở trong một thời kỳquá độ lâu dài, thì chủ thể cần lựa chọn phương pháp kết hợp các mặt đối lập có sựkhác nhau về bản chất này để giải quyết mâu thuẫn xã hội

Khi mâu thuẫn thực sự chín muồi, các mặt đối lập sẽ chuyển hóa và gắn vớiđiều đó là mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời Lúc này,

xã hội xã hội chủ nghĩa được xác lập, giai cấp tư sản bị xóa bỏ, thủ tiêu Quá trìnhxóa bỏ mâu thuẫn giai cấp không thể thực hiện trong một thời gian ngắn mà đòihỏi một quá trình lâu dài, phức tạp và quanh co Thực tiễn nước Nga sau Cáchmạng tháng Mười chính là một kinh nghiệm sống về việc vận dụng thành côngphương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn xã hội, đưa nướcNga không chỉ thoát khỏi khủng hoảng mà còn vươn lên trở thành một quốc giahùng mạnh Vậy, giai đoạn mâu thuẫn đã đạt đến độ chín muồi thì chúng ta tiếnhành giải quyết mâu thuẫn bằng cách xóa bỏ mâu thuẫn, tiến hành triệt tiêu mộttrong hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn đó, đưa sự vật chuyển lên thang bậc pháttriển cao hơn với những mâu thuẫn mới cùng xuất hiện và cùng tồn tại ở trong đó

Tóm lại, theo quan điểm của Mác có hai loại mâu thuẫn cơ bản, đó là mâuthuẫn của tồn tại và mâu thuẫn của bản chất; tương ứng với mỗi loại mâu thuẫn thì

Trang 13

có một phương thức giải quyết thích hợp Đối với mâu thuẫn của tồn tại, cách giảiquyết tối ưu nhất đó là sử dụng phương pháp kết hợp các mặt đối lập; còn đối vớimâu thuẫn của bản chất thì căn cứ vào các giai đoạn phát triển của nó để lựa chọnphương pháp giải quyết thích ứng Giai đoạn mâu thuẫn chưa chín muồi có thể sửdụng phương pháp kết hợp các mặt đối lập, với điều kiện phải tiến hành kết hợpmột cách có nguyên tắc, tôn trọng tính khách quan của mâu thuẫn, phù hợp vớiđiều kiện lịch sử cụ thể Sự thỏa hiệp, nhượng bộ một cách vô nguyên tắc, vô điềukiện sẽ rơi vào cải lương chủ nghĩa, rơi vào chủ nghĩa chiết trung Khi mâu thuẫnđạt đến độ chín muồi, lên đến chóp đỉnh thì tiến hành thủ tiêu một trong hai mặtđối lập, sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra đời Như vậy, kết hợp các mặt đối lập cóthể thực hiện được trong cả hai loại mâu thuẫn cơ bản trên đây của hiện thực xãhội, nhưng cách thức và mức độ thực hiện sự kết hợp ấy ở mỗi loại thì có khácnhau.

1.1.2 Quan điểm của V.I.Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập

Một nét nổi bật trong tư duy biện chứng của Lênin là tư tưởng về sự kết hợpcác mặt đối lập Trong đấu tranh cách mạng và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xãhội, V.I Lênin coi sự kết hợp các mặt đối lập như là một sách lược của ĐảngBônsêvích và của nhà nước Nga để thực hiện sự thỏa hiệp, hợp tác liên minh tạmthời với những lực lượng đối lập vì lợi ích của cách mạng của chủ nghĩa xã hội V.ILênin cho rằng thái độ của chủ nghĩa Mác đối với những chuyển biến quanh co củalịch sử cũng đã đề cao sự thỏa hiệp, lợi dụng sự thỏa hiệp ấy Lênin giải thích rõ,khái niệm kết hợp có nghĩa là những sự vật khác nhau mà chúng ta cần phải kếthợp với nhau; sự kết hợp có nghĩa là phải biết vận dụng các biện pháp của chínhquyền nhà nước để bảo vệ những lợi ích vật chất và tinh thần của giai cấp vô sản

đã hoàn toàn liên hợp lại để cho nó khỏi bị chính quyền nhà nước đó xâm phạm.Ông không những chỉ ra tính tất yếu của việc sử dụng sự kết hợp các mặt đối lậpnhư là một nghệ thuật, mà còn coi như đó là một chiến lược và sách lược của ĐảngCộng sản Liên Xô trong toàn bộ lịch sử đấu tranh của mình

Từ thực tiễn những năm đầu tiên của chính quyền Xô viết, V.I Lênin đã hìnhthành tư tưởng về sự cần thiết phải kết hợp một cách tự giác các mặt đối lập Ôngnhận xét rằng, "dù sao chúng ta cũng đã học được ít nhiều chủ nghĩa Mác, đã học

Trang 14

được rằng làm thế nào và khi nào có thể và cần thiết phải kết hợp các mặt đối lập"[30, tr.90] Phân tích mâu thuẫn xã hội nói chung và mâu thuẫn trong đời sống kinh

tế nước Nga nói riêng nhưng năm sau Cách mạng tháng Mười, Lênin đề xuất tưtưởng về sự kết hợp các mặt đối lập và coi đó là phương thức có tính chất đặc thù

để giải quyết một cách hiệu quả những mâu thuẫn kinh tế - xã hội ở nước Nga lúcbấy giờ, không những thế ông còn đưa tư tưởng này vào thực tiễn xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước Nga Sự kết hợp các mặt đối lập được nhận thức và thực hiện,bởi Lênin luôn có tính nguyên tắc và điều này được thể hiện ở những điểm sauđây:

Thứ nhất, Lênin chú ý đến việc tìm những người bạn đồng minh tạm thời đểđấu tranh chống lại kẻ thù chung Bằng việc sử dụng một mặt đối lập trong mâuthuẫn nội bộ kẻ thù để tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng, Lênin đã thực hiệnmột sự kết hợp các mặt đối lập vì lợi ích chung, tạm thời có lợi cho cách mạng

Trong thời kỳ đấu tranh chống lại sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc, bảo

vệ chính quyền Xô viết non trẻ, Lênin đã chú ý đến hai khuynh hướng đối lập tồntại trong hiện thực giữa các nước đế quốc đó là khuynh hướng muốn chinh phục,thôn tính và khuynh hướng muốn trao đổi, buôn bán, sử dụng các mối liên hệ kinh

tế, thị trường, tài nguyên giàu có của nước Nga Xô viết Trong điều kiện đó, V.ILênin đã đi đến vận dụng một cách sáng tạo sự kết hợp có ý thức các mặt đối lậpnhằm giải quyết những mâu thuẫn của thời kỳ quá độ, trong điều kiện có sự baovây của chủ nghĩa đế quốc Đó cũng chính là biểu hiện của chính sách đối ngoại vôsản có nguyên tắc, mềm dẻo, linh hoạt, tôn trọng tính biện chứng khách quan củathời kỳ quá độ trong điều kiện bao vây của chủ nghĩa đế quốc

Thứ hai, Lênin quan tâm đến sự kết hợp các mặt đối lập ở biểu hiện giữa hainhân tố chất cũ (chủ nghĩa tư bản) và chất mới (chủ nghĩa xã hội) tồn tại trong nềnkinh tế quốc dân thời kỳ quá độ vì thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Sự kết hợp nàybiểu hiện rõ nhất trong Chính sách kinh tế mới được Lênin soạn thảo và thực hiệntrong thực tế

Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ kinh tế của chuyên chính vô sản,đấu tranh với sự tự phát triển tư bản chủ nghĩa ở thời kỳ quá độ, giai cấp vô sản đã

sử dụng tư sản, sử dụng sự hiểu biết, trí thông minh và vốn kinh nghiệm quản lý

Trang 15

của giai cấp tư sản để góp phần hình thành, ổn định nền sản xuất lớn chủ nghĩa xãhội, tạo cơ sở vật chất lớn mạnh để đẩy lùi tính tự phát tiểu tư sản Chính sách kinh

tế mới được Lênin soạn thảo là tấm gương sáng về sự kết hợp các mặt đối lập trongđiều kiện lịch sử của thời kỳ quá độ, sao cho chiến thắng được giai cấp tư sản vànêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng, lôi kéo được những người sản xuất hàng hóanhỏ, những người tiểu tư sản về phía mình

NEP - từ gọi tắt của Chính sách kinh tế mới được Lênin đưa ra lần đầu tiênvào tháng 2 năm 1922 nhưng tư tưởng về Chính sách kinh tế mới của ông thì đãxuất hiện từ tháng 1 năm 1918, khi chính quyền Xô viết giành được thời gian tạmnghỉ bằng con đường hòa bình Đất nước Xô viết ra khỏi chiến tranh gặp phải sựtàn phá về kinh tế đến mức độ chưa từng có trước đó Những hậu quả nặng nề củabảy năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội trởnên nóng bỏng Để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội lúc bấy giờ, Chínhsách kinh tế mới được Lênin đưa ra nhằm giải quyết mục tiêu trước mắt và cấpbách với năm nội dung chủ yếu Từ việc triển khai các nội dung của chính sáchkinh tế mới, Lênin chú ý đề cập đến việc khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóatrong nông nghiệp thông qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp.Thực hiện nội dung này nhằm đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của sản xuất vàtiêu dùng cho nông dân và cho xã hội, giúp nhà nước giải quyết vấn đề lương thựcmột cách vững chắc, đồng thời khôi phục và phát triển kinh tế hàng hóa trong nôngnghiệp, làm sống động lại các ngành kinh tế và toàn bộ sinh hoạt xã hội

Cùng với việc triển khai nội dung trên đây, Lênin chú trọng việc sử dụngchủ nghĩa tư bản nhà nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vì việckhôi phục và phát triển kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp còn kéo theo cả sự khôiphục và kích thích xu hướng tư bản chủ nghĩa Theo Lênin đó là điều đương nhiên,

sự phát triển của trao đổi tư nhân, của chủ nghĩa tư bản là một sự phát triển khôngtránh được khi có hàng triệu người sản xuất nhỏ và việc ngăn cấm hay chặn đứng

sự phát triển đó là có hại cho cách mạng, Lênin cho đó là sự dại dột và tự sát đốivới đảng nào muốn áp dụng nó

Tuy nhiên, Lênin cũng nhấn mạnh không được coi thường hay buông lỏngviệc kiểm tra, kiểm soát sự phát triển của xu hướng tư bản chủ nghĩa Muốn vậy,

Trang 16

theo ông phải sử dụng hình thức kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi chủ nghĩa

tư bản nhà nước không đáng sợ mà là đáng mong đợi và phải được học tập vì lợiích của chủ nghĩa xã hội

Quan điểm trên của Lênin biểu hiện cái nhìn biện chứng có tính nguyên tắctrong giải quyết mâu thuẫn, quá trình khôi phục và phát triển sản xuất hàng hóa màđồng nghĩa với nó là việc khôi phục và kích thích xu hướng tư bản chủ nghĩa trongnền kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; điều đó cho thấy, Lênin đang thựchiện sự kết hợp các mặt đối lập giữa yếu tố tư bản chủ nghĩa và yếu tố xã hội chủnghĩa vì lợi ích cách mạng

Thực ra, Lênin chủ trương sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm chống lại tính tự phát tiểu tư sản Coi hìnhthức chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình thức kinh tế cơ bản trong cơ cấu nền kinh

tế nhiều thành phần Biểu hiện của hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước trong kinh

tế đó là những hình thức như tô nhượng trong công nghiệp, hình thức hợp tác xãcủa những người sản xuất nhỏ, hình thức tư nhân làm đại lý cho nhà nước trongthương nghiệp, hình thức nhà nước cho tư nhân thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng,khu đất

Đề xuất chủ trương này, Lênin đã đi từ phân tích đời sống kinh tế của đấtnước Xô viết lúc bấy giờ, làm sáng tỏ vị trí, tính chất, khuynh hướng vận động củanăm thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước Nga, bao gồm kinh tế nông dân mangtính chất tự nhiên, sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bảnnhà nước, kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong năm thành phần kinh tế đó, ông xemtính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù nguy hiểm nhất của chủ nghĩa xã hội Vì vậy,Lênin chỉ ra thực chất mối quan hệ giai cấp lúc này không phải là chủ nghĩa tư bảnnhà nước đấu tranh với chủ nghĩa xã hội mà là giai cấp tiểu tư sản và chủ nghĩa tưbản tư nhân cùng nhau chống lại chủ nghĩa tư bản nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội

Từ những phân tích trên, Lênin đi đến chủ trương liên minh nhà nước vô sản

và chủ nghĩa tư bản nhà nước để chống lại các thế lực tự phát tiểu tư sản Ông chỉ

rõ rằng, bằng việc kết hợp các mặt đối lập với nhau, cụ thể là kết hợp giữa nhànước vô sản và nhà nước tư sản sẽ giúp cho nền công nghiệp được phục hưng Đócũng chính là điều kiện để cải tạo có hiệu quả nền công nghiệp sản xuất nhỏ và

Trang 17

người nông dân tư hữu, thu hút công nhân trở lại nhà máy, chấm dứt tình trạng họphải tự sản xuất ra bật lửa rồi lại tự mình mang ra tiêu thụ ngoài thị trường Việcngười công nhân xa rời nhà máy, để sống anh ta phải làm đủ mọi việc linh tinh sẽlàm tha hóa ngay chính bản thân của họ, đẩy họ về phía những người sản xuất nhỏ.

Do vậy, liên minh với chủ nghĩa tư bản nhà nước để khôi phục lại nền đại côngnghiệp là con đường có hiệu quả nhất nhằm cứu vớt ngay bản thân công nhân - giaicấp lãnh đạo của chuyên chính vô sản

Thứ ba, liên quan đến những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội, Lênin đề cập đến sự kết hợp giữa chính sách dàn đều và chínhsách trọng điểm, biểu hiện của sự kết hợp có ý thức này là giữa vấn đề dân tộc vàquốc tế, giữa nhiệt tình cộng sản và hoạch toán kinh tế, giữa dân chủ và tập trungtrong nguyên tắc tập trung dân chủ, giữa thuyết phục và cưỡng bức, giữa động viên

tư tưởng và khuyến khích vật chất, giữa quy luật chiến tranh và quy luật xây dựnghòa bình Trong quá trình thực hiện sự kết hợp giữa chính sách dàn đều và chínhsách trọng điểm, Lênin nhấn mạnh đến yếu tố thời điểm, hoàn cảnh Vấn đề đặt ra

là phải suy nghĩ cho thật kỹ hai chính sách và vận dụng làm sao cho phù hợp vớitừng hoàn cảnh cụ thể nhằm đem lại lợi ích cho cách mạng

Sự kết hợp các mặt đối lập trong tư tưởng của Lênin không phải là thái độchiết trung, mà luôn có tính nguyên tắc và biện chứng; nó dựa trên quan điểm thừanhận và lấy cái mới làm yếu tố chủ đạo, làm chủ lực cho sự phát triển theo hướng

xã hội chủ nghĩa Nếu vi phạm nguyên tắc biện chứng trong khi thực hiện sự kếthợp các mặt đối lập sẽ biến cái mới thành cái cũ, biến cái kích thích sự phát triểnthành cái kìm hãm sự phát triển Chẳng hạn, khi thực hiện sự kết hợp các mặt đốilập trong nguyên tắc tập trung dân chủ cần phải phân định rõ giữa tập trung dânchủ khác với tập trung quan liêu và tính tự phát, vô tổ chức Lênin nhấn mạnh

"không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quanliêu và lối rập khuôn máy móc" [30, tr.95] Do vậy, không thể áp dụng sự kết hợpcác mặt đối lập một cách tùy tiện, máy móc hoặc vô nguyên tắc, Lênin đã đưa ramột nhận định hết sức xác đáng: có thể kết hợp các khái niệm đối lập với nhauthành một điệu nhạc chối tai nhưng cũng có thể kết hợp chúng lại thành điệu nhạc

êm tai

Trang 18

Lênin coi sự kết hợp các mặt đối lập như là một hình thức đặc biệt của cuộcđấu tranh giữa chúng Theo ông, đấu tranh có nhiều hình thức khác nhau: có đấutranh thủ tiêu cả hai mặt đối lập; có đấu tranh dẫn đến thủ tiêu một mặt còn mặt kiađược biến đổi; có đấu tranh làm kích thích lẫn nhau, hoàn thiện lẫn nhau và cùngnhau phát triển Hiểu như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, trong mâu thuẫnbiện chứng sự thống nhất của các mặt đối lập luôn bao hàm trong mình sự khácbiệt, đối lập và xung đột Chính trong sự thống nhất ấy mà các mặt đối lập tươngtác một cách biện chứng với nhau, và đó cũng là sự đấu tranh của các mặt đối lậplàm nên nguồn gốc, động lực phát triển của sự vật, hiện tượng V.I Lênin khẳngđịnh rằng, sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập, đấu tranh làtuyệt đối, chính nhờ đấu tranh mà các sự vật vận động, chuyển hóa lẫn nhau, làmcho thế giới trở nên vô hạn, vĩnh viễn và bất diệt Trong đó, sự kết hợp các mặt đốilập vừa được coi là một hình thức đặc biệt của cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập,đồng thời đó cũng là một phương thức mà chủ thể lợi dụng những điểm chung,tương đồng của các mặt đối lập trong sự thống nhất giữa chúng để giải quyết mâuthuẫn nhất là các mâu thuẫn xã hội.

Có thể khẳng định, việc kết hợp biện chứng các mặt đối lập với tư cách làmột phương thức đi tới giải quyết mâu thuẫn, đã được Lênin sử dụng để lãnh đạonhân dân Nga xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ thực hiện chính sách kinh tếmới (NEP) những năm 1921 - 1924 Chính sách này nhằm khắc phục hậu quả tiêucực từ việc kéo dài chính sách cộng sản thời chiến trước đó V.I Lênin đã tiến hànhkết hợp một cách biện chứng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, giữa kinh

tế tư bản và nhà nước Xô viết Biểu hiện tập trung nhất của việc kết hợp này trongNEP chính là chủ trương thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước Thực chất của chủnghĩa tư bản nhà nước như Lênin khẳng định đó là việc chấp nhận sự tồn tại củachủ nghĩa tư bản trong khuôn khổ của sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước Xô viết.Mục đích của việc phát triển tư bản nhà nước kiểu mới này là nhằm khai thác, lợidụng mặt tích cực của chủ nghĩa tư bản (về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý )

để đem lại lợi ích cho chủ nghĩa xã hội

Rõ ràng, đây là hành động chủ động, tự giác, tích cực của Đảng và Nhànước Xô viết trong việc hợp tác với chủ nghĩa tư bản và các nhà tiểu tư sản Nhưng

Trang 19

cũng chính vì là hoạt động tự giác của nhà nước Xô viết, cho nên việc kết hợp nàyphải luôn đặt trong giới hạn, khuôn khổ chủ nghĩa xã hội Bởi lẽ, việc hợp tác vớichủ nghĩa tư bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng giống như sửdụng con dao hai lưỡi, vì xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản và các nhà tư bản trongquan hệ với chủ nghĩa xã hội không phải vì lợi ích của chủ nghĩa xã hội mà là vìlợi ích của chính giai cấp tư sản Lênin hiểu điều đó, nên đã ra sức bảo vệ NEP nóichung và chủ nghĩa tư bản nhà nước nói riêng, tạo mọi điều kiện cho chủ nghĩa tưbản nhà nước phát triển với việc tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát của chínhquyền Xô viết Lênin yêu cầu phải luôn coi công tác kiểm kê, kiểm soát này là mộtcái trạm trung gian để đi đến chủ nghĩa xã hội, tránh chệch hướng chủ nghĩa xãhội Chỉ trong điều kiện như vậy, việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước mới làcần thiết, đáng mong đợi và là bắc cầu để đi vào chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, sự kết hợp các mặt đối lập được nêu ra trong chính sách kinh tếmới của Lênin là sách lược có nguyên tắc, có điều kiện chứ không phải là tùy tiện,

vô nguyên tắc Việc Lênin phát hiện ra các mặt đối lập và sáng tạo, linh hoạt trongviệc kết hợp chúng vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định đem lại lợi ích chocách mạng mà biểu hiện cụ thể của tư tưởng đó ở chính sách kinh tế mới, đã đemlại một ý nghĩa hết sức to lớn Tư tưởng này đã mở ra một khả năng, một phươngpháp giải phóng những mâu thuẫn xã hội, nảy sinh trong quá trình đi lên chủ nghĩa

xã hội ở những nước lạc hậu, tiền tư bản V.I Lênin cho thấy đối với một nước còn

ở tình trạng tiểu nông là chủ yếu, để có thể đi lên chủ nghĩa xã hội phải thực hiệnbước quá độ gián tiếp, phải qua những khâu trung gian, những hình thức quá độđặc biệt Một trong những hình thức của khâu trung gian, quá độ ấy là chủ nghĩa tưbản nhà nước và đó cũng là kết quả tất yếu của sự kết hợp biện chứng giữa hai mặtđối lập, kinh tế tư bản và nhà nước vô sản Thực hiện NEP, ông khẳng định rằng,phải bắc những nhịp cầu nhỏ, đi qua những nấc thang, những mắc xích trung gian,

áp dụng những giải pháp vừa tầm, thích hợp với những nước tiểu nông, biết cáchthỏa hiệp với họ, kiên nhẫn chờ đợi, thuyết phục họ đi đến chủ nghĩa xã hội Đó làbước quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với các nước lạc hậu, bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa

Trang 20

Bên cạnh đó, V.I Lênin cũng đã nắm bắt được những mâu thuẫn phát sinhtrong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội biểu hiện ra ở các quan hệ trong đờisống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội , từ đó đi đến vận dụng sự kếthợp các mặt đối lập để đưa ra chính sách đối ngoại vô sản linh hoạt, mềm dẻonhằm tăng cường lực lượng, tìm các nước đồng minh tạm thời, cùng liên kết đấutranh chống chủ nghĩa đế quốc bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ Tư tưởng kếthợp các mặt đối lập còn được Lênin vận dụng một cách triệt để vào việc giải quyếtmâu thuẫn xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống; kết hợp giữa chính sách dàn đều

và chính sách có trọng điểm tùy vào điều kiện, hoàn cảnh đương thời để lựa chọnchính sách nào đóng vai trò quyết định; kết hợp giữa động viên tư tưởng vớikhuyến khích vật chất nhằm tạo ra động lực cho người lao động cùng đoàn kết, bảo

vệ thành quả cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tóm lại, với tư cách là những nhà triết học thực tiễn, những nhà duy vậtchiến đấu C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin đã đạt đến trình độ cao của tư duybiện chứng về sự kết hợp các mặt đối lập và vận dụng nó vào trong hoạt động thựctiễn cách mạng Tư tưởng của các ông đã bước đầu xây dựng nên cơ sở lý luận vềphương pháp kết hợp các mặt đối lập và đã có những thành công nhất định trongthực tiễn cải tổ đất nước Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu Chínhsách kinh tế mới (NEP) với tư cách là một chiến lược, được Lênin vạch ra đã giảiquyết thắng lợi cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội trong thời gian dài từ 1921 -

1924 ở nước Nga Xô viết, đưa nước Nga từ khủng hoảng đi tới hồi sinh và pháttriển Suốt nhiều thập kỷ qua, chính sách kinh tế mới của Lênin vẫn được các nước

ở những trình độ phát triển khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau nhận thức

và vận dụng Có thể nói, thiên tài Lênin thể hiện tập trung nhất trong chính sáchkinh tế mới và trong thực tiễn lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách đó Ông đãnêu ra kiểu mẫu về thái độ trung thành với chủ nghĩa Mác trong hành động, trongphong cách lãnh đạo táo bạo, kiên quyết và đầy tính nghệ thuật, lái con thuyềncách mạng vượt qua gian nguy, tạo nền móng vững chắc cho mọi thắng lợi saunày Nhờ có NEP, lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học lần đầu tiên đi vào hiệnthực Lênin không chỉ đặt nền móng cho lý luận mà còn nêu ra mẫu mực về chiếnlược và sách lược tiến hành cách mạng chủ nghĩa xã hội từ những điểm xuất phát

Trang 21

khác nhau, phản ánh đúng đắn đòi hỏi của quy luật ra đời và phát triển chủ nghĩa

xã hội trong điều kiện thời đại mới Tư tưởng kinh tế của Lênin mà nhất là chínhsách kinh tế mới đang soi sáng, hướng dẫn mỗi bước tiến lên của cách mạng ở cácnước có trình độ khác nhau Ở nước ta, việc nghiên cứu phép biện chứng trongđiều kiện mới, nghiên cứu phương pháp giải quyết mâu thuẫn của V.I Lênin được

cụ thể hóa trong chính sách kinh tế mới, giúp chúng ta thấy được tính phức tạp củacuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo lý luận cáchmạng vào điều kiện riêng của đất nước

1.1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự kết hợp các mặt đối lập

Quán triệt sâu sắc tinh thần biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ tịch

Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào giải quyết các mâu thuẫn xã hộinảy sinh trong từng thời kỳ cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam vững bước đi lêngiành thắng lợi Giải quyết mâu thuẫn xã hội, do đó thực sự là một nghệ thuậttrong hệ tư tưởng của Hồ Chí Minh

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn chú ý đếntính phổ biến của mâu thuẫn trong các sự vật, sự việc và quá trình Người cho rằngcái gì cũng có mâu thuẫn như có biến âm, biến dương, có sinh có tử, có quá khứ và

có hiện tại, có mới có cũ , đó là những mâu thuẫn trong mọi sự vật Khi có mâuthuẫn thì phải tìm cách giải quyết và muốn vậy phải biết phân tích các mâu thuẫn

để phân loại chúng thành chính hay phụ, từ đó có cách giải quyết thích hợp Trongđấu tranh giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp, có nhận thức đúng mâu thuẫnmới xác định rõ đâu là kẻ thù và đâu là bạn đồng minh Nhờ xác định và phân loạiđúng mâu thuẫn một cách khách quan, khoa học nên Hồ Chí Minh luôn vạch rađược phương pháp phù hợp, huy động được những lực lượng cần thiết để giảiquyết mâu thuẫn kịp thời, đúng đắn, hiệu quả cho mọi giai đoạn của cách mạng

Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh được

kế thừa trực tiếp từ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng củaV.I Lênin về kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn kinh tế - xã hội.Phương pháp tư duy mềm dẻo, biện chứng truyền thống theo kiểu phương Đông đãgiúp Hồ Chí Minh phát hiện mâu thuẫn và tìm ra phương thức giải quyết thích hợp,chèo lái con thuyền cách mạng đi đến bến bờ thành công

Trang 22

Xuất phát từ đặc điểm văn hóa - xã hội, từ quan hệ giữa các giai tầng tronglịch sử dân tộc ta và để giải quyết các mâu thuẫn xã hội ở trong đó, Hồ Chí Minhthường nhấn mạnh chữ đồng và hạn chế khai thác những dị biệt giữa các mặt đốilập Chữ đồng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao hàm một nội dung hết sức phongphú, sinh động và biện chứng đó là đồng tâm, đồng lòng, đồng mục tiêu, đồng lýtưởng, đồng lợi ích

Nhất quán với tư tưởng này trong việc giải quyết mâu thuẫn xã hội, Hồ ChíMinh chủ trương khai thác triệt để những điểm tương đồng giữa các mặt đối lậpnhằm tìm kiếm một giải pháp có tính chất mềm dẻo, dễ dung hòa để hướng tới mụctiêu chung là cùng có lợi, tránh đổ máu hoặc thiệt hại không cần thiết Người đãvận dụng tài tình tư tưởng đó vào giải quyết các mâu thuẫn trên mọi lĩnh vực củađời sống xã hội, đồng thời coi đó là một phương pháp, một sách lược hết sức quantrọng để đạt mục tiêu to lớn của cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội

Từ rất sớm trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận

sự vật dưới con mắt phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Người thấymuốn chiến thắng được đế quốc Pháp thì phải hiểu rõ thực lực của kẻ thù và thựclực của ta, thấy được nguyên nhân làm nên sức mạnh của Pháp và nguyên nhânđưa tới sự yếu kém của dân tộc ta Thực tế cho thấy, đế quốc Pháp hùng mạnh vì

có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, còn Việt Nam yếu vì đất nước còn bị giam hãmtrong vòng sản xuất phong kiến lạc hậu Do đó, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Phápkhông những là mâu thuẫn giữa hai dân tộc mà còn là mâu thuẫn giữa nền sản xuấttiên tiến với nền sản xuất lạc hậu Trước Hồ Chí Minh chưa có một tấm gương nàocủa thế giới về một dân tộc thuộc địa, lạc hậu đánh tháng một đế quốc tư bản chủnghĩa hùng mạnh Tình thế đó, thôi thúc Hồ Chí Minh tìm kiếm những biện phápthích hợp, có ích cho sự nghiệp cách mạng Nghiên cứu sâu hơn mối tương quangiữa ta và địch, Người vận dụng phép biện chứng tuần hoàn của phương Đông đãhọc được trong thời niên thiếu như âm cực dương hồi, bĩ cực thái lai, cùng tắcbiến, biến tắc thông Đây là tư duy biện chứng mà trước đó đã được nhiều nhàhoạt động xã hội ở phương Đông nhiều thời đại xem xét và vận dụng, nó đã gieovào lòng Người một niềm tin rằng có thể thay đổi được thực trạng đất nước Đến

Trang 23

với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh tiếp nhận các nguyên lý như nhìn nhận

sự vật trong đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, trong sự chuyển hóa vềlượng thành những thay đổi về chất và nhờ vào đó, Người đã đưa những quanniệm biện chứng phương Đông lên một bước mới, củng cố và nâng cao quyết tâmlàm thay đổi tình hình đất nước

Trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ, vận dụng phép biện chứng duy vậtvào phân tích xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỉ XX, Hồ ChíMinh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hộiphong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến; hai là, mâu thuẫngiữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn thực dân Pháp xâm lược Từ đó, Hồ ChíMinh xác định, nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiếntay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản làchống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống lại phong kiến đem lại ruộngđất cho dân cày Để giải quyết mâu thuẫn đối kháng trên, Hồ Chí Minh đã vậndụng phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích mâu thuẫn xã hội.Người thấy rằng, các mặt đối lập làm nên mâu thuẫn ngoài tính đối lập ra còn cótính thống nhất và tính thống nhất ở đây ngoài ý nghĩa là tiền đề tồn tại của các mặtđối lập thì còn có sự đồng nhất ở một số điểm nào đó trong hai mặt đối lập Từ đó,

Hồ Chí Minh đã vận dụng vào để giải quyết mâu thuẫn xã hội, Hồ Chí Minh đãluôn đề cao chữ đồng, mặt thống nhất, đoàn kết Người sử dụng phương pháp kếthợp các mặt đối lập để tạo nên sức mạnh đoàn kết trong nhân dân Chẳng hạn như,trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh thấy được bên tacũng có lòng yêu nước, độc lập, dân chủ và yêu hòa bình còn bên địch về cơ bảnthì trái lại, nhưng xét ở một nhóm nào đó trong trường hợp, hoàn cảnh nào đó thìbên địch cũng có những yếu tố trên, cụ thể là trong hàng ngũ của Pháp chống lại ta,cũng có những người đã từng là chiến sĩ đấu tranh cho độc lập của nước Pháp, đấutranh để giải phóng nước Pháp khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức vì thế ởnhững người đó cũng ít nhiều có lòng trắc ẩn với dân tộc ta đó là điểm tương đồng,thống nhất Hoặc bên ta, tuy yêu nước nhưng họ còn lưu luyến với xã hội phongkiến và tư sản, số người này lại thống nhất lập trường với giai cấp bên kia Nhìn

rõ vấn đề đó, Hồ Chí Minh đã khơi dậy tinh thần đoàn kết mọi lực lượng miễn là

Trang 24

có lòng trung thành với Tổ quốc, không phản lại quyền lợi của dân chúng, không

kể đó là Việt gian, thân Pháp hay thân Nhật

Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp các mặt đối lập trong thời kỳ cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân, để giải quyết mâu thuẫn đối kháng giữa dân tộc ViệtNam với thực dân Pháp xâm lược, Người đã đề cao sự đoàn kết, thống nhất các lựclượng nhân dân trong nước và đồng thời chủ trương đoàn kết, tranh thủ triệt để sựủng hộ của nhân dân tiến bộ Pháp và các nước trên thế giới, coi đó là sức mạnh đểgiải phóng dân tộc Với tư tưởng đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, lâu dài với tất cảnhững ai có thể đoàn kết được vì mục tiêu chung Trên nguyên tắc đó, Hồ ChíMinh đã đoàn kết tất cả những người yêu nước, không phân biệt xu hướng chínhtrị, tín ngưỡng, tôn giáo, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào và quá khứ họ đãhợp tác với phe nào Vì vậy, Hồ Chí Minh đã quy tụ được toàn thể nhân dân thuộccác giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người trước đây từng mắclỗi lầm nhưng nay đã thực sự ăn năn, hối cải tập hợp dưới ngọn cờ cách mạng,tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân, có sức mạnh vô địch thực hiện thắng lợi cuộccách mạng giải phóng dân tộc

Ngoài chủ trương kết hợp các mặt đối lập, Người còn đưa ra sách lược phânhóa cao độ trong hàng ngũ địch, bằng cách tìm ra những mặt đối lập tạo nên mâuthuẫn gay gắt trong hàng ngũ của chúng, để không những làm cho nhân dân cămghét chúng hơn mà còn làm cho chúng bị cô lập trên thế giới

Khi cách mạng thành công, chính quyền về tay nhân dân, Hồ Chí Minh lạimột lần nữa giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ lực lượng cáchmạng, trong nội bộ nhân dân nhằm xây dựng, mở rộng và phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội Người nhấn mạnh, muốn làm được điều đó cần phảiđấu tranh ngăn chặn những phần tử tiêu cực, thoái hóa, biến chất trong nội bộĐảng, chính quyền cách mạng Hồ Chí Minh xác định đây là vấn đề còn khó khănhơn gấp nhiều lần so với trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm Hồ Chí Minh lạimột lần nữa chú trọng đến chữ đồng, mặt thống nhất, đoàn kết thông qua phươngpháp kết hợp các mặt đối lập được Người tiến hành một cách khách quan, biệnchứng Tất cả những điểm chung, điểm tương đồng giữa các mặt đối lập của mâu

Trang 25

thuẫn xã hội được Người vận dụng theo hướng có lợi cho sự nghiệp cách mạng.Người chỉ rõ, đối với mâu thuẫn nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ, đối vớimâu thuẫn của đế quốc, phong kiến và bè lũ phản động thì thực hành chuyên chính

để đàn áp chúng

Tư tưởng kết hợp các mặt đối lập của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trongchủ trương, đường lối, chiến lược và sách lược cách mạng của Người Sau khi tìmthấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc - con đường cách mạng vô sản, HồChí Minh đã vận dụng sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, phùhợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể ở Việt Nam Trong Tuyên ngôn Đảng Cộngsản Mác và Ăngghen viết: "Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tìnhtrạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ" [19, tr.21] Các nhà kinhđiển của chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và cho rằng giảiphóng giai cấp là điều kiện cơ bản để giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh không giáođiều khi vận dụng tư tưởng đó, Người cho rằng, trong hoàn cảnh một nước thuộcđịa nửa phong kiến như nước ta, giải phóng dân tộc sẽ tạo điều kiện để giải phónggiai cấp Hồ Chí Minh nhận thấy, mâu thuẫn xã hội cơ bản nỗi lên hàng đầu đó làmâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân đế quốc và bọntay sai; dưới chế độ thống trị của thực dân đế quốc, trừ bọn Việt gian và phảnđộng, các giai cấp và các tầng lớp trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm giaicấp công nhân, nông dân, tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, trí thức tuy có lợi ích khácnhau nhưng đều bị bóc lột nặng nề, đều có chung một nhu cầu và ý chí đánh đuổi

đế quốc xâm lược, giành quyền lợi về cho giai cấp Hồ Chí Minh nhận thấy, cácgiai cấp và các tầng lớp dù có những sự đối lập, sự khác biệt nhưng họ vẫn cónhững điểm chung, tương đồng, từ đó Người đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lênhàng đầu Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp các mặt đối lập, kết hợp các giai cấp,tầng lớp khác nhau, đối lập nhau vì mục tiêu chung Sự liên minh, đoàn kết cả cộngđồng dân tộc trong xã hội đã nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất, kiêncường của dân tộc Việt Nam, điều đó đã huy động được sức mạnh to lớn trongcộng đồng dân tộc Chính sức mạnh to lớn đó đã đưa cách mạng giải phóng dân tộcđến thành công, tạo tiền đề cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng conngười trong xã hội

Trang 26

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiến hành kết hợpcác mặt đối lập một cách có ý thức, đồng thời Người luôn xác định, muốn cáchmạng thành công phải luôn kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và vấn đề giaicấp Ngay trong Chính cương vắn tắt của Đảng do Người soạn thảo, có viết: làm tưsản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, có nghĩa

là trước làm cách mạng dân tộc dân chủ đánh đổ thực dân đế quốc và phong kiến,sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Đặt ra nhiệm vụ đó, Hồ Chí Minh không chỉnghĩ đến lợi ích dân tộc mà còn thấy được, để bảo vệ lợi ích và kiên định lậptrường của giai cấp công nhân thì trước hết phải giải phóng được dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ cho những người cộng sản Việt Nam rằng,

sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phụ thuộc vào sự thành công của sựnghiệp giải phóng dân tộc Sự nghiệp giải phóng dân tộc không hoàn thành thìmuôn đời giai cấp cũng không được giải phóng Để làm được điều đó, Người đặtniềm tin vào sức mạnh toàn dân tộc, sức mạnh ở sự tập hợp đông đảo mọi tầng lớpnhân dân, mọi tầng lớp xã hội, mọi giai cấp vào mục tiêu cách mạng Hồ Chí Minhtừng nói: "trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có

gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết nhân dân" [44, tr.154] Cuộc cách mạng dân tộcdân chủ của chúng ta, phải trải qua kháng chiến lâu dài mới giành được thắng lợihoàn toàn Tính chất của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, phải huy độngtối đa tiềm lực mọi mặt của toàn dân tộc Người đã khơi dậy và động viên toàn dângiành chính quyền, làm nên Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh luôn đề cao sựkết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, trong đó Người đề cao truyền thốngyêu nước của dân tộc Việt Nam; Người thường ví đó như là năm ngón tay có ngónngắn, ngón dài, sự giác ngộ cách mạng của từng người dân không phải đồng đều,nhưng tinh thần yêu nước thì ai cũng có, chỉ cần được khơi dậy, làm cho cái quýnằm trong tủ kính, trong bình pha lê, cất kín trong rương hòm được đưa ra trưngbày

Vốn có niềm tin mãnh liệt ở lòng yêu nước, tự hào dân tộc của nhân dân ta,thấm sâu tư tưởng lấy dân làm gốc và từ nỗi đau mất nước, Người thấu hiểu tinhthần quất cường của dân tộc ta Để từ đó, phát huy tinh thần yêu nước của các giaicấp, tầng lớp trong xã hội mặc dù có quyền lợi và mục tiêu giai cấp khác nhau

Trang 27

Như đối với giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, luôn đặt racho mình một mục tiêu lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, phong kiến, đưa giaicấp mình bước lên vũ đài chính trị, đảm đương sứ mệnh lịch sử giải phóng các giaicấp, tầng lớp khác trong xã hội; đối với giai cấp nông dân mục tiêu đặt ra là lấy lạiruộng đất đã bị địa chủ phong kiến tước đoạt; mục tiêu của tầng lớp tiểu tư sảnđược tự do buôn bán, kinh doanh; đối với tầng lớp tri thức đòi quyền tự do tưtưởng, tự do sáng tác, tự do phản ánh đời sống hiện thực Mặc dù khác nhau,không đồng nhất về mục tiêu, quyền lợi nhưng họ có chung kẻ thù, đều có tinhthần yêu nước, vì thế họ cố kết với nhau, cùng chống thù trong giặc ngoài vì mụctiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người chủ trương lấy cái chung,tương đồng khắc phục cái riêng, cái dị biệt làm cho các tầng lớp nhân dân nhânnhượng lẫn nhau, hòa thuận lẫn nhau, toàn dân cùng đoàn kết, không chia già trẻ,giàu nghèo để giữ gìn nền độc lập, chống kẻ thù chung

Ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy một tư duy biện chứng chịu ảnh hưởng sâusắc triết học Phương Đông và phép biện chứng mácxít Tư duy biện chứng củaNgười còn được biểu hiện rõ trong tư tưởng về mối quan hệ giữa cái bất biến vàcái vạn biến Tư tưởng biện chứng giữa cái bất biến và cái vạn biến xuyên suốttrong đường lối, sách lược và chiến lược cách mạng của Hồ Chí Minh Cái bất biếntrong tư duy Hồ Chí Minh được coi là quy luật, cái tồn tại lâu dài, còn cái vạn biến

là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể dựa vào quy luật

mà lý giải hiện tượng, hay ngược lại từ phân tích vô vàn hiện tượng để tìm ra quyluật tương ứng Vậy, cái bất biến được coi là cái thống nhất, mặt ổn định của sựvật, Hồ Chí Minh thường bắt đầu từ cái bất biến đi tới cái khả biến của xã hội vàcon người

Trước khi sang Pháp năm 1946, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh một câu: Mong

cụ ở nhà, dĩ bất biến, ứng vạn biến Đó cũng chính là Hồ Chí Minh đang nói đếnmối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược Mục tiêu củachúng ta là độc lập, thống nhất Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là điều bấtbiến; còn phương pháp, sách lược có thể tùy tình hình mà biến hóa đa dạng, thayđổi linh hoạt nhưng không xa rời cái bất biến Người nói: mục đích bất di bất dịchcủa ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc, nguyên tắc của ta thì phải vững

Trang 28

chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt Hồ Chí Minh đã vận dụng phương phápbiện chứng này một cách hiệu quả trong chỉ đạo cách mạng, đưa cách mạng đi tớinhững thắng lợi to lớn.

Xuất phát từ tư duy biện chứng về mối quan hệ giữa cái bất biến và cái vạnbiến (cái khả biến), Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách có ý thức hai mặt đối lập -cái bất biến và cái khả biến; đó cũng là thể hiện sự kết hợp giữa tính kiên định vềnguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phụccái tiểu dị, biến nó thành đường lối chỉ đạo cách mạng đi đến những thắng lợi.Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: "chính sự kết hợp mà không ai bắt chướcnỗi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính trị với tínhcứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thống yêu nước với sự phântích Mácxít đã tạo nên tính độc đáo của ông Hồ Chí Minh" [34, tr 336]

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâmlược đã chứng tỏ đường lối, sách lược và chiến lược của Hồ Chí Minh là đúng đắn;chứng tỏ tư duy kết hợp các mặt đối lập của Hồ Chí Minh đã đem lại hiệu quả thiếtthực, đã tăng cường khối liên minh công nông và mở rộng Mặt trận dân tộc thốngnhất và khẳng định sự kết hợp vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp của Hồ Chí Minh

là hoàn toàn đúng Và cho đến ngày nay, vấn đề liên minh giai cấp, đoàn kết cộngđồng dân tộc, kết hợp vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp vẫn còn có ý nghĩa đặc biệtquan trọng đối với công cuộc đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam Trên tất cảmọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa Đảng ta vẫn tiếp tụcthực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa nhằm kết hợp hài hòa lợi ích của các bộ phận, tầng lớp nhân dân Trên

cơ sở đảm bảo độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong đó tiếp tục đổimới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo,cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Cònđối với các thành phần kinh tế khác, Đảng có chủ trương, chính sách cụ thể nhằmkhai thác hiệu quả các tiềm năng của chúng đem lại lợi ích cho nhân dân và vì mụctiêu chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước ta cũng luôn khẳng định mối quan hệgiữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác, đoàn kết nhằm xây dựng

Trang 29

khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức vì

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên lĩnh vực chính trị, Đảng chủ trươngxây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân, mang bản chất của giai cấp côngnhân do Đảng Cộng sản lãnh đạo Điều đó, vừa thể hiện bản chất giai cấp côngnhân của Đảng cầm quyền vừa phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dântộc Trên lĩnh vực văn hóa, gìn giữ bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dântộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Cho đến nay, trongbất kì giai đoạn nào, Đảng ta cũng luôn xác định dân tộc chứa đựng một sức mạnh

to lớn, giải quyết vấn đề dân tộc không thể tách rời lập trường giai cấp vô sản, nềnđộc lập thực sự của dân tộc chỉ có thể đảm bảo một cách bền vững khi gắn liền vớimục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp kết hợp các mặt đối lập làmột phần quan trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh, nổi bật lên đó

là sự kết hợp giữa cái bất biến và cái khả biến, giữa tính kiên định về nguyên tắcvới tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị,

đi từ dân tộc đến giai cấp nhằm mục tiêu đại đoàn kết toàn dân tộc, phân hóa và côlập kẻ thù, giành thắng lợi cho dân tộc để từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội.Phương pháp kết hợp các mặt đối lập của Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức to lớnđối với công cuộc đổi mới của chúng ta hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh quốc tếđang có những bước chuyển biến nhanh chóng và phức tạp như hiện nay Chútrọng chữ đồng, mặt thống nhất, đoàn kết trong giải quyết mâu thuẫn xã hội ở tưtưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ với thái độ thỏa hiệp giữa các mặt đối lập,cũng không phải là sự kết hợp có tính chất chiết trung, cải lương hay là quan điểmsai lầm, xóa bỏ nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập mà là sự kết hợp khoahọc, biện chứng Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh, đặc biệt chú trọng việc kếthợp các mặt đối lập như một sách lược, một biện pháp, một nghệ thuật để giảiquyết các mâu thuẫn xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cách sángtạo trong thời đại mới - thời đại của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầuhóa

Tóm lại, quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh,

đã kế thừa trực tiếp tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và đặc biệt là tư tưởng của

Trang 30

Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập Cùng với phương pháp tư duy mềm dẻo, biệnchứng truyền thống theo kiểu phương Đông, Hồ Chí Minh luôn nhìn thấy các mặtđối lập không phải là những đại lượng tĩnh tại mà luôn biến động và thay đổi,chuyển hóa, giữa các mặt đối lập bên cạnh những điểm khác biệt còn có nhữngđiểm tương đồng, từ đó vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để liên kết cácgiai cấp, tầng lớp đối lập nhau trong xã hội thành một khối thống nhất, tạo nên sứcmạnh đánh thắng kẻ thù đồng thời giành chính quyền về tay giai cấp vô sản, xâydựng nhà nước xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp, giải phóng con người

1.2 Lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

a Khái niệm kinh tế thị trường

Lịch sử của xã hội loài người trước hết là lịch sử phát triển không ngừng củalực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là quá trình thaythế lẫn nhau của các phương thức sản xuất Trong đó, kinh tế thị trường ra đời vàtồn tại dựa trên yêu cầu tất yếu của lịch sử Bất kỳ xã hội nào muốn tồn tại và pháttriển cần phải có một tổ chức kinh tế - xã hội, trong lịch sử có hai kiểu tổ chức kinh

tế - xã hội, đó là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa (giai đoạn cao là kinh tế thịtrường)

Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài người; trong đó,sản phẩm được sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuấttrong nội bộ một đơn vị kinh tế nhất định, người sản xuất quyết định về số lượng,chủng loại sản phẩm theo nhu cầu của mình, gắn với điều kiện tự nhiên và phongtục tập quán cổ truyền, trình độ phân công lao động, công cụ lao động, phươngthức tổ chức sản xuất còn rất thấp và giản đơn, sản xuất mang tính tự cấp, tự túc,khép kín theo từng vùng, địa phương, lãnh thổ Nền kinh tế tự nhiên chủ yếu tồntại trong các xã hội như công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến

Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp của kinh tế tự nhiên trên

cơ sở phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế của nhữngngười sản xuất Kinh tế hàng hóa là hình thức kinh tế trong đó con người sản xuất

Trang 31

sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để traođổi, để bán trên thị trường Vì vậy, số lượng và chủng loại sản phẩm đều do ngườimua quyết định, việc phân phối sản phẩm được thực hiện thông qua quan hệ traođổi (mua - bán) trên thị trường.

Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm - vào thời kỳ tan rã của chế độ công xãnguyên thủy, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất mà hình thức đầu tiên của

nó là kinh tế hàng hóa giản đơn Đó là kiểu sản xuất do những người nông dân, thợthủ công tiến hành trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động củachính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau trên thịtrường Khi quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển mạnh, đặc biệt là trong thời kỳ tan

rã của phương thức sản xuất phong kiến và quá độ sang chủ nghĩa tư bản, kinh tếhàng hóa giản đơn phát triển thành kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Kinh tế tưbản chủ nghĩa là hình thức sản xuất hàng hóa cao nhất, phổ biến nhất trong lịch sửdựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động Đặc điểm của nền kinh tếhàng hóa tư bản chủ nghĩa là dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủnghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê Nền kinh tế tư bản chủnghĩa trải qua hai giai đoạn: kinh tế thị trường tự do (cổ điển) và kinh tế thị trườnghỗn hợp (hiện đại) Như vậy, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làmcho kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thành kinh tế hàng hóa phát triển hay còngọi là kinh tế thị trường

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là đồng nhất kinh tế thị trường với sảnxuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Khi nói sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa làmuốn nhấn mạnh mặt xã hội của sản xuất, tính chất của nền sản xuất; còn nói kinh

tế thị trường là muốn nhấn mạnh mặt tự nhiên của sản xuất dựa trên trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Ngày nay, kinh tế hàng hóa đã phát triển và phổ biếntrên phạm vi toàn thế giới Kinh tế thị trường tiếp tục tồn tại và phát triển cả dướichế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường trong

xã hội chủ nghĩa khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tiêu chí nói lên sựkhác biệt giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa chủ yếu là mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội Kinh tế thị trường tư bảnchủ nghĩa là nền kinh tế thị trường lớn có quan hệ giữa người lao động làm thuê và

Trang 32

người thuê lao động do đó còn tình trạng bất công, còn kinh tế thị trường xã hộichủ nghĩa là nền kinh tế trong đó phải thực hiện và đảm bảo được công bằng xãhội Thực tế, hiện nay trên thế giới vẫn chưa có nền kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa do chưa thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: sản xuấthàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền vănminh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xãhội ở nước ta hiện nay cho thấy, kinh tế thị trường không phải là đặc trưng riêng cócủa chủ nghĩa tư bản, mà ngược lại nó đã từng có ở nhiều chế độ xã hội khác nhautrong lịch sử Sự ra đời kinh tế tư bản chủ nghĩa chỉ đẩy kinh tế thị trường lên mộtgiai đoạn phát triển cao hơn về chất, về cả quy mô, tính chất và mức độ bao quátcủa nó Tiếp tục xu hướng tất yếu đó, nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội nói chung

và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng là một sự phát triển mang tính phủđịnh biện chứng đối với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, từ đấy ra đời nền kinh

tế thị trường mới về chất Nếu trong chế độ tư bản, kinh tế thị trường đặt dưới sựquản lý của nhà nước tư sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp tư sản, thì trong chủnghĩa xã hội nền kinh tế thị trường nằm dưới sự quản lý của nhà nước vô sản nhằmphục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu giải phóng con người,

vì con người

Như vậy, kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa,trong đó toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều thông qua thịtrường Kinh tế thị trường chỉ có thể được xác lập và phát triển trên cơ sở đảm bảonhững điều kiện sau:

Thứ nhất, phải tồn tại nền kinh tế hàng hóa Việc đẩy mạnh phân công laođộng xã hội và đa dạng hóa các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất vàsản phẩm được coi là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế thị trường

Thứ hai, phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất, tự do kinh doanh.Đây là điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình giải phóng sức lao động và điềuhòa lợi ích giữa người mua và người bán, đồng thời giúp cho thị trường tuân theo

sự chi phối của các quy luật kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa

Trang 33

Thứ ba, nền kinh tế phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định được thểhiện ở sự phát triển các ngành kinh tế thuộc hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất -

kỹ thuật cùng với hệ thống tiền tệ, phương tiện để lưu thông hàng hóa

b.Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong lịch sử thế giới, kinh tế thị trường xuất hiện như một tất yếu gắn với

sự tồn tại của mọi quốc gia, là con đường dẫn đến giàu có, văn minh Tất nhiên,không phải quốc gia nào chuyển sang kinh tế thị trường cũng đều giàu có cả; điều

đó còn tùy thuộc vào nổ lực, bản lĩnh, vai trò và trí tuệ của nhà nước, của thể chếchính trị Thực tế, nền kinh tế thị trường trên thế giới cho chúng ta thấy, các nướckhác nhau có trình độ kinh tế, kết cấu xã hội, phong tục tập quán và truyền thốngkhông giống nhau nên cùng một mô hình kinh tế thị trường nhưng các thể chế kinh

tế sẽ khác nhau Chẳng hạn: ở Mỹ là nền kinh tế thị trường tự do, Cộng hòa liênbang Đức kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường kiểu Thụy Điển, ở Nhật kinh

tế thị trường cộng đồng, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc TrungQuốc, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy,không có một nền kinh tế thị trường nào là bản sao của nền kinh tế thị trường khác,mỗi nước cần phải tìm ra cho mình một thể chế kinh tế thị trường thích hợp, mộtcách thức riêng để can thiệp vào thị trường, định hướng nền kinh tế đến mục tiêumong muốn, trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia phát triển đất nước theo con đường

xã hội chủ nghĩa như: Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam nhưng các nước

đó lại lựa chọn cho mình một thể chế kinh tế không hoàn toàn giống nhau Chẳnghạn, Trung Quốc đang xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa theo quanđiểm "Bản chất xã hội chủ nghĩa là giải phóng sức sản xuất, phát triển sức sản xuấtxóa bỏ bóc lột, xóa bỏ phân hóa hai cực, cuối cùng đạt đến sự giàu có" [38, tr 32],Việt Nam định hướng về mục tiêu xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường là

"độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh" [6, tr 85,86] Với chủ trương phát triển nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước của dân, do dân và

vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định khuôn khổ vậnhành của thị trường một cách có tổ chức, có định hướng nhằm thực hiện mục tiêu

Trang 34

của chủ nghĩa xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Có thể nói chođến nay, lý luận kinh tế học vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Ở Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa có thể hiểu một cách chung nhất đó là một kiểu tổ chức kinh tế vừadựa trên những nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên sự dẫn dắtchi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, là nền kinh tế chưaphải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nhưng cũng không còn hoàn toàn làkinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Điều này cho thấy, kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam về bản chất đó là nền kinh tế hỗn hợp mangtính định hướng xã hội chủ nghĩa vừa kế thừa những thành tựu của loài người lạivừa gắn liền với đặc điểm và mục tiêu chính trị, là sự kết hợp giữa tăng trưởngkinh tế và tiến bộ xã hội Muốn giữ vững định hướng chính trị, nhà nước bằng hệthống chính sách, công cụ để quản lý, điều hành nền kinh tế, phát huy mặt tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của thị trường nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển, đờisống nhân dân được cải thiện.

Tóm lại, kinh tế thị trường được coi là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội,trong đó sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường, quan hệkinh tế giữa người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm đều biểu hiện qua thịtrường, qua việc mua bán sản phẩm với nhau Ngày nay, kinh tế hành hóa đã pháttriển và phổ biến trên phạm vi toàn thế giới, sản xuất hàng hóa tiếp tục tồn tại, pháttriển dưới các chế độ nhà nước khác nhau Ở nước ta, trong những năm qua, nhờchuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế đã cónhững thay đổi căn bản và có những bước khởi sắc rõ rệt Điều đó, khẳng định môhình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xâydựng, vừa phù hợp với xu thế phát triển của thế giới vừa phù hợp với mục tiêu xãhội chủ nghĩa đã lựa chọn

1.2.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Với tư duy biện chứng mácxít, Đảng và nhân dân ta tin vào sự diệt vongkhông thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hộitrên toàn thế giới Chủ nghĩa xã hội với những thành tựu đã đạt được trong gần mộtthế kỉ qua đã và đang chứng tỏ trước loài người khả năng và triển vọng phát triển

Trang 35

của mình Lịch sử cũng chứng tỏ rằng, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới không diễn ra trong một thời gian ngắn vàtheo một con đường thẳng tắp, mà có những bước tiến bước thoái quanh co, nhưngcuối cùng loài người nhất định sẽ đi đến xã hội tốt đẹp, văn minh, tiến bộ hơn chế

độ tư bản chủ nghĩa, đó chính là chế độ xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản

Lịch sử Việt Nam hơn 70 năm qua là lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đểbước vào cách mạng xã hội chủ nghĩa Cách mạng Việt Nam là một bộ phận củatrào lưu chính trong thời đại ngày nay - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Dựa trên cơ sở hiểu biết nội dung, tínhchất của thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoạch định đường lối, xây dựng vàphát triển đất nước theo con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đưa ra quan niệm về thời kỳ quá độnhư sau: giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳcải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng với thời kỳ ấy là một sựquá độ chính trị và nhà nước của nó không thể là cái gì khác hơn là nền chuyênchính cách mạng của giai cấp vô sản Tư tưởng đó về thời kỳ quá độ đã được Lênin

kế thừa, làm sâu sắc và đã định nghĩa: Danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụngvào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có nhiều thành phần,những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội không?Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có Ông cho rằng thời kì quá độ là thời đấu tranhgiữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh hay nóicách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn và chủnghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn non yếu

Cạch đó, Lênin còn chỉ ra nhiều đặc điểm quan trọng của thời kỳ quá độ.Theo ông thời kỳ quá độ có bốn đặc điểm:

Thứ nhất, thời kỳ quá độ là thời kỳ xét trên mọi mặt của đời sống xã hội đều

do nhiều thành phần kinh tế không thuần nhất cấu tạo nên, là thời kỳ có sự đanxen, thâm nhập vào nhau giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội

Trang 36

Thứ hai, đó là thời kỳ phát triển của cái cũ, của trật tự cũ đôi khi lấn átnhững mầm mống của cái mới, của trật tự mới nhưng không phải bao giờ cũngnhìn thấy rõ.

Thứ ba, đây cũng là thời kỳ có sự phát triển của tính tự phát tiểu tư sản, làthời kỳ chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa tính kỷ luậtnghiêm ngặt của giai cấp vô sản và tính vô chính phủ, vô kỷ luật của các tầng lớptiểu tư sản Lênin cho rằng, tính tự phát tiểu tư sản là kẻ thù giấu mặt hết sức nguyhiểm và đây cũng chính là đặc điểm nổi bật của giai đoạn quá độ

Thứ tư, thời kỳ quá độ là thời kỳ lâu dài, có nhiều khó khăn, phức tạp, trảiqua nhiều lần thử nghiệm để rút ra kinh nghiệm và hướng đi đúng đắn Đồng thời,V.I Lênin đã cụ thể hóa và làm phong phú thêm nhiều những đặc điểm đó của thời

Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế lạc hậu so với thế giới, vìvậy để đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

mà trước mắt là tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế, đòi hỏi chúng ta phải tạo ra đượcmột sự phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất, thông qua đó rút ngắn các giaiđoạn, bước đi trong quá trình vận động đi lên Muốn như vậy, Đảng và Nhà nước

ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, bởi cốt lõi của sự pháttriển rút ngắn ở nước ta là rút ngắn tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Sựphát triển rút ngắn này được coi là cách thức thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội

bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện sự pháttriển vượt bậc của lực lượng sản xuất trên nền tảng là hệ thống quan hệ sản xuấthỗn hợp, trong đó quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện vàdần dần chiếm vị trí chi phối nền kinh tế Từ đây, Đảng và Nhà nước ta chủ trươngxây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Để làm được điều đó, chúng ta phải

Trang 37

nhận thức đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa điều đó có một ý nghĩa hết sức quan trọng Vậy, quá độ bỏqua chế độ tư bản chủ nghĩa phải được hiểu là bỏ qua quá trình xác lập vị trí chiphối của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong tiến trình phát triển, do vậyđương nhiên sẽ không tồn tại cơ sở kinh tế cho việc xác lập một kiến trúc thượngtầng chính trị tư bản chủ nghĩa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng,

đã xác định:

Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan

hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừanhững thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đặc biệt

về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nềnkinh tế hiện đại [6, tr 84]

Như vậy, việc nắm vững lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin về đặc điểm của thời kỳ quá độ có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đốivới thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay, giúp chúng ta nhận thức một cách đầy

-đủ, khoa học về thời kỳ quá độ nói riêng và chủ nghĩa xã hội nói chung Đó là thời

kỳ mà trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội còn mang dấu vết của xã hội cũ,

có sự đan xen giữa cái cũ tức chủ nghĩa tư bản và cái mới tức chủ nghĩa xã hội, màcái mới đôi khi còn ở dạng mầm mống, phát triển chậm chạp, thậm chí bị cái cũlấn át; đây còn là thời kỳ khó khăn, phức tạp và rất lâu dài, trải qua nhiều giaiđoạn, nhiều nấc trung gian Nhiệm vụ kinh tế trong thời kỳ quá độ là xóa bỏ quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vàphải được hiểu đây là một quá trình lâu dài Để làm được điều đó, cần phải xâydựng nền kinh tế thị trường với sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa Như vậy, cơ sở tồn tại nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh

tế khác nhau là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất Do đó, nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ đòi hỏiphải có sự quản lý của nhà nước để tránh đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thựchiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Cụ thể hóa mục tiêu đó trong Đường lối, chính sách phát triển đất nước, Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã làm rõ tính định hướng xã hội chủ

Trang 38

nghĩa: đó là chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhànước và kinh tế hợp tác; kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tếtập thể dần dần trở thành nền tảng; mở rộng các hình thức liên kết giữa kinh tế nhànước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước; cần phải thực hiệnnhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kếtquả sản xuất - kinh doanh, phân phối thông qua phúc lợi xã hội Bên cạnh đó, thừanhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức thuê, mướn lao động nhưng không để biếnthành quan hệ thống trị, dẫn tới tình trạng bóc lột và sự phân hóa xã hội thành haicực đối lập Hơn nữa, khi thừa nhận kinh tế thị trường là cần thiết đối với quá trìnhxây dựng xã hội chủ nghĩa thì cũng có nghĩa là phải thừa nhận sự tồn tại tất yếucủa kinh tế tư nhân trong xã hội chủ nghĩa, không những thế thừa nhận kinh tế tưnhân, cũng có nghĩa là thừa nhận một động lực quan trọng không thể thiếu trongquá trình xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Đây cũng chính là chủ trương,chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênintừng nhấn mạnh đến việc xóa bỏ chế độ tư hữu nhưng không phải xóa bỏ mọi hìnhthức sở hữu Thực tế, của mỗi cá nhân trong xã hội đặc biệt trong xã hội có giaicấp, ý thức về quyền sở hữu cũng là thuộc tính của mỗi con người, con người chỉcảm thấy có động cơ khi họ hoạt động cho mình tức là vì lợi ích mà trước hết là lợiích kinh tế của bản thân sau đó mới vì các mục đích khác Mác nói: "tất cả cái gì

mà con người đấu tranh để giành lấy, đều gắn liền với lợi ích của họ" [3, tr 23].Căn cứ theo tư tưởng đó, xã hội ta hiện nay, phải coi sở hữu tư nhân và kinh tế tưnhân là một động lực cá nhân mạnh mẽ, tồn tại lâu dài với đời sống con người và

xã hội loài người, phát triển kinh tế tư nhân là một tất yếu xuất phát từ quy luật về

sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cótác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngày nay, kinh tế nhà nước vàkinh tế tư nhân gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại và phát triển; trong đó, kinh

tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quyết định bản chất và định hướng cho sự pháttriển của toàn bộ nền kinh tế, còn kinh tế tư nhân là chỗ dựa thiết yếu có vai tròquan trọng và là một trong những động lực của nền kinh tế Tuy nhiên, trong quátrình phát triển kinh tế tư nhân, cần chống lại tình trạng tự phát, vô chính phủ trong

Trang 39

sản xuất, kinh doanh, tình trạng không chấp hành pháp luật nhà nước , nhằm đưakinh tế tư nhân phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là pháttriển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Trong đó, thực hiện đa dạnghóa các hình thức sở hữu nhưng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất phải được coi

là nền tảng, giữ vị trí thống trị, vừa là mục tiêu vừa là phương tiện quy định bảnchất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Đảng ta khẳng định: " chủ nghĩa xã hội cónhững đặc trưng riêng về sở hữu những quan hệ sản xuất và phân phối nảy sinh từchế độ sở hữu đó Nền tảng của sở hữu này là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về

tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu nhà nước (quốc doanh) và sở hữu tập thể(hợp tác xã)” [38, tr 41]

Để đảm bảo phát triển nền kinh tế đúng định hướng, Nhà nước phải quản lýnền kinh tế thị trường bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách,

sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh

tế thị trường nhằm giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế vàkhắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, đảm bảo lợi ích của nhân dân laođộng Với những chính sách và biện pháp quản lý đúng đắn, phù hợp sẽ đảm bảocho sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các thành phần kinh tế và điều đó tất yếudẫn đến hệ quả là đảm bảo được sự ổn định về mặt chính trị - xã hội cho sự pháttriển đất nước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ rằng,trong 5 năm tới chúng ta tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa với những nội dung sau: nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý củanhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thịtrường cơ bản, theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phầnkinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh Với năm thành phần kinh tế làkinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân),kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; với tiêu chí định hướngchủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đểphát triển lực lượng sản xuất cần phải khai thác mọi nguồn lực, trong đó nội lực làquyết định, đảm bảo sự phát triển bền vững, quan hệ sản xuất phải được cải tạo

Trang 40

phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mọi thành phần kinh tế cầnbình đẳng trước pháp luật, được tự do cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo thực hiệndân chủ và công bằng, nâng cao mức sống của nhân dân, khuyến khích mọi ngườidân làm giàu chính đáng Làm được như vậy, thì tất cả mọi thành phần kinh tếđều trở thành bộ phận thiết yếu của nền kinh tế quốc dân định hướng xã hội chủnghĩa

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: các thành phầnkinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng pháttriển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh

tế tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển;kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắccủa nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong nhữngđộng lực của nền kinh tế [7, tr 83]

Tóm lại, thực tiễn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủnghĩa ở nước ta hiện nay, đang trải qua nhiều quanh co, thử thách đòi hỏi chúng taxây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự đan xen củanhiều yếu tố giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu, cái hoàn thiện vàchưa hoàn thiện Điều đó, buộc Đảng và Nhà nước ta trong quá trình quản lý,điều hành nền kinh tế cần biết khai thác, tận dụng thời cơ, khắc phục mọi lực cản,trở ngại vì mục đích cuối cùng đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội

Ngày đăng: 01/03/2017, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Trọng Bá (1996), "Doanh nghiệp nhà nước - một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 213), tr. 41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhà nước - một số vấn đề lý luậnvà thực tiễn
Tác giả: Đỗ Trọng Bá
Năm: 1996
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (2004), "Đổi mới quan điểm về chế độ sở hữu và ý nghĩa chiến lược của sự đổi mới đó đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay", Tạp chí Triết học (số 12), tr. 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quan điểm về chế độ sở hữuvà ý nghĩa chiến lược của sự đổi mới đó đối với sự phát triển của Việt Nam hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2004
8. Nguyễn Đức Đạt (2001), “Quan điểm biện chứng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học (số 4), tr.15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm biện chứng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Đức Đạt
Năm: 2001
10. Phan Trọng Hào (2007), "Vấn đề đảng viên cộng sản làm kinh tế tư nhân dưới góc nhìn kết hợp các mặt đối lập", Tạp chí Triết học (số 10), tr. 52-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đảng viên cộng sản làm kinh tế tưnhân dưới góc nhìn kết hợp các mặt đối lập
Tác giả: Phan Trọng Hào
Năm: 2007
11. Trần Hải Hạc (2006), "Khái niệm bóc lột: từ học thuyết Marx sang học thuyết tân cổ điển", Tạp chí Nghiên cứu & thảo luận (số 7), tr. 37-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm bóc lột: từ học thuyết Marx sanghọc thuyết tân cổ điển
Tác giả: Trần Hải Hạc
Năm: 2006
13. Nguyễn Tấn Hùng (1996), “Vài suy nghĩ về vấn đề giải quyết mâu thuẫn”, Tạp chí triết học (số 2), tr. 36-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về vấn đề giải quyết mâuthuẫn
Tác giả: Nguyễn Tấn Hùng
Năm: 1996
14. Nguyễn Tấn Hùng (1995), “Mấy suy nghĩ về hai cấp độ của mâu thuẫn: Mâu thuẫn bản chất và mâu thuẫn hiện tượng”, Tạp chí Triết học (số 3), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về hai cấp độ của mâuthuẫn: Mâu thuẫn bản chất và mâu thuẫn hiện tượng
Tác giả: Nguyễn Tấn Hùng
Năm: 1995
18. Trần Đắc Hiếu (2006), “Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta”, Tạp chí Triết học (số 5), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trongtư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta
Tác giả: Trần Đắc Hiếu
Năm: 2006
19. Lương Văn Kham (2001), "Sự kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với quá trình đổi mới", Tạp chí Triết học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề giaicấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với quá trình đổi mới
Tác giả: Lương Văn Kham
Năm: 2001
20. Trần Nguyên Kí (2001), "Về phương pháp kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ”, Tạp chí Triết học (số 5), tr. 54- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương pháp kết hợp các mặt đối lập đểgiải quyết mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ
Tác giả: Trần Nguyên Kí
Năm: 2001
25. Đỗ Hoài Nam (1996), "Một số vấn đề về mối quan hệ giữa định hướng XHCN và vận dụng CNTB nhà nước ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 222), tr. 32-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về mối quan hệ giữa địnhhướng XHCN và vận dụng CNTB nhà nước ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Năm: 1996
26. Nguyễn Thế Nghĩa (1994), “Tìm hiểu mâu thuẫn biện chứng trong triết học Mác - xít”, Tạp chí Triết học (số 3), tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mâu thuẫn biện chứng trongtriết học Mác - xít
Tác giả: Nguyễn Thế Nghĩa
Năm: 1994
27. Nguyễn Đăng Quang (1986), "Các mâu thuẫn xã hội quá độ - lý luận và sự vận dụng nó trong thực tiễn nước ta", Tạp chí Triết học (số 1), tr.23-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mâu thuẫn xã hội quá độ - lý luậnvà sự vận dụng nó trong thực tiễn nước ta
Tác giả: Nguyễn Đăng Quang
Năm: 1986
28. Phạm Ngọc Quang (1987), “Lý luận của Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập và cách mạng Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học (số 3), tr. 65-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận của Lênin về sự kết hợp các mặtđối lập và cách mạng Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Quang
Năm: 1987
29. Phạm Ngọc Quang (2004), “Sự phát triển quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới”, Tạp chí Triết học (số 11), tr. 5-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổimới
Tác giả: Phạm Ngọc Quang
Năm: 2004
32. Nguyễn Duy Quý (2008), “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học (số 3), tr.12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Năm: 2008
33. Hồ Sỹ Quý (1998), “Tìm hiểu khái niệm triết học - Mặt đối lập”, Tạp chí Triết học (số 3), tr.55-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khái niệm triết học - Mặt đối lập
Tác giả: Hồ Sỹ Quý
Năm: 1998
35. Trần Thành ( 2004), “Sự kết hợp các mặt đối lập trong giải quyết mâu thuẫn xã hội”, Tạp chí Triết học (số 1), tr. 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kết hợp các mặt đối lập trong giải quyếtmâu thuẫn xã hội
36. Đặng Hữu Toàn (2007), "Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua tổng kết 20 năm đổi mới trong các văn kiện đại hội X của Đảng", Tạp chí Triết học (số 8), tr. 3-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua tổngkết 20 năm đổi mới trong các văn kiện đại hội X của Đảng
Tác giả: Đặng Hữu Toàn
Năm: 2007
37. Đặng Minh Tiến (2007), "Phát triển kinh tế tư nhân - xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học (số 3), tr. 50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tư nhân - xu thế tất yếutrong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đặng Minh Tiến
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w