I. CÁC VẤN ĐỀ MANG TÍNH CHẤT TOÀN CẦU 1. Khái niệm và nguồn gốc lịch sử của các vấn đề mang tính chất toàn cầu 1.1 Khái niệm Các vấn đề có tính chất toàn cầu là những vấn đề liên quan đến lợi ích và sự sống còn của tất cả các quốc gia trên thế giới. 1.2 Nguồn gốc lịch sử Nó hình thành và phát triển khách quan trên cơ sở sự phát huy tác dụng của các quy luật tự nhiên và cả các quy luật kinh tế xã hội, do chính hoạt động của loài người nói chung lại là một tác nhân quan trọng đưa tới sự hình thành và phát triển của các vấn đề có tính chất toàn cầu. 2. Biểu hiện và hiện trạng 2.1 Các vấn đề toàn cầu liên quan đến nguồn lực phát triển Vấn đề liên quan đến nguồn lực phát triển bao gồm những khía cạnh như dân số, vấn đề lương thực, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, nguyên liệu và năng lượng,… Vấn đề về dân số Cụ thể là thời kỳ đồ đá số lượng tổ tiên con người hiện đại chỉ mới là 150 triệu người. Tuy nhiên dân số cứ thế tăng lên 1 tỷ người qua mỗi thời kỳ, từ năm 1930 đến năm 1960 thì tăng 3 tỷ tuy nhiên đến năm 1974 chỉ mất 14 năm để dân số thế giới tăng thêm 4 tỷ. Và hiện nay năm 2016 dân số đang đạt mốc 7,4 tỉ người. Trong hai thế kỷ qua, dân số thế giới đã tăng 7 lần, hiện có 7,3 tỷ người và cuối thế kỷ XXI sẽ lên tới 11 tỷ người. 50 năm trước, tốc độ tăng dân số của thế giới là 2%năm, nhưng năm 2015 chỉ còn 1,2%. Hiện nay, mỗi phụ nữ có trung bình 2,5 con, trong khi năm 1950 có tới 5 con. Thực tế là dân số tăng nhanh ở khu vực nước nghèo, kém phát triển và ngược lại ở những khu vực nước giàu thì tỷ lệ gia tăng dân số lại ở mức thức. Hơn 60% dân số tập trung ở khu vực châu Á, châu Phi, chỉ có 40% dân số tập trung ở khu vực còn lại châu Âu, châu Mỹ. Việt Nam là một trong 20 nước có dân số cao nhất thế giới, và hiện nay Việt Nam đang xếp thứ 14. Vấn đề về lương thực hiện nay Vấn đề cấp bách hiện nay là an ninh lương thực thế giới. Bất chấp những tiến bộ khoa học xã hội không thể phủ nhận, vẫn có hàng trăm, thậm chí hàng triệu người trên Trái đất không có đủ thức ăn mỗi ngày. Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO), trong giai đoạn 2012 – 2014, 11,3% dân số thế giới thường xuyên sống trong cảnh thiếu ăn kinh niên, tương đương 805 triệu người. Thống kê của Liên Hiệp Quốc cho thấy trong số các châu lục, châu Phi là nơi mà đói nghèo hoành hành nhất. Tại đây, 25% dân số phải sống trong cảnh đói thức ăn mặc dù rất nhiều những biện pháp chính sách của cộng đồng quốc tế đã được thực hiện. Điều tra của tổ chức “Người bạn của Trái đất” cho hay, lượng thức ăn thừa trong mỗi tiệc cưới là khoảng 105kg, đủ đáp ứng nhu cầu lương thực cho khoảng 200 em nhỏ đang bị đói. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Theo tổ chức WHO thì hàng triệu người bị nhiễm bệnh mỗi năm và trong số đó rất nhiều người là do ăn phải thực phẩ không sạch không an toàn. Ví dụ như bệnh tiêu chảy đã giết 1,5 triệu trẻ em mỗi năm. Năm 2006, ở Châu Âu phát hiện tồn dư dioxin trong sản phẩm thịt gia súc do 1.500 trang trại sử dụng cỏ khô bị nhiễm dioxin làm thức ăn súc ăn. Năm 2006 dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện ở 44 nước ở Châu Âu, châu Á, châu Phi và Trung Đông. Cuối năm 2008 phát hiện thịt lợn nhiễm dioxin ở Ireland, lượng dioxin trong thức ăn cho lợn cao hơn từ 80 đến 200 lần mức an toàn cho phép. Sau đó Ireland đã phải tiêu hủy hơn 100.000 con heo nghi ngờ nhiễm chất này. Tháng 122015: Khoảng một tấn chân gà, tim heo, mề gà quá hạn sử dụng hơn sáu tháng được phát hiện trong kho hàng của Công ty Cổ phần Kinh doanh và Chế biến thực phẩm Hà Nội. Lô hàng này chứa trong các thùng giấy, ghi nhập khẩu từ Mỹ, Brazil, đã và đang trong quá trình phân hủy, bốc mùi hôi thối. Vấn đề về năng lượng và nguyên liệu Tài nguyên thiên nhiên trên thế giới đang bị giảm sút mạnh, sử dụng quá mức và có nguy cơ không thể tái tạo.Theo các số liệu của Eni Spa, trong năm 2012 sản lượng dầu khai thác trên toàn cầu được ước tính lên tới 86,89 triệu thùng ngày, nhiều hơn 2,9% so với năm 2011. Các số liệu tìm kiếm, thăm dò và nhận định về trữ lượng dầu toàn cầu của Văn phòng Tổ chức kiểm soát năng lượng Anh (EWG) tại Đức cho biết, dưới lòng đất chỉ còn có khoảng 1.255 tỉ thùng, đủ để cho con người sử dụng trong 42 năm tới. Với tốc độ khai thác như hiện nay, trong vòng 30 năm nữa nguồn dầu lửa dưới lòng đất không còn nhiều và 50 60 năm nữa sẽ hoàn toàn cạn kiệt. Trong khi đó, theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), nhu cầu dầu
Trang 1CÁC VẤN ĐỀ MANG TÍNH CHẤT TOÀN CẦU
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI VIỆT NAM
I CÁC VẤN ĐỀ MANG TÍNH CHẤT TOÀN CẦU
1 Khái niệm và nguồn gốc lịch sử của các vấn đề mang tính chất toàn cầu
1.1 Khái niệm
Các vấn đề có tính chất toàn cầu là những vấn đề liên quan đến lợi ích và sự sống còn của tất cả các quốc gia trên thế giới
1.2 Nguồn gốc lịch sử
Nó hình thành và phát triển khách quan trên cơ sở sự phát huy tác dụng của các quy luật tự nhiên và cả các quy luật kinh tế xã hội, do chính hoạt động của loài người nói chung lại là một tác nhân quan trọng đưa tới sự hình thành và phát triển của các vấn đề có tính chất toàn cầu
2 Biểu hiện và hiện trạng
2.1 Các vấn đề toàn cầu liên quan đến nguồn lực phát triển
Vấn đề liên quan đến nguồn lực phát triển bao gồm những khía cạnh như dân
số, vấn đề lương thực, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, nguyên liệu và năng lượng,…
Vấn đề về dân số
Cụ thể là thời kỳ đồ đá số lượng tổ tiên con người hiện đại chỉ mới là 150 triệu người Tuy nhiên dân số cứ thế tăng lên 1 tỷ người qua mỗi thời kỳ, từ năm 1930 đến năm 1960 thì tăng 3 tỷ tuy nhiên đến năm 1974 chỉ mất 14 năm để dân số thế giới tăng thêm 4 tỷ Và hiện nay năm 2016 dân số đang đạt mốc 7,4 tỉ người Trong hai thế kỷ qua, dân số thế giới đã tăng 7 lần, hiện có 7,3 tỷ người và cuối thế kỷ XXI sẽ lên tới 11 tỷ người 50 năm trước, tốc độ tăng dân số của thế giới là 2%/năm, nhưng năm 2015 chỉ còn 1,2% Hiện nay, mỗi phụ nữ có trung bình 2,5 con, trong khi năm
1950 có tới 5 con
Trang 2Thực tế là dân số tăng nhanh ở khu vực nước nghèo, kém phát triển và ngược lại ở những khu vực nước giàu thì tỷ lệ gia tăng dân số lại ở mức thức Hơn 60% dân số tập trung ở khu vực châu Á, châu Phi, chỉ có 40% dân số tập trung ở khu vực còn lại châu Âu, châu Mỹ
Việt Nam là một trong 20 nước có dân số cao nhất thế giới, và hiện nay Việt Nam đang xếp thứ 14
Vấn đề về lương thực hiện nay
Vấn đề cấp bách hiện nay là an ninh lương thực thế giới Bất chấp những tiến
bộ khoa học xã hội không thể phủ nhận, vẫn có hàng trăm, thậm chí hàng triệu người trên Trái đất không có đủ thức ăn mỗi ngày Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO), trong giai đoạn 2012 – 2014, 11,3% dân số thế giới thường xuyên sống trong cảnh thiếu ăn kinh niên, tương đương 805 triệu người Thống kê của Liên Hiệp Quốc cho thấy trong số các châu lục, châu Phi là nơi mà
Trang 3đói nghèo hoành hành nhất Tại đây, 25% dân số phải sống trong cảnh đói thức ăn mặc dù rất nhiều những biện pháp chính sách của cộng đồng quốc tế đã được thực hiện Điều tra của tổ chức “Người bạn của Trái đất” cho hay, lượng thức ăn thừa trong mỗi tiệc cưới là khoảng 105kg, đủ đáp ứng nhu cầu lương thực cho khoảng
200 em nhỏ đang bị đói
Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo tổ chức WHO thì hàng triệu người bị nhiễm bệnh mỗi năm và trong số
đó rất nhiều người là do ăn phải thực phẩ không sạch không an toàn Ví dụ như bệnh tiêu chảy đã giết 1,5 triệu trẻ em mỗi năm Năm 2006, ở Châu Âu phát hiện tồn dư dioxin trong sản phẩm thịt gia súc do 1.500 trang trại sử dụng cỏ khô bị nhiễm dioxin làm thức ăn súc ăn Năm 2006 dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện ở
44 nước ở Châu Âu, châu Á, châu Phi và Trung Đông Cuối năm 2008 phát hiện thịt lợn nhiễm dioxin ở Ireland, lượng dioxin trong thức ăn cho lợn cao hơn từ 80 đến 200 lần mức an toàn cho phép Sau đó Ireland đã phải tiêu hủy hơn 100.000 con heo nghi ngờ nhiễm chất này
Tháng 12-2015: Khoảng một tấn chân gà, tim heo, mề gà quá hạn sử dụng hơn sáu tháng được phát hiện trong kho hàng của Công ty Cổ phần Kinh doanh và Chế biến thực phẩm Hà Nội Lô hàng này chứa trong các thùng giấy, ghi nhập khẩu từ
Mỹ, Brazil, đã và đang trong quá trình phân hủy, bốc mùi hôi thối
Vấn đề về năng lượng và nguyên liệu
Tài nguyên thiên nhiên trên thế giới đang bị giảm sút mạnh, sử dụng quá mức
và có nguy cơ không thể tái tạo.Theo các số liệu của Eni Spa, trong năm 2012 sản lượng dầu khai thác trên toàn cầu được ước tính lên tới 86,89 triệu thùng / ngày, nhiều hơn 2,9% so với năm 2011 Các số liệu tìm kiếm, thăm dò và nhận định về trữ lượng dầu toàn cầu của Văn phòng Tổ chức kiểm soát năng lượng Anh (EWG) tại Đức cho biết, dưới lòng đất chỉ còn có khoảng 1.255 tỉ thùng, đủ để cho con người sử dụng trong 42 năm tới Với tốc độ khai thác như hiện nay, trong vòng 30 năm nữa nguồn dầu lửa dưới lòng đất không còn nhiều và 50 - 60 năm nữa sẽ hoàn toàn cạn kiệt Trong khi đó, theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), nhu cầu dầu lửa thế giới sẽ tăng đến 116 triệu thùng/ ngày vào năm 2030 so với 86 triệu
Trang 4thùng/ngày như hiện nay Tức là vào thời điểm đó, thế giới chỉ được cung cấp chưa đến 1/3 nhu cầu dầu lửa.Than đá và khí đốt cũng ở tình trạng tương tự.Theo ước tính của các chuyên gia, trữ lượng than đá và khí đốt tự nhiên chỉ còn khoảng 909 tỉ tấn và sẽ cạn kiệt trong 155 năm nữa
2.2 Vấn đề liên quan đến môi trường sinh thái
Môi trường đã và đang là vấn đề được rất nhiều quốc gia cũng như hầu hết mọi người sống trên trái đất của chúng ta quan tâm.Theo thống kê của báo Môi trường(moitruong.com.vn) vào ngày 05/12/2015: Nhiệt độ trung bình của Trái Đất hiện nay nóng hơn gần 40 độ C so với nhiệt độ trong kỷ băng hà gần nhất, khoảng
13 000 năm trước Tuy nhiên trong vòng 100 năm qua, nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất tăng khoảng 0, 6-0, 7 độ C và dự báo sẽ tăng 1, 4-5, 8 độ C trong 100 năm tới 1 000 000 chim biển, 100 000 thú biển và rựa biển bị chết do bị vướng hay bị nghẹt thở bởi các loại rác plastic 60% các rạn san hô đang bị đe dọa bởi việc ô nhiễm 60% bờ biển Thái Bình Dương và 35% bờ biển Đại Tây Dương đang bị xói mòn với tốc độ 1m/ năm Đa dạng sinh thái bị suy giảm, đất đai trở nên bạc màu không thể canh tác là hai ảnh hưởng chủ yếu của quá trình hoang mạc hóa Tình trạng này đang đe dọa cuộc sống của gần 1 tỉ người trên Trái Đất Châu Phi có thể chỉ nuôi được 25% dân số vào năm 2025 nếu tốc độ hoang mạc húa ở lục địa đen tiếp tục như hiện nay
2.3 Liên quan đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Ví dụ : vấn đề nợ nước ngoài, vấn đề thất nghiệp và lạm phát, vấn đề chiến tranh thương mại, vấn đề khủng hoảng tài chính tiền tệ và suy thoái kinh tế ,……
Vấn đề nợ nước ngoài
Vấn đề nợ nước ngoài đang phát triển với gia tốc ngày càng cao, cuốn hút vào
đó mọi quốc gia ,không phân biệt quốc gia có trình độ cao hay thấp:
Sau thế chiến II, các nước rơi vào tình trạng nợ nước ngoài chủ yếu là các nước bại trận hoặc các nước phải trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc
Đến những năm 70 thì tình trạng nợ nước ngoài lại trở thành gánh nặng đối với những nước đang và chậm phát triển
Trang 5 Những năm đầu của thế kỉ XXI, ngay cả các quốc gia có tỉ lệ tăng trưởng cao cũng rơi vào tình trạng nợ nước ngoài chồng chất Tổng trữ lượng nợ nước ngoài của các nước đang phát triển đã tăng 437 tỉ USD lên mức 4.000
tỉ USD vào cuối năm 2010, trung bình 21% tổng thu nhập quốc dân (GNI)
=> Hậu quả: là đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển của các quốc gia:
Là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công
Gây nên sự phụ thuộc của các quốc gia đi vay nợ trên các mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị
Tạo sức ép trả nợ dẫn đến chính phủ các nước phải liên tiếp phát hành trái phiếu để bù đắp trả nợ => giảm uy tín của quốc gia,mất niềm tin của nhân dân vào chính phủ
Nếu nợ vay quá lớn không thể trả được sẽ dẫn đến tình trạng vỡ nợ nối tiếp theo đó là khủng hoảng tài chính tiền tệ gây ra sự đổ vỡ của nền kinh tế xã hội của quốc gia đó
VD: Cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp
Giữa năm 2015, Hy Lạp đang đứng gần nguy cơ vỡ nợ hơn bao giờ hết hiện
có khối nợ nước ngoài khổng lồ 243 tỷ EURO (271 tỷ USD), trong đó Đức là chủ
nợ lớn nhất đều đã đến thời gian đáo hạn
Năm 2010, các chính phủ thuộc Eurozone cấp cho Hy Lạp gói cứu trợ thứ nhất trị giá 52 tỷ EURO Năm 2012, Hy Lạp tiếp tục vay 142 tỷ EURO trong gói cứu trợ thứ hai, trong đó nguồn vốn chủ yếu lấy từ quỹ cứu trợ tài chính của Eurozone
EU đứng trước quyết định có nên để Hy Lạp ở lại hay không Nếu để Hy Lạp
vỡ nợ sẽ dẫn đến 1 loạt các hệ lụy tiếp theo :
+ Khủng hoảng tài chính
EU lo lắng rằng nếu Hy Lạp ra đi, các ngân hàng Pháp và Đức vốn cho Hy Lạp vay sẽ bị đe dọa Một hiệu ứng domino tồi tệ có thể xảy ra sau khi Hy Lạp vỡ
nợ Thị trường tài chính tại các nước yếu trong eurozone sẽ bị chao đảo nếu ECB
để Hy Lạp ra đi, khiến người dân Bồ Đào Nha, Ireland và Italy ồ ạt đi rút tiền tại các ngân hàng Lo ngại tiền tệ mất giá, các công ty cũng sẽ buộc phải rút lượng lớn tiền khỏi các quốc gia này, gây ra khủng hoảng tài chính không chỉ khu vực EU mà tác động cả nền kinh tế thế giới
Trang 6Vấn đề khủng hoảng tài chính
Đặc biệt là khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ năm 2007 và lan rộng trên toàn thế giới năm 2008
Hậu quả:
- Phá huỷ lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triển của kinh tế thế giới Trước hết là đối với nước Mỹ ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế, sản xuất suy thoái, thất nghiệp tăng lên, do đó được xem là cuộc khủng hoảng “3 trong 1” Cuộc khủng hoảng làm phá sản hàng loạt ngân hàng và công ty tài chính, kể cả những ngân hàng, công ty tài chính hàng đầu nước Mỹ
- Cuộc khủng hoảng làm chao đảo thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, làm phá sản nhiều ngân hàng, công ty tài chính, nhiều tập đoàn kinh tế lớn ở nhiều nước trên thế giới, gây suy giảm nghiêm trọng các quan hệ thương mại, tài chính, đầu tư quốc tế và kinh tế thế giới nói chung
- Cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu đã làm tổn thất 50 nghìn tỷ USD trong tổng tài sản tài chính của thế giới, các nước đang phát triển châu Á là chịu thiệt hại nặng nề hơn cả với tổng giá trị bị thiệt hại là 9,6 nghìn tỷ USD, cao hơn tổng giá trị GDP trong một năm của những nước này Hơn 20 nước chính thức tuyên bố rơi vào suy thoái kinh tế, hầu hết các nước trên thế giới đều bị ảnh hưởng, gặp khó khăn và suy giảm tốc độ tăng trưởng ở các mức độ khác nhau
2.3.1.4 Liên quan đến khía cạnh xã hội:
Ví dụ: vấn đề phân cực giàu nghèo, bệnh dịch SARS, dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh đối với gia súc, vấn đề bệnh tật xã hội công nghiệp hiện đại , vấn đề bành trướng tôn giáo, vấn đề xung đột chủng tộc và sắc tộc …
Vấn đề chủ nghĩa khủng bố
- Thế kỷ 21, có 2 dấu mốc lớn của chủ nghĩa khủng bố quốc tế là sự kiện 11/9/2001 và sự trỗi dậy của tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS vào tháng 6/2014 Loạt tấn công khủng bố 11/9 là đòn đánh chính diện vào siêu cường Mỹ ngay trên đất Mỹ, còn sự xuất hiện của vương quốc “caliphate” IS vào giữa năm
2014 là thách thức lớn đối với toàn nhân loại và trật tự thế giới
Trang 7- Chủ nghĩa khủng bố hiện nay là chủ yếu nói đến chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo hay chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan bạo lực Hành vi khủng bố Hồi giáo có thể được thực hiện bởi các cá nhân đơn độc hoặc các tổ chức chặt chẽ tồn tại ở nhiều nơi, từ Trung Đông, châu Phi, Trung Á, Kavkaz, Nam Á, đến Đông Nam Á Nhưng xét trong các năm gần đây nói chung và năm 2015 nói riêng thì có thể thấy, xu hướng khủng bố Hồi giáo vẫn mạnh nhất ở Trung Đông (theo nghĩa hẹp, không bao gồm Bắc Phi), đặc biệt là khu vực Iraq, Syria, và bán đảo Arabia
- Hai mạng lưới khủng bố quốc tế mạnh nhất hiện nay là al-Qaeda và IS.Đầu năm 2015, thế giới và nước Pháp rúng động với vụ tấn công của khủng bố Hồi giáo nhằm vào tạp chí châm biếm Charlie Hebdo
- Giữa năm 2015, bầu không khí Trung Đông lại u ám thêm khi IS không những không bị chặn đứng sau nhiều vụ oanh kích mà còn bành trướng thêm, đe dọa “nhuộm đen” cả Iraq và Syria
- Cuối năm 2015 ,bất ngờ xảy ra loạt vụ tấn công đẫm máu ở Paris vào ngày 13/11 khiến 130 người chết
II TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU ĐẾN VIỆT NAM
1 Tác động tích cực
1.1 Về kinh tế
a Thông qua tự do hóa thương mại, thu hút đầu tư và chuyển giao công
nghệ, tạo cơ hội để các nguồn lực phát triển kinh tế,mở rộng thông tin, trao đổi hàng hóa mạnh mẽ, thúc đẩy sản xuất.
Đến nay, chúng ta đã thiết lập được quan hệ kinh tế thương mại với trên 170 quốc gia, nền kinh tế, đã ký gần 60 hiệp định kinh tế thương mại song phương, đa phương, trong đó có toàn bộ các nước, các nền kinh tế phát triển, thị trường lớn
Cùng với đó, quá trình hội nhập đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường
và đối tác kinh tế thương mại, tăng cường xuất nhập khẩu cho nước ta Kim ngạch xuất khẩu của nước ta trong năm 2007 đạt 46 tỷ USD, cao nhất trong 10 năm trở lại đây và đang có triển vọng nâng cao trong những năm tới
Trang 8Hiện nước ta có quan hệ đầu tư với hơn 70 nước và lãnh thổ, với nhiều tập đoàn và các công ty đa quốc gia lớn Khu vực kinh tế có vốn FDI đã trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đóng góp khoảng 16% GDP
cả nước, 60% tổng kim ngạch xuất khẩu Thông qua hội nhập, chúng ta còn tranh thủ được nguồn ODA khá lớn, đến nay đạt khoảng 37 tỷ USD
Vốn FDI vào Việt Nam năm 2015, bao gồm vốn đăng ký và giải ngân, đã tăng khoảng 4 lần sau với năm 2006 Mức vốn FDI đăng ký trên 70 tỷ USD năm
2008 là mức cao nhất trong 10 năm qua trước hiệu ứng Việt Nam gia nhập WTO Tuy nhiên, vốn FDI giải ngân năm 2008 ở mức khiêm tốn
Dù vậy, dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm qua rất ổn định, và đóng góp của doanh nghiệp FDI với nền kinh tế Việt Nam đang chiếm tỷ trọng lớn Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan
Trang 9b Tiếp thu thành tựu Khoa học – kỹ thuật, công nghệ của nhân loại, kinh nghiệm quản lý.
Hội nhập cũng có nghĩa là chúng ta có khả năng tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, nhạy bén với thời cuộc
c Thúc đẩy cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước với hàng hóa nước ngoài, buộc các nền kinh tế phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp, mở rộng nền kinh tế tri thức, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, phát triển nền kinh tế hiện đại, hiệu quả, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh.Nhiều doanh nghiêp đã đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển Khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp đã tăng lên Mặt tích cực của quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới là đã giúp các doanh nghiệp việt nam hình thành tư duy và nếp làm ăn mới, năng động, sáng tạo để phù hợp với môi trường kinh tế thế giới
Trang 1010 năm qua, năng suất lao động đã có sự tăng trưởng khá mạnh, từ mức hơn
22 triệu đồng/người thì sau 10 năm đã lên gần 80 triệu đồng/người
Cùng với sự phát triển kinh tế, năng suất lao động xã hội của nước ta cũng được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực
Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng năng suất lao động xã hội, Việt Nam là nước có tốc tăng năng suất lao động cao hơn nhiều so với Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan Nguồn: Tổng cục Thống kê
1.2 Về chính trị
a Đổi mới cơ chế quản lí, mở rộng và thắt chặt quan hệ ngoại giao với các nước, khẳng định và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Quá trình hội nhập kinh tế thế giới không những giúp chúng ta khắc phục được tình trạng bị bao vây cấm vận mà còn từng bước tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế: khởi đầu là việc khôi phục lại quan hệ với nhiều nước và các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Tây Âu; tiếp đó tham gia các cơ chế hợp tác khu vực (ASEAN), liên khu vực (AFTA, APEC), và toàn cầu (WTO)