Sau một thời gian được ít chú ý đến, trong những năm gần đây, Ca Trù được quan tâm nhiều hơn: từ công tác học tập, biểu diễn, truyền nghề và đặc biệt là nghiên cứu và giới thiệu Ca Trù n
Trang 1KỸ THUẬT VÀ BÍ QUYẾT ĐÀN HÁT TRONG NGHỆ
THUẬT CA TRÙ
Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Tình hình nghiên cứu của đề tài
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
IV. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
V. Cơ sở lí luận và phương pháp luận
VI. Ý nghĩa đề tài
VII. Kết cấu bố cục đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói, nghệ thuật Ca Trù là một nét văn hoá riêng biệt độc đáo của Việt Nam, nó là bộ môn nghệ thuật lâu đời, độc đáo và có vị trí đặc biệt trong kho tàng âm nhạc của người Việt Ca Trù gắn liền với Văn chương, Âm nhạc, Lễ hội, Phong tục, Tín ngưỡng, Tư tưởng triết lý sống của người Việt Vì vậy, nó là môn nghệ thuật mang trong mình diện mạo bản sắc của Văn Hoá Việt Nam
Trang 2Về cơ bản, dân nhạc bác học Việt Nam cũng nằm trong mạch nguồn chung của Văn Hoá dân gian Ngay trong tên gọi, mã gốc của nó vẫn là âm nhạc của quần chúng nhân dân lao động nhưng lại đậm đà màu sắc bác học Điều này tưởng như mâu thuẫn nhưng nếu phân tích hai yếu tố ấy trong những loại hình nghệ thuật cụ thể thì chúng ta lại nhận thấy mottj sự hài hoà thống nhất mà Ca Trù là một ví dụ tiêu biểu nhất Dù đã trải qua bao thăng trầm của Lịch sử nhưng sức sống bề bỉ của Ca Trù ít nhất là trong 500 năm qua vẫn chứng tỏ sự hấp dẫn đặc biệt của bộ môn nghệ thuật độc đáo này
Sau một thời gian được ít chú ý đến, trong những năm gần đây, Ca Trù được quan tâm nhiều hơn: từ công tác học tập, biểu diễn, truyền nghề và đặc biệt
là nghiên cứu và giới thiệu Ca Trù như một nét văn hoá đặc sắc của Việt Nam tới người yêu nghệ thuật trong và ngoài nước Tuy nhiên, con đường đi tìm một môi trường công chúng lí tưởng cho mình, tìm lại thời
Nghiên cứu Ca Trù cũng là góp phần vào việc tìm hiểu các giá trị nghệ thuật truyền thống của Văn học Việt Nam Trong nhiều thập kỉ qua đã từng có nhiều công trình, bài báo tìm hiểu về các khía cạnh của Ca Trù Có công trình khảo về văn chương Ca Trù, về sinh hoạt Ca Trù, có những công trình khảo về tiếng hát, tiếng phách của Đào nương Có những công trình tuyển chọn những bài thơ Ca Trù tiêu biểu nhất và cũng có nhiều các tổ chức Hội thảo Khoa học về nghệ thuật Ca Trù Với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế, nhằm đánh giá một cách khoa học về nghệ thuật này
Giáo phường ca Trù Thái Hà là gia đình có truyền thống 7 đời truyền nghề
và giữ gìn bộ môn nghệ thuật Ca Trù Đời thứ nhất Cụ Nguyễn Đức Ý (1830) đến năm 1852 ( Nhâm Tý) đỗ khoa Thủ khoa làm quan tại huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương ( đời vua Tự Đức) tên tuổi của cụ được ghi trong sách ( Những triều đại quan lại Việt Nam) Đời thứ hai Cụ Nguyễn Đức Bồi giữ chức Quản giáp là người chuyên về đàn đáy và các làn điệu Ca Trù và Ca vũ trong Cung Đình Đời thứ ba Cụ bà Nguyễn Thị Tuyết và cụ ông Trưởng Bẩy là một trong những tay đàn giọng hát hay nhất thời bấy giờ Đời thứ tư Ông Nguyễn Văn Xuân – vô
Trang 3địch Đàn Đáy Bắc Hà cùng bà Phán Huy (bà Phẩm) nổi danh bởi tiếng phách khuôn mẫu mực Đời thứ năm là Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Mùi Ông là người thừa hưởng những bí quyết về Đàn Đáy, Trống Chầu, Phách trong nghệ thuật Ca Trù dòng họ Đời thứ sáu Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Mạnh Tiến chơi đàn và Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thuý Hoà Đời thứ bẩy hai Đào nương trẻ Nguyễn Thu Thảo và Nguyễn Kiều Anh.
Với một vốn kiến thức còn khiêm tốn, người viết chỉ xin hướng đề tài của mình vào một phần nhỏ bé trong việc bảo tồn các kĩ thuật và bí quyết đàn hát trong nghệ thuật Ca Trù Để đóng góp vào những bí quyết và các kĩ thuật trong nghệ thuật Ca Trù người viết đưa ra những quan điểm về các kĩ thuật và bí quyết
mà đã được học của các Nghệ nhân trong Dòng họ đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong những năm qua nhằm đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong kho tàng âm nhạc, thi ca trong nghệ thuật Ca Trù của Việt Nam mà đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn Hoá phi vật thể của nhân loại (2010) Bên cạnh đó, những thống kê cụ thể về bí quyết và kĩ thuật của một Dòng họ đó là đóng góp lớn nhất của khoá luận mà người viết muốn truyền tới
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trong tình hình hiện nay, nghệ thuật Ca Trù còn rất ít các nghệ nhân, Ca Trù có nguy cơ bị mai một, cần được bảo vệ khẩn cấp trong thời điểm hiện nay Hầu như các làn điệu Ca Trù bị thất truyền rất nhiều, hiện nay chỉ còn giữ được
20 lần điệu trong 70 làn điệu Ca Trù Bản thân người nghiên cứu phải thu thập
và tìm kiếm nhiều tư liệu về Ca Trù và dựa vào 1 số làn điệu Ca Trù trong các bằng đĩa của các nghệ nhân Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, những tiếng Đàn của các nghệ nhân chu Văn Du, Nguyễn Đình Kì, Đinh Khắc Ban, trống chầu Nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi Tôi là người viết đề tài này cần phải thu lượm tất
cả các mảnh vỡ của nghệ thuật Ca Trù để ghép lại thành một hệ thống nhất là các kĩ năng, kĩ thuật và những bí quyết truyền dạy của các cụ nghệ nhân đã để
Trang 4lại qua nhiều thế hệ, nhất là giáo phường Ca Trù Thái Hà đã giữ nghề và truyền nghề 7 đời trong một dòng tộc
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật Ca Trù
Phạm vi nghiên cứu: Bảo tồn các kỹ thuật và bí quyết đàn hát
IV MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nhằm gìn giữ và bảo tồn nghệ thuật ca Trù một loại hình nghệ thuật Phi vật thể của nhân loại Nhằm giới thiệu về những bí quyết đàn hát trong nghệ thuật Ca Trù
Nhiệm vụ để học hỏi bí quyết của những nghệ nhân Ca Trù để truyền dạy cho thế hệ trẻ, giúp các bạn hiểu được những tinh hoa mà ông cha ta để lại
V Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
Ca Trù đã từng hấp dẫn các tao nhân mặc khách , những trí thức cao cấp,
tự do phóng khoáng của nhiều thời đại Ca Trù cũng hấp dẫn các nhà nghiên cứu
âm nhạc, nghiên cứu văn học, văn hoá Ý nghĩa của người viết nhằm hướng đến bảo tồn, gìn giữ những bí quyết đàn hát trong nghệ thuật Ca Trù với góc độ là người làm trong nghề
VI KẾT CẤU BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương I: Loại hình nghệ thuật Ca Trù trong đời sống văn hoá Việt Nam
Chương II: Bảo tồn các kỹ thuật và bí quyết đàn, hát trong nghệ thuật
Ca Trù
Phần kết luận
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT CA TRÙ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM
I. Nguồn gốc của nghệ thuật Ca Trù
1. Cội nguồn và khởi điểm
1.1. Thư tịch và truyền thuyết về Tổ Ca Trù
Thần tích Tổ Ca Trù ở Lỗ Khê
Xưa, vào đời Lê Thái Tổ trong nước ta, có người họ Đinh tên Lễ ở động Hoa Lư, huyện An Khang, Phủ Trường Yên, đạo Thanh Hoá, đời trước từng được thụ phong, nối đời hưởng ấm, theo vua dấy nghĩa ở Lam Sơn sống lại Vương Thông đã được 10 năm Ông lấy người con gái họ Trần, tên hiệu là Minh Châu, là nhà truyền gia thi lễ, kế thế tram anh, đúng thực cuộc hôn phối môn đăng hộ đối Một hôm Đinh công đi đến huyện Nga Sơn, Phủ Hà Trung, đạo Thanh Hoá thấy có một động ở bên bờ biển gọi là động Bích Đào, người thời đó gọi là động Thần Tiên Ông bèn xem xét Lúc ấy mặt trời chưa đứng bong, bèn
Trang 6nằm nghỉ Bỗng nhiên, ông mộng thấy có hai cụ già ngồi đánh cờ vui vẻ dưới gốc đào Có một cụ tự xưng: “ Ta vốn ở trên điễn Thừa Hoa, tên là Đông Phương Sóc, ngày ngày thường giáng hạ đến các tiên cung trên biển” Nhân đó, ông nói: “Nhà ngươi đức dày, đắc địa sinh con ắt được quý tử Trời đã định rồi vậy! Sẽ gặp và lấy vợ Tiên đó” Nói xong, theo đám mây bay lên không trung đi mất
Ngày hôm đó, ông cùng binh sĩ trở về đồn sở Bấy giờ Thái Tổ sai ông đem quân đi tuần phương Bắc để ứng phó với quân Minh Ông tiến đến trang Lỗ Khê, huyện Đông Ngàn, Phủ Từ Sơn, thấy có một cuộc đất sơn thuỷ hửu tình, có thế núi hình con phượng, hình cái đàn, là một thắng cảnh
Ngày hôm đó, ông truyền cho nhân dân, binh sĩ thiết lập đồn sở và trú lại
đó Được vài tháng, bà Trần thị, vợ ông, một đêm nằm mọng thấy có một con rắn xanh từ dưới đất vọt lên, trườn vào trong lòng bà Bà hoảng sợ tỉnh dậy Từ
đó bà Minh Châu có thai đến ngày mùng 6ến năm Quý Tỵ, tháng 4 sinh hạ một
bé trai Đứa bé thiên tư cao lớn, dáng vẻ tuấn tú kì lạ Ông biết là “ đắc địa sinh nhân”, đặt tên là Dự và nuôi dưỡng đứa bé rất thành tâm
Bấy giờ đang thượng tuần tháng Giêng, mùa xuân, Thái Tổ sai sứ giả đem thư tới, lệnh cho ông đi đánh giặc Minh ở Lạng Sơn Ông liền hội họp binh sĩ, quyết đánh lớn một trận; nhưng đánh mãi mà chưa phân thắng bại Ông đành trở
về trang Lỗ Khê, đạo Kinh Bắc Tháng lại ngày qua, Dự đã 12 tuổi, thiên tư dĩnh ngộ, học vấn tinh thông, cầm, kỳ, thi, hoạ, ca xướng thảy đều tinh luyện, chưa
có bậc anh tài nào vượt được Dự ngày ngày tìm học học thể cách dạo đàn ở các giáo phường, nghe nói ở huyện Gia Định, Thuận An, có trang Đông Cứu núi dựng chất chồng, dưới có bến sông, trên có chùa Thiên Thai, chàng bè đến đó Tại đây, chàng gặp một người con gái có nhan sắc “chim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường”, thật là thanh sắc vẹn toàn Đinh Dự bèn hỏi: “Nàng từ nơi nào lại,
mà hai ta gặp nhau ở đây vậy?” Người con gái ấy đáp: “ Thiếp là Đường Hoa Hải Tiên người ở động Nga Sơn, Thanh Hoá Nhân lúc nhàn rỗi ấy, lấy việc đọc giáo phường, thể cách 9 lối ca làm nghề” Đinh Dự nghe vậy, bè cười nói rằng:
“Đông thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” Nay người lấy cái hoà đức ở trên
Trang 7để dạy tôi hoà hợp ở dưới, cho nên lễ nghĩa của đạo với thể cách đàn của giáo phường là đồng hành vậy”.
Thế rồi, chàng bèn cùng Đường Hoa kết duyên chồng vợ, trở về nơi đồn trú là tra Lỗ Khê lập Giáo phường, Cha mẹ đều rất vừa ý Khoảng một năm sau, dạy xong nghề đàn, cũng lúc ấy, Thái Tổ sai sứ mang thư tới, nói rằng giặc Minh rất đông chia làm các đạo tiến vào nước ta Vua kế cùng lực kiệt đành thúc thủ Thái Tổ lo lắng lắm, sinh bệnh, bèn gọi sai Đinh Lễ trở về Thanh Hoá, bàn định
kế sách tiến quân Ngày hôm đó, vợ chồng ông cùng con trai và nhân dân đem binh sĩ trở về Thanh Hoá Bất đồ Đinh Lễ và Minh Châu đi được nửa đường đều mất cả Đinh Dự và binh sĩ rước về quê cũ, chọn đất tốt để an tang Sau đó vợ chồng Đinh Dự mới tới nơi đồn sở của Thái Tổ tâu rằng: “ Việc cha mẹ tôi do số trời, đều đã mất cả Chúng tôi xin nguyện đàn hát để giải bệnh cho nhà vua” Thái Tổ liền quyết chiến một trận, giặc Minh bị đánh tan Ngài lên ngôi Hoàng
đế Nhà vua tưởng nhớ các công thần, nghĩa sĩ bèn gọi vợ chồng Đinh Dự về kinh đo mở yến tiệc, thưởng công, ban tước Bấy giờ, Đường Hoa phu nhân mới tâu với vua rằng : “ Thiếp vốn do vượng khí của trời đất chung đúc mà sinh ra, biến hoá vô thường, tinh linh sáng suốt, bầu bạn cùng tiên, cai quản tam giới, biến hoá thiện duyên, chu du thiên hạ, dạy dỗ cho các phường để truyền lưu thiên cổ tiếng thơm Nay ngày tháng năm ở trần gian đã mãn, nguyện xin trở về thượng giới” Nói xong, khẩu chiếm một bài thơ rằng:
Gián phong triều tấu cửu trùng thiên
Tịch hệ thanh môn tuyệt khả lien
Nghĩa chủ báo sinh thần trượng tiết
Thời nhân hốt vị giáo phường hiền
Nghĩa là:
Can ngăn dâng tấu chín tầng trời
Chiều níu cửa thành xót mấy mươi
Nghĩa chúa báo đề tròn khi tiết
Người đời kể mãi chuyện không thôi
Trang 8Ngâm xong, bay lên không trung đi mất, tức là hoá vậy Bấy giờ Đinh
Dự tưởng nhớ đến tình chồng vợ bị ý trời đoạt đi, bèn bái tạ nhà vua và khẩu chiến một bài thơ rằng:
Luỹ thế quân ân hốt khế nhiên
Hiếu trung nhất tiết lưỡng kiêm toàn
Hạc quy hoa biểu thiên niên tại
Vạn sự tri tâm thác lão thiên
Nghĩa là:
Mấy kiếp ơn vua trọn tấm tình
Hiếu trung một tiết vẹn thanh danh
Hạc về, hoa biểu nghìn năm đó
Muôn việc yên lòng gửi cõi xanh
Ngâm xong, bèn ngửa lên trời than rằng: “Không thể làm gì được nữa, cũng cùng một lý ấy”, tức khắc biến thanh một con rắn xanh thật dài, trườn qua trườn lại chỗ cột trụ rồi đi mất Vua cho đôi vợ chòng này là bề tôi trung nghĩa Bấy giờ là tháng 11 ngày 13 Đinh Công và Hải Tiên cùng hoá vậy
Ngày hôm đó, vua bèn truyền hịch cho thần tử các giáo phường trong khắp nước Nam, đến Kinh đô rước mỹ tự về giáo phường của mình thiết lập từ đường để thờ phụng Vua chuẩn cho các cửa đình trong khắp nước Nam đều có lệ: tiết Khai Hạ ngày xuân cầu phúc với số tiền là 3 mạch Giáo phường dùng để cung đón trong việc thờ cúng ở giáo đường Lê Thánh Tông hoàng đế ghi nhớ công tích của các bề tôi, có làm thơ, phổ vào lời ca để ghi lại điềm lành ấy, gồm các bài Quân đạo, Thần tiết, Quân minh thần tiết, Dao tưởng anh hiền, Kỳ khí Lại gia phong cho Đinh Công là Thanh Xà Đại vương, gia phong Mãn Đường Hoa làm Công Chúa
Chuẩn cho Sinh từ giáo phường ở trang Lỗ Khê, đạo Kinh bắc thờ cúng, ban sắc để thờ Thật vẻ vang thay!
Phụng khai các các ngày sinh, hoá, các lệ và chữ huý cấm dùng như sau:
Thần sinh: ngày 6 tháng 4
Trang 9 Lễ dùng trên cỗ chay, dưới trâu, bò, xôi, rượu, xướng ca 10 ngày.
Thần hoá: 13 tháng 11
Lễ dùng trên cỗ chay, dưới đen, xôi, rượu
Chữ huý: Các chữ Lễ, Châu, Dự, Hoa đều cấm
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Ca Trù có thể có từ thời Lý, Ở đây, người viết đưa ra bài viết của Dương Đình Minh Sơn viết về “ Lý Thái Tổ ban thưởng cho con hát Đào Thị”trong báo Người Hà Nội số 13 - ra ngày 1/4/2005
Ở nước ta từ thời Nhà Đinh và Tiền Lê về trước, không có sử sách nào ghi chép về âm nhạc cung đình, nhưng từ thời Nhà Lý trở xuống vấn đề đó được sách chính sử và dã sử ghi chép khá đầy đủ: với những quy định trong việc tuyển chọn, luyện tập và tổ chức biên chế rất nghiêm ngặt về ca công trong Cung Đình nhất là thời Hậu Lê
Thời Hồng Đức (1470 – 1497) Nhạc Cung Đình được lập thành hai bộ: Đồng văn và Nhã nhạc Bộ Đồng văn thì chuyên tập âm luật để hoà nhạc Bộ Nhã nhạc thì chuyên chuộng nhân thanh, trọng tiếng hát Bộ Nhã nhạc còn gọi là
Nữ nhạc (Hát Ả Đào)
Dùng Đông văn vào việc tế tự Giao Miếu tỏ ra nghiêm trang, trọng đại Dùng Nhã nhạc vào việc khánh tiết, tiếp đã sứ thần ngoại quốc, hay yến tiệc tỏ
ra thiên hạ thái bình ấm no
Đời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) sau khi xây xong kinh thành Thăng Long, Vua cho lấy Lối Hát Thờ trong các đền, miếu ở những làng quê, đưa vào làm Lối Hát Thờ ở Thái Miếu mà thành Lối hát của Nữ nhạc Cung đình
Từ lối hát của ban Nữ nhạc Cung Đình, mà thành lối Hát Ả Đào Thính phòng: Mượt mà, thanh cao,tao nhã hoà hợp theo tiếng “tom” “chát” của lối hát thù tạc, thưởng ngoạn của các bậc Quan vương thong tuệ, những nhà khoa bảng tài danh về âm luật, trong Cùng đình nhà Lý
Sách Đại Việt Sử kí toàn thư cho biết: Khi đó trong ban Nữ nhạc Cung đình có con hát Đào Thị, giỏi nghề cầm ca, được vua Lý Thái Tổ ban thưởng Người thời bấy giờ, hâm mộ danh tiếng của Đào Thị, phàm các con hát đề gọi là Đào Nương,hoặc Ả Đào ( Ả là chị - tiếng cổ ) Đó là nguồn gốc ra đời của tên gọi Ả đào của Thể loại âm nhạc cùng tên trong Cung đình nhà Lý Ở đây, Lý
Trang 10Thái Tổ là người định hình cho tên gọi biệt danh “Đào Thị” của con hát, chứ không phải tên thật hoặc đặt tên mới cho nó Bởi lẽ, ngay ở đó, trong Hát thờ ở các Đền Miếu, ngoài vị nữ Hát thờ chính, còn có 4 đứa bé Hát hầu ngài tóc để chỏm, là “Cam”, “Quýt”, “Mận”, “Đào” gọi tên theo tên 4 loại quả, trong đó có hai đứa con trai là Cam, Quýt, hai đứa con gái là Mận, Đào.
Đền Miếu xuất hiện rất sớm,từ khi chỉ mới là một Mô đất cạnh Vực sâu – nơi đặt cỗ cúng thần Hà Bá, hoặc Mô đất kề chân dãy núi, nơi đặt cỗ cúng thần Núi…của vị tộc trưởng Do đó chữ “Miếu” ở Mô đất này là cơ sở cho tên gọi Thái Miếu trong Cung Đình nhà Lý và sau đó là Văn Miếu Quốc Tử Giám Đồng thời tâm linh từ ngôi Miếu của Mô đất này là điều kiện cho ngôi đình thờ thần Hoàng Làng dựng lên ở thế kỉ XV, còn điệu Hát Thờ Cửa Đình ở đây bắt nguồn từ điệu Hát Thờ ở ngôi Miếu – Mô đất kia
Do sự mờ ảo, xã xôi, huyền diệu ấy, cho nên người ta đã nhầm lẫn, mà cho rằng: Ca Trù mới có ở thế kỷ XV – tức là khi có ngôi đình làng mọc lên và
có tên gọi là Hát Cửa Đình được ghi trong các thư tịch Khi nhà Lý đưa “thầy trò” của một nhóm Hát Thờ ở Cửa Đền ấy vào làm lối Hát Thờ ở Thái Miếu, đến khi cô “Đào’ này lớn lên, thì nghiễm nhiên gọi luôn là “Ả Đào” hay là “Đào Thị”, người bề trên, gọi là “Con hát” Đó là cái tên biệt danh dài dòng của Đào Thị, tác giả phải lần tìm mãi ở các đền Miếu và các ban lễ tang Trong ban nhạc
lễ tang cũng cố bốn đứa bé hát đưa đò, chở hồn người qua Sông Ngao, sau này còn còn hai đứa Tác giả đã thấy hai đứa bé này, hát đưa đò trong lễ tang của một nhà giáo trường Đại Học Văn Hoá Hà Nội trên đường đi Sơn Tây ( cách Cầu Diễn 7km) (1983)
Đồng thời xuất hiện tên gọi “ Quản giáp” Quản Giáp là người đứng đầu, quản lý một đơn vị ca công của Cung Đình và có chuyên môn cao hơn
Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: Ất Sửu ( Thuận Thiên) năm thứ 16 (1025) đời vua Lý Thái Tổ tháng 8 Mùa thu Định binh làm giáp, mỗi giáp 15 người, dùng một người Quản giáp Con hát cũng gọi là Quản giáp
Như vậy, tên gọi “ Ả đào” và “Quản giáp” đã được ra đời từ giai đoạn đầu trong Cung đình nhà Lý Ở đây “Ả đào” là lực lượng ca nhi, còn “Quản giáp” là
Trang 11lực lượng phụ trách Từ đây thuật ngữ “Ả đào” và “Quản giáp” luôn luôn song song đi bên nhau, thúc đẩy cho sự hình thành và phát triển của dòng nhạc này.
Về sau, danh từ Ả đào, Quản giáp đã chuyển dịch ngữ nghĩa thành thuật ngữ “Đào kép” để gọi chung cho giới nghệ sĩ sân khấu, kể cả : Đào kép” Điện ảnh,…
Việc nhà Vua có lấy lối hát cửa đền vào làm nhạc Hát ở Thái Miếu và tuyển chọn, dung nạp những cai công tài giỏi làm nghề hát cúng cửa đền khắp cả nước vào Triều đình để lập ban Nữ nhạc và đặt chức Quản giáp để trong coi, hoặc việc ban thưởng cho con hát Đào Thị
Điều đó, nói lên Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên của nước ta, đã đặt nên móng cho sự phát triển rực rỡ của dòng nhạc Hát Ả Đào Nói cách khác dòng nhạc Hát Cúng Cửa Đền của dân tộc, đến thời nhà Lý đã được khẳng định, đưa vào danh mục trong sách sử của nước Đại Việt bằng thuật ngữ “Hát Ả Đào” Điều đó đã kích thích cho sự phát triển chiều sâu của dong nhạc này, không những trong Cung Đình mà còn ngoài Giáo Phường của cả nước Ở đây, sự nổi tiếng của Ca nhi Đào Thị là đồng nghĩa với tính chất của dòng nhạc Hát Ả đào,
để giới Hát Cúng Cửa Đền của cả địa phương và giới Đào nương trong Giáo Phường ở Kinh Kỳ làm tiêu chí mẫu mực mà noi theo
Ngày nay dòng nhạc Hát Ả Đào của cả nước có được sự tương đồng về các yếu tố như; Tên gọi, giọng điệu, tiết tấu của bộ gõ, nhạc cụ đệm, lời thơ (ca từ) và phong cách diễn xướng… Thành quả đó là nhờ công lao thống nhất từ thời nhà Lý và được diễn ra theo hai lẽ: Một là, Nhà nước tuyển chọn vào Cung Đình những ca công giỏi trong giới Hát Cúng Cửa Đền ở địa phương, chỉ tính riêng năm 1035 đời Vua Lý Thái Tông ( 1029 – 1054) đã dung nạp 100 ca nữ -
có nghĩa là họ đã mang theo tinh hoa, cốt cách và tâm hồn của các vùng trong cả nước về tụ hội Hai là ở Cung Đình có những bậc Quân vương thong tuệ, những nhà Khoa bảng tài danh giỏi âm luật , họ là những người có công trong việc thống nhất những dị biệt của các vùng lại, tức là: Tổng hoà hun đúc, nâng cao thành giá trị tổng hợp mới, hàm chứa tâm hồn, bản sắc Đại Việt Đó là dòng
Trang 12nhạc Hát Ả Đào của ban Nữ nhạc trong Cung đình nhà Lý và các triều đại kế sau: dùng khi tế tự Giao miếu và Khánh Tiết hay yến tiệc…
Kinh thi nói: “Âm nhạc của nước loạn nghe ai oán, giận hờn”, cho nên thời nào cũng vậy, các nhà trị quốc luôn quan tâm đến vấn đề âm nhạc Khi ấy dòng nhạc Hát Ả Đào trong Cung Đình Thăng Long có thể ví von như ngọn đuốc chuyền tay trong cuộc chạy tiếp sức, mà người dẫn đầu cho mỗi chặng đường ấy là từng bậc Quân Vương thông tuệ và những nhà Khoa bảng tài danh
về âm luật như: Vua Lý Thánh Tông ( 1054 – 1072) thông kinh truyện Tinh âm luật, phiên chế ra nhạc khúc, sai ca nhi hát, Vua còn làm ra cái Tiết cổ âm như hình bàn cờ, ở giữa khoét một lỗ tròn, khi tấu nhạc thì đặt cái trống vào đó mà đánh, nghe tiếng rất nhịp nhàng và ấm Hoặc Vua Lý Nhân Tông (1073 – 1127) trán rộng, mặt rồng, tay dài quá gối, sở trường về âm luật, những ca khúc do ca nhi luyên tập đều do nhà Vua chế tác
Chỉ cần dẫn ra vài điều đủ thấy, không những Vua Lý Thái Tổ, mà cả các đời vua kế nghiệp của triều đại nhà Lý và những bậc Quân Vương, những nhà Khoa bảng của những triều đại kế tiếp sau này, cũng hết sức quan tâm đến dòng nhạc “Hát Ả Đào” Đó là cơ duyên cho dòng nhạc này phát triển
Sự phát triển của dòng nhạc Hát Ả Đào, còn là nhờ ở một lẽ khác Đó là việc các ca công đã hết hạn phục vụ trong Ban ca nhạc của triều đình về nghỉ hưu, lập ra Giáo Phường ngoài các phố - tức là “Câu Lạc bộ” dành riêng cho các quan chức về hưu Họ gồm những nhà Nho lỗi lạc, tính tình tự do, phóng khoáng, sau khi đã nỗ lực về “tu tề trị bình” mới thả hồn vào nghệ thuật thi ca, cầu tìm lạc thú “ngoài vòng cương toả chân cao thấp” theo tinh thần “lạc thiên tri mệnh”, trong lòng không còn đau đáu về sống chết, về phú quý công danh ( Nguyễn Đăng Thục) Đó là cơ hội cho dòng nhạc Hát Ả Đào phát triển thành dòng nhạc Thính phòng, một thú thưởng thức cao sang, tao nhã dành riếng cho những “Tao nhân mặc khách” ; là nhà Nho, cho nên họ có nhiều tên gọi cho dòng nhạc này như: Hát Nhà Tơ, Hát Ca Trù,… chính ở Ca Trù, chúng ta không thấy được cái chân tướng sống động của giới tri thức Nho nhã xưa, mà còn thấy cái tài dung hợp – Việt hoá các thể loại: Đường Luật, Từ, Phú, Lực Bát, Song
Trang 13thất và ngắn được, dài được, thoả mãn cho những cung bậc rung cảm tâm hồn của những danh Nho thông tuệ, giỏi âm luật.
Người làm thơ cho hát, sẽ cầm chầu – tiếng trống chầu “tom chát” ở đây
là lời khen, chê tức thì, điều khiển Ả Đào khi hát Sự kết hợp giữa tâm hồn của những bậc Quân vương tài danh với những danh Nho thông tuệ với giọng hát ngọt ngào của Ả Đào nòi, tạo cho dòng nhạc này đạt tính chất “bác học” uyên thâm tinh tế, khúc chiết về âm nhạc, xúc tích trong lời thơ – Đạt tầm Triết học của Nhã Nhạc Cung đình
Qua những yếu tố cấu thành vừa nên cho thấy, dòng nhạc Hát Ả Đào là một tài sản quý hiếm mang bản sắc tâm hồn dân tộc, một thành tố có giá trị của nên Văn Hiến Thăng Long, mà người đặt nên móng là Lý Thái Tổ Việc nhà vua ban thưởng cho con hát Đào Thị, phải chăng đó là lời mong muốn và xa hơn là lời “Di huấn” cho sự quan tâm dòng nhạc này mãi về sau của vị vua khai sang ra kinh đô Rồng bay
1.2. Các ý kiến của các nhà nghiên cứu về cội nguồn và khởi điểm Ca Trù
Cội nguồn và khởi điểm của Ca Trù là vấn đề lý thú và phức tạp Hiện chúng ta còn thiếu tư liệu, thiếu chứng cứ Vì thế mà vấn đề này chưa từng được đặt ra trong một chuyên khảo
Tuy nhiên, đó đây, trong những công trình nghiên cứu, các nhf nghiên cứu đã phát biểu về thời điểm ra đời của Ca Trù Tựu trung, có ba nhóm ý kiến sau:
Ca Trù có từ thời Lý
Ca Trù ra đời về sau này
Chưa khẳng định thời điểm xuất hiện vì cho rằng chưa tìm được chứng cứ xác thực
Trang 14xuất hiện Ca Trù Trong sách có đoạn viết “Hát Ả Đào đã xuất hiện Những nghệ sĩ ca hát lúc bấy giờ thường được gọi chung là Đào và Kép Trên những phù điêu thời Lý, còn thấy cảnh vũ nữ múa dâng hoa hay cảnh nhạc công vừa múa vừa sử dụng các nhạc cụ như đánh trống, thổi sáo, gảy đàn…(bệ đá chùa Phật Tích, Tiên Sơn, Hà Bắc)”.
Các tác giả Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú trong Lời giới thiệu sách Tuyển tập thơ Ca Trù cũng cho biết Ca Trù ra đời và phổ biến rất sớm, từ thời
Lý Cũng như soạn giả của sách Lịch sử Việt Nam, các ông đã căn cứ vào “các bức cham thời Lý có các cảnh vũ nữ dâng hoa, nhạc công vừa múa vừa hát vừa
sử dụng các nhạc cụ như đàn, sáo, trống, Riêng về hát múa Ca Trù, các bức chạm ở các chùa Phật Tích (Hà Bắc), Thái Lạc (Hải Hưng), Hoàng Xá (Hà Nam Ninh)… và ở nhiều nơi khác nữa đã nói lên tính phổ biến rất sớm của môn nghệ thuật tổng hợp này”
Mới đây, trong bài viết Cần khẳng định Ca Trù là nhạc dân gian của Hà Nôi, Dương Đình Minh sơn cũng cho rằng Ca Trù có từ Thời Lý và khẳng đinh
“dòng nhạc ấy (chỉ dòng nhạc Cung đình Thăng Long), ngay từ thời đó đã phát triển rực rỡ, từng có một ca sĩ tên là Đào thị: Hát hay, múa giỏi được Vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) ban thưởng nên dòng nhạc ấy về sau còn có tên là hát Ả Đào”
b. Ca Trù ra đời về sau này:
Đại diện cho loại ý kiến này là các tác giả phạm Duy và Nguyễn Thuỵ Loan
Ý kiến của nhạc sĩ Phạm Duy được trình bày trong Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam; “Hát Ả Đào là một loại hát đặc biệt của miền Bắc, ra đời cách nay ít nhất là hơn 500 năm”
PGS TS Nguyễn Thuỵ Loan, trong Thông báo Khảo cổ học năm 1997,
“Mỹ thuật cổ nói gì về thời điểm tồn tại sớm nhất của hát Ả Đào” đã rất thận trọng khi sử dụng các tư liệu chứng cứ mỹ thuật để nghiên cứu về Ca Trù
Tác giả bài viết nhận xét rằng “Từ trên ba mươi năm nay, nhiều tài liệu, với tư cách cá nhân cũng như với tư cách cơ quan nghiên cứu cả Nhà nước, từng
Trang 15đưa ra một ý kiến cho tới nay vẫn được phổ biến khá rộng rãi: Lối hát Ả Đào có
từ thời Lý”
PGS TS Nguyễn Thuỵ Loan cho rằng Đàn Đáy là “một nhân tố đặc trưng, khu biệt Hát Ả Đào với các thể loại ca nhạc khác” Trên cơ sở đó, tác giả
đã bác bỏ ý kiến của các nhà nghiên cứu khác, cho rằng Ca Trù có từ thời Lý và
“Tuy nhiên, nếu tìm hiểu về sự hiện diện của cây đàn Đáy trong lịch sử thì với những tư liệu đã được giới Mỹ thuật công bố, ở thời Lý, thậm chí ca thời Trần, chưa thấy có đàn này
Về thời điểm xuất hiện của đàn Đáy dựa trên các tư liệu Mỹ thuật, tác giả viết “Số tư liệu ít ỏi chúng tôi có được nhờ Viện Mỹ thuật và PGS Nguyễn Du chỉ cung cấp lại mách bảo rằng; phải tới thế kỉ XVI, XVII, XVIII, đàn Đáy mới xuất hiện trong Mỹ thuật cổ Và chúng chỉ xuất hiện ở Cửa đình chưa thấy ở Chùa
c. Ngoài hai ý kiến đã trình bày ở trên, còn có một loại ý kiến nữa, chưa khẳng định thời điểm xuất hiện vì cho rằng chưa tìm thấy chứng cứ xác thực
Sớm nhất về loại ý kiến này là Nguyễn Đôn Phục Trong bài Khảo luận
về cuộc hát Ả Đào đăng trên tờ Nam Phong, số 70 năm 1923, ông viết: “Cuộc hát Ả Đào, thuỷ tự đời nào, khởi tự đất nào, nay thực chửa tìm được chứng gì đích xác mà đã dám nói, chỉ tương truyền rằng khi xưa có bà Mãn Đào Hoa Công chúa, là con ông Bạch Đinh Xà Đại Vương, chế ra âm luật và cách bộ Ả Đào để dạy đời, mà cuộc hát Ả đào thì khởi tổ ra tự tỉnh Thanh Hoá”
2. Sự hình thành tên gọi và ý nghĩa
Trong nên âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, không một thể loại âm nhạc nào lại có tính đa diện như nghệ thuật Ca Trù Trải theo dòng chảy của thời gian, tuỳ theo từng không gian văn hoá hay chức năng xã hội phối thuộc mà loại hình nghệ thuật này mang những tên gọi với nhiều ý nghĩa khác nhau
• Hát Ả Đào
Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, đời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) có người Ca Nương tên là Đào Thị giỏi nghề ca hát, thường được nhà vua
Trang 16ban thưởng Người thời bấy giờ ngưỡng mộ danh tiếng của Đào Thị nên phàm là con hát đều gọi là Đào Nương.
Sách Công dư tiệp ký viết rằng đời cuối thời nhà Hồ (1400 – 1407) có người ca nương họ Đào, quê ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên lập mưu giết được nhiều binh sĩ nhà Minh, cứu cho khắp vùng yên ổn Khi nàng chết dân làng nhớ thương lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào Về sau những người làm nghề ca hát như nàng gọi là Ả Đào
Trên sử liệu, có sự kiện về một ca nương nổi tiếng chứng tỏ nghề nghiệp của bà vào thời điểm lịch sử đó đã được phổ biến như thế nào trong xã hội Theo
đó hát Ả Đào được gọi là tên gọi cổ xưa nhất của thể loại âm nhạc Ca Trù
• Hát Ca Trù
Theo sách Ca Trù biên khảo, ở cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ Thẻ được gọi là Trù, làm bằng mảnh tre ghi mức tiền ứng với giá trị mỗi thẻ, dùng để thưởng Ả đào thay cho tiền mặt Khi hát, quan viên và thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng và một bên đánh trống Chỗ nào Ả đào hát hay, bên trông thưởng một tiếng “Cắc”, bên chiêng đánh một tiếng chiêng rồi thưởng cho một cái Trù Đến sang đào kép cứ theo trù thưởng mà tính tiền Vì thế hát Ả Đào còn gọi là hát Ca Trù gọi là Hát Thẻ
Có thể nói, tên gọi Ca Trù thể hiện rõ tính thương mại của một loại hình nghệ thuật – tức loại hình này đã đạt đến tầm nghệ thuật cao để trởi thành một giá trị hàng hoá trong đời sống xã hội Theo các nghệ nhân cho biết, việc thưởng thẻ không chỉ dành cho Đào Nương mà còn thưởng cả cho Kép đàn Tuy nhiên, thường thì người ta vẫn coi Đào Nương là nhân vật chính Có lẽ đây là đặc điểm xuất phát từ thói quen trọng nhạc hát hơn nhạc đàn của người Việt
• Hát Cửa Đình