3.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài: Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thựctrạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 1TÓM LƯỢC
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thựchiện chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự thamgia của nhiều thành phần kinh tế, đồng thời, hoạt động mở rộng quan hệ đối ngoại vàchủ động hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị… đã giúp chocác mối quan hệ về kinh tế, dân sự, thương mại phát triển đa dạng và không ngừngtăng thêm về số lượng cũng như chất lượng của các hợp đồng đặc biệt là hợp đồngmua bán hàng hóa Đây là loại hình hợp đồng chính được sử dụng trong hoạt động củaCông ty cổ phần vật tư và vận tải Itasco-HP nhưng đôi khi cá nhân và công ty thườngcoi nhẹ việc giao kết và thực hiện hợp đồng này.Vì vậy nghiên cứu về hợp đồng muabán hàng hóa là thật sự cần thiết không chỉ đối với bản thân công ty mà còn đối với sựphát triển của luật quốc gia Sau đây là nội dung cơ bản của bài luận:
Chương I: Làm rõ các lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hoạtđộng giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, cơ sở ban hành pháp luật,những nguyên tắc, nội dung pháp luật điều chỉnh đến hợp đồng mua bán hàng hóa nóichung
Chương II: Tìm hiểu thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hànghóa và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần vật tư và vận tải Itasco – HP
Chương III: Đưa ra định hướng nhừm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa đồng thời đề xuất những kiến nghị để góp phần hoàn hiện vấn đề này
Trang 2MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài khóa luận 1
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
5 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp 4
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 5
1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 5
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa 5
1.1.2 Đặc điểm 6
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa 8
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 8
1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 19
1.3.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 19
1.3.2 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 20
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ VÀ VẬN TẢI ITASCO – HP 21
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 21
2.1.1 Tổng quan tình hình về pháp luật điều chỉnh mua bán hàng hóa 21
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 24
Trang 32.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty cổ
phần VTVT Itasco –HP 26
2.2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá 26
2.2.2 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá 29
2.2.3 Giải quyết tranh chấp 30
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa của Công ty cổ phần vật tư và vận tải Itasco – hp 32
2.3.1 Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại CTCP VTVT Itasco - HP 32
2.3.2 Đánh giá chung về thực trạng áp dụng các quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại CTCP VTVT Itasco - HP 37
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 38
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 42
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 42
3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 43
3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng 43
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 45
3.3 Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 48
KẾT LUẬN 50
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDC: BỘ LUẬT DÂN SỰ
LTM: LUẬT THƯƠNG MẠI
CTCPVTVT: CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ VÀ VẬN TẢI
PL HĐKT: PHÁP LỆNH HỢP ĐỒNG KINH TẾ
WTO (World Trade Organization) : TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚICISG : CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài khóa luận
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức thươngmại thế giới WTO sau 8 năm đàm phán, để chuẩn bị tham gia và chấp nhận những luật
lệ chung cho hầu hết các nước trên thế giới, luật pháp Việt Nam đã có những thay đổicăn bản nhằm làm thu hẹp khoảng cách giữa luật Việt Nam và luật quốc tế, tạo sânchơi bình đẳng cho tất cả các bên tham gia vào hoạt động thương mại tại Việt Nam.Quốc hội Việt Nam đã thông qua nhiều đạo luật mới trong đó có Bộ luật dân sự 2005
và Luật thương mại 2005 thay thế cho Bộ luật dân sự và Luật thương mại cũ đồng thờichấm dứt hiệu lực của Pháp lện hợp đồng kinh tế Đây được xem là sự thay đổi lớn vàcần thiết với hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về hợp đồng nóiriêng
Như chúng ta đã biết hợp đồng mua bán hàng hóa là quan hệ trao đổi hợp pháp
mà hầu hết các cá nhân tổ chức kinh doanh đều phải thực hiện trong quá trình tồn tại
và phát triển, việc kí kết, thực hiện hợp đồng phải tuân theo đúng các quy định củapháp luật mới có thể giúp gắn chặt mối quan hệ hợp tác, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên, đồng thời góp phần tăng cường hiệu quả quản lý kinh tế của nhànước trong nền kinh tế Vì vậy với sự ra đời của các đạo luật nêu trên, quy định vềpháp luật hợp đồng hiện nay đã khá đầy đủ và có hệ thống.Tuy nhiên việc áp dụng cácchính sách mới trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng vẫn đang có nhiều vấn đề cầnbàn luận chính vì thế ta có thể thấy được vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa đốivới doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Nếu như việc giao kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa không diễn ra một cách thuận lợi thì làm sao doanh nghiệp có thể kíkết được những đơn hàng lớn, để đem lại nguồn lợi nhuận cho công ty, đồng thời tránhđược những tổn thất không đáng có trong quá trình kinh doanh
Khi đến thực tập tại CTCP VTVT Itasco - HP, vấn đề ký kết và thực hiện hợpđồng của công ty đã thu hút sự quan tâm của tôi, trong đó hợp đồng mua bán hàng hóachiếm tới 70% trên tổng số các loại hợp đồng của công ty Việc ký kết, thực hiện hợpđồng phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật mới có thể giúp gắn chặt mối quan
hệ hợp tác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần tăng cường hiệuquả quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế Do nhận thức được vai trò to lớncủa hợp đồng mua bán hàng hóa, nên việc tìm hiểu pháp luật hợp đồng là điều cầnthiết đối với công ty, hơn nữa, thực tiễn việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa tại công ty còn nhiều hạn chế và cần nhiều giải pháp giúp công ty cải thiệntrong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng pháp luật
Trang 6hợp đồng trên khía cạnh giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công tytrách nhiệm hữu hạn Nhật Việt là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa với riêng công ty
mà còn đối với nhiều doanh nghiệp khác Đây chính là lý do khiến tôi lựa chọn đề tài:
“Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần vật tư và vận tải Itasco – HP” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hànghóa tại Việt Nam
Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tạiCTCPVTVT Itasco – HP
Phát hiện các điểm mạnh cần phát huy và hạn chế cần khắc phục
Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc ký kết và thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại CTCPVTVT Itasco - HP nói riêng và với cácdoanh nghiệp Việt Nam nói chung
3 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận chung về một sốkhía cạnh pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóatrong luật Thương Mại
2005 và các văn bản khác có liên quan, thực trạng các quy phạm pháp luật về hợpđồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam Từ đó phân tích thực tiễn thực hiện những điềukhoản này tại CTCPVTVT Itasco - HP Bên cạnh đó, khóa luận tập trung nghiên cứuhướng giải quyết hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp luật về những yếu tố nêutrênvà đưa ra các hướng giải pháp về những vấn đề còn vướng mắc, nhằm giúp doanhnghiệp chủ động hơn, tự tin phát triển bản thân doanh nghiệp mình
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài: Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thựctrạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa tạidoanh nghiệp, để có thể:
- Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên
- Nêu ra thực trạng thi hành các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hànghóa và đánh giá thực trạng đó
- Lập luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu lực của pháp luật cũng nhưtính hiệu quả của hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh doanh của doanh nghiệp.-
Trang 73.3 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa kể từ khi Bộluật dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 ban hành cho đến nay,bên cạnh đó khóaluận tập trung làm rõ cácvấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam,nghiên cứu điển hình tại CTCPVTVT Itasco - HP
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồngmua bán hàng hóa và các vấn đề lý luận, thực tiễn trong thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề
lý luận và pháp lý liên quan đến các qui định về pháp luật hợp đồng mua bán hànghóa Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: phươngpháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic…Dướiđây là hai phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập thông tin là làm
cơ sở lý luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề ký kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa
+ Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổngquan quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hànghóa nói riêng như: LTM 2005, BLDS 2005, các văn bản pháp luật có liên quan từ đóđưa ra một số nội dung pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa
+ Thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng muabán hàng hóa trong CTCPVTVT Itasco - HP để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luậthợp đồng trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty
- Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, người viết phân tích đánh giá nộidung các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực trạng áp dụngchúng trong giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại CTCPVTVT Itasco– HP
Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn,tìm ra được bản chất, quy luật vận động của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 85 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Bố cục bài khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận thì gồm có 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh về hợp đồng mua bán
hàng hóa - Thực tiễn thực hiện tại CTCPVTVT Itasco – HP.
Chương 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp
đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.
Trang 9CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.
1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa.
Để có thể tồn tại và phát triển, các chủ thể trong xã hội tham gia vào các giaodịch nhất định thông qua việc trao đổi, dịch chuyển các lợi ích do mình tạo ra và nhậnlại những lợi ich vật chất cần thiết từ các chủ thế khác nhằm thỏa mãn các nhu cầuchính đáng của mình Một trong những phương thức cơ bản để thực hiện việc trao đổilợi ích trong xã hội chính là sự thỏa thuận giữa các bên dựa trên các nguyên tắc tự do,
tự nguyện, bình đẳng và được đặt dưới sự bảo trợ của luật pháp Hiện tượng đó được
định danh trong luật bằng thuật ngữ pháp lý: “Hợp đồng”
Hợp đồng nói chung là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên đểlàm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thôngdụng nhất Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thốngnhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa
vụ ràng buộc các bên
Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, đượctạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội Nhu cầucủa con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triểnphong phú và đa dạng Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành Việt Nam tại Điều 3khoản 2 LTM 2005 thì “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất độngsản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai” Cũng tại Điều 3 khoản
8 của Luật này cũng quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đócác bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhậnthanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữuhàng hoá theo đúng thoả thuận”
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầutiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tếkhác nhau, hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai vănbản pháp luật quan trọng là BLDS 2005 và LTM 2005 Theo quy định của Điều 428BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏathuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền,còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán Theo điều 163 BLDS
2005 thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.LTM 2005không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ đưa ra khái niệm về
Trang 10hoạt động mua bán hàng hoá Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hànghóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sảnhoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại Từ hai định nghĩa trên có thể thấyhợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của LTM 2005 là một dạng cụ thể của hợpđồng mua bán tài sản Bên cạnh đó cũng cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoávới các hợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng hoá, giacông hàng hoá… Mua bán hàng hoá khác với quan hệ thuê mua tài sản, khi thuê tàisản, quyền sử dụng và chiếm hữu được chuyển cho người thuê nhưng quyền sở hữu lạikhông được người cho thuê chuyển giao cho người đi thuê, mua bán hàng hoá khácvới các dịch vụ giao nhận hàng hoá, vì người giao nhận hàng hoá chỉ thực hiện chức
năng trung gian Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng “Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”.
1.1.2 Đặc điểm
Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lí là hợp đồng mua bán hàng hoá, có bản chất chung của hợp đồng dân sự, là sự thoảthuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ muabán Dù Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hànghoá song có thể các định bản chất pháp lí của hợp đồng mua bán hàng hoá được quyđịnh trong Luật Thương mại năm 2005 trên cơ sở Điều 428 của Bộ luật dân sự năm
2005 về hợp đồng mua bán tài sản Từ đó cho thấy hợp đồng mua bán hàng hoá trongthương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, tuy vậy, hợp đồng muabán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 vẫn có những nét khácbiệt, đặc thù so với hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm2005
Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng: Chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hoáchủ yếu là thương nhân Thương nhân theo quy định của Luật Thương mại năm 2005bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại mộtcách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh Thương nhân là chủ thể của hợpđồng mua bán hàng hoá có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài(trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế), ngoài chủ thể là thương nhân, các tổchức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồngmua bán hàng hoá Hoạt động của chủ thể không phải là thương nhân và không nhằmmục đích lợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ phải tuân theo phápluật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại năm 2005.Trong
Trang 11khi đó, chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản có thể là mọi tổ chức, cá nhân đầy đủnăng lực, có nhu cầu mua bán tài sản, có sự mở rộng hơn rất nhiều so với chủ thể tronghợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ hai, về đối tượng hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định củaLuật Thương mại năm 2005 có đối tượng là hàng hoá Tuy nhiên không thể hiểu theonghĩa thông thường, hàng hoá là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằmmục đích thoả mãn nhu cầu của con người hay chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, nguyênliệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thịtrường, nhà ở dùng để kinh doanh đưới hình thức cho thuê, mà còn là hàng hoá hiệnđang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hoá có thể là động sản hoặc bất động sảnđược phép lưu thông thương mại Khoản 2 Điều 3 Luật Thượng mại năm 2005 quyđịnh: “Hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b) Những vật gắn liền với đất đai”
Còn hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự có đối tượng gồm các loại tài sản quyđịnh trong Điều 162 Bộ luật Dân sự 2005: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tàisản được phép giao dịch” Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản được quy địnhtrong Bộ luật dân sự năm 2005 được quy định mang tính chất khái quát, là những tàisản được phép lưu thông, bao gồm cả hàng hóa trong mua bán thương mại, hàng hóatrong hợp đồng mua bán hàng hoá chỉ là một bộ phận của các loại tài sản là đối tượngcủa hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự
Thứ ba, về mục đích của hợp đồng: hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy địnhcủa Luật Thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi nhuận cho các thương nhân.Chỉ phần nào đó phục vụ mục đích tiêu dùng và các mục đích khác cho cả thươngnhân và những chủ thể không phải thương nhân tuỳ theo mong muốn và nhu cầu của
họ trong từng thời điểm Trong khi đó, ở hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của
Bộ luật dân sự năm 2005, với sự đa dạng của số lượng các chủ thể tham gia nên khôngnhất thiết đặt ra mục đích thu lợi nhuận mà có thể nhằm nhiều mục đích khác nhaunhư thiết lập quyền sở hữu, tiêu dùng,…
Thứ tư, về hình thức hợp đồng Mặc dù cả Luật Thương mại năm 2005 và BộLuật dân sự năm 2005 đều quy định hình thức hợp đồng mua bán có thể được thể hiệndưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giakết Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động kinh doanh thương mại, đối tượng của hợpđồng thường là những hàng hóa có số lượng, khối lượng hoặc giá trị lớn và để đảmbảo lợi ích giữa các bên giao kết, tránh xảy ra tranh chấp không đáng có thì hình thứchợp đồng bằng văn bản được sử dụng là chủ yếu
Trang 12Thứ năm, về nội dung hợp đồng: Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá theoquy định của Luật Thương mại năm 2005 cũng như trong hợp đồng mua bán tài sảntrong Bộ luật dân sự năm 2005 cơ bản là các điều khoản do các bên thoả thuận, thểhiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, nghĩa vụ củacác bên trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại Khoản 8 Điều 3 LuậtThương mại năm 2005 “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán
có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanhtoán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hànghoá theo thỏa thuận” có sự khác biệt so với quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụgiao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiềncho bên bán” Nghĩa vụ giao, nhận “thanh toán” có tính chất rộng mở hơn so với giao,nhận “tiền”, các hình thức thanh toán trong thương mại bao gồm tiền mặt, chuyểnkhoản, tín dụng, ghi nợ, séc, thẻ thanh toán, hóa đơn, biên nhân, … Trong hợp đồngmua bán hàng hóa, đối tượng thường có giá trị lớn, việc thanh toán bằng tiền khôngphải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, việc sử dụng các phương tiện thanhtoán và phương thức thanh toán khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các bên khithực hiện nghĩa vụ hợp đồng
Đối với Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2005 luôn luôn là bộluật gốc,việc xác định đối tượng điều chỉnh riêng đôi khi không dàng chút nào Việctìm hiểu sự khác biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hoá quy định trong Luật Thươngmại năm 2005 với hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự năm
2005 có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà làm luật trong quá trình xây dựng pháp luật
và các bên chủ thể trong việc lựa chọn và áp dụng luật trong trường hợp cụ thể
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1.1 Cơ sở về chính trị
Sau khi giành được thắng lợi trong công cuộc kháng chiến, nền chính trị củanước ta đã ổn định hơn, nước ta luôn luôn chủ động để hòa nhập chung vào nền kinh tếthế giới hiện đại Cùng với sự tăng cường quan hệ hợp tác trong nước và nước ngoài
đã không ngừng thúc đẩy Việt Nam hoạt động giao lưu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt làlĩnh vực kinh tế, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quan hệ
xã hội, các quan hệ dân sự và thương mại Một trong những quan hệ thương mại gópphần lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đó là quan hệ mua bán hànghóa, quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí
Trang 13là hợp đồng mua bán hàng hoá Hơn nữa,hoạt động mua bán tại Việt Nam ngày càngphát triển nhất là trong giai đoạn nước ta đang trong quá trình hội nhập thế giới, trướctình hình đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia đòi hỏi Nhà nướccần ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh những quan hệ trong hoạt động muabán hàng hoá, nhất là hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.2.1.2 Cơ sở về kinh tế
Nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự tốn tại và phát triển của từngquốc gia từng dân tộc, thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển sang môhình kinh tế thị trường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn Nhờ mô hình kinh tế đó,chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn và
kỹ thuật nước ngoài, mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều quốc gia trên thế giới Nhànước phải sử dụng hệ thống pháp luật làm công cụ điều tiết hoạt động của các tổ chứckinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm làm cho nền kinh tế phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mặt tích cực và ngăn chặn mặt tiêu cực của cơ chếthị trường, điều tiết các hoạt động kinh tế đối ngoại sao cho nền kinh tế không bị lệthuộc vào nước ngoài Vì vậy, hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn luôn thay đổi saocho phù hợp với các quy định chung trên thế giới khi có sự hợp tác với nước ngoài và
sự đa dạng trong hoạt động thương mại, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa Việcxây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đối với nước ta là một quá trình lâu dài, vì thịtrường luôn luôn biến động nên hệ thống pháp luật cũng phải được bổ sung hoàn chỉnhkịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế Do vậy, Quốc hội đã thông qua BLDS 2005thống nhất điều chỉnh các mối quan hệ về hợp đồng nói chung và LTM 2005 quy địnhmang tính chuyên ngành về hợp đồng mua bán hàng hóa để giải quyết những bất cậpnêu trên, đồng thời để đáp ứng nhu cầu hội nhập WTO, phù hợp với sự phát triển củakinh tế nước ta
1.2.1.3 Cơ sở về xã hội
Trong nhà nước pháp quyền, mọi quan hệ xã hội đều cần được điều chỉnh bởipháp luật, quan hệ mua bán hàng hóa là một phần của quan hệ xã hội, thực chất hoạtđộng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa hai bên nhằm mục đích kinh doanh, saocho hai bên đều được hưởng lợi ích tối đa Việc ban hành các quy định về mua bánhàng hóa thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ đảm bảo quyền, lợi ích của các chủthể tham gia, từ đó tạo điều kiện xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốtđẹp giữa cá nhân, tổ chức trong xã hội
Trang 141.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Nội dung của pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng thương mại
1.2.2.1.1 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình mà trong đó các bênchủ thể bảy tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việccùng nhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau, thực chất, đó là quátrình mà hai bên “mặc cả” với nhau về những điều khoản trong nội dung của hợp đồngmua bán hàng hóa Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:
Thứ nhất: Bên đề nghị đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.Thứ hai: Bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa và đi đến giao kết hợp đồng
1.2.2.1.2 Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Như đã biết, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ ýđịnh giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối vớibên đã được xác định cụ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa
Thực chất, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc một bên biểu lộ ýchí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham giagiao kết với người đó một hợp đồng mua bán hàng hóa
Việc đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thực hiện bằngnhiều cách thức khác nhau như:
Thứ nhất: Người đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gặp trựctiếp người được đề nghị trao đổi, thỏa thuận và trực tiếp đưa ra lời đề nghị giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa
Thứ hai: Người đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gửi lời đềnghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tới người được đề nghị thông qua cácphương tiện điện tử như qua mạng internet, fax hay bằng việc chuyển, gửi công văn,giấy tờ qua đường bưu điện,
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực:
Căn cứ theo Điều 391 BLDS 2005, thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệulực được xác định là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệulực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợpđồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó
Các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng được xácđịnh như sau:
Thứ nhất: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân;được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân
Trang 15Thứ hai: đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đềnghị.
Thứ ba: khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua cácphương thức khác
Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 392 BLDS 2005, bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thayđổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rútlại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị
Thứ hai:Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đềnghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đềnghị mới
Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 393 BLDS 2005, trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợpđồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phảithông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghịnhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng
Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 394 Bộ luật dân sự 2005, đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứttrong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận
Thứ hai: Hết thời hạn trả lời chấp nhận
Thứ ba: Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực
Thứ tư: Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực
Thứ năm: Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thờihạn chờ bên được đề nghị trả lời
Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa do bên được đề nghị
đề xuất:
Căn cứ theo Điều 395 BLDS 2005, khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kếthợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa
ra một lời đề nghị giao kết mới
1.2.2.1.3 Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thực chất là việc bên được đềnghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành giao
Trang 16kết hợp đồng mua bán hàng hóa với bên đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng muabán hàng hóa đó.Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:Căn cứ theo Điều 397 BLDS 2005, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thìviệc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đềnghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận nàyđược coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý dokhách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báochấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngaykhông đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.Khi các bên trực tiếp giao tiếpvới nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bênđược đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp cóthoả thuận về thời hạn trả lời
Rút lại thông báo trả lời chấp nhận:
Căn cứ theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thểrút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùngvới thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
1.2.2.1.4 Địa điểm giao kết hợp đồng
Căn cứ theo Điều 403 Bộ luật dân sự 2005, địa điểm giao kết hợp đồng dân sự docác bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự lànơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng
1.2.2.1.5 Thời gian giao kết hợp đồng
Giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng trong pháp luật hợp đồng bởi nó giúp
ta xác định được khi nào hợp đồng được xác lập, là một hợp đồng cụ thể trong số cáchợp đồng cơ bản của hợp đồng thương mại, do đó, hợp đồng mua bán hàng hóa cũngtuân theo những quy định của BLDS 2005 về vấn đề thời điểm giao kết hợp đồng
Căn cứ theo Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 quy định:Hợp đồng dân sự được giaokết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết; hợp đồng dân sựcũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn imlặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết; thời điểm giao kết hợpđồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng và thờiđiểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
1.2.2.1.6 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết hợpđồng Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù hợp khi giao kết hợpđồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật cho
Trang 17phép.Về nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp vớihình thức hợp đồng mua bán hàng hóa LTM 2005 không quy định hình thức giao kếthợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định của LTM 2005 về hìnhthức hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định hình thức giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LTM 2005 quy định, hình thức của hợp đồng muabán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi
cụ thể Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập dưới ba hìnhthức: lời nói, văn bản hoặc hành vi
Đối với giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập bằng hình thức lời nói(hay còn gọi là hình thức miệng), các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hànghóa chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng, giiao kết hợpđồng dưới hình thức này rất thuận tiện, nhanh chóng và thường áp dụng cho nhữngtrường hợp mà các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa đã quen biết và
có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa ngay sau khigiao kết sẽ thực hiện và chấm dứt ngay, hình thức này có giá trị pháp lý không dễ xảy
ra tranh chấp khi thực hiện hợp đồng
Đối với giao kết hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản, các bên khitham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ ghi nhận nội dung giao kết hợp đồngmua bán hàng hóa bằng một văn bản chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản của hợpđồng và có chữ ký xác nhận của các bên, hình thức này tạo ra chứng cứ pháp lý chắcchắn hơn so với hình thức miệng Thông thường theo hình thức này, hợp đồng đượclập thành nhiều bản mỗi bên giữ một bản làm bằng chứng chứng minh quyền của mỗibên Căn cứ vào văn bản hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên dễ dàng xác định đượcquyền và nghĩ vụ Đặc biệt, các bên còn dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đốivới bên kia Hình thức này thường được áp dụng trong các quan hệ mua bán hàng hóa
mà việc thực hiện hợp đồng không cùng lúc với việc giao kết, các giao dịch mua bánhàng hóa quan trọng, có giá trị lớn hay các hợp đồng mua bán hàng hóa có độ nhạycảm cao
Ngoài hai hình thức nói trên, hợp đồng mua bán hàng hóa còn có thể được giaokết bằng một hình thức khác đó là hình thức hành vi Theo đó, hợp đồng mua bán hànghóa sẽ được giao kết miễn các hành vi đó chứa đựng những thông tin mà các bên trongquan hệ mua bán hàng hóa đó hiểu và thực hiện trên thực tế.Giống với hình thứcmiệng, hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết bằng hình thức hành vi có giá trịpháp lý không cao, dễ xảy ra tranh chấp
Trang 181.2.2.1.7 Nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chính là nội dung hợp đồng muabán hàng hóa Do đó, các quy định pháp luật về nội dung hợp đồng mua bán hànghóa cũng chính là các quy định pháp luật về nội dung giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản do các bên thỏa thuận, thểhiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Do đó, nội dung của hợp đồngmua bán hàng hóa có thể hiểu là tổng hợp các điều khoản do các bên thỏa thuận, cácđiều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồngmua bán hàng hóa
Căn cứ theo Điều 402 BLDS 2005 quy định nội dung của hợp đồng: “Tuỳ theotừng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
1 Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm
2 Số lượng, chất lượng
3 Giá, phương thức thanh toán
4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
5 Quyền, nghĩa vụ của các bên
6 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
7 Phạt vi phạm hợp đồng
8 Các nội dung khác.”
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản
mà các bên thỏa thuận với nhau Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trước hết
là các điều khoản do các bên thỏa thuận Đồng thời, trên cơ sở các quy định củaBLDS, LTM và tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, có thể thấy nhữngđiều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối tượng, số lượng,chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian thanh toán, thời hạn giao hàng,địa điểm giao hàng, tuy nhiên, với từng hợp đồng mua bán hàng hóa cụ thể lại có sựkhác nhau
Các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chia rathành ba loại:
Loại thứ nhất: Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu và là những điều khoản khôngthể thiếu của hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu không thỏa thuận được các điều khoảnnày thì hợp đồng mua bán hàng hóa không thể giao kết được Điều khoản cơ bản cóthể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quy định Tùy theo
Trang 19từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm cónhững điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì không thoả thuận tới nó sẽkhông thể hình thành hợp đồng Bên cạnh đó cũng có những điều khoản vốn dĩ khôngphải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thoả thuận được điều khoản đómới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợpđồng mua bán hàng hóa sẽ giao kết
Loại thứ hai: Điều khoản thông thường
Điều khoản thông thường là những điều khoản được pháp luật quy định trước,nếu khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên không thoả thuận những điềukhoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thoả thuận và được thực hiện nhưpháp luật đã quy định Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thườngkhông làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng, để giảm bớt những công việckhông cần thiết trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên có thể không cầnthoả thuận và không cần ghi vào văn bản hợp đồng những điều khoản mà pháp luật đãquy định nhưng các bên vẫn phải thực hiện những điều khoản đó Vì vậy, nếu có tranhchấp về những nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
Loại thứ ba: Điều khoản tùy nghi
Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và những điềukhoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa cácbên còn có thể thoả thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nộidung của hợp đồng mua bán hàng háo được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho cácbên trong quá trình thực hiện hợp đồng, các điều khoản này được gọi là điều khoản tùynghi.Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng
tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của cácbên Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trongnhững cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn bảo đảmđược quyền yêu cầu của bên kia, dựa vào tính chất các điều khoản tùy nghi có thể chia
ra làm hai loại là điều khoản tùy nghi ngoài pháp luật và điều khoản tùy nghi khácpháp luật
Như vậy, tùy từng hợp đồng cụ thể, một điều khoản trong nội dung của hợp đồngmua bán hàng hóa có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điều khoản thông thường haycũng có thể là điều khoản tùy nghi
Trang 201.2.2.2 Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.2.1 Thực hiện các nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
- Về giao hàng:
Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng,chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng.Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từliên quan theo quy định của luật (Điều 34 LTM 2005) Nếu hợp đồng mua bán hànghóa mà phải qua người vận chuyển thì bên bán phải ký hợp đồng vận chuyển, hợpđồng bảo hiểm rủi ro trên đường vận chuyển, nếu hợp đồng quy định bên bán không
ký hợp đồng bảo hiểm mà bên mua ký thì bên bán phải cung cấp cho bên bán nhữngthông tin về hàng hóa để họ tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm (khoản 3 Điều 36 LTM
2005) Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thỏa thuận ghi vào hợp
đồng, nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chungcủa pháp luật
Khi thực hiện hợp đồng thì bên bán phải có nghĩa vụ đảm bảo tính hợp pháp củahàng hóa, bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa, bảo đảm tính hợppháp về sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa đó (Điều 46 LTM 2005), chịu trách nhiệm bảohành hàng hóa( Điều 49 LTM 2005)
- Về địa điểm giao hàng tại LTM 2005 có quy định tại Điều 35:
Các bên có thể thỏa thuận về địa điểm, thời hạn và phương thức giao hàng tùytheo tính chất của hàng hóa trong hợp đồng khi đã thỏa thuận về địa điểm giao hàngthì các bên phải tôn trọng thỏa thuận và phải thực hiện đúng thỏa thuận đó, bên bánphải có nghĩa vụ giao hàng, bên mua phải có nghĩa vụ nhận hàng đúng địa điểm đãthỏa thuận
Trong trường hợp không thỏa thuận địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàngđược xác định theo khoản 2 điều 35 LTM
- Về thời gian giao hàng tại Điều 37 LTM 2005 có quy định:
Các bên thường thỏa thuận về thời điểm giao hàng trong hợp đồng, nếu các bênkhông thỏa thuận vấn đề này trong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặctheo tập quán, nếu các bên không thỏa thuận về thời điểm giao hàng cụ thể mà chỉ nêuthời hạn giao hàng thì bên bán có thể giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thờihạn đó và phải báo trước cho bên mua Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận vềthời hạn giao hàng thì theo quy định tại Điều 37 LTM 2005, bên bán phải giao hàngtrong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng
- Về trách nhiệm do giao hàng không phù hợp với hợp đồng tại Điều 39 LTM
2005 có quy định: bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hóa không phù hợp
Trang 21với hợp đồng, bên bán phải chịu trách nhiệm trừ trường hợp những khiếm khuyết củahàng hóa bên mua phải biết hoặc đã biết khi ký hợp đồng.
- Về Thanh toán tại Điều 50 đến Điều 55 LTM 2005 có quy định:
Thanh toán tiền hàng được coi là nghĩa vụ quan trọng mà người mua phải thựchiện, bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng theo đúng thỏa thuận và cácbên có thể thỏa thuận về phương thức, địa điểm, thời hạn thanh toán, và trình tự thủtục thanh toán, đồng tiền thanh toán…Khi đó bên mua phải tuân thủ đúng các phươngthức thanh toán và thực hiện thanh toán theo trình tự, thủ tục theo thỏa thuận Nếu cácbên không có sự thỏa thuận này thì sẽ tuân theo quy định của pháp luật, điều này đượcquy định tại LTM 2005: Xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54, thờihạn thanh toán theo quy định tại Điều 55 và khoản 3 Điều 50
Trong trường hợp bên mua hàng vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng thìphải trả lãi trên số tiền trả chậm đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trườngtại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian trả chậm, khi bên vị phạm yêu cầu,trừ trường hợp có thỏa thuận khác Điều 306 LTM 2005 Khi người mua vị phạm nghĩa
vụ thanh toán thì người bán cũng có thể căn cứ vào Khoản 4 Điều 51, Điều 308 về tạmngưng thực hiện hợp đồng, Điều 312 về hủy bỏ hợp đồng, Điều 321về hình thức xử lýhành vi vi phạm pháp luật thương mại
- Chuyển rủi ro tại Điều 57 đến Điều 61 LTM 2005 có quy định:
Vấn đề chuyển rủi ro trong việc mua bán hàng hóa và một vấn đề cơ bản mà cácbên cần nắm, các bên cần thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro để tránh phát sinhtranh chấp, trong hợp đồng không có thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro, nếu bênbán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định, thì rủi ro về mấtmát hoặc hư hỏng được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho bên mua.Nếu hợp đồng không có quy định về việc vận chuyển hàng hóa cũng như địa điểmgiao hàng nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bênmua khi hàng hóa đã được chuyển giao cho người vận chuyển đầu tiên, trong cáctrường hợp cụ thể thời điểm chuyển rủi ro được pháp luật quy định chi tiết hơn
- Chuyển quyền sở hữu tại Điều 62 LTM 2005 có quy định:
Việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua là do hai bên thỏathuận hoặc nếu không có thỏa thuận thì quyền sở hữu được chuyển sang người mua làtại thời điểm giao hàng
Ngoài ra, vấn đề này BLDS 2005 cũng có quy định tại Điều 248 về việc chuyểngiao quyền sở hữu của mình cho người khác
Trang 221.2.2.2.2 Một số biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng:
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định từ Điều 318 đến Điều
373 BLDS 2005 bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản (bao gồm cả cầm cố, thếchấp bằng tài sản của người thứ ba), đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì các bên trong hợp đồng có quyền
tự chủ, tự do cam kết và tự do thoả thuận đồng thời các bên cũng phải tự chịu tráchnhiệm đối với các cam kết, thoả thuận của mình, điều này được thể hiện rõ nhất trongcác quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng cầm cố, thế chấp và bảo lãnh
1.2.2.3 Một số vấn đề liên quan đến việc giải quyết tranh chấp phát sinh:
1.2.2.3.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp:
Theo quy định tại Điều 317 LTM 2005, các phương thức giải quyết tranh chấptrong thương mại bao gồm:
- Thương lượng giữa các bên
- Hòa giải giữa các bên
- Giải quyết tại trung tâm trọng tài thương mại (Theo thủ tục tố tụng trọng tàiđược quy định tại luật trọng tài thương mại năm 2010)
- Giải quyết tranh chấp tại tòa án( theo thủ tục tố tụng dân sự được quy địnhtrong Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004) Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấpthương mại (tại điều 319 LTM 2005) là 2 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợppháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của LTM2005
1.2.2.3.2 Chế tài áp dụng giải quyết tranh chấp:
Tùy theo mức độ vi phạm sẽ áp dụng chế tài phù hợp để giải quyết tranh chấptheo quy định tại Điều 292 LTM 2005 Sau đây là các chế tài thường được áp dụng:Buộc thực hiện hợp đồng: Đây là chế tài có chức năng đảm bảo hợp đồng đượcthực hiện như thoả thuận, đúng với mục đích ban đầu của các bên; được áp dụng đốivới bất kỳ hành vi vi phạm hợp đồng nào
Phạt vi phạm: Là chế tài có chức năng tăng cường ý thức tuân thủ hợp đồng củacác bên.Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do viphạm hợp đồng Điều kiện để áp dụng chế tài này là phải có tồn tại thoả thuận về việcphạt vi phạm giữa các bên, đồng thời đã xảy ra hành vi vi phạm mà các bên thoả thuận
là điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm
Bồi thường thiệt hại: Đây là chế tài có chức năng bù đắp tổn thất vật chất cho bên
bị vi phạm Bên vi phạm có trách nhiệm bồi thường giá trị tổn thất thực tế và khoản lợitrực tiếp đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng nếu không có hành vi vi phạm
Trang 231.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.3.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại cũng phải tuân thủnguyên tắc cơ bản như đối với một hợp đồng dân sự thông thường và theo điều 389BLDS 2005, việc giao kết hợp đồng dân sự cần tuân thủ nguyên tắc sau:
Nguyên tắc tự do, tự nguyện thảo thuận, không được trái pháp luât, đạo đức xã hội ( điều 4 và khoản 1 điều 389 BLDS 2005, khoản 1điều 11 LTM 2005)
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, các cá nhân, tổ chứckhông kể là thương nhân hay không phải là thương nhân, nếu có đủ các điều kiện màpháp luật quy định đều có thể tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trongthương mại mà không bị bất cứ ai ngăn cản hay làm thay đổi ý chí
Ví dụ: Doanh nghiệp A ( bên bán ) có quyền tự do ký hợp đồng mua bán vải vócvới doanh nghiệp B, doanh nghiệp C theo quy định của pháp luật mà không thể bịngăn cản, nghĩa là doanh nghiệp B hay C không có quyền ngăn cản doanh nghiệp A kýkết với nhiều đối tác
Nguyên tắc này cũng cho phép các bên được tự do thỏa thuận tất cả các vấn đềliên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên, tuy nhiên quá trình giao kết hợp đồngphải đảm bảo hợp pháp, không trái với đạo đức xã hội, hợp đồng phải được giao kếthợp pháp cả về nội dung cũng như hình thức đúng với thẩm quyền của các bên
Nguyên tắc bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng ( điều 5; khoản 2 điều 389 BLDS 2005 và điều 10 LTM 2005)
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của các quan hệ hợp đồng.Trong quá trình giaokết hợp đồng, các bên đều bình đẳng với nhau.Không ai được áp đặt ý chí của mìnhlên người khác, các bên phải thỏa thuận với nhau trên cơ sở trung thực, ngay thẳng vàhợp tác Tất cả nhưng hợp đồng giao kết do nhầm lẫn, bị lừa dối hoặc bị đe dọa đềukhông đáp ứng nguyên tắc này, vì vậy những hợp đồng đó sẽ bị coi là vô hiệu, không
có hiệu lực pháp luật
Ví dụ: Doanh nghiệp M (bên bán) ký hợp đồng mua bán hoa quả nhập khẩu vớidoanh nghiệp B thì hai bên đều phải tự nguyện, bình đẳng về địa vị pháp lý Tựnguyện trong việc thỏa thuận giá cả hàng hóa, phương thức thanh toán, thời hạn và địađiểm giao nhận hàng, các bên phải thỏa thuận thống nhất ý chí, không bên nào được ápđặt, đe dọa hay lừa dối đối tác Nếu vi phạm nguyên tắc này thì hợp đồng bị coi là vôhiệu
Như vậy quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại cầnphải tuân thủ các nguyên tắc trên, quá trình giao kết hợp đồng chỉ cần vi phạm mộttrong hai nguyên tắc sẽ dẫn đến hợp đồng vô hiệu
Trang 241.3.2 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên.Các bên phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng bởi hợp đồng
có tính chất là luật nội bộ đối với các bên Để đảm bảo việc thực hiện lợi ích nghĩa vụcho các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật bảo vệ, phápluật quy định những nguyên tắc có tính chất bắt buộc phải tuân theođối với các chủ thểtrong quá trình thực hiện hợp đồng Như vậy việc thực hiện hợp đồng phải tuân thủcác nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thực hiện đúng: Chấp hành thực hiện đúng hợp đồng là không được
tự ý thay đối tượng này bằng một đối tượng khác hoặc không được thay thế việc thựchiện nó bằng cách trả một số tiền nhất định hoặc không thực hiện nó, nguyên tắc nàyđòi hỏi thỏa thuận cái gì thì thực hiện đúng cái đó
- Nguyên tắc thực hiện đầy đủ: Nguyên tắc này có nghĩa là thực hiện đầy đủ tất
cả các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, tức là tất cả các quyền và nghĩa vụ phátsinh từ quan hệ hợp đồng đều phải được thực hiện đầy đủ, cụ thể là thực hiện đúng đốitượng, đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng số lượng, đúng phương thức thanh toán
và các thoả thuận khác trong hợp đồng
- Nguyên tắc giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng: Nguyên tắc này
đòi hỏi các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau, thường xuyên theo dõi và giúp đỡ nhau
để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh mọi điều khoản của hợp đồng, giúp nhau khắcphục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN VẬT TƯ VÀ VẬN TẢI ITASCO – HP.
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa.
2.1.1 Tổng quan tình hình về pháp luật điều chỉnh mua bán hàng hóa
Tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta chủ trương đổi mới
tư duy kinh tế, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xoá bỏ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp, từ đó, nền kinh tế nước ta từng bước được vận hành theo cơ chế thịtrường, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.Trong nền kinh tế thị trường, sảnphẩm làm ra là để trao đổi, mua bán do đó hợp đồng kinh tế có vai trò hết sức quantrọng.Nó là hình thức pháp lý của mối quan hệ kinh tế, quan hệ hàng hóa – tiền tệ giữacác chủ thể kinh doanh Hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường không còn làcông cụ của Nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch như trong nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp nữa mà là công cụ của chính các chủ thể kinhdoanh để họ trao đổi hàng hóa, thực hiện dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh Hợpđồng kinh tế trở về với bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên trong việcxác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng vàkhông trái pháp luật, để phát huy vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thịtrường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng kinh tế,bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cần có sự can thiệp đúng mực của nhà nước vào cácquan hệ hợp đồng kinh tế thông qua hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ đặc biệt làpháp luật kinh tế phù hợp với quy luật phát triển và đòi hỏi khách quan của nền kinh tếthị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta
Trong điều kiện đó, điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghịđịnh 54/CP ngày 10/3/1975 không còn phù hợp nữa, nhà nước đã ban hành pháp lệnhhợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 và nhiều văn bản khác để điều chỉnh các quan hệ hợpđồng PL HĐKT 1989 ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực pháp
lý về hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, PL HĐKTđược coi là một trong những bước đi lập pháp đầu tiên, phản ứng nhanh chóng trướcđòi hỏi của kinh tế Điểm thành công nhất của PL HĐKT là sự khẳng định nguyên tắc
tự do hợp đồng bằng quy định ký kết hợp đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế,không cơ quan, cá nhân, tổ chức nào được áp đặt ý chí của mình cho các chủ thể kháckhi ký kết các hợp đồng kinh tế Tuy nhiên, PL HĐKT 1989 được ban hành vào thời
kỳ đầu của công cuộc đổi mới khi mà cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa của chúng tacòn chưa định hình, tri thức về nền kinh tế thị trường của chúng ta còn thiếu, tư duy
Trang 26pháp lý về nền kinh tế thị trường còn bị hạn chế do đó trong pháp lệnh hợp đồng kinh
tế còn mang những quy định mang dấu ấn của cơ chế cũ vì vậy khi đi vào vận hành nó
đã bộc lộ những điểm yếu
Đầu tiên là sự mâu thuẫn giữa tư tưởng của cơ quan soạn thảo pháp lệnh, trongkhi chúng ta vẫn cho rằng hợp đồng kinh tế là hợp đồng có mục đích kinh doanh đểphân biệt với hợp đồng dân sự nhưng khi hợp đồng được ký kết giữa hai cá nhân cóđăng ý kinh doanh hay giữa hai doanh nghiệp tư nhân lại không được coi là hợp đồngkinh tế ( theo điều 2 pháp lệnh) PLHĐKT 1989 chỉ công nhận một hợp đồng là hợpđồng kinh tế nếu hợp đồng đó có mục đích kinh doanh và ít nhất một bên tham gia làpháp nhân, điều này đã làm cho phạm vi của hợp đồng kinh tế bị thu hẹp Một số hợpđồng bị loại ra khỏi phạm vi điều chỉnh của PLHĐ kéo theo đó là những tranh chấp từnhững hợp đồng ấy cũng bị loại ra ngoài thẩm quyền giải quyết của tòa kinh tế
Thứ hai là các chủ thể tham gia ký kết còn bị hạn chế bởi nguyên tắc chịu tráchnhiệm trực tiếp về tài sản.Điều này đồng nghĩa với việc không cho các chủ thể thamgia ký kết hợp đồng kinh tế dưới sự bảo lãnh của chủ thể khác.Bên cạnh đó là sự giớihạn chủ thể tham gia ký kết hợp đồng kinh tế ngay từ đầu đã bị giới hạn và trong thựctiễn thực hiện nó ngày càng trở nên rõ nét hơn Pháp lệnh ban hành đã không tính tới
sự đa dạng của các chủ thể kinh doanh khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật nước ta đã xuất hiện nhiều chủ thểkinh doanh tham gia rộng rãi các quan hệ kinh tế, không cần phải là pháp nhân hay cánhân có đăng ký kinh doanh
Từ việc nhận thức những bất cập trên đồng thời dựa trên cơ sở nền tảng của PLHĐKT, Quốc hội đã lần lượt ban hành hai văn bản pháp luật mới là BLDS năm 1995vàLTM năm 1997 quy định về hợp đồng và quyền tự do hợp đồng Hai đạo luật đượcđánh giá là bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạtđộng kinh tế theo hướng thị trường ở Việt Nam Nhìn chung, nội dung hai văn bảnpháp luật này có những quy định thoáng hơn về hợp đồng
Thứ nhất là về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, hai bộ luật này không giới hạnchủ thể là pháp nhân hay cá nhân có đăng ký kinh doanh mà tùy thuộc vào tính chấtcủa từng loại hợp đồng, phạm vi chủ thể có quyền giao kết có những sự khác nhaunhất định Theo BLDS 1995, các chủ thể của hợp đồng dân sự bao gồm: cá nhân (cónăng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự), pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình TạiĐiều 5 LTM 1997 cũng quy định chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là
cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thươngmại Như vậy, phạm vi chủ thể có quyền giao kết hợp đồng được mở rộng đáng kể
Trang 27Thứ hai là về hình thức hợp đồng, BLDS 1995 và LTM 1997 đều quy định hìnhthức có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể Các chủ thể khi giao kết hợp đồng cóthể lựa chọn bất kỳ hình thức nào kể cả fax, email…mà vẫn bảo đảm chặt chẽ cần thiết
về mặt pháp lý.Trong khi đó, PL HĐKT lại bắt buộc các chủ thể khi ký kết thì hợpđồng phải được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc những giấy tờ có giá trị tương đương.Tuy nhiên trong 5 năm thực hiện, LTM 1997 đã bộc lộ nhiều bất cập và trở thànhđạo luật có hiệu quả áp dụng thực tế không cao
Thứ nhất là về sự điều chỉnh của đối tượng hạn hẹp, định nghĩa về hoạt độngthương mại trong điều 45 LTM 1997 là một định nghĩa hẹp, chỉ xác định hoạt độngthương mại bao gồm 14 hành vi thương mại Vì vậy, hiều hoạt động thương mại mớixuất hiện hoặc các doanh nghiệp đang có nhu cầu thực hiện nhưng hiện chưa có quyđịnh pháp luật điều chỉnh cụ thể, trong khi những chế định chung của Luật Thươngmại năm 1997 không áp dụng được (ví dụ hoạt động nhượng quyền thương mại) Thứhai là từ khi có Luật Thương mại năm 1997 tới nay, nhiều văn bản quy phạm pháp luậtmới đã được ban hành hoặc đã và đang được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự pháttriển của hoạt động thương mại Do đó, nhiều chế định của Luật Thương mại năm
1997 đã trở nên không phù hợp (ví dụ chồng chéo với Luật Doanh nghiệp về địa vịpháp lý của thương nhân, không tương thích với Pháp lệnh Trọng tài Thương mại vềkhái niệm hoạt động thương mại ) Hơn nữa, cách thức áp dụng các văn bản pháp luật
để điều chỉnh một quan hệ hợp đồng cụ thể cũng không rõ ràng, có thể áp dụng cácquy định của BLDS 1995 để điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế được hay không?thứ tự ưu tiên áp dụng các văn quy định trong văn bản pháp luật chuyên ngành so vớicác quy định trong BLDS 1995, LTM 1997, PL HĐKT như thế nào?
Nhiều vấn đề do hai đạo luật trên quy định đã trở nên lạc hậu không đáp ứngđược nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam cũng như thực tiễn Thương mạiQuốc tế khi chúng ta đã ký kết hiệp định thương mại Việt – Mỹ và chuẩn bị gia nhậpWTO, thực hiện cam kết quốc tế và khu vực trong thương mại, sự tương thích củaLTM Việt Nam với các văn bản pháp lý quốc tế cũng cần được tiến hành một cáchnhanh chóng Vì những lý do đó Quốc Hội lần lượt thông qua hai văn bản pháp luậtlớn là BLDS 2005 và LTM 2005 Đây cũng chính là hai văn bản chủ yếu điều chỉnhnhững vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hànghoá nói riêng Trong đó, BLDS 2005 quy định những vấn đề pháp luật mang tínhchung về hợp đồng, còn LTM 2005 quy định những vấn đề mang tính chuyên ngành
về hợp đồng mua bán hàng hoá Mối quan hệ giữa hợp đồng dân sự với hợp đồngchuyên ngành được giải quyết theo hướng ưu tiên áp dụng luật hợp đồng chuyên