TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Thị Tuyến NGHIÊN CỨU TIẾN HÓA TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC CỬA SÔNG BA LẠT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội - 2016... TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Tuyến
NGHIÊN CỨU TIẾN HÓA TRẦM TÍCH HOLOCEN
KHU VỰC CỬA SÔNG BA LẠT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thị Tuyến
NGHIÊN CỨU TIẾN HÓA TRẦM TÍCH HOLOCEN
KHU VỰC CỬA SÔNG BA LẠT
Chuyên ngành: Địa chất học
Mã số: 60440201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NGHI
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
GS.TS Trần Nghi PGS.TSKH Nguyễn Địch Dỹ
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước tiên học viên xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô Khoa Địa chất - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Gia Hà Nội trong suốt thời gian học viên học tập, nghiên cứu tại trường
Học viên xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Trần Nghi, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình trong quá trình học viên thực hiện và hoàn thành luận văn Thầy là người đã truyền cho học viên lòng đam mê với địa chất, thử thách học viên theo những cách khác nhau; chỉ cho học viên cách làm việc, nghiên cứu một cách khoa học và hiệu quả
Học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô Bộ môn Trầm tích
và Địa chất biển - Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN Thầy, Cô đã luôn giúp đỡ học viên trong quá trình học tập và tận tình hướng dẫn học viên tiếp cận và thực hiện các phương pháp trong nghiên cứu trầm tích để học viên có thể sử dụng trong luận văn này
Luận văn đã sử dụng kết quả phân tích mẫu và số liệu từ 12 lỗ khoan từ các
đề tài đo vẽ bản đồ Địa chất Đệ Tứ tờ Thái Bình - Nam Định tỷ lệ 1/200000 (do Hoàng Ngọc Kỷ chủ biên, 1973) và tỷ lệ 1/50.000 (Vũ Nhật Thắng chủ biên, 1996) thuộc Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Bắc Cảm ơn Liên Đoàn đã tạo điều kiện cho học viên được sử dụng số liệu để học viên hoàn thành luận văn
Cuối cùng học viên xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã luôn ở cạnh, khuyến khích và động viên để học viên có thể hoàn thành luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Tuyến
Trang 4i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3
1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 3
1.2 Đặc điểm thuỷ văn và thủy triều 3
1.3 Đặc điểm khí hậu 5
1.4 Đặc điểm địa tầng Đệ tứ 6
1.5 Đặc điểm tân kiến tạo 18
1.5.1 Vùng nâng tân kiến tạo 19
1.5.2 Vùng sụt tân kiến tạo 20
CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Lịch sử nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Phương pháp luận 23
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 27
2.3 Cơ sở tài liệu 37
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC, TƯỚNG ĐÁ-CỔ ĐỊA LÍ 39
3.1 Đặc điểm thạch học 39
3.1.1 Đặc điểm thạch học trầm tích cát 39
3.1.2 Đặc điểm thạch học trầm tích bột sét 41
3.2 Đặc điểm tướng đá-cổ địa lí 42
3.2.1 Các nhóm tướng trầm tích Holocen sớm-giữa (Q21-2) 42
3.2.2 Các nhóm tướng trầm tích Holocen muộn (Q23) 45
CHƯƠNG 4 TIẾN HÓA TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC CỬA SÔNG
BA LẠT 53
4.1 Địa tầng phân tập trầm tích Holocen khu vực cửa sông Ba Lạt 53
4.1.1 Khái niệm địa tầng phân tập trên cơ sở tướng trầm tích 53
4.1.2 Ranh giới các miền hệ thống và các pha thay đổi mực nước biển 53
4.2 Tiến hóa trầm tích Holocen khu vực cửa sông Ba Lạt 54
4.2.1 Tiến hóa theo chu kì tướng trầm tích 54
4.2.2 Tiến hóa thành phần trầm tích: khoáng vật, độ mài tròn, chọn lọc 58
4.2.3 Biến động bờ biển cửa Sông Hồng trong Holocen và các giải pháp
phòng chống 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Vị trí khu vực nghiên cứu 3
Hình 2 Mối quan hệ nhân quả giữa kiến tạo, sự thay đổi mực nước biển và
thành phần vật chất 25
Hình 3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển châu thổ 25
Hình 4 Biểu đồ tương quan của động lực sông, sóng và thủy triều trong quá trình trầm tích vùng cửa sông ven biển (theo Galloway, 1973) 26
Hình 5 Khảo sát, lấy mẫu phân tích ngoài thực địa 28
Hình 6 Đường cong tích lũy độ hạt 30
Hình 7 Biểu đồ phân loại trầm tích (Cục địa chất Hoàng gia Anh, 1979) 31
Hình 8 Trầm tích cát đa khoáng lòng sông, Tuổi Q21-2, x40N+, 39
Hình 9 Trầm tích cát ít khoáng bãi triều, Tuổi Q21-2, x40N+, 39
Hình 10 Trầm tích cát ít khoáng bãi triều, TL1, x40, N+ 40
Hình 11 Trầm tích cát ít khoáng bãi triều, TL6, x40, N+ 40
Hình 12 Trầm tích cát ít khoáng bãi triều, GT12, x40, N+ 40
Hình 13 Trầm tích cát ít khoáng cồn cát cửa sông hiện đại, TB17, x40, N+ 40
Hình 14 Trầm tích bột sét ĐBCT phân lớp xiên chéo mịn bãi triều, Tuổi Q21-2 (Tanabe, 2003) 41
Hình 15 Trầm tích bãi triều lagun cửa sông 42
Hình 16 Mặt cắt tướng đá-cổ địa lý của trầm tích Holocen khu vực ven biển
châu thổ Sông Hồng qua các lỗ khoan LK53 NĐ, LK ND-1, LK 56 NĐ,
LK 34TB, LK 35 TB 43
Hình 17 Mặt cắt tướng đá-cổ địa lý dọc Sông Hồng (từ đất liền ra biển) theo các
lỗ khoan 5TB, 19TB, 30TB 45
Hình 18 Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý khu vực cửa sông Ba Lạt cách đây 500 năm 47
Hình 19 Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý khu vực cửa sông Ba Lạt cách đây 200 năm 47
Hình 20 Sơ đồ tướng đá thạch động lực khu vực cửa sông Ba Lạt 48
Hình 21 Tướng cát cồn cát cửa sông, TB17 50
Hình 22 Tướng cát bãi triều xói lở hiện đại, GT12, Giao Thủy - Nam Định 51
Hình 23 Cột địa tầng tổng hợp theo địa tầng phân tập LK 5TB 52
Trang 6iii
Hình 24 Cột địa tầng tổng hợp theo địa tầng phân tập LK 35TB 52
Hình 25 Chu kỳ dao động mực nước biển và các miền hệ thống 53
Hình 26 Sơ đồ khối biểu diễn không gian 3 chiều quan hệ giữa tướng trầm tích và các miền hệ thống trầm tích Pleistocen muộn-Holocen khu vực cửa Ba Lạt 55
Hình 27 Mặt cắt địa chất trầm tích Pleistocen muộn, phần muộn - Holocen 56
Hình 28 Sơ đồ tiến hóa trầm tích Holocen vùng cửa Ba Lạt 57
Hình 29 Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến TN2 chỉ ra các tướng cát cồn chắn cửa sông biển thoái và đê cát ven bờ biển tiến bị chôn vùi 57
Hình 30 Sơ đồ biến đổi thành phần các cấp hạt theo độ sâu tại LK34TB 59
Hình 31 Sơ đồ biến đổi thành phần các cấp hạt theo độ sâu tại LK110aNĐ 59
Hình 32 Sơ đồ biến đổi thành phần các cấp hạt theo độ sâu tại LK35TB 60
Hình 33 Sơ đồ biến đổi thành phần các cấp hạt theo độ sâu tại LK56NĐ 60
Hình 34 Sơ đồ biển thiên độ pH và hệ số Kt theo độ sâu tại LK34TB 61
Hình 35 Bãi bồi Quất Lâm, Nam Định 63
Hình 36 Bờ biển bồi tụ (Cồn Vành, TB) 63
Hình 37 Móng nhà bị xói lở bờ biển Hải Hậu, Nam Định 64
Hình 38 Bờ biển xói lở (Nhà thờ đổ, Hải Hậu, Nam Định) 64
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.Thang địa tầng Đệ tứ 7
Bảng 2 Phân cấp độ hạt theo thang phi () (Folk.R, 1954) 31
Bảng 3 Các chỉ tiêu địa hóa đặc trưng cho các môi trường trầm tích 34
Bảng 4 Phân loại môi trường trên cơ sở các tham số trầm tích và địa hóa
môi trường 35
Bảng 5 Bảng tổng hợp độ sâu và bề dày (m) ranh giới tướng trầm tích và các
miền hệ thống trầm tích Pleistocen muộn-Holocen khu vực cửa sông Ba Lạt 37
Bảng 6 Kết quả phân tích tuổi trầm tích theo 14C 37
Bảng 7 Bảng tổng hợp các tướng và tham số trầm tích các miền hệ thống 46
Trang 8HST Miền hệ thống trầm tích biển cao
TST Miền hệ thống trầm tích biển tiến
LST Miền hệ thống trầm tích biển thấp
BP Before present: Năm trước ngày nay
Trang 9MỞ ĐẦU
Khu vực cửa sông Ba Lạt là một bộ phận của châu thổ Sông Hồng Trải qua mười một ngàn năm khu vực nghiên cứu đã xảy ra những biến động rất lớn về địa tầng, trầm tích, địa mạo của đới bờ, sự thay đổi đường bờ và quá trình dịch chuyển cửa sông Lịch sử tích tụ trầm tích Holocen khu vực hạ lưu châu thổ Sông Hồng diễn ra trong mối quan hệ với pha biển tiến Flandrian (18000-5000 năm BP) và pha biển thoái sau biển tiến cực đại (5000 năm BP đến nay) Đây là giai đoạn biến động hết sức phức tạp Tuy đã có một số công trình nghiên cứu về địa tầng, địa chất Đệ
Tứ như phướng án đo vẽ bản đồ địa chất Đệ Tứ tỷ lệ 1/200000 của Hoàng Ngọc Kỷ (1973) và 1/50000 tờ Thái Bình Nam Định của Vũ Nhật Thắng (1996) song nghiên cứu về tiến hóa trầm tích, tướng và môi trường trầm tích và địa tầng phân tập trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển thì đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách chi tiết Các đặc tính địa hình-địa mạo, trầm tích tầng mặt và quy luật phân bố tướng trầm tích có một mối quan hệ nhân -quả với nhau Kết quả khu vực
hạ lưu Sông Hồng đã tạo nên nhóm tướng “đồng bằng châu thổ” trên đó có một loạt các hệ thống tướng giồng cát có hình lưỡi liềm quay lưng ra biển và tướng bãi bồi châu thổ nghiêng thoải về phía biển Hiện nay chúng là các đồng bằng trồng lúa và trồng cói ở Thái Bình và các rừng ngập mặn Ramsa nổi tiếng ở Nam Định Nhóm tướng “đồng bằng châu thổ” này phủ trên nhóm tướng châu thổ ngầm và tạo nên một nhịp tướng châu thổ hoàn chỉnh theo phương thẳng đứng Nhịp tướng châu thổ Holocen giữa - muộn (Q22-3) này có cấu tạo nêm tăng trưởng và phủ chỉnh hợp trên nhịp tướng biển tiến Holocen sớm-giữa
Đề tài luận văn được chọn có tiêu đề “Nghiên cứu tiến hóa trầm tích
Holocen khu vực cửa sông Ba Lạt” nhằm làm sáng tỏ bản chất của quá trình tiến
hóa về thành phần vật chất và quy luật cộng sinh tướng theo không gian và theo thời gian
Theo không gian thành phần vật chất và dãy cộng sinh tướng được thay đổi
liên tục theo 2 miền hệ thống: (1) Miền hệ thống trầm tích biển tiến (TST) từ 12000 năm đến 5000 năm BP được đặc trưng bởi 3 tướng cơ bản nối tiếp nhau từ biển vào đất liền, đó là là tướng cát bùn cửa sông estuary, tướng bùn đầm lầy ven biển và tướng sét xám xanh Theo chiều hướng đó thành phần trầm tích cũng đơn giản dần
từ đa khoáng đến ít khoáng; (2) Miền hệ thống trầm tích biển cao (HST) các tướng trầm tích được thay thế nhau theo đường bờ dịch chuyển dần từ đất liền ra biển Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn giới hạn từ trầm tích đồng bằng châu thổ đến đới trong của tiền châu thổ hiện đại chiếm khoảng 500 km2
thuộc các huyện ven
Trang 102
biển như Thái Thụy, Kiến Xương, Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình và huyện Giao Thủy và Hải Hậu thuộc tỉnh Nam Định
Theo thời gian (tức từ dưới lên) trầm tích Holocen ở khu vực cửa sông Ba
Lạt gặp từ độ sâu 56m trở lên và có 2 nhịp tướng rõ ràng: (1) Nhịp tướng trầm tích biển tiến (TST) và (2) Nhịp tướng trầm tích biển thoái cao (HST)
Mục tiêu nghiên cứu:
1/ Làm sáng tỏ đặc điểm thạch học và tướng đá - cố địa lý Holocen khu vực cửa sông Ba Lạt
2/ Làm sáng tỏ quy luật phân bố trầm tích và tướng trầm tích từ 12000 năm đến nay
2/ Phân tích các minh chứng để chứng minh cho sự tiến hóa trầm tích theo không gian và thời gian
Nhiệm vụ nghiên cứu:
1/ Nghiên cứu đặc điểm thạch học, tướng đá-cổ địa lí Holocen vùng hạ lưu châu thổ Sông Hồng
2/ Nghiên cứu tiến hóa trầm tích theo không gian và thời gian
3/ Nghiên cứu nguyên nhân, xu thế bồi tụ và xói lở 2 khu vực cửa sông Ba Lạt:
- Khu vực bồi tụ: bờ biển Thái Bình
- Khu vực xói lở: phía nam bờ biển Nam Định
Bố cục của luận văn:
Chương I Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Chương II Lịch sử và phương pháp nghiên cứu
Chương III Đặc điểm thạch học và tướng đá -cổ địa lý
Chương IV Tiến hóa trầm tích trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu
Vùng nghiên cứu (Hình 1) thuộc một phần lãnh thổ và lãnh hải các tỉnh Thái Bình và Nam Định giới hạn trong toạ độ địa lý sau:
106o6’00” - 106o40’00” Đ
20o 0’00” - 20o30’00” B
Hình 1 Vị trí khu vực nghiên cứu
1.2 Đặc điểm thuỷ văn và thủy triều
1.2.1 Đặc điểm thuỷ văn
Khu vực nghiên cứu thuộc lưu vực của hệ thống Sông Hồng, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thành tạo châu thổ bị chôn vùi và châu thô ngầm hiện đại Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc vào Việt Nam qua biên giới gần
Trang 124
thị xã Lào Cai đến Việt Trì với tên gọi là sông Thao và có thêm hai sông lớn gia nhập là sông Lô và sông Đà Sông Hồng có năm chi lưu toả khắp đồng bằng đó là sông Đuống, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Thái Bình và sông Ninh Cơ Hằng năm con sông này đổ ra biển 114 tỉ m3 nước và chuyển tải theo gần 100 triệu tấn vật chất
lơ lửng, trong đó khu vực khu vực cửa chính, cửa Ba Lạt, đã chiếm gần 45% tổng lưu lượng Sau khi chảyqua hai tỉnh Thái Bình - Nam Định rồi Sông Hồng đổ ra Biển Đông tại cửa Ba Lạt Chiều rộng của sông trung bình tại đoạn này là 500-600 m
Khu vực nghiên cứu có một mạng lưới thủy văn dày đặc lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện khí hậu nên chế độ nước chia ra hai mùa rõ rệt, mùa lũ từ tháng VI đến tháng X chiếm khoảng 75% tổng lượng nước, mùa kiệt từ tháng XI đến tháng V năm sau, chiếm khoảng 25% tổng nước trong năm Đặc biệt Sông Hồng mang một lượng lớn phù sa đổ ra biển nên đường bờ tại cửa Ba Lạt mỗi năm tiến ra biển khoảng 40 m
1.2.2 Đặc điểm thủy triều
Khu vực nghiên cứu có chế độ triều khá đều đặn, tuy nhiên ở phía nam tính nhật triều kém hơn ở phía bắc cửa Ba Lạt Biên độ triều cực đại dao động từ 1,7 m đến 3,5 m, chu kỳ dao động 25 giờ và chậm pha 1 giờ đồng hồ so với thủy triều đảo Hòn Dấu Đặc trưng của các pha dao động triều ở đây là khá đối xứng, đặc biệt trong các ngày con nước lớn chỉ có đôi chút bất thường vào các ngày nước ròng Thủy triều cũng có đặc tính theo mùa: thủy triều mạnh thường vào tháng IX và kéo dài đến tháng II năm sau, trong khi mùa triều thoái từ tháng III đến tháng VIII hàng năm
Tương quan triều lên và triều xuống cũng thay đổi, xấp xỉ bằng nhau ở phía bắc cửa Ba Lạt, thời gian triều xuống tăng gấp đôi triều lên ở nam cửa Ba Lạt Thời gian triều xuống càng kéo dài, tốc độ triều xuống càng giảm và cân bằng nghiêng về bồi tụ
Dòng triều trong khu vực có những đặc điểm sau: trong thời gian nước lên dòng triều có hướng thịnh hành đông - tây, thời gian triều xuống có hướng thịnh hành tây - đông Các dòng chảy triều có vai trò lớn trong việc tái phân bố vật liệu trầm tích, đưa vào lắng đọng tại các bãi bồi châu thổ ngập triều Hướng thịnh hành lên của thuỷ triều là đông - tây, gặp đường bờ có hướng đông bắc - tây nam tạo các dòng chảy ven bờ có hướng về tây nam hoặc hơi lệch về phía nam vận chuyển theo vật liệu về các phía đó
Chế độ sóng
Chế độ sóng tại khu vực cửa Sông Hồng có sự phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió và các đặc điểm địa hình khu vực Từ tháng IX đến tháng II năm sau, hướng
Trang 13thịnh hành chuyển sang Đông Bắc, đôi khi chuyển sang hướng Đông Độ cao trung bình của sóng biển ven bờ khoảng 0,5 - 1 m, và có thể đạt 3 - 5 m trong các ngày giông bão Tuy nhiên khi truyền từ ngoài khơi vào, năng lượng cửa sóng bị giảm đáng kể tại các cồn cát bãi triều hoặc triệt tiêu năng lượng tại khu vực rừng ngập mặn
Khu vực cửa sông Ba Lạt là khu vực biển hở nên liên tục đón gió và đón sóng mạnh, tác động trực tiếp từ biển, đặc biệt là sóng bão và sóng của gió mùa đông bắc Sóng và sóng bão là yếu tố động lực chính đã tạo nên các cồn cát cửa sông cổ (giồng cát) và các cồn cát hiện đại như Cồn Vành, Cồn Lu, Cồn Thoi, Cồn Mờ… Đây là tính đặc thù nhiệt đới trong quá trình vận chuyển, lắng đọng, đặc biệt
là tái vận chuyển và tái phân bố trầm tích để có thể tạo nên các thể trầm tích đột biến ở vùng cửa sông Ba Lạt.Ví dụ năm 1973 chỉ một cơn bão cấp 12 đã chuyển dịch cửa sông Ba Lạt từ phía đông bắc sang đông đông nam cắt qua Cồn Vành và hình thành thêm Cồn Lu
Chế độ dòng chảy
Dòng dảy ven bờ tại khu vực cửa Sông Hồng thường được tổng hợp từ nhiều yếu tố khác nhau như dòng chảy sông, dòng triều, dòng do gió cũng như phân dị địa hình dọc bờ Tuy nhiên, yếu tố chủ yếu quyết định dòng tổng hợp là dòng triều trong đó dòng triều xuống bao giờ cũng lớn hơn dòng triều lên do tổng hợp thủy lực Nhìn chung hướng dòng chảy trong cả năm chủ yếu có hướng bắc - nam, dòng chảy tổng hợp trung bình đạt 20 - 60cm/s, cao nhất đạt 92 cm/s Tuy nhiên trong từng mùa, từng tháng, do sự thay đổ hướng gió nên dòng chảy có hướng phụ lệch về đông bắc - tây nam Đây chính là nguồn động lực vận chuyển trầm tích tạo nên quá trình bồi tụ mạnh xảy ra ở phần phía nam cửa Ba Lạt
1.3 Đặc điểm khí hậu
Lượng mưa: Vùng nghiên cứu có khí hậu nhiệt đới gió mùa với một mùa
đông lạnh và một mùa hạ ẩm ướt mưa nhiều
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này thường có gió mùa đông nam gây mưa nhiều, thỉnh thoảng có áp thấp nhiệt đới bão, trung bình trong mùa có 40 - 70 ngày có mưa với lượng mưa dao động từ 145 - 399mm, tổng lượng mưa trong mùa đạt tới 1200 - 2000mm Mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 năm sau, trung bình trong mùa có 30 - 50 ngày có mưa, với lượng mưa dao động từ 11,7 - 59,8mm Tổng lượng mưa trong mùa đạt 180 - 200 mm Biến trình năm của lượng mưa có một cực đại vào tháng 10 (399 mm) và một cực tiểu vào tháng 12 (11,7 mm)